Tải bản đầy đủ (.pdf) (99 trang)

Luận văn phân tích kết quả kinh doanh của công ty vật tư tổng hợp lạng sơn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.84 MB, 99 trang )

1
bộ giáo dục và đào tạo
trờng đại học nông nghiệp I
----------&----------


chu ngọc phợng


phân tích kết quả kinh doanh của Công
ty Vật T Tổng Hợp Lạng Sơn


luận văn thạc sĩ kinh tế
Chuyên nghành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 5.02.01


Ngời hớng dẫn khoa học: gs.ts. phạm thị mỹ dung



hà nội, 2004
2
1. Mở đầu

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong điều kiện kinh tế thị trờng, quốc tế hoá và khu vực hoá ngày
càng cao thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng khốc liệt. Việc
phát triển lớn mạnh và sự hoạt động phong phú, đa dạng của các doanh nghiệp


trong cơ chế thị trờng đòi hỏi phải có những công cụ sắc bén để quản lý kinh
tế và tài chính. Trong đó phân tích kết quả kinh doanh là một công cụ quan
trọng cần phải đợc nghiên cứu và có cơ sở khoa học cả về mặt lý luận thực
tiễn.
Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện năng lực hoạt động trong
quá trình sản xuất kinh doanh và năng lực tài chính, đánh dấu sự phát triển của
doanh nghiệp qua mỗi thời kỳ. Do vậy kết quả kinh doanh rất quan trọng đối
với các nhà quản trị trong việc lập kế hoạch cho tơng lai và khắc phục những
tồn tại, thiếu sót.
Phân tích kết quả kinh doanh của doanh nghiệp để thấy đợc các nhân
tố ảnh hởng, mức độ và xu hớng tác động của từng nhân tố. Từ đó đề xuất
các biện pháp nhằm nâng cao hơn nữa kết quả đạt đợc.
Công ty Vật t tổng hợp Lạng Sơn là một doanh nghiệp Nhà nớc nằm
trong địa bàn Thành phố Lạng Sơn, một tỉnh miền núi phía bắc và cũng là một
địa bàn có hoạt động kinh doanh thơng mại khá mạnh. Tuy nhiên ở đâu mà
có thị trờng kinh doanh hoạt động sôi động, mạnh mẽ thì cũng có sự cạnh
tranh gay gắt, khốc liệt. Do vậy để tồn tại và phát triển thì vấn đề quan tâm
hàng đầu của các doanh nghiệp là đánh giá đúng kết quả kinh doanh. Nhận
thức đợc tầm quan trọng của vấn đề đối với các doanh nghiệp nên chúng tôi
chọn nghiên cứu đề tài: Phân tích kết quả kinh doanh của Công ty Vật t
tổng hợp Lạng Sơn.

3
1.2. Mục tiêu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung
Phân tích kết quả kinh doanh của Công ty Vật t tổng hợp Lạng Sơn để
thấy rõ xu hớng biến động kết quả kinh doanh qua các năm cũng nh các
nhân tố ảnh hởng tới kết quả kinh doanh, từ đó đề xuất những biện pháp làm
tăng kết quả kinh doanh của Công ty.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống các cơ sở lý luận về kết quả kinh doanh của một doanh
nghiệp.
- Phân tích kết quả kinh doanh tại Công ty Vật t tổng hợp Lạng Sơn.
- Đề xuất một số biện pháp sát thực làm tăng cờng kết quả kinh doanh
của Công ty.
1.3. Đối tợng nghiên cứu
-
Kết quả kinh doanh của toàn Công ty.
- Kết quả kinh doanh của một số mặt hàng.
1.4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Về nội dung:
- Phân tích các chỉ tiêu về kết quả kinh doanh nh: Số lợng hàng hoá,
doanh thu bán hàng, lợi nhuận. Phân tích môi trờng và các nhân tố ảnh
hởng đến sản xuất kinh doanh của công ty, việc sử dụng các điều kiện trong
quá trình sản xuất kinh doanh.
* Về thời gian:
Phân tích kết quả kinh doanh tại Công ty Vật t tổng hợp Lạng Sơn từ
năm 1998 đến năm 2003.
* Về không gian:
Nghiên cứu kết quả chung của Công ty Vật t tổng hợp Lạng Sơn và
kết quả của một số bộ phận trực thuộc, một số mặt hàng.

4
2. Cơ sở lý luận về kết quả kinh doanh
của doanh nghiệp

2.1. Khái niệm về doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở
giao dịch ổn định đợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm
mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.


Nh vậy tuỳ theo hình thức hoạt động và ngành nghề kinh doanh của
mỗi doanh nghiệp mà có nội dung đăng ký kinh doanh khác nhau.
Doanh nghiệp bao gồm có doanh nghiệp thơng mại dịch vụ, doanh
nghiệp sản xuất, doanh nghiệp hoạt động cả sản xuất và thơng mại.
2.2. Khái niệm về kết quả kinh doanh

Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế. Trong thị trờng có các đơn vị kinh
tế có thể là đơn vị hạch toán đầy đủ cơ sở nh doanh nghiệp hoặc các các đơn
vị khác hạch toán không đầy đủ nh các hộ kinh doanh, các trang trại
Vì doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế nên hoạt động của doanh nghiệp
có thể là mua và bán lại hàng hoá để thu lợi nhuận gọi là doanh nghiệp thơng
mại, doanh nghiệp cũng có thể mua vật t về tổ chức sản xuất ra sản phẩm để
bán lấy lãi gọi là doanh nghiệp sản xuất. Một số doanh nghiệp khác có thể kết
hợp cả hai loại hình hoạt động trên.
Kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp có thể đợc xem xét riêng
kết quả của giai đoạn sản xuất ra sản phẩm, kết quả giai đoạn tiêu thụ sản
phẩm và kết quả kinh doanh của cả doanh nghiệp.
2.2.1 Kết quả giai đoạn sản xuất sản phẩm
Khi tiến hành bất cứ một hoạt động nào con ngời đều quan tâm đến
kết quả đạt đợc sau khi hoạt động đó hoàn thành. Hoạt động sản xuất là hành
vi của ngời sản xuất với mục tiêu tạo ra những sản phẩm cho tiêu dùng hoặc
cung cấp ra thị trờng nên mục đích của sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu
5
dùng cho sản xuất lẫn tiêu dùng cá nhân. Kết quả của hoạt động sản xuất đợc
thể hiện trên hai mặt là khối lợng sản phẩm sản xuất ra và chất lợng của
những sản phẩm đó. Chất lợng sản phẩm lại phụ thuộc cơ bản vào chất lợng
công tác sản xuất trong doanh nghiệp.
Khi chuyển sang cơ chế thị trờng quan niện về sản xuất có sự thay đổi
nên tính toán kết quả sản xuất ra cũng có sự thay đổi. Theo hệ thống xã hội

