Tải bản đầy đủ (.docx) (20 trang)

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH DẦU KHÍ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (230.74 KB, 20 trang )

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TY
TÀI CHÍNH DẦU KHÍ
1.1.1/ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẦU TƯ.
- Khái niệm về đầu tư và đầu tư phát triển.
Đầu tư theo nghĩa rộng, nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến
hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn
nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Nguồn lực đó có thể là tiền, là tài
nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ.
Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở
hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn
các nguồn lực đã sử dụng để đạt được kết quả đó.
- Những đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển.
Hoạt động đầu tư phát triển có các điểm khác biệt với các loại hình đầu tư khác
là:
 Đầu tư phát triển đòi hỏi một lượng vốn lớn và để nằm khê đọng trong suốt quá trình
thực hiện đầu tư. Đây là cái giá phải trả khá lớn cho đầu tư phát triển.
 Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả của nó
phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra.
 Thời gian cần hoạt động để có thể thu hồi vốn đã bỏ ra đối với các cơ sở vật chất
kỹ thuật, phục vụ sản xuất kinh doanh thường đòi hỏi nhiều năm tháng và do đó không
tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của các yếu tố không ổn định về tự
nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế...
 Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu dài trong
nhiều năm, có khi hàng trăm năm, thậm chí tồn tại vĩnh viễn. Điều này nói lên giá trị
lơn lao của các thành quả đầu tư phát triển
 Vị trí của các công trình xây dựng là cố định, các công trình này sẽ hoạt động ở
ngay nơi mà nó được tạo dựng nên. Do đó, các điều kiện về địa hình có ảnh hưởng lớn
đến quá trình thực hiện đầu tư cũng như tác động sau này của kết quả đầu tư.
 Ngoài ra, các yếu tố rủi ro đầu tư luôn luôn rình rập. Nếu người đầu tư, người
quản lý không đánh giá đúng hay nhận dạng đủ các nhân tố rủi ro có thể xảy ra và có kế
hoạch quản lý phòng ngừa thì rất dễ gây ra sự đổ vỡ cho dự án.


- Vai trò của đầu tư phát triển.
Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước
-Đầu tư vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu.
-Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế .
-Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế:
-Đầu tư và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
-Đầu tư với việc tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất nước:
. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ
Đầu tư quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở.
1.1.2 DOANH NGHIỆP - DOANH NGHIỆP TÀI CHÍNH
Khái niệm chung về doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện các hoạt động
kinh doanh, thực hiện chức năng sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ nhằm đáp ứng
các nhu cầu của con người, xã hội, và kiếm lợi nhuận thông qua các hoạt động hữu ích
đó.
Theo Điều 3 Luật Doanh nghiệp do Quốc hội thông qua ngày 12/6/1999, “Doanh
nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh
doanh”. Theo khái niệm này, trừ loại hình kinh doanh cá thể, các tổ chức kinh tế đảm
bảo các điều kiện về tài sản, tên riêng, trụ sở giao dịch và có giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh đều được gọi là doanh nghiệp.
1.1.3 CẠNH TRANH.
Cạnh tranh.
*Khái niệm.
Theo Mark “cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt
giữa các nhà tư bản nhằm giành giật điều kiện thuận lợi trong sản xuất và mua bán hàng
hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.
Cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hóa, là một yếu tố
trong cơ chế vận động của thị trường. Sản xuất hàng hóa càng phát triển, hàng hóa bán
ra càng nhiều, số lượng người cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt. Kết quả

