Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

Tính tất yếu hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo ở Việt Nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (428.31 KB, 7 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>



96

<b>TÍNH TẤT YẾU HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG</b>



<b>LĨNH VỰC GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY </b>



<i> <b>Nguy</b><b>ễ</b><b>n Th</b><b>ị</b><b> Ti</b><b>ế</b><b>n </b></i>
<i>Khoa Lý luận chính trị, Trường ĐH Xây dựng Miền Trung </i>
<i><b>Tóm t</b><b>ắ</b><b>t </b></i>


<i>Ở một thế giới hội nhập, hướng đến nền kinh </i>
<i>tế tri thức và cạnh tranh tồn cầu thì hợp tác quốc </i>
<i>tế trong giáo dục - đào tạo có ý nghĩa sống cịn với </i>
<i>mỗi quốc gia. Thông qua hợp tác quốc tế về giáo dục </i>
<i>- đào tạo, phấn đấu đến năm 2020 Việt Nam có một </i>
<i>nền giáo dục tiên tiến, đáp ứng yêu cầu của sự </i>
<i>nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hoá đất nước trong </i>
<i>bối cảnh hội nhập quốc tế. Phải khẳng định rằng: </i>
<i>Hợp tác quốc tế là một trong những hoạt động hữu </i>
<i>hiệu để nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo và </i>
<i>nghiên cứu khoa học. </i>


<b>Từ khóa </b>


<i> Hợp tác quốc tế, giáo dục - đào tạo, yêu cầu </i>


khách quan


<b>1. Yêu cầu khách quan của việc mở rộng, </b>
<b>tăng cường hợp tác quốc tế trong giáo dục </b>


<b>- đào tạo ở Việt Nam </b>


Trong thời kỳ nào, giáo dục - đào tạo
cũng hết sức quan trọng, là quá trình biến con
người nguyên bản thành con người của xã hội
và truyền dạy họ những kiến thức, kinh nghiệm
nghề nghiệp để đảm bảo sự phát triển tồn
diện của đất nước; giữ vai trị cân đối giữa tri
thức và thực tiễn để thích nghi với sự biến đổi
của xã hội. Và ở một thế giới hội nhập, hướng
đến nền kinh tế tri thức, cạnh tranh tồn cầu
thì hợp tác quốc tế trong giáo dục - đào tạo
càng có ý nghĩa sống cịn với mỗi quốc gia cũng
như mỗi con người. Con người trong quá trình
hội nhập ngày nay không chỉ cần năng lực lao
động mà còn cần trang bị các kỹ năng chung
sống hịa bình trong mơi trường đa dạng văn
hóa, đặc biệt khi mà khối lượng kiến thức nhân
loại ngày càng gia tăng, thách thức hệ thống
giáo dục - đào tạo của tất cả các quốc gia trên
thế giới. Cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay
là cạnh tranh chất lượng nguồn nhân lực, hay
chính là cạnh tranh về giáo dục - đào tạo, khoa
học và công nghệ. Tuy nhiên, cùng sống và tồn
tại nên các nước vẫn chung tay, cùng nhau tạo
sự phát triển gắn kết. Hợp tác quốc tế đã giúp
Việt Nam tiếp nhận những nền giáo dục, khoa
học kỹ thuật tiên tiến, giúp cải thiện chất lượng
từ giáo trình, chất lượng quản lý đến giáo viên,
học sinh, sinh viên



<i><b>1.1. Sự tác động của xu thế tồn cầu hóa, </b></i>
<i><b>mở cửa, tăng cường giao lưu, hợp tác giữa </b></i>
<i><b>các nước trên thế giới </b></i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>



97
Yêu cầu định hướng đối với tiến trình


tồn cầu hố thuộc phạm vi chính sách phát
triển của từng quốc gia trên mọi lĩnh vực chính
trị, kinh tế, văn hóa - xã hội. Trong bối cảnh
đó, hợp tác giáo dục - đào tạo là một xu thế
mới trong chính sách phát triển giáo dục - đào
tạo ở các nước nhằm góp phần định hướng tiến
trình tồn cầu hố.