chủ nghĩa trớc đây quan niệm về sản xuất là việc tạo ra sản phẩm vật chất
nên chỉ có các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp mới là ngành sản
xuất và đo lờng kết quả theo hệ thống MPS.
Theo quan niệm của kinh tế thị trờng thì sản xuất là tạo ra của cải vật
chất và dịch vụ nên theo Liên Hiệp Quốc thì sản xuất bao gồm cả ba ngành
nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, các chỉ tiêu đợc tính theo SNA.
Hai hệ thống chỉ khác nhau ở phần tính kết quả sản xuất dịch vụ còn
kết quả sản xuất vật chất không thay đổi. Sản xuất với mục đích tiêu dùng thì
chỉ liên quan đến tiêu dùng nội bộ của ngành sản xuất. Còn sản xuất cho thị
trờng là sản xuất hàng hoá, quy mô lớn và nhằm phục vụ cho tiêu thụ. Với
doanh nghiệp sản xuất mang tính sản xuất hàng hoá và giai đoạn sản xuất
phục vụ giai đoạn tiêu thụ thì kết quả sản xuất của doanh nghiệp là các sản
phẩm nhng đồng thời cũng là sản phẩm hàng hoá [5 ].
2.2.2. Kết quả giai đoạn tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của
sản phẩm hàng hoá. Qua tiêu thụ sản phẩm chuyển từ hình thái hiện vật sang
hình thái tiền tệ và kết thúc một vòng luân chuyển vốn. Có tiêu thụ sản phẩm
mới có vốn để tiến hành tái sản xuất mở rộng, tăng nhanh tốc độ luân chuyển
vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng.
Kết quả giai đoạn tiêu thụ sản phẩm đợc thể hiện số lợng sản phẩm
hàng hoá đợc tiêu thụ ra thị trờng. Sản phẩm của doanh nghiệp có thể đợc
tiêu thụ ở nhiều thị trờng khác nhau nh nội địa, xuất khẩu, thành thị hoặc
nông thôn với giá bán khác nhau.
6
Qua tiêu thụ tính chất hữu ích của sản phẩm mới đợc xác định một
cách hoàn toàn. Có tiêu thụ đợc sản phẩm mới chứng tỏ năng lực kinh doanh
của doanh nghiệp, thể hiện kết quả công tác nghiên cứu thị trờng, công tác
marketing.
Kết quả quá trình tiêu thụ sản phẩm liên quan đến việc chế tạo và tiêu
thụ sản phẩm, thực hiện giá trị lao động thặng d nhằm mở rộng quy mô sản

xuất và nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên.
2.2.3. Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Kết quả kinh doanh của toàn doanh nghiệp là kết quả tổng hợp một quá
trình từ mua hàng đến bán hàng hoặc từ thu mua nguyên vật liệu (đầu vào)
đến quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Đó là kết quả tài chính cuối cùng
của doanh nghiệp. Có thể nói kết quả kinh doanh của doanh nghiệp là tổng
hợp kết quả của các khâu mua hàng, gia công chế biến, đóng gói, tiêu thụ. Do
vậy kết quả kinh doanh chịu ảnh hởng của nhiều yếu tố nh giá bán, giá vốn,
chi phí bán hàng, chi phí quản lý, kết cấu mặt hàng tiêu thụ. Ngoài ra doanh
nghiệp còn có những hoạt động khác. Bởi vậy kết quả kinh doanh là sự thể
hiện tổng hợp mọi hoạt động của doanh nghiệp và thờng đợc xác định theo
từng kỳ nhất định. Kết quả kinh doanh có thể là các kết quả ban đầu hoặc kết
quả cuối cùng nên khi đánh giá phải xem xét qua từng giai đoạn kinh doanh.
Hơn nữa mỗi doanh nghiệp ngoài các kết quả kinh doanh do các hoạt động
sản xuất kinh doanh đa lại với các ngành nghề cho phép trong đăng ký kinh
doanh thì còn có các kinh doanh khác nh kết quả hoạt động tài chính, kết quả
hoạt động bất thờng [6].
Trong các doanh nghiệp quan tâm nhất là kết quả kinh doanh của một
năm theo lịch. Kết quả đó đợc thể hiện qua các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp.
Kết quả kinh doanh là mục tiêu của mọi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp trong từng thời kỳ kinh doanh vì các doanh nghiệp muốn phát
7
triển thì phải có kết quả mà quan trọng nhất là kết quả cuối cùng lợi nhuận
của doanh nghiệp.
Phân tích kết quả sản xuất kinh doanh giúp cho nhà lãnh đạo doanh
nghiệp có đợc các thông tin cần thiết cho công việc quản lý nhằm đạt đợc
mong muốn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nh vậy phân tích kinh
doanh có thể nói là một chức năng quản lý kinh doanh không thể thiếu đợc
đối với các nhà quản lý. Nói cách khác, để có các quyết định đúng đắn thì các

nhà quản lý đều phải dựa trên những kết luận đợc rút ra từ phân tích toàn bộ
các hoạt động sản xuất kinh doanh thời gian qua, tìm ra các nhân tố ảnh
hởng để từ đó đa ra mục tiêu và quyết định cho thời gian tới.
2.3. Các nhân tố ảnh hởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hởng bởi nhiều nhân tố
khác nhau. Những nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan.
2.3.1. Nhân tố chủ quan
Nhân tố chủ quan là những nhân tố do bản thân doanh nghiệp đem lại
có ảnh hởng tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nh tình hình cung cấp
hàng hoá đầu vào (đối với khâu kinh doanh thơng mại), tình hình cung câp
nguyên vật liệu (đối với khâu sản xuất gia công chế biến), chất lợng chủng
loại cơ cấu hàng hoá, sản phẩm sản xuất ra, phơng thức bán hàng, chiến lợc
thị trờng, tiếp thị, tổ chức và kỹ thuật thơng mại, trình độ cán bộ, năng lực
quản lý..
- Đối với tình hình cung cấp hàng hoá đầu vào cho kinh doanh thơng
mại hay thu mua nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất phụ thuộc vào vốn,
tiền mặt, thị trờng cung ứng, năng lực vận chuyển, bảo quản, kho bãi, tổ chức
kỹ thuật tác nghiệp. Đây chính là những nguyên nhân ảnh hởng đến tình hình
cung cấp đầu vào.
- Đối với tình hình dự trữ hàng hoá: Hàng tồn kho phải bảo đảm không
để tình trạng thiếu hụt, không đủ khối lợng, làm mất khách hàng và cơ hội
kinh doanh. Tuy nhiên nếu hàng tồn kho quá lớn làm ứ đọng vốn dẫn đến tăng
8
chi phí bảo quản hàng tồn kho ảnh hởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Để bảo đảm nguồn cung cấp và giá cả hàng hoá, nguyên
vật liệu, một số doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất chế biến hàng
xuất khẩu thờng có những kế hoạch giữ gìn nguồn hàng thông qua việc đầu
t, ứng trớc cho các nhà cung cấp hoặc trực tiếp tổ chức sản xuất và xuất
khẩu.
- Giá bán: là yếu tố quan trọng ảnh hởng trực tiếp đến khối lợng tiêu

