Tải bản đầy đủ (.docx) (123 trang)

LUẬN văn THẠC sĩ y học FULL (NGOẠI KHOA) đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi sau phúc mạc cắt chỏm nang đơn thận tại bệnh viện đa khoa TW thái nguyên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.44 MB, 123 trang )

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan
luâṇ

văn nà y la nghiên cứu của riêng tôi. Những số

liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn la trung thực va chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ nghiên cứ u khoa
hoc̣

nao khác.

Tôi xin hoà n toà n chiu trá ch nhiệm về nghiên cứ u củ a mình
Tác giả luận văn

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trinh
̀
hoc̣

văn này, tôi

tâp̣ , nghiên cứ u để hoà n thà nh
luâṇ

luôn nhận
sư ̣ quan tâm và giú p đỡ rất tinh
̀ từ các thầy cô và cá c baṇ
đươc̣ đờng
tâṇ
nghiêp.


Tơi xin bay tỏ lịng biết ơn chân thà nh đến Ban Giám hiệu, Phòng
Đao tạo, Bộ môn Ngoại Trường Đại học Y - Dược Thái nguyên; Ban
Giám đốc BV DDKTWW Thái Nguyên, Khoa Ngoại Tiết niệu, Phòng Kế
hoạch Tổng hợp, Thư viện Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên đã
quan tâm va tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tơi trong q trình học tập va
nghiên cứu.
Vớ i lịng kính trọng tơi xin bay tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Vũ
Hồng Anh – Phó Giám Đốc Bệnh viện Trường Đại Học Y Dược Thái
nguyên – Phó trưở ng Bộ môn Ngoại trường Đại học Y - Dược Thái nguyên
. Cô đã tận tâm dạy dỗ, trực tiếp chỉ bảo va tạo mọi điều kiện cho tơi trong
suốt q trình học tập, cung cấp cho tôi phương pháp luận nghiên cứu khoa
học, động viên giúp đỡ tôi để hoan thanh luận văn nay.
Tôi xin bay tỏ lịng kính trọng va biết ơn tới PGS.TS Trần Đức Quý,
Phó Hiệu Trưở ng Trường Đại học Y - Dược Thá i nguyên, Trưởng khoa


Ngoại Tiết niệu Bệnh viện ĐKTW Thái nguyên – đã tạo mọi điều kiện va
đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoan thanh luận văn nay.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các Thầy trong Hội đồng chấm
lṇ văn, đã góp ý cho tơi để tơi hoan thanh luận văn nay.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể các bác sỹ, điều dưỡng
khoa Ngoại Tiết niệu, Khoa GMHS Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái
Nguyên đã tận tình giúp đỡ va động viên tơi trong suốt q trình thực hanh taị
bêṇ h viên.
Cuối cùng tôi vô cùng biết ơn cha, mẹ, vợ, con, bạn bè, đồng nghiệp
va lớp cao học Ngoại 17 đã tạo mọi điều kiện thuật lợi, luôn ủng hộ, động
viên cả về vật chất lẫn tinh thần để tôi yên tâm học tập va hoan thiện luận văn
một cách tốt nhất.
Thá i nguyên, ngày tháng12 năm 2015
Tác giả luận văn



CHỮ VIẾT TẮT
ADPKD

: Autosomal dominant polycystic kidney

BN

: Bệnh nhân

CLVT

: Cắt lớp vi tính

ĐKTW

: Đa khoa Trung ương

mm

: Milimet

GMHS

: Gây mê hồi sức

PP

: Phương pháp


PTNS

: Phẫu thuật nội soi

PTV

: Phẫu thuật viên

PPPT

: Phương pháp phẫu thuật

SA

: Siêu âm

UIV

: Chụp Xquang niệu đồ tĩnh mạch
(Urography Intravenous)


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương 1: TỔNG QUAN
1.1. Phôi thai học của thận
1.2. Giải phẫu của thận ứng dụng trong phẫu thuật
1.3. Bệnh nang đơn thận
1.4. Điều trị nang đơn thận