Tồn cầu hóa tạo nên một thị trường giáo
dục - đào tạo quốc tế, đòi hỏi các trường, các cơ
sở giáo dục phải có chương trình đào tạo, cơ sở
vật chất và đội ngũ giảng viên theo tiêu chuẩn
quốc tế. Nền giáo dục đại học đã trở thành một
thị trường cạnh tranh của những nền giáo dục
hiện đại trên thế giới. Liệu Việt Nam có thể trở
thành một đối tác, hợp tác một cách có hiệu quả
và cạnh tranh được với các nước khác hay
khơng? Điều này cịn phụ thuộc vào chiến lược
đổi mới của giáo dục - đào tạo, chính sách đầu
tư, khả năng quản lý và đội ngũ giảng viên.


Nhưng thực tế cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa
có trường nào đạt tiêu chuẩn quốc tế.


Mỗi nước trên thế giới có sự khác nhau
về chế độ chính trị, kinh tế, văn hố và dân
tộc. Các nước phát triển như Mỹ, Anh, Đức,
Canada là những trung tâm giáo dục lớn trên
thế giới, hấp dẫn nhiều du học sinh. Những
trung tâm giáo dục của từng vùng như trường
Đại học ở Ả Rập cho những người nói tiếng Ả
Rập, các trường đại học ở Trung Quốc cho
vùng châu Á. Sự hội nhập, hợp tác quốc tế
về giáo dục - đào tạo ở từng nước còn phụ
thuộc nhiều vào sự quan tâm của các đảng
phái, chính phủ và năng lực kinh tế ở trong
các nước đó, nó địi hỏi sự mạnh dạn nhưng
cũng phải hết sức cẩn trọng


Càng ngày càng có nhiều người thích du
học nước ngồi. Lưu lượng thơng thường
khoảng chừng 4,5 triệu sinh viên, trong đó
80% là từ các nước đang phát triển. Ngay sinh
viên ở các nước phát triển cũng thích ra nước
ngồi để học thêm văn hoá bổ sung kiến thức.
Các giáo sư, nhà nghiên cứu và quản lý giáo
dục cũng chọn việc ra nước ngoài để giảng dạy
hoặc trau dồi thêm kiến thức (khoảng 200.000
người/năm). Làn sóng “di cư trí thức” từ các
nước đang phát triển đến các trung tâm giáo



dục trên thế giới. Họ mang theo cả một nền
văn hoá khác với dân tộc khi trở về nước


Nhu cầu hợp tác trong giáo dục - đào tạo
giữa các quốc gia trước q trình tồn cầu hóa
đã và đang đòi hỏi phải xây dựng và phát triển
các khuôn khổ chung về giáo dục - đào tạo cấp
độ khu vực và quốc tế như: hệ thống giáo dục,
chuẩn mực về nhà trường, giáo viên, chương
trình đào tạo, thiết bị, phương tiện dạy học...
tạo cơ sở thuận lợi cho các chương trình hợp tác
giáo dục - đào tạo, công nhận tương đương văn
bằng, chứng chỉ, trao đổi giảng viên, sinh viên,
chuyển tiếp chương trình đào tạo, kiểm định
chất lượng... Cùng với quá trình xây dựng và
hoàn thiện hệ thống chuẩn mực quốc gia, việc
tiếp cận với các chuẩn mực quốc tế và khu vực
là nhu cầu và xu hướng phát triển tất yếu của
hệ thống giáo dục các nước đặc biệt là các nước
đang phát triển. Các quan hệ quốc tế và quốc
gia trong phát triển giáo dục không phải là quan
hệ đối lập, loại trừ mà là quan hệ tương thích
nhằm đáp ứng các nhu cầu, lợi ích của từng
quốc gia và lợi ích của cộng đồng quốc tế trong
phát triển giáo dục - đào tạo. Nền giáo dục -
đào tạo tiến bộ và hiện đại hướng tới hình thành
và phát triển nhân cách toàn diện cho mỗi con
người trở thành những cơng dân, những thành
viên tích cực của quốc gia và thế giới.