trong cạnh tranh là sẽ có một số doanh nghiệp bị thua cuộc và bị gạt ra khỏi thị trường,
trong khi đó một số doanh nghiệp sẽ tồn tại và phát triển hơn nữa. Cũng chính nhờ sự
cạnh tranh không ngừng mà nền kinh tế thị trường vận động theo hướng ngày càng
nâng cao năng suất lao động xã hội. Đó cũng là yếu tố đảm bảo cho sự thành công của
mỗi quốc gia trên con đường phát triển.
* Các loại hình cạnh tranh.
Nếu căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường, người ta chia cạnh tranh làm 3 loại:
 Cạnh tranh giữa người bán và người mua
 Cạnh tranh giữa người mua với nhau
 Cạnh tranh giữa người bán với nhau:
. Vai trò của cạnh tranh.
 Đối với các doanh nghiệp, cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến
uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.
 Đối với người tiêu dùng, cạnh tranh giúp họ thỏa mãn nhu cầu về hàng hóa và
dịch vụ, chất lượng sản phẩm ngày càng cao cùng với mức giá cả ngày càng phù hợp
với khả năng của họ.
 Đối với nền kinh tế quốc dân thì cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển
bình đẳng của mọi thành phần kinh tế, tạo điều kiện để phát huy lực lượng sản xuất,
nâng cao tiến bộ khoa học kỹ thuật, hiện đại hóa nền sản xuất xã hội. Đó cũng là điều
kiện để xóa bỏ độc quyền bất hợp lý, xóa bỏ bất bình đẳng trong kinh doanh, phát huy
tính tháo vát, năng động và óc sáng tạo trong các doanh nghiệp, gợi mở nhu cầu thông
qua việc tạo ra nhiều sản phẩm mới, nâng chất lượng đời sống xã hội, phát triển nền
văn minh nhân loại.
Tuy nhiên chúng ta không thể phủ nhận mặt tiêu cực của cạnh tranh. Để khắc
phục được những tiêu cực đó thì vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng.
Lợi thế cạnh tranh.
Đạt được một lợi thế cạnh tranh trên thị trường là mục đích của mọi doanh
nghiệp đặc biệt các doanh nghiệp Việt nam hiện đang trong tình trạng cạnh tranh kém.
Nhưng có phải mọi lợi thế cạnh tranh đều có ý nghĩa chiến lược hay có thể duy trì trong

thời gian dài và liệu một lợi thế cạnh tranh có đảm bảm cho một chiến lược kinh doanh
thành công hay không? Lợi thế cạnh tranh có phải là ở vốn, công nghệ, lao động hoặc
các kỹ năng sản xuất không? Có thể thấy rằng, nguồn lực về vốn luôn là một nhân tố
tác động đến lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp. Ở đây, không thể chỉ hiểu nguồn
lực này là số lượng vốn có được mà trước hết nó phải là khả năng sử dụng nguồn vốn.
Hiệu quả sử dụng vốn sẽ làm cho nhu cầu về vốn của doanh nghiệp giảm tương đối, do
đó sẽ cần ít vốn hơn cho những nhu cầu kinh doanh nhất định, từ đó chi phí cho sử
dụng vốn sẽ giảm đi, tăng lợi thế cạnh tranh về chi phí. Khi đã có vốn, một việc làm
không thể thiếu của doanh nghiệp là đầu tư vào trang thiết bị, máy móc, công nghệ.
Công nghệ được đầu tư phải không quá lạc hậu và phù hợp với quy mô cũng như phạm
vi hoạt động của doanh nghiệp thì mới có thể nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi
phí và tạo lợi thế cạnh tranh. Bên cạnh vốn và công nghệ thì có một đội ngũ cán bộ giàu
kinh nghiệm, năng lực và một đội ngũ công nhân lành nghề, có kỷ luật lao động cao sẽ
tạo ra cho doanh nghiệp một lợi thế cạnh tranh không chỉ trước mắt mà còn trong dài
hạn.
Vấn đề đặt ra là doanh nghiệp làm thế nào để nhận biết và đạt được lợi thế cạnh
tranh dài hạn. Doanh nghiệp cũng cần phải biết xây dựng chiến lược kinh doanh khi có
một lợi thế cạnh tranh và biết cạnh tranh với các doanh nghiệp khác có một lợi thế cạnh
tranh dài hạn mà mình không có.
Lợi thế cạnh tranh dài hạn không phải luôn dễ dàng xác định được. Các hãng sản
xuất bột giặt đều cố gắng xây dựng các lợi thế, nhưng nó nhanh chóng bị bắt chước
ngay sau đó. Trong thị trường hàng điện tử có hãng đã cố gắng lợi dụng một lợi thế hơn
so với đối thủ của mình, nhưng lợi thế đó lại sớm trở nên không quan trọng với mong
muốn của người tiêu dùng.
Như vậy mọi nhà kinh doanh cần phải khám phá xem một lợi thế cạnh
tranh dài hạn và sự thể hiện thực sự có ý nghĩa đối với cạnh tranh và chiến lược
kinh doanh là gì?
Các công cụ cạnh tranh chủ yếu của doanh nghiệp.
Giá cả.
Mẫu mã và chất lượng sản phẩm.