thụ và doanh thu. Giá bán phải phù hợp vừa thoả mãn đợc nhu cầu tiêu dùng
của khách hàng lại vẫn phải đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Chất lợng hàng hoá: Đây là một yếu tố mà xu hớng xã hội ngày
càng đồi hỏi cao về chất lợng, mẫu mã, bao bì hàng hoá. Chú ý đến giá thành
phải phù hợp giữa chất lợng và giá cả.
- Phơng thức bán hàng: Thể hiện phơng thức thanh toán, quảng cáo,
tiếp thị, lợng hoá các nhân tố ảnh hởng đến tình hình tiêu thụ để có chính
sách kinh doanh phù hợp. Tuỳ theo từng khách hàng, từng thị trờng tiêu thụ
mà có phơng thức bán hàng khác nhau.
- Tổ chức, kỹ thuật thơng mại: thể hiện ở mạng lới đại lý, bố trí cửa
hàng sao cho hàng hoá, sản phẩm đợc phân bố đồng đều ở các vùng. Bố trí
mạng lới đại lý lớn ở thị trờng tiêu thụ mạnh. Ngoài ra thể hiện ở tình hình
nhân sự và trình độ nghiệp vụ của cán bộ.
- Đổi mới công nghệ: Đổi mới công nghệ là cải tiến trình độ kiến thức
sao cho nâng cao đợc năng lực có thể làm ra sản phẩm nhiều hơn với một số
lợng đầu vào nh cũ hoặc có thể làm ra một lợng sản phẩm nh cũ với khối
lợng đầu vào ít hơn. Sự đổi mới sản phẩm thờng đợc thể hiện qua hai hoạt
động cơ bản. Đổi mới sản phẩm (sản phẩm phù hợp với thị hiếu ngời tiêu
dùng) và đổi mới quy trình sản xuất, cả hai nội dung đều quan trọng. Một
trong những xu hớng đổi mới quy trình của sản xuất đợc các nớc đang
phát triển quan tâm là thay đổi trình độ sản xuất thông qua sự kết hợp giữa
vốn (K) và kinh doanh (L) trong sản xuất. Đối với mỗi doanh nghiệp đổi mới
9
sản phẩm cần có đầy đủ các thông tin về thị trờng tiêu thụ: khối lợng tiêu
thụ, thị hiếu tiêu dùng, chất lợng mẫu mã sản phẩm mà ngời tiêu dùng yêu
cầu, ngoài ra căn cứ vào nguồn vốn của doanh nghiệp đề đầu t công nghệ
mới.
- Tổ chức sản xuất: khâu tổ chức sản xuất cần phải đợc nhịp nhàng và
ăn khớp giữa các bộ phận từ khâu thu mua nguyên vật liệu đến khâu cuối cùng
đóng gói và kiểm tra sản phẩm. Lập kế hoạch sản xuất trong mỗi kỳ cần dựa

vào kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, lợng hàng hoá tồn kho
của kỳ trớc. Tổ chức sản xuất tốt sẽ đảm bảo đợc cung ứng sản phẩm kịp
thời, tiết kiệm đợc những khoản chi phí không cần thiết, điều đó ảnh hởng
một cách tích cực đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp [12].
2.3.2. Nhân tố khách quan
Nhân tố khách quan là những nhân tố bên ngoài doanh nghiệp hay còn
còn gọi là môi trờng kinh doanh nh chính sách vĩ mô của chính phủ nhằm
ổn định hoá nh: chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá, chính sách về tỷ giá
hối đoái và những nguyên nhân thuộc về khách hàng.
- Tình hình xã hội: biến động về cơ cấu nền kinh tế và xu hớng phát
triển chung của toàn xã hội.
- Mức thu nhập của ngời tiêu dùng, trong đó nhu cầu tiêu dùng có mối
quan hệ thuận biến với thu nhập. Thu nhập tăng dẫn đến nhu cầu tiêu dùng
tăng. Thu nhập giảm dẫn đến nhu cầu tiêu dùng giảm. Phong tục tập quán và
lễ hội của địa phơng cũng có ảnh hởng đến kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
- Thay đổi về nhu cầu và sở thích của ngời tiêu dùng, nhu cầu đó là tự
nhiên hay mong muốn.
- Tình hình thế giới và khu vực, các khuynh hớng thơng mại, xu thế
hội nhập, khu vực hoá và toàn cầu hoá.
- Tiến trình quan hệ ngoại giao, hợp tác và đầu t của nớc ta với các
nớc khác trên thế giới.
10
- Những nguyên nhân bất thờng: thiên tai, lũ lụt, hoả hoạn.
- Chính sách vĩ mô của chính phủ ảnh hởng đến kết quả kinh doanh
của doanh nghiệp đợc thể hiện ở chỗ chính sách ảnh hởng đến doanh thu từ
đó sẽ ảnh hởng đến lợi nhuận. Thay đổi các chính sách kinh tế của chính phủ
và tình hình giao thơng quốc tế. Tỷ giá hối đoái, thị trờng tài chính tiền tệ,
khủng hoảng kinh tế và cạnh tranh, chính sách bảo hộ với các chiến lợc
thơng mại và công nghiệp hoá, chính sách về trợ giá, chính sách xuất nhập

khẩu... Những nhân tố này cũng làm ảnh hởng đến kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp.
Nh vậy kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc bởi
hai yếu tố chủ quan và khách quan. Nhà quản lý cần phải phân tích cụ thể
riêng biệt giữa hai nhân tố tác động này để có những điều chỉnh cho phù hợp
nhất và hiệu quả nhất.
2. 4. Đặc điểm hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp
2.4.1. Hoạt động sản xuất
2.4.1.1. Khái niệm về sản xuất và các yếu tố cấu thành nên sản xuất
* Khái niệm sản xuất
Sản xuất là một quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào (lao động, t liệu
lao động và đối tợng lao động) để tạo ra sản phẩm phục vụ tiêu dùng trong
xã hội.
* Yếu tố cấu thành nên sản xuất
Từ khái niệm về sản xuất cho thấy yếu tố chính cấu tạo nên quá trình
sản xuất đó là lực lợng lao động, trang thiết bị máy móc phục vụ cho sản
xuất, nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào khác. Các yếu tố này có ảnh
hởng trực tiếp đến kết quả sản xuất của doanh nghiệp.
Lực lợng lao động tác động đến quá trình sản xuất trên 2 mặt đó là số
lợng lao động và chất lợng lao động. Trong đó số lợng lao động tác động
đến quá trình sản xuất thể hiện qua số lao động và thời gian lao động tham gia
vào quá trình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp, chất lợng lao động thể
11
hiện qua trình độ tay nghề lao động và ý thức tinh thần trách nhiệm của ngời
lao động đợc thể hiện qua năng suất, chất lợng và hiệu quả của lao động tạo
ra trong quá trình sản xuất. Chính vì thế việc bố trí sử dụng lao động trong
doanh nghiệp cần phải phù hợp với trình độ tay nghề, ngành nghề, đảm bảo sử
dụng tiết kiệm hợp lý và triệt để, điều đó thể hiện ở trình độ quản lý của mỗi
doanh nghiệp.
T liệu lao động đó chính là các trang thiết bị và tài sản cố định phục vụ