</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>



98
Yêu cầu định hướng đối với tiến trình


tồn cầu hố thuộc phạm vi chính sách phát
triển của từng quốc gia trên mọi lĩnh vực kinh
tế - xã hội. Trong bối cảnh đó, hợp tác giáo dục
- đào tạo là một xu thế mới trong chính sách
phát triển giáo dục - đào tạo ở các nước nhằm
góp phần định hướng tiến trình tồn cầu hố.
<i><b>1.2. Tác động của cách mạng khoa học </b></i>
<i><b>công nghệ </b></i>


Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật,
nay là cuộc cách mạng khoa học - công nghệ
đã tạo điều kiện cho xu thế “tồn cầu hóa”,
“quốc tế hóa” phát triển mạnh mẽ. Càng ngày
sự phân hóa giữa các nước phát triển và chậm
phát triển càng gia tăng. Tại diễn đàn hợp tác
và phát triển kinh tế năm 2001, Ban thư ký đã
có một báo cáo, trong đó nói rằng: những quốc
gia có chính sách phát triển kinh tế tri thức đã
tăng trưởng rất nhanh, còn những quốc gia
khác đã tụt hậu ngày càng rõ rệt hơn. Đầu thế
kỷ XX, khoảng cách thu nhập bình quân giữa
nước giàu nhất so với nước nghèo nhất là 10
lần, thì đầu thế kỷ XXI, khoảng cách đó là 400
lần. Sự khơng cập nhật tri thức mới trong q
trình lão hóa tri thức tăng tốc, nhất là sự bất


cập với công nghệ mới, công nghệ cao là yếu
tố hàng đầu của sự phân hóa phát triển - kém
phát triển. Khoảng 30 năm lại đây, lượng kiến
thức nhân loại thu được về khoa học và công
nghệ bằng tổng số kiến thức đó trong hai ngàn
năm trước đó. Theo dự báo, đến năm 2020,
những tri thức khoa học sẽ tăng khoảng 4 lần
so với năm 2000.


Để giải quyết bài toán phát triển đầy
thách thức, Việt Nam phải tính đến yếu tố
con người, năng lực sáng tạo tri thức mới, từ
đó cần phải học tập và cập nhật kiến thức
mới, hòa mình vào với nền tri thức của nhân
loại để phát triển.


Công nghệ thông tin đang giúp cho quá
trình phát triển ở các quốc gia nhanh chóng
hơn. Cơng nghệ thông tin với hàng loạt các
sách báo điện tử, các bản tin, website, email
đã trở thành các dịch vụ công cộng nhanh nhất.
Thơng tin tồn cầu giúp con người bước vào thế
giới học vấn rộng lớn. Kiến thức được nhân lên
gấp bội qua thư viện khổng lồ và vơ tận từ máy


tính. Khả năng cập nhật những tri thức mới
cũng nhanh chóng. Cơng nghệ thơng tin được
phát triển sử dụng với hình thức cao hơn, từ
quảng cáo đến thương mại điện tử và chính
phủ điện tử ở các nước phát triển. Những quốc


gia coi trọng công nghệ thông tin đã được lợi
vô cùng lớn trong việc tiếp nhận những tri thức.
Ngược lại, thực tế ở những nước chưa có đủ
điều kiện phát triển cơng nghệ thơng tin thì nền
giáo dục cũng phát triển kém và hệ quả kéo
theo là nền kinh tế cũng trì trệ.


Cơng nghệ thơng tin đặc biệt giúp cho sự
phát triển của các trung tâm đào tạo từ xa,
nhanh chóng và thuận lợi đưa bài giảng đến
từng người ở các vùng xa xôi hay thoả mãn bất
cứ thời gian nào của người ham học nhưng bận
rộn. Nhiều trường đã thực hiện các chương
trình đào tạo từ xa chất lượng và uy tín...
Tuy nhiên, hiện nay khơng phải quốc gia nào
cũng có điều kiện phát triển cơng nghệ thơng
tin, Việt Nam đang tích cực và cố gắng không
ngừng để tiếp nhận tri thức qua kênh công nghệ
thông tin nhưng chưa thực sự hiệu quả


<i><b>1.3. Nhu cầu phát triển đất nước nói </b></i>
<i><b>chung và mở rộng, tăng cường hợp tác </b></i>
<i><b>quốc tế trong giáo dục - đào tạo nói riêng </b></i>
Thành tựu phát triển đất nước từ sau khi
đổi mới đã tăng cường sức mạnh tổng hợp, làm
thay đổi bộ mặt của đất nước và cuộc sống của
nhân dân, củng cố vững chắc độc lập dân tộc
và chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế và
uy tín của nước ta trên trường quốc tế.