1.5. Tổng quan phẫu thuật nội soi sau phúc mạc trong điều tri bệnh
nang đơn thận.
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.2. Địa điểm va thời gian nghiên cứu
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.4. Chỉ tiêu nghiên cứu
2.5. Quy trình phẫu thuật áp dụng trong nghiên cứu
2.6. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
2.7. Đạo đức nghiên cứu
Chương 3: KẾT QUẢ
3.1. Đặc điểm lâm sang va cận lâm sang của bệnh nang đơn thâṇ
đươc PTNS cắt chỏ m nang
3.2. Kết quả phẫu thuật nội soi cắt chỏm nang thận
Chương 4: BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm lâm sang va cận lâm sang của nang thận đơn được
phẫu thuật nội soi sau phúc mạc cắt chỏm nang.
4.2. Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi sau phúc mạc cắt chỏm
nang thận
KẾ T LUÂṆ
KHUYẾ N NGHI ̣
TÀ I
THAM KHẢ O
LIÊỤ
PHỤ LỤC

1
3
3
5

8
17
21
28
28
28
29
29
32
35
36
37
37
41
50
50
55
63
64


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1. Phân bố bệnh nhân theo tuổi, giới.

37

Bảng 3.2. Phân bố bệnh nhân theo lý do vao viện

37


Bảng 3.3. Phân bố bệnh nhân theo các triệu chứng lâm sang lúc vao viện

38

Bảng 3.4. Phân bố bệnh nhân theo thời gian từ khi xuất hiện triệu
chứng đến khi vao viện

38

Bảng 3.5. Phân bố bệnh nhân theo bệnh kèm theo

39

Bảng 3.6. Một số đặc điểm của nang thận trên siêu âm (n = 61)

39

Bảng 3.7. Phân bố bệnh nhân theo đặc điểm nang thận trên phim chụp CLVT

40

Bảng 3.8. Đặc điểm thanh nang thận trên phim chụp CLVT va biểu hiện triệu
chứng lâm sang

40

Bảng 3.9. Phân loại nang thận theo Bosniak

41


Bảng 3.10. Phương pháp phẫu thuật

41

Bảng 3.11. Mau sắc dich nang

41

Bảng 3.12. Liên quan giưã thời gian phẫu thuật và vi ̣trí nang

42

Bảng 3.13. Thời gian phẫu thuật trung bình theo va vi trí nang

42

Bảng 3.14. Kích thước nang thận trên siêu âm va thời gian phẫu thuật

43

Bảng 3.15. Kích thước nang thận trên siêu âm va thời gian phẫu thuật

43

Bảng 3.16. Tai biến trong phẫu thuật

44

Bảng 3.17. Loại thuốc giảm đau sau phẫu thuật


44

Bảng 3.18. Biến chứng sau phẫu thuật

44

Bảng 3.19. Số lượng dịch chảy qua dẫn lưu hố thận

45

Bảng 3.20. Số lượng dịch chảy qua dẫn lưu hố thận theo kích thước nang thận

45

Bảng 3.21. Thời gian nằm viện sau phẫu thuật

46

Bảng 3.22. Đặc điểm triệu chứng đau hố thắt lưng sau phẫu thuật

46

Bảng 3.23. Đánh giá kết quả xa sau phẫu thuật đến khi khám lại

47


Bảng 3.24. So sánh triệu chứng cơ năng của 2 nhóm cịn nang va hết nang sau

47


phẫu thuật
Bảng 3.25. Phân loaị kết quả
phâũ

thuâṭ

48

Bảng 3.26. Phân loại kết quả theo vi trí nang thận

48

Bảng 3.27. Phân loại kết quả theo kích thước nang trước phẫu thuật

49

Bảng 4.1. Kết quả hết nang đánh giá bằng siêu âm của một số tác giả

62


1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nang đơn thận được định nghĩa la nang ở một thùy thận, không thông
thương với đai bể thận, thanh nang la một lớp xơ
đươc̣