cho quá trình sản xuất ảnh hởng đến kết quả sản xuất ít hay nhiều phụ thuộc
vào tiêu chuẩn về giá trị và thời gian sử dụng, mức độ hiện đại của máy móc
thiết bị và sẽ thể hiện ở năng lực sản xuất hiện có của doanh nghiệp. Việc đầu
t, phân bổ trang thiết bị, máy móc và TSCĐ vào mỗi một giai đoạn của quá
trình sản xuất cần hợp lý, đảm bảo nhu cầu phục vụ sản xuất kinh doanh có
hiệu quả nhất.
Đối tợng lao động là nguyên vật liệu cấu tạo nên sản phẩm, một trong
ba yếu tố không thể thiếu trong quá trình sản xuất và là yếu tố chính cấu thành
nên sản phẩm. Nếu doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau thì
mỗi loại cần những nguyên vật liệu khác nhau. Việc đảm bảo nguyên liệu cho
sản xuất có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì sản xuất thờng xuyên, góp
phần tăng tốc độ chu chuyển vốn. Đảm bảo nguyên vật liệu cho sản xuất đợc
thể hiện ở việc cung cấp nguyên vật liệu đầy đủ về số lợng, chất lợng và
chủng loại, kịp thời gian, không ứ đọng vốn, không thiếu mà phải dẫn đến
ngừng sản xuất và phải đảm bảo đồng bộ các nguyên vật liệu khác phục vụ
cho quá trình sản xuất sản phẩm. Vì vậy xác định khối lợng nguyên vật liệu
thu mua vào phục vụ cho sản xuất ảnh hởng lớn đến kết quả sản xuất sản
phẩm cũng nh tình hình sử dụng vốn trong doanh nghiệp. Để xây dựng kế
hoạch thu mua nguyên vật liệu hợp lý cần xác định nhu cầu tiêu dùng sản
phẩm của thị trờng, khả năng sản xuất, sự dồi dào về nguyên vật liệu trên thị
trờng cung ứng, thời gian sản xuất sản phẩm [12].
12
Ngoài ra một hoạt động cũng có ảnh hởng lớn đến quá trình sản xuất
sản phẩm đó là việc bảo quản và vận chuyển nguyên vật liệu. Nếu bảo quản và
vận chuyển nguyên vật liệu tốt góp phần bảo đảm về chất lợng sản phẩm,
tránh đợc sự hao hụt quá mức nguyên nhân làm tăng giá sản phẩm.
Nh vậy để tạo ra một sản phẩm cần sự kết hợp của nhiều yếu tố và các
công đoạn sản xuất khác nhau. Mỗi công đoạn trong quá trình sản xuất góp
phần tạo nên sản phẩm hoàn hảo nếu có sự kết hợp chặt chẽ, ăn khớp với
nhau.

Đối với hoạt động chế biến cũng vậy, nó là một quá trình kết hợp các
yếu tố đầu vào: lao động, t liệu lao động và đối tợng lao động để tạo nên
sản phẩm. Tuy nhiên đối với hoạt động sản xuất thì từ nguyên vật liệu chính
và các nguyên vật liệu phụ sau khi sản xuất sẽ tạo ra sản phẩm có tính năng và
hình dáng khác với nguyên vật liệu cấu thành. Còn hoạt động chế biến sản
phẩm thì tính năng sản phẩm không thay đổi, nó chỉ tăng thêm giá trị sử dụng
và tính đa dạng của sản phẩm mà thôi.
2.4.1.2. Các giai đoạn của quá trình sản xuất
Khi sản xuất đợc hoàn thành một sản phẩm thì cần phải trải qua rất
nhiều các giai đoạn sản xuất, mỗi giai đoạn góp phần cấu thành nên sản phẩm,
nếu thiếu một trong các giai đoạn này thì sản phẩm sẽ không thể hoàn thành
đợc. Do vậy các giai đoạn trong quá trình sản xuất cần đợc phối hợp một
cách đồng bộ, ăn khớp và nhịp nhàng để đạt đợc năng suất lao động một
cách tối u.
Có rất nhiều các ngành nghề sản xuất khác nhau, mỗi ngành có những
giai đoạn sản xuất khác nhau. Trong đề tài nay tôi xin đề cập các giai đoạn
của quá trình sản xuất chế biến hàng hoá nông sản. Có thể phân loại các giai
đoạn sản xuất theo các bớc sau:
- Lập kế hoạch: Đây là giai đoạn cũng rất quan trọng, nó thể hiện kết
quả dự toán sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu kế hoạch sản xuất d
thừa so với thực tế yêu cầu thì sẽ gây nên tồn đọng vốn, giảm hiệu quả sử
13
dụng vốn. Nếu kế hoạch sản xuất thiếu hụt so với thực tế thì sẽ làm giảm lợi
nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy lập kế hoạch sản xuất cần dựa trên cơ sở các
đơn đặt hàng của khách hàng, cùng với dự kiến mức tiêu thụ sản phẩm tại một
số thị trờng tiêu thụ, sản phẩm còn tồn kho, khả năng tài chính của doanh
nghiệp. Kế hoạch này đợc đa xuống bộ phận sản xuất để thực hiện.
- Tiến hành thu mua nguyên vật liệu: Căn cứ vào kế hoạch sản xuất và
khối lợng nguyên vật liệu tồn kho, sản phẩm sản xuất dở dang cuối kỳ để xác
định số lợng nguyên vật liệu cần thu mua trong kỳ. Sau đó liên hệ với bộ

phận kế toán về việc thanh toán tiền nguyên vật liệu và các chi phí trong quá
trình thu mua, liên hệ với bộ phận vận chuyển, nhà kho để chuẩn bị một cách
chu đáo cho quá trình vận chuyển nguyên vật liệu vào kho.
- Sơ chế nguyên vật liệu trớc khi chế biến thành sản phẩm nh: phơi,
sấy khô, bóc tách hay rửa, gọt.
- Tiến hành chế biến sản phẩm: chế biến sản phẩm tạo nên những sản
phẩm có giá trị sử dụng khác nhau bằng cách sử dụng nguyên vật liệu chính
kết hợp với các nguyên vật liệu phụ và chế biến để tạo thành sản phẩm.
- Kiểm tra, phân loại, đóng gói và vận chuyển vào kho.
Nh vậy, đối với hoạt động chế biến của mỗi loại sản phẩm khác nhau
mà có những cách thức và giai đoạn chế biến khác nhau, điều quan trọng là
phải đảm bảo tính nhịp điệu sản xuất trong suốt thời kỳ kinh doanh. Muốn vậy
phải nắm chắc nhu cầu thị trờng sản phẩm doanh nghiệp đang sản xuất, khai
thác những khoảng trống của thị trờng để kịp thời và luôn luôn có sản phẩm
mới để thay thế sản phẩm cũ đã cuối chu kỳ sống, sao cho nhịp điệu sản xuất
tiến hành liên tục với nhịp độ cao, nhằm quay vòng vốn, tăng giá trị sản lợng
và tăng lãi cho doanh nghiệp.