</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>



99
vẫn còn đi sau các nước ở nhiều mặt, là một


nước nông nghiệp, dân số đông, năng lực


lao động thấp, tuy nhiên, lại có lợi thế về
nguồn nhân lực.


<i>Bảng 1: Dự báo một số chỉ tiêu cơ bản về phát triển nhân lực đến 2020 </i>


<b>Chỉ tiêu </b> <b>2005 </b> <b>2010 </b> <b>2015 </b> <b>2020 </b>


1. Lực lượng lao động làm việc
trong nền kinh tế –Tổng số/
(1000 người)


43.456 45.750 47.500 48.500


2. Tỷ lệ lao động qua đào tạo
(%)


24,8 40,0 50,0 60,0


3. Số người được đào tạo kỹ năng nghề nghiệp trình độ cao


- Hoạch định chính sách 12.000 15.000 18.000 20.000


- Giảng viên đại học 47.700 70.000 120.000 200.000



- Khoa học – công nghệ 30.000 40.000 60.000 100.000


- Y tế, chăm sóc sức khỏe 51.500 60.000 70.000 80.000


<i> Nguồn: Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam </i>
Trước kia, giá nhân công ở Việt Nam


rẻ hơn so với một số nước ở khu vực là một
lợi thế nhưng hiện nay đặc điểm này không
còn là yếu tố hấp dẫn đối với nhà đầu tư
nước ngoài mà họ đang chuyển hướng vào
những nước có nguồn nhân lực tay nghề cao,
nền chính trị ổn định và tay nghề tốt. Đây là
một điều không mấy lợi thế cho sức cạnh
tranh về nguồn nhân lực của Việt Nam nói
riêng và sức cạnh tranh kinh tế nói chung.
Nhu cầu phát triển nhanh giáo dục - đào tạo
đòi hỏi sự đáp ứng của q trình cơng nghiệp
hố, hiện đại hố đất nước, phát triển kinh
tế theo chiều sâu tri thức với công nghệ tiên
tiến và hội nhập quốc tế, trong khi nguồn
lực đầu tư cho giáo dục có giới hạn sẽ tạo
sức ép đối với phát triển giáo dục - đào tạo.
Nguy cơ tụt hậu có thể làm cho khoảng
cách kinh tế, tri thức, giáo dục – đào tạo giữa
Việt Nam với các nước ngày càng gia tăng. Để
trở thành một nước công nghiệp tiên tiến,
với xuất phát điểm là nền kinh tế nông
nghiệp lạc hậu và chỉ vừa đạt được một số


thành tựu kinh tế nhất định thì Việt Nam cần
phải giải quyết nhiều vấn đề, trong đó đào
tạo nguồn nhân lực có tư duy phù hợp với
nền kinh tế thị trường và tồn cầu hóa là
một trong những vấn đề tất yếu cần giải
quyết. Để giải quyết những nhược điểm của
nguồn nhân lực Việt Nam thì nền giáo dục -
đào tạo có đáp ứng được hay không, hay cần


sự giúp đỡ từ các nước tiên tiến? Dựa trên
những điều kiện khách quan cũng như chủ
quan, Việt Nam đã sớm nhận ra rằng muốn
tiến lên để hịa nhập với phát triển tồn cầu
thì Việt Nam cần phải mở rộng quan hệ
ngoại giao với các nước trong khu vực cũng
như trên thế giới về mọi mặt để tranh thủ sự
giúp đỡ của quốc tế trong đó có lĩnh vực giáo
dục - đào tạo.


Xu hướng toàn cầu hoá đang đặt ra
những tiêu chuẩn quốc tế cho nguồn nhân
lực có trình độ cao. Nền giáo dục Việt Nam
còn lạc hậu, phải đối mặt với một thách
thức nặng nề đó là vấn đề: “tồn tại hay
khơng tồn tại”.


Những vấn đề có ý nghĩa hết sức quan
trọng và bức thiết đã và đang đặt ra những
yêu cầu, những nội dung rất mới, rất cao về
nguồn lực con người, với những giá trị mới,


tiêu chí mới về phẩm chất và năng lực của
mỗi con người và cả cộng đồng.