Mạng lưới tiêu thụ sản phẩm.
Hoạt động giao tiếp khuếch trương.
Uy tín của doanh nghiệp.
1.1.4/ ĐẦU TƯ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH .
Vốn và cơ cấu vốn đầu tư hợp lý.
Vốn và cơ cấu vốn đầu tư là một trong những yếu tố quyết định đến khả năng
cạnh tranh của một doanh nghiệp.
Đầu tư vào tài sản cố định.
Đầu tư vào tài sản cố định đóng vai trò quan trọng nhất trong hoạt động đầu tư nâng
cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bởi hai lý do cơ bản sau:
Đầu tư vào tài sản vô hình.
Khác với tài sản hữu hình, tài sản vô hình là các tài sản không có hình thái cụ
thể, tuy nhiên nó có đóng góp quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của doanh
nghiệp. Các tài sản vô hình đó có thể là uy tín của doanh nghiệp, bầu không khí làm
việc, sự nổi tiếng của nhãn mác thương hiệu, vị trí thương mại.
1.1.5/ CÁC TIÊU THỨC ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA
DOANH NGHIỆP .
Thị phần mà doanh nghiệp chiếm lĩnh được.
Một doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh trước các đối thủ khi doanh nghiệp đó
nâng cao được thị phần của mình hơn các đối thủ khác với cùng một đồng vốn đầu tư.
Thị phần của doanh nghiệp càng lớn - đồng nghĩa với việc khẳng định ưu thế, vị
thế lớn của doanh nghiệp trên thương trường - khẳng định sự chấp nhận về sản phẩm
của doanh nghiệp của người tiêu dùng trên thị trường. Nó thể hiện sự thắng lợi của
doanh nghiệp trong cạnh tranh giành thị trường.
“Thương trường là chiến trường”, thất bại trên thương trường là việc không
chiếm lĩnh được thị trường, không được thị trường chấp nhận, do đó nó cũng nguy
hiểm không kém thất bại trên chiến trường. Trong chiến tranh, các bên tranh giành nhau
từng vùng đất, vùng trời để khẳng định thế mạnh quân sự của mình; trong cạnh tranh
trên thương trường, các bên cùng điều hành các thủ pháp và công đoạn chiếm lĩnh thị
trường, nhằm thâu tóm thị trường, thu hút thêm khách hàng, để từ đó có điều kiện ngày

càng bành trướng thế lực của doanh nghiệp trên thương trường.
Khi đã thu hút được người khách hàng, có được một thị phần lớn, doanh nghiệp
sẽ dễ dàng tiêu thụ được sản phẩm, nâng cao doanh thu, tăng lợi nhuận, điều đó có
nghĩa là doanh nghiệp đã đạt được lợi thế cạnh tranh.
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Mức độ hiệu quả sử dụng vốn có thể xác định bằng 2 chỉ tiêu chính là Tỷ suất
lợi nhuận trên vốn và Tỷ suất doanh thu trên vốn. Ngoài ra, xét về quyền lợi của nhà
đầu tư, người ta có thể dùng chỉ tiêu Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu để đánh giá khả
năng sinh lời trên một đồng vốn của người góp vốn vào doanh nghiệp.
Lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được.
Mọi doanh nhân khi tham gia vào thương trường đều nhằm đạt được mục tiêu lợi
nhuận tối đa. Khi doanh nghiệp đạt được mức lợi nhuận tối đa thì có nghĩa là doanh nghiệp
đó đã đạt được lợi thế cạnh tranh cao hơn các đối thủ.
Khả năng chủ động thích ứng với môi trường.
Chủ động thích ứng với môi trường, đó là sự phản ứng nhanh nhạy, phù hợp với
những thay đổi về mặt kinh tế - chính trị - xã hội, mà cụ thể hơn là những biến động về
mặt pháp lý, chính sách, giá cả đầu vào, nhu cầu, thị hiếu của khách hàng... để luôn đi
trước các doanh nghiệp khác. Đây là một phần trong việc thực hiện hạn chế rủi ro của
doanh nghiệp. Rủi ro thường xuất phát từ những thay đổi của môi trường, nếu doanh
nghiệp không thay đổi theo kịp sự biến động của môi trường thì doanh nghiệp sẽ bị tụt
lại và hiển nhiên thất bại đang chờ doanh nghiệp. Ngược lại, một khả năng chủ động
thích ứng với môi trường sẽ cho phép doanh nghiệp hạn chế được rủi ro, tăng khả năng
cạnh tranh và tiếp tục tồn tại vững chắc trên thị trường.
1.2. Thực trạng về công ty Tài chính Dầu khí
1.2.1. Giới thiệu chung về công ty
- *Quá trình hình thành Tên viết tắt:PVFC
- Logo:
- Trụ sở: 72 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
- Điện thoại: (84) 4 942 6800 Fax: (84) 4 942 6796/97
- Website:

- Email:
- Giấy phép thành lập: 05/GP-NHNN ngày 25/10/2000 của Ngân hàng Nhà nước
Trải qua bảy năm hình thành và phát triển PVFC đã đánh dấu sự trưởng
thành vượt bậc của một định chế tài chính còn non trẻ trên thị trường tài chính
Việt Nam.
Là định chế tài chính của PetroVietnam với nhiệm vụ chính là thực hiện hoạt
động thu xếp vốn cho các dự án trong ngành công nghiệp Dầu khí tại Việt Nam, PVFC
đã nhanh chóng triển khai các hoạt động bao gồm:
 Thu xếp vốn tín dụng cho các dự án đầu tư
 Thực hiện các đề án phát hành trái phiếu trong nước và quốc tế cho
PetroVietnam
 Nhận uỷ thác quản lý vốn và các dịch vụ tài chính cho PetroVietnam, các đơn vị
thành viên của PetroVietnam.
*Các mốc thời gian trong quá trình hình thành và phát triển của PVFC.
 Ngày 30/3/2000: Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ ký Quyết định số
04/2000/QĐ/VPCP thành lập Công ty Tài chính Dầu khí.
 Ngày 19/06/2000: Hội đồng quản trị Tổng Công ty Dầu khí ra Quyết định số 903/QĐ-
HĐQT chính thức thành lập và có trụ sở hoạt động đầu tiên đặt tại 34B, Hàn Thuyên,
Hà Nội.
 Ngày 12/10/2000 Hội đồng quản trị Tổng Công ty Dầu khí phê duyệt Điều lệ tổ chức và
hoạt động của Công ty Tài chính Dầu khí.
 Ngày 25/10/2000 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chính thức cấp giấy phép số 12/GP-
NHNN
 Ngày 05/2/2001 Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam chính thức tổ chức lễ khai trương
Công ty Tài chính Dầu khí đánh dấu sự hội nhập chính thức của PVFC vào thị trường
tài chính Việt Nam.
 Ngày 30/10/2001 PVFC khai trương các phòng giao dịch số 11, 20 và 30
 Ngày 19/6/2002 khai trương phòng giao dịch chứng khoán BSC-PVFC cung cấp thêm
các dịch vụ trong hoạt động kinh doanh chứng khoán.
 Ngày 21/5/2003 chính thức khai trương và đặt chi nhánh Công ty PVFC tại thành phố

Hồ Chí Minh.
 Ngày 05/5/2004 PVFC ra mắt Hội đồng quản trị của Công ty và chính thức nhận chứng
chỉ Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 do tổ chức SGS- Thuỵ Sĩ cấp.
 Ngày 28/2/2005 Khai trương chi nhánh Công ty Tài chính Dầu khí tại Vũng Tàu.
 Ngày 20/4 và 20/5/2005 PVFC lần lượt mở thêm phòng giao dịch số 12 và 21
*Các thành tựu đã đạt được:
 Bằng khen của Tổng giám đốc Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam - Đơn vị hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ 2001 đến 2005.
 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ - Đơn vị có nhiều thành tích trong công tác góp

×