14
2.4.2. Hoạt động tiêu thụ sản phẩm hàng hoá
2.4.2.1. Khái niệm tiêu thụ sản phẩm hàng hoá
Tiêu thụ sản phẩm hàng hoá là quá trình đơn vị xuất bán giao sản phẩm
hàng hoá cho đơn vị mua và đã thụ tiền về số sản phẩm hàng hoá đó hoặc
đợc đơn vị mua chấp nhận thanh toán theo giá thoả thuận giữa hai đơn vị.
Đứng trên góc độ tài chính doanh nghiệp thì tiêu thụ sản phẩm là quá
trình kết thúc giai đoạn chu chuyển vốn và chuyển hoá hình thái của vốn từ
hình thái sản phẩm, hàng hoá - dịch vụ sang hình thái vốn bằng tiền, trở lại
hình thái ban đầu khi bớc vào mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Nh vậy tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất

kinh doanh, thực hiện giá trị và giá trị sử dụng đối với sản phẩm hàng hoá
thông qua quan hệ trao đổi. Trong quan hệ này, doanh nghiệp chuyển nhợng
cho ngời mua sản phẩm hàng hoá đồng thời đợc ngời mua thanh toán hoặc
chấp nhận thanh toán số tiền hàng tơng ứng với giá trị của số sản phẩm hàng
hoá đó.
Chỉ khi nào doanh nghiệp đã đợc khách hàng thanh toán hoặc chấp
nhận thanh toán thì quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá mới kết thúc. Việc
quy định thời điểm kết thúc quá trình tiêu thụ có ý nghĩa hết sức quan trọng:
giúp doanh nghiệp xây dựng đợc đúng đắn, chính xác kế hoạch sản xuất sản
phẩm, thu mua hàng hoá .., doanh nghiệp xác định đợc kết quả cuối cùng của
hoạt động sản xuất kinh doanh, phân tích đánh giá tình hình tiêu thụ sản phẩm
hàng hoá thực tế tại doanh nghiệp từ đó có những giải pháp cho những tồn tại
và phát huy những mặt tích cực. Xác định đúng thời điểm kết thúc tiêu thụ sản
phẩm hàng hoá sẽ có cơ sở đánh giá tình hình sử dụng vật t, tiền vốn, lao
động trong sản xuất kinh doanh.


15
2.4.2.2. ý nghĩa hoạt động tiêu thụ sản phẩm hàng hoá đối với mỗi doanh
nghiệp
Trong nền kinh tế thị trờng, khi sản xuất đã phát triển thì vấn đề tiêu
thụ sản phẩm hàng hoá là rất quan trọng. Vì có tiêu thụ đợc sản phẩm hàng
hoá mới có vốn để tiến hành tái sản xuất mở rộng, tăng tốc độ luân chuyển
vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Qua tiêu thụ tính chất hữu ích của sản
phẩm đợc xác định một cách hoàn toàn. Sản phẩm tiêu thụ đợc chứng tỏ
năng lực kinh doanh của doanh nghiệp, thể hiện kết quả công tác nghiên cứu
thị trờng.
Sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp đợc ngời tiêu dùng chấp nhận.
Điều đó cho thấy sản phẩm sản xuất và tiêu thụ xét về mặt khối lợng, giá trị
sử dụng, chất lợng, giá cả đã phù hợp với nhu cầu, với thị hiếu của thị trờng.

Sau quá trình tiêu thụ doanh nghiệp không những thu hồi đợc tổng số
chi phí có liên quan đến quá trình sản xuất sản phẩm mà tiêu thụ sản phẩm
hàng hoá còn thực hiện đợc giá trị lao động thặng d, đây là nguồn để mở
rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên.
2.4.2.3. Các nhân tố ảnh hởng đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm hàng hoá
Có nhiều nhân tố ảnh hởng đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá
của doanh nghiệp, có thể là các nhân tố mang tính chủ quan thuộc về doanh
nghiệp, nhân tố khách quan do khách hàng hoặc thuộc về Nhà nớc.
- Những nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp.
Chất lợng sản phẩm hàng hoá và uy tín của doanh nghiệp trên thơng
trờng nh là cốt lõi của chiến lợc phát triển sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Chất lợng là một trong những tiêu chí hàng đầu quyết định khối
lợng hàng hoá tiêu thụ đợc và khẳng định vị thế của sản phẩm trên thị
trờng. Bởi vậy doanh nghiệp phải thờng xuyên cải tiến và nâng cao chất
lợng sản phẩm, không ngừng đáp ứng nhu cầu thị hiếu của ngời tiêu dùng.
16
Hoạt động thu mua hàng hoá có đảm bảo cung cấp kịp thời cho hoạt
động tiêu thụ về số lợng, chất lợng và thời gian hay không. Nếu việc cung
ứng không đáp ứng đợc theo kế hoạch sẽ không những làm ảnh hởng đến
kết quả tiêu thụ sản phẩm hàng hoá mà còn ảnh hởng đến uy tín của doanh
nghiệp đối với khách hàng.
Giá bán sản phẩm hàng hoá cũng là nhân tố ảnh hởng chính đến số
lợng hàng hoá sản phẩm tiêu thụ. Giá bán sản phẩm hàng hoá của doanh
nghiệp trên thị trờng phụ thuộc vào nhiều yếu tố và quan hệ trên nhiều mặt.
Thứ nhất giá bán phụ thuộc vào vị trí của sản phẩm đó trên thị trờng, sản
phẩm cạnh tranh hay độc quyền. Nếu là sản phẩm cạnh tranh thì đợc ngời
tiêu dùng a chuộng hay không? sản phẩm này bớc vào giai đoạn nào trong
chu kỳ sống của nó. Ngoài ra giá bán hàng hoá phụ thuộc nhiều vào quan hệ
cung cầu trên thị trờng, song đòi hỏi các nhà quản lý doanh nghiệp hết sức
linh hoạt và năng động.