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>



100
qua hội nhập và hợp tác quốc tế, tranh thủ


các nguồn lực bên ngoài để phát huy nội lực
mạnh hơn, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp
để phát triển đất nước nhanh và bền vững,
trên cơ sở giữ vững độc lập dân tộc và định
hướng xã hội chủ nghĩa [3, tr.72-73]


Thách thức trước nguy cơ tụt hậu xa
hơn về giáo dục - đào tạo với khu vực và thế
giới kéo theo nguy cơ tụt hậu về kinh tế so
với các nước phát triển ngày càng lớn. Hợp
tác quốc tế hội nhập thế giới đồng nghĩa với
việc tăng lựa chọn quốc tế cho người học.
Nếu các cơ sở giáo dục - đào tạo trong nước
không đáp ứng được chất lượng, người học
có năng lực sẽ lựa chọn các cơ sở giáo dục -
đào tạo ngoài nước và sẽ làm cho các cơ sở
giáo dục - đào tạo trong nước gặp khó khăn
hơn trong việc tiếp cận các chuẩn mực giáo
dục - đào tạo quốc tế


Trước nhu cầu phát triển đất nước để
sánh ngang với các nước trên thế giới, với vị


thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày
nay, Việt Nam hiện nay cần phải hợp tác
quốc tế về giáo dục - đào tạo, cùng với các
lĩnh vực khác. Đây là cơ hội để giáo dục Việt
Nam tiếp cận với xu thế tất yếu, thực hiện
việc trao đổi kinh nghiệm và xây dựng một
nền giáo dục – đào tạo tiên tiến bắt kịp với
thế giới và khu vực.


<b>2. Tình hình hợp tác quốc tế trong giáo </b>
<b>dục - đào tạo ở Việt Nam cũng đặt ra </b>
<b>những yêu cầu mới </b>


Cơng cuộc đổi mới tồn diện đất nước
từ năm 1986 đã thực sự mở ra một thời kỳ
mới trong lịch sử nước ta, nền giáo dục - đào
tạo cũng có những chuyển biến căn bản.
Xuất phát từ quan điểm cơ bản là sự nghiệp
giáo dục phải phù hợp với sự nghiệp phát
triển kinh tế, yêu cầu của công cuộc đổi mới
giáo dục phải phù hợp với cơng cuộc đổi mới
tồn diện nền kinh tế - xã hội, ngay năm
1987, ngành giáo dục - đào tạo đã tập trung
thảo luận và đề xuất phương hướng đổi mới.
Đánh dấu giai đoạn mới này là thông
điệp ngoại giao do Đại hội Đảng Cộng sản Việt
Nam lần thứ VII (1991) gửi đi, trong đó khẳng
định: “Việt Nam thực hiện chính sách đối


ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng, đa phương


hoá, đa dạng hoá với tinh thần Việt Nam muốn
là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế
giới, phấn đấu vì hồ bình, độc lập và phát
triển” [3, tr.119]. Vì thế, cùng với những
bước chuyển quan trọng trong quan hệ quốc
tế, cụ thể là việc bình thường hố quan hệ
ngoại giao với Hoa Kỳ (12/7/1995), Việt
Nam trở thành thành viên đầy đủ của ASEAN
(28/7/1995), nước ta ký hiệp định khung về
hợp tác với Liên minh châu Âu
(17/7/1995),…


Từ năm 2000, Việt Nam đã ban hành các
văn bản pháp lý khuyến khích sự hiện diện
thương mại của các nhà cung ứng giáo dục
nước ngồi theo cơ chế vì lợi nhuận và khơng
vì lợi nhuận, dưới các hình thức văn phịng đại
diện, cơ sở liên kết và cơ sở 100% vốn nước
ngồi. Mặt tích cực của nó là đã thúc đẩy tiến
trình đa dạng hố giáo dục, đáp ứng nhu cầu
học tập của một bộ phận người học thuộc các
gia đình có thu nhập cao, khuyến khích sự du
học tại chỗ.


Từ năm 1986 đến năm 1990, mỗi năm ta
gửi được 4.400 lưu học sinh trong đó có 2.400
ở bậc đại học, sau đại học và 2.000 ở bậc trung
học chuyên nghiệp và dạy nghề đi Liên Xô và
các nước Đông Âu. Đến đầu năm 1990, các nước
thuộc: Liên Xô cũ và các nước xã hội chủ nghĩa


Đông Âu đã đào tạo cho Việt Nam 6.500 Phó
Tiến sĩ (nay là Tiến sĩ), 238 Tiến sĩ (nay là Tiến
sĩ khoa học), 34.000 sinh viên Đại học và
72.000 công nhân học nghề. Đây là những con
số to lớn ghi nhận cơng lao và tình cảm q báu
của Nhà nước và nhân dân các nước anh em đã
giúp Việt Nam trong những năm tháng khó khăn
mọi bề và mãi mãi không quên.