phủ bở i các tế bao
biểu


mơ, được cho la bệnh lanh tính [7]. Nang đơn thận khác với bệnh thận đa nang
(la một bệnh di truyền thể trội, khơng liên quan đến giới tính) cả về biểu hiện
lâm sang, giải phẫu bệnh cũng như diễn biến biến, điều tri va tiên lượng [7],
[15], [40].
Nang đơn thận la bệnh thường gặp va gia tăng theo tuổi. Kissane va Smith
(1976) khi giải phẫu tử thi ở người trên 50 tuổi thấy tỷ lệ nang đơn thận
chiếm trên 50% [43]. Lausk va Mc Lachlan (1981) phát hiện trên chụp cắt lớp
vi tính
thấy tỷ lệ người có nang đơn
thâṇ

ở tuổi 40 là 20% va ở tuổi 60 là 33% [45].

Đa số nang đơn thận không gây triệu chứng va được phát hiện tình cờ.
Tuy nhiên, khi nang lớn có thể gây đau vù ng thắt lưng, tăng huyết áp,
chảy máu trong nang hay chèn ép gây giãn đài bể thận. Trên lâm sang, khoảng
30%
bệnh nhân nang thận đơn có biểu hiện lâm sang cần được điều tri [7].
Khi bệnh nhân nang đơn thận không đỡ đau sau khi điều tri bằng thuốc
giảm đau hay nang thận có kích thước tăng dần thì các phương pháp điều tri
khác được áp dụng như chọc hút nang đơn thuần, chọc hút nang va bơm chất
gây xơ hóa nang hay phẫu thuật cắt chỏm nang [51]. Chọc hút nang đơn thuần
dưới hướng dẫn của siêu âm có giá tri cao trong chẩn đoán nang nghi ngờ ác
tính nhưng cho hiệu quả điều tri thấp va tỉ lệ tái phát cao [7], [57]. Trước năm
1970, phẫu thuật mở cắt chỏm nang la phương pháp điều tri được áp dụng
nhiều nhưng có bất lợi la đau nhiều sau phẫu thuật, thời gian nằm viện sau
phẫu thuật lâu va sau mổ mất thời gian dai mới tái hòa nhập xã hội, sẹo mổ



2
dai, kém thẩm mỹ [7]. Phẫu thuật nội soi cắt nang đơn thận la phương pháp
xâm lấn tối thiểu, hiệu quả cắt chỏm nang như phẫu thuật mở nhưng đau ít


sau phẫu thuật, sau phẫu thuật bệnh nhân sớm trở lại hịa nhập xã hội, sẹo mổ
nhỏ, tính thẩm mỹ cao [20], [24], [34].
Phẫu thuật nội soi sau phúc mạc la một tiến bộ trong điều tri bệnh nang
đơn thận. Trên thế giới đã có nhiều cơng trình nghiên cứu
phâũ
nang đơn
thâṇ

thuâ cắt chỏ m


cho kết quả tốt [44], [51], [52]. Tại Việt Nam một số tác giả

Nguyễn Văn Hiệp (2004) [4], Nguyễn Hoàng Đức (2005) [2], Nguyễn Phú
Việt (2009) [18], Vũ Ngọc Thắng (2013) [12] thực hiện nghiên cứu đánh giá
hiệu quả của phương pháp nay. Các tác giả đều có nhận xét la
phâũ
soi sau phú c
mac̣

cắt chỏ m nang
thâṇ

thuâ nôị



là an toà n, it́ đau, sau mổ bêṇ h nhân
hồi

phu nhanh, it biến chư ng.
́
́

Phẫu thuật nội soi cắt chỏm nang được thực hiện từ năm 2010 tại bệnh
viện Đa khoa Trung Ương Thái Nguyên, hiện nay đã trở thanh phẫu thuật
thường quy. Tuy nhiên, vấn đề tá i phá t nang sau
phâũ
gian sau
phâũ

thuâ như thế nà o, thờ i


thuâ la bao lâu và kích thước của nang tá i phá t là bao nhiêu

la

vâ chưa được đề cập đến. Do vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Đánh giá

kết quả phẫu thuật nội soi sau phú c
mac̣

cắt chỏm nang đơn thận tại Bệnh

viện Đa Khoa Trung Ương Thái Nguyên” với mục tiêu:

1. Mô tả
môṭ

số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nang đơn

thận được phẫu thuật nội soi sau phú c
mac̣

cắt chỏm nang tại Bệnh

viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên giai đoạn 2010 – 2015.


2. Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi sau phú c
mac̣

cắt chỏm nang

đơn thận tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên.


Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Phôi thai học của thận
Sự phát triển của thận ở phôi người diễn ra theo 3 giai đoạn là tiền thận,
trung thận va hậu thận (thận sau cùng). Tất cả đều có nguồn gốc từ lớp trung
bì nằm mỗi bên dọc theo các khúc nguyên thủy. Cả ba giai đoạn kế tiếp nhau
theo thứ tự thời gian va theo hướng từ đầu đến đuôi [17], [40].
* Tiền thận
Tiền thận la giai đoạn phát triển sớm nhất của thận người. Tiền thận có

từ 6-10 cặp ống ở vùng cổ va chỉ tồn tại trong tuần đầu tiên của đời sống phơi.
* Trung thận
Trung thận cịn được gọi la thể Wolff, xuất hiện từ tuần thứ 4 và thoái
triển vao tuần thứ 8. Mặc dù bi thối hóa, trung thận có vai trị quan trọng
trong việc hình thành đường dẫn tinh từ các nón xuất trong tinh hoan cho đến
ống phóng tinh va túi tinh nhờ sự kết hợp giữa ống Wolff va các ống trung
thận. Ở thai nam, ống Muller thoái triển nhưng ở thai nữ ống Muller phá t triển
để hình thanh vịi trứng, tử cung va phần trên của âm đạo. Mặc dù thoái triển,
các ống Wolff va Muller vẫn cịn để lại một vết tích ở người trưởng thanh. Từ
ngay thứ 19 – 30, nụ niệu quản xuất hiện từ gần chỗ ống Wolff mở vao ổ
nhớp để phát triển thanh phần lớn hệ bai xuất của hậu thận. Các biến đổi trong
việc hình thanh hay phát triển của ống Wolff va nụ niệu quản sẽ tạo nên
những khuyết tật của thận va niệu quản [17].
* Hậu thận
Hậu thận la giai đoạn phát triển cuối cùng của thận, xuất hiện từ ngay thứ
36 của giai đoạn phôi cho đến tuần lễ thứ 35 – 36 của giai đoạn thai. Nụ niệu
quản phát triển về hướng đầu va tiếp xúc với mầm sinh hậu thận nằm phía sau
xoang niệu sinh dục. Nụ niệu quản bắt đầu chia va phát triển thành các đài


thận lớn. Các đài thận tiến sâu thêm vao phần mềm sinh hậu thận va sẽ
biệt hóa


thành các đài thận nhỏ va rất nhiều ống thận để hình thanh hệ bai xuất. Các tế
bao của mầm sinh hậu thận bọc lấy các đầu ống thận va sẽ biệt hóa thanh cầu
thận, ống lượn gần, quai Henle va ống lượn xa, tạo nên các nephron (đơn vi
thận). Hậu thận di chuyển từ vùng chậu về hướng thắt lưng, chui qua vòng tĩnh
mạch của hệ các tĩnh mạch chính phơi va hoan thanh việc di chuyển lên phía
đầu sau khi quay theo một góc 900 vao tuần thứ 20. Vao những tuần cuối của

giai đoạn thai, mặt ngoai thận mất dần hình dạng tiểu thùy [17].
* Các dị tật.
Trong quá trình hình thanh phức tạp của hậu thận, có thể xuất hiện
những di tật về hình thái cũng như về vi trí