Kết cấu sản phẩm hàng hoá đa ra tiêu thụ là tỷ trọng về mặt hàng
chiếm trong tổng giá trị hàng hoá đa ra thị trờng. Trong điều kiện sản xuất
kinh doanh hiện nay, để nâng cao hiệu quả kinh tế, các doanh nghiệp thờng
đa ra thị trờng nhiều loại sản phẩm khác nhau, trong mỗi loại sản phẩm đó
phải có nhiều kích cỡ, mẫu mã, màu sắc, phẩm cấp, giá cả khác nhau để đáp
ứng các cung bậc của nhu cầu cao thấp khác nhau.
Tổ chức quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp. Đây là
một vấn đề hết sức phong phú và đa dạng, đòi hỏi các nhà quản lý phải linh
động. Tổ chức quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp bao
gồm các yếu tố: tăng cờng quảng cáo, điều tra nhu cầu thị trờng, thăm dò và
phát triển thị trờng, thay đổi mẫu mã, tăng cờng khuyến mại, phơng thức
thanh toán, phơng thức bán hàng thay đổi cho phù hợp. Ngoài ra xem xét
nhịp điệu cung cấp hàng hoá, tính kịp thời của việc cung cấp hàng hoá trên thị
trờng .
17
- Những nhân tố khách quan (khách hàng)
Sản phẩm hàng hoá có tiêu thụ đợc tức là đã đáp ứng đợc yêu cầu của
khách hàng. Nếu một sự thay đổi về sở thích hay thu nhập của khách hàng sẽ
ảnh hởng đến lợng tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp trên thị
trờng. Do vậy cần phân tích khách hàng tác động đến quá trình tiêu thụ hàng
hoá của doanh nghiệp dới góc độ nào?
+ Nhu cầu tự nhiên hay mong muốn. Sản phẩm hàng hoá mà doanh
nghiệp cung cấp trên thị trờng đã đáp ứng đợc đối tợng khách hàng nào?
+ Mức thu nhập: đây là một yếu tố quan trong bởi mọi nhu cầu phụ
thuộc vào thu nhập
+ Phong tục tập quán, thói quen của ngời tiêu dùng: hàng hoá mà
doanh nghiệp cung cấp trên thị trờng có thể phù hợp với địa phơng này
nhng lại không phù hợp ở địa phơng khác.
- Những nhân tố thuộc về Nhà nớc
Những nhân tố thuộc về Nhà nớc ảnh hởng tới quá trình tiêu thụ nh:

chính sách kinh tế xã hội của Nhà nớc, chính sách tiền lơng, chính sách trợ
giá, chính sách xuất nhập khẩu..
2.4.2.4. Nghiên cứu thị trờng và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá
Thị trờng là nơi diễn ra các hoạt động mua và bán. Nó có mối liên hệ
mật thiết với khâu sản xuất : sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? sản xuất nh thế
nào? là câu hỏi luôn luôn đặt ra cho các nhà kinh doanh không phân biệt họ
thuộc thành phần kinh tế nào. Nếu hàng sản xuất ra đợc thị trờng chấp
nhận, doanh thu bù đắp đợc chi phí và có lãi thì không những doanh nghiệp
có điều kiện mở rộng đợc sản xuất mà còn có thể cải thiện đời sống ngời
lao động. Ngợc laị nếu hàng sản xuất ra không tiêu thụ đợc hoặc doanh thu
không đủ bù đắp chi phí, doanh nghiệp sẽ không thể tiếp tục sản xuất một
cách bình thờng và nguy cơ phá sản là không thể tránh khỏi.
Đánh giá khả năng chiếm lĩnh thị tr
ờng là đánh giá khả năng chuẩn bị
về mặt sản phẩm, phải nhìn sản phẩm của mình bằng con mắt phê phán, nhận
18
biết mặt mạnh, mặt yếu của chính nó. Mặt khác cũng phải phân tích tình hình
thị trờng mà sản phẩm doanh nghiệp đang hớng tới.
- Đáng giá về tình hình thị trờng
Đánh giá đúng đắn tình hình thị trờng mà sản phẩm của doanh
nghiệp đang hớng vào là cơ sở quan trọng bảo đảm cho việc chiếm lĩnh thị
trờng. Khi nghiên cứu lựa chọn thị trờng cần xem xét thị trờng tiêu thụ
sản phẩm của doanh nghiệp có đang phát triển hay không, các công ty lớn và
công ty đa quốc gia đáp ứng mọi nhu cầu thị trờng và giá cả cạnh tranh có
chiếm lĩnh thị trờng đó không? Thị trờng đó có đợc chính phủ và các
chính sách của chính phủ bảo hộ hay không. Nếu thị trờng tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp đang phát triển thì có thể bớc vào thị trờng này và chiếm
lĩnh thị phần mà không gặp phải sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ đã từng
cung cấp sản phẩm cùng loại. Ngợc lại nếu thị trờng bắt đầu suy thoái thì
các đối thủ cạnh tranh sẽ kháng cự mạnh mẽ, ngăn chặn sản phẩm của doanh

nghiệp thâm nhập thị trờng. Nếu thị trờng đợc các công ty lớn hoặc các
công ty đa quốc gia cung cấp những sản phẩm thoả mãn tất cả nhu cầu của
khách hàng, thì tìm cách để cạnh tranh là vấn đề hết sức khó khăn bởi vì sản
phẩm của họ cung ứng cho khách hàng không chỉ có chất lợng cao mà còn
giá bán thấp do họ sản xuất với khối lợng lớn. Trong trờng hợp này doanh
nghiệp phải thực sự cải tiến, đổi mới để giành chỗ đứng trên thị trờng.
Nếu thị trờng mà sản phẩm của doanh nghiệp định thâm nhập chỉ đáp
ứng nhu cầu về giá thì nên suy xét trớc khi bớc vào. Một sản phẩm vào thị
trờng mà chỉ cạnh tranh đợc về giá thì ít khi có lãi. Trong trờng hợp này
doanh nghiệp cần tìm cho mình một thị trờng mà ở đó doanh nghiệp có thể
cạnh tranh về mặt chất lợng, dịch vụ hoặc kiểu dáng đặc biệt [9].
Tìm cách chiếm lĩnh thị tr
ờng tiêu thụ sản phẩm thực chất là tìm cách
thu hút khách hàng về phía doanh nghiệp. Đây là một công việc phức tạp, đòi
hỏi giải quyết đồng bộ hàng loạt các biện pháp liên quan đến sản phẩm, thực
19
hiện chính sách giá linh hoạt cần hình thành các kênh tiếp thị nắm bắt, xử lý
kịp thời thông tin tiếp thị và tổ chức hợp lý mạng lới tiêu thụ.
- Đánh giá khả năng về sản phẩm
Cùng một loại sản phẩm có nhiều doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ để
chiếm lĩnh thị trờng sản phẩm của doanh nghiệp phải thể hiện đợc u thế về
mặt chất lợng khách hàng sẽ cảm thấy yên tâm, sẽ bị thu hút mạnh nếu chất
lợng sản phẩm của doanh nghiệp đúng nh quảng cáo và duy trì thờng
xuyên.
Về tiêu chuẩn hoá cần thiết lập một hệ thống quy cách thống nhất cho
những sản phẩm có liên hệ mật thiết với kế hoạch kiểm tra chất lợng.
Về kiểu dáng sản phẩm, dới con mắt ngời tiêu dùng chúng phải phù
hợp và hoạt động theo cách mà ngời tiêu dùng mong muốn. Điều này doanh
nghiệp cần lựa chọn những sản phẩm mà không những đáp ứng đợc chất
lợng mà còn đáp ứng về kiểu dáng cho phù hợp với thị hiếu. Một điều lu ý ở