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>



101
thông qua các dự án, các chương trình hợp


tác song phương...


Năm 1999 - 2000, CIDA (Canadia
International Development Agency) của
Canada đã tài trợ Bộ Giáo dục và Đào tạo
một dự án trị giá khoảng 500.000 đôla
Canada để nâng cao năng lực xây dựng
chính sách và chiến lược giáo dục Việt Nam.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đón khoảng
400 lượt khách quốc tế, đến năm 1995 là
1.500 lượt, năm 1996 là 2.400 lượt và ngày
càng tăng lên. Trong số đó có 40% vào để trao
đổi, hợp tác nghiên cứu khoa học và đào tạo,
còn lại 60% số khách vào để giao lưu và tham
gia các hoạt động văn hóa, giáo dục vào mỗi
năm cuối thập kỉ 80.



Từ năm 2000 đến năm 2007 trong tổng
số 2.684 lưu học sinh được tuyển chọn đi học
tại 30 nước của đề án 322, số lượng được gửi
đi đào tạo nhiều nhất là ở Nga (496 người),
tiếp đó là Úc (357 người) và Mỹ (334 người),
chiếm tỉ lệ cao nhất là các ngành khoa học kỹ
thuật (41,49%), khoa học tự nhiên (14,55%),
quản lý kinh tế (14,42%)... Trong giai đoạn 2
đề án 322 (kéo dài từ năm 2006 và kết thúc
vào năm 2014 với kinh phí dự kiến là 260 tỉ
đồng/năm), từ nay đến năm 2010, mỗi năm
Bộ Giáo dục - Đào tạo cấp 400 suất học bổng,
trong đó 50% là để đào tạo bậc tiến sĩ tại các
nước tiên tiến như: Mỹ, Canada, Anh, Đức,
Pháp, Hà Lan, Liên bang Nga, Úc, New
Zealand, Nhật Bản, Hàn Quốc. Năm 2009,
nước ta đã có mối quan hệ liên kết đào tạo với
khoảng 60 nước, 36 tổ chức quốc tế; 200
chương trình liên kết đào tạo ở những mức độ
<b>khác nhau. Năm 2011, có khoảng 60.000 du </b>
học sinh Việt Nam đang theo học tại các cơ sở
đào tạo nước ngoài. Những ngành nghề được
ưu tiên đào tạo bao gồm công nghệ thông tin,
công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công
nghệ nano, công nghệ cao. Năm 2014, nước
ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng
trong lĩnh vực hợp tác quốc tế, đồng thời vấn
đề hợp tác quốc tế được triển khai một cách
toàn diện, phục vụ cho chính sách đối ngoại


đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam.
Việt Nam đã cử nhiều cán bộ đi giảng dạy,
nghiên cứu, nâng cao trình độ ở nhiều quốc


gia khác nhau trên thế giới, qua đó chúng ta
đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao...
Số sinh viên đi du học ngày càng tăng, trong
đó ở Mỹ có đến 16.000 học viên và sinh viên
Việt Nam theo học, đưa Việt Nam trở thành
một trong những nước có nhiều sinh viên du
học nhất tại Mỹ. Số sinh viên Việt Nam theo
học tại các quốc gia khác cũng tăng mạnh như
Úc, New Zeland, các nước truyền thống châu
Âu và trong khu vực ASEAN. Với tư cách là
thành viên trong mạng lưới các trường Đại học
ASEAN, Việt Nam tăng cường hợp tác với các
nước trong khu vực trao đổi sinh viên, hướng
sinh viên học tập, tìm hiểu về văn hóa, lịch sử
và ngôn ngữ các nước, nhằm xây dựng Cộng
đồng văn hóa - xã hội ASEAN. Năm 2014,
được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước,
nhiều chương trình, dự án cụ thể về hợp tác
đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đã tiếp
tục được triển khai, điển hình là “Chương trình
911”, tiếp nối “Chương trình 322” trước đây,
đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở trình
độ thạc sỹ, tiến sỹ ở nước ngoài... Ngoài ra,
một điểm sáng nữa đó là quỹ NAFOSTED tiếp
tục có nhiều đóng góp cho khoa học nước nhà,
trở thành địa chỉ tin cậy, có uy tín đối với các


nhà khoa học mở rộng hợp tác quốc tế, ký
nhiều văn bản hợp tác với các quỹ quốc tế, tài
trợ cho các đề tài nghị định thư hợp tác với Bỉ,
Úc, Mỹ...