đây là kiểu dáng sản phẩm có thể thay đổi theo thị trờng, theo từng nhóm
khách hàng và theo thời gian.
Đóng gói sản phẩm sao cho ngời tiêu dùng có ấn tợng đầu tiên về
một sản phẩm khi trông thấy nó bên cạnh sản phẩm cùng loại.
Đánh giá đúng đắn về khả năng sản phẩm, phân tích đúng đắn bối cảnh
môi trờng để nhảy vào và rút lui khỏi thị trờng đúng lúc là bí quyết giúp
doanh nghiệp thành công trong kinh doanh và đứng vững trong cạnh tranh [9].
2.5. Hệ thống chỉ tiêu phân tích kết quả và hiệu quả kinh doanh trong
doanh nghiệp
Kết quả kinh doanh là mục tiêu của mọi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp trong từng thời kỳ kinh doanh. Do vậy việc phân tích, đánh giá
kết quả kinh doanh là rất cần thiết và quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp, nó
giúp cho nhà lãnh đạo có đợc các thông tin cần thiết để ra những quyết định
sữa chữa, điều chỉnh kịp thời nhằm đạt đợc những mục tiêu mong muốn
trong quá trình điều hành các quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
20
Việc đánh giá, phân tích kết quả kinh doanh của doanh nghiệp cần dựa vào
những chỉ tiêu sau:
2.5.1 Chỉ tiêu đánh giá kết quả giai đoạn sản xuất
2.5.1.1. Chỉ tiêu hiện vật
- Nửa thành phẩm
Nửa thành phẩm là chỉ tiêu theo dõi kết quả sản xuất của một loại sản
phẩm, hoặc một loại chi tiết sản phẩm. Nửa thành phẩm là kết quả sản xuất đã
qua chế biến ở một hoặc nhiều giai đoạn công nghệ, nhng cha chế biến ở
giai đoạn cuối cùng thuộc quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của doanh
nghiệp.
Số lợng nửa thành phẩm đợc tính theo phơng pháp cộng dồn từ ngày
đầu kỳ đến cuối kỳ phân tích. Chỉ tiêu số lợng nửa thành phẩm là chỉ tiêu
đợc dùng để theo dõi tiến độ sản xuất và hoàn thành sản phẩm của doanh
nghiệp. Ngoài ra chỉ tiêu này còn đợc dùng để tính mức năng suất lao động

của công nhân, của tổ sản xuất, tính lơng khoán sản phẩm, theo dõi sử dụng
các định mức nguyên vật liệu trong quy trình sản xuất sản phẩm.
- Thành phẩm - sản phẩm hoàn thành
Sản phẩm hoàn thành là những sản phẩm đã qua chế biến ở tất cả các
giai đoạn công nghệ cần thiết thuộc quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm và
đã hoàn thành chế biến ở giai đoạn công nghệ cuối cùng.
Chỉ tiêu số lợng thành phẩm tính theo phơng pháp cộng dồn kết quả
từng ngày trong kỳ kinh doanh. Nguồn số liệu dựa theo các phiếu nhập kho
thành phẩm hoặc hoá đơn bán hàng kiêm phiếu nhập kho thành phẩm phát
sinh trong kỳ.
Chỉ tiêu này là căn cứ để đánh giá kết quả sản xuất một loại sản phẩm
hàng hoá, đảm bảo lợng cung loại sản phẩm hàng hoá cho thị trờng tiêu
dùng, là căn cứ để đánh giá các định mức về nguyên vật liệu, năng lợng cho
sản xuất sản phẩm, theo dõi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá thờng
xuyên và theo thời vụ hoặc theo mùa [12].
21
2.5.1.2. Chỉ tiêu giá trị
- Tổng giá trị sản lợng
Tổng giá trị là chỉ tiêu biểu hiện bằng tiền, phản ánh toàn bộ kết quả
trực tiếp, hữu ích của hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định. Nội
dung kinh tế của chỉ tiêu bao gồm các yếu tố sau:
+ Giá trị những thành phẩm đã hoàn thành trong kỳ phân tích, đã bán ra
hoặc chuẩn bị bán ra và đợc chế tạo bằng nguyên vật liệu của doanh nghiệp.
+ Giá trị những sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ phân tích đợc chế
tạo bằng nguyên vật liệu của khách hàng.
+ Giá trị sản phẩm dở dang, chênh lệch giữa cuối kỳ và đầu kỳ của sản
phẩm và công việc cha hoàn thành.
Tổng giá trị sản lợng là một chỉ tiêu dùng để đánh giá quy mô sản xuất
của một số sản phẩm, một bộ phận hoặc toàn doanh nghiệp trong kỳ phân tích.
Là căn cứ để nghiên cứu mức độ, xu thế biến động hoạt động sản xuất trong