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>



102
năm 2018, và các viện trợ song phương cũng


như nguồn học bổng của Chính phủ các nước
cấp ngày càng hạn hẹp. Tham gia Diễn đàn
này có khoảng 30 trường Đại học đến từ các
nước Châu Âu và gần 50 trường đại học của
Việt Nam. Tại Diễn đàn này, các cơ sở giáo
dục trong nước và quốc tế đã cùng nhau chia
sẻ, báo cáo một số kinh nghiệm phục vụ cho
quá trình hội nhập quốc tế của các cơ sở đào
tạo đại học nhằm tháo gỡ những khó khăn
cũng như mang đến những thông tin và cơ hội
du học có giá trị cho học sinh, sinh viên cũng
như cơ hội hợp tác giáo dục đại học giữa Việt
Nam và Châu Âu.


Bên cạnh đó cũng có nhiều hạn chế:
Việt Nam chưa chuẩn bị và đào tạo kịp
những cán bộ có trình độ chun môn và
ngoại ngữ giỏi để làm công tác quan hệ quốc
tế trong tình hình quốc tế thay đổi đột ngột
và các đối tác mới càng nhiều hơn. Chưa kịp


xây dựng được một cơ chế và bộ máy hữu
hiệu để điều hành và quản lý công tác quan
hệ quốc tế của ngành, từ việc đào tạo và sử
dụng cán bộ một cách hợp lý cho đến việc
phân cấp quản lý công tác quan hệ quốc tế
một cách rõ rằng: Hợp tác từ Bộ đến các
ngành và cơ sở. Mặc dù từ tháng 3/1994,


Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có quy
định về việc quản lý công tác quan hệ quốc
tế trong toàn ngành nhưng trên thực tế việc
thực hiện còn nhiều chồng chéo


Trước xu thế tồn cầu hố, sự phát
triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ
đang diễn ra như vũ bão, để có thể hội nhập
với thế giới, Việt Nam phải xây dựng cả xã
hội thành xã hội học tập. Tồn cầu hố u
cầu phải thay đổi nền giáo dục của Việt Nam.
Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục - đào
tạo có ý nghĩa hết sức quan trọng, sẽ là thời
cơ để Việt Nam nắm bắt cơ hội hịa mình vào
dòng chảy tri thức chung của thế giới, cũng
sẽ là thách thức mà nếu kiên định sẽ vượt
qua để thành cơng hơn, góp phần khơng nhỏ
vào q trình xây dựng đất nước theo hướng
CNH, HĐH. Bên cạnh đó, từ những thành
công và hạn chế trong sự nghiệp giáo dục và
đào tạo trong suốt 30 năm đổi mới càng
khẳng định rằng: Hợp tác quốc tế trong lĩnh


vực giáo dục - đào tạo là vấn đề cấp bách và
sống còn đối với Việt Nam cả ở hiện tại và
tương lai. Để phát triển giáo dục - đào tạo
Việt Nam có thể hội nhập tốt với thế giới và
khu vực, cùng với việc tăng thêm đầu tư của
Nhà nước, phải xã hội hóa giáo dục một cách
sâu rộng và hội nhập quốc tế kịp thời, nhanh
chóng và chủ động


<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO </b>


<i>[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Báo cáo quốc gia giáo dục cho Việt Nam 2015 của Việt Nam, </i>
Hà Nội.


<i>[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính </i>
<b>trị Quốc gia, Hà Nội. </b>


<i>[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương </i>


<i>khóa X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. </i>


<i>[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2014), Văn kiện Đảng về phát triển kinh tế - xã hội từ đổi mới </i>


<i>(năm 1986) đến nay, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội. </i>


</div>

<!--links-->

×