khoảng thời gian nhất định.
Trong doanh nghiệp thì thờng quan tâm nhất phần giá trị sản lợng
của sản phẩm hoàn chỉnh. Khi tính giá trị sản lợng thì ta lấy số sản phẩm
nhân với đơn giá. Có thể dùng giá cố định, giá kế hoạch hoặc một giá quy ớc
nào đó. Cũng có thể coi giá trị sản lợng là giá trị sản xuất ( GO). Tuy nhiên
quy định giá trị sản xuất theo thống kê phải tăng hơn nhiều so với giá trị sản
lợng mà doanh nghiệp thờng dùng khi lập kế hoạch, khi phân tích. Giá trị
sản lợng có thể cho phép cộng nhiều sản phẩm để đánh giá kết quả sản xuất
của cả doanh nghiệp hoặc từng bộ phận sản xuất.
- Giá trị hàng hoá sản xuất
Giá trị hàng hoá sản xuất là chỉ tiêu biểu hiện bằng tiền, bao gồm toàn
bộ giá trị sản phẩm vật chất, sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp đã sản xuất
và hoàn thành trong kỳ phân tích, chuẩn bị đa ra trao đổi trên thị trờng
hàng hoá.
22
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá kết quả sản xuất của doanh nghiệp trong
kỳ phân tích. Đồng thời, chỉ tiêu có vị trí quan trọng trong việc phân tích khả
năng thoả mãn nhu cầu thị trờng về sản phẩm hàng hoá mà doanh nghiệp sản
xuất cung ứng cho thị trờng. Chỉ tiêu này cũng là cơ sở tạo nên thu nhập tiền
tệ cho doanh nghiệp, là cơ sở để lập kế hoạch về tiêu thụ sản phẩm hàng hoá
của doanh nghiệp [12].
2.5.2. Chỉ tiêu đánh giá kết quả tiêu thụ
- Khối lợng sản phẩm, hàng hoá tiêu thụ đợc biểu hiện bằng hai
thớc đo là đơn vị hiện vật và đơn vị giá trị.
Khối lợng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ đợc tính bằng đơn vị hiện vật
phản ánh khối lợng hàng hoá đã tiêu thụ của từng loại hàng chủ yếu trong kỳ
của doanh nghiệp.
Khối lợng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ tính bằng giá trị thì đợc coi là
giá trị hàng hoá tiêu thụ. Trong chỉ tiêu này đợc lấy số lợng tiêu thụ nhân
với giá cố định hoặc giá kế hoạch khi so sánh giữa các kỳ khác nhau.

- Doanh thu là giá trị sản phẩm hàng hoá đã tiêu thụ trong kỳ. Doanh
thu của sản phẩm hàng hoá = Sản lợng x giá . ở đây lấy giá thực tế bán của
từng kỳ.
Doanh thu của doanh nghiệp = Tổng doanh thu của các mặt hàng
- Doanh thu thuần là số doanh thu sau khi đã trừ đi khoản giảm trừ
doanh thu, hàng bán bị trả lại.
- Lãi thuần hoạt động kinh doanh.
2.5.3. Chỉ tiêu kết quả kinh doanh của toàn doanh nghiệp
- Doanh thu
- Doanh thu thuần
- Lãi gộp
- Lãi thuần từ hoạt động kinh doanh
- Lãi hoạt động khác
- Lãi trớc thuế
23
- Lãi sau thuế
Những chỉ tiêu trên đợc thể hiện qua báo cáo kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp.
2.5.4. Chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có
của doanh nghiệp về lao động, vật t, vốn để đạt đợc kết quả kinh doanh cao
nhất với chi phí nhỏ nhất. Nó là đại lợng so sánh giữa đầu ra và đầu vào.
Nh vậy chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả kinh doanh là lợi nhuận thuần, lợi
nhuận trớc thuế và lợi nhuận sau thuế. Đây là những chỉ tiêu tơng đối, còn
các chỉ tiêu tuyệt đối bao gồm các chỉ tiêu sau:
Lãi gộp
1. Tỷ lệ lãi gộp = ---------------------- (%)
Doanh thu thuần
Lãi gộp
2. Tỷ lệ lãi gộp so với giá vốn = ------------------------(%)

Giá vốn
Lãi thuần
3. Tỷ lệ lãi thuần so với doanh thu thuần = --------------------------(%)
Doanh thu thuần
Lợi nhuận trớc thuế
4. Tỷ lệ lợi nhuận trớc thuế so với vốn = -----------------------------(%)
Tổng nguồn vốn

Lợi nhuận trớc thuế
5. Tỷ lệ lợi nhuận trớc thuế so với vốn CSH = ------------------------(%)
Nguồn vốn CSH


24
Lợi nhuận trớc thuế
6 .Tỷ lệ lợi nhuận trớc thuế so với TSLĐ = ------------------------------ (%)
Tài sản lu động
Lợi nhuận trớc thuế
7. Tỷ lệ lợi nhuận trớc thuế so với TSCĐ = --------------------------------- (%)
Tài sản cố động


Tuy nhiên hiệu quả kinh doanh không chỉ đề cấp đến mặt kinh tế tài
chính mà còn gắn với hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trờng.
- Hiệu quả xã hội: từ việc phát triển kinh tế có hiệu quả tăng sẽ tạo công
ăn việc làm cho ngời lao động, nâng cao trình độ văn hoá, chăm sóc sức
khoẻ, cải thiện điều kiện kinh tế xã hội.
- Hiệu quả môi trờng: phát triển kinh tế góp phần cải thiện và bảo vệ
môi trờng sinh thái phát triển bền vững.














25
3. Đặc điểm công ty và phơng pháp nghiên cứu

3.1 . Đặc điểm Công ty vật t tổng hợp Lạng Sơn
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Vật t tổng hợp Lạng
Sơn
Công ty Vật t tổng hợp Lạng Sơn thành lập năm 1968, tiền thân là
trạm kim khí Lạng Sơn. Thời kỳ này trạm có nhiệm vụ cung ứng các loại vật
t thuộc các ngành kim khí, phụ tùng, xăng dầu, vật liệu điện, hoá chất, phục
vụ cho các cơ quan nhà máy trong địa bàn tỉnh.
Năm 1976, công ty Vật t tổng hợp Lạng Sơn trực thuộc Bộ vật t nay
gọi là Bộ Thơng Mại.
Năm 1994, theo Quyết định 475/UBQĐ-TC của UBND tỉnh Lạng Sơn,
chuyển giao Công ty từ Bộ Thơng Mại về Sở Thơng mại Lạng Sơn trực tiếp
quản lý và Công ty vẫn mang tên là Công ty Vật t tổng hợp Lạng Sơn. Tên
giao dịch quốc tế: LATMIMEX
Tháng 5 năm 1997, Công ty đã tách bộ phận xăng dầu giao về Công ty
xăng dầu Hà Bắc và Công ty chủ yếu kinh doanh hàng xuất nhập khẩu.

Hiện nay Công ty Vật t tổng hợp Lạng Sơn là một đơn vị có hoạt động
kinh doanh với quy mô vừa, số lợng hàng hoá tiêu thụ thay đổi theo từng
năm.
Từ khi chuyển đổi cơ chế xoá bỏ bao cấp sang cơ chế thị trờng và do
cạnh tranh của thị trờng thì các mặt hàng kim khí, vật liệu điện, hoá chất bị
giảm xuống rõ rệt. Do vậy Công ty chuyển sang kinh doanh các mặt hàng xuất
khẩu nông hải sản và nhập khẩu một số các mặt hàng vật t công nông
nghiệp, thuốc bảo vệ thực vật.
Nh vậy thực chất đây là Công ty thơng mại nhng hiện nay Công ty
đã có sự chuyển hớng kinh doanh tổng hợp hơn nên đã đầu t lập cơ sở sản
xuất hạt điều ở Bình Dơng, thu mua hạt điều của nông dân sau đó gia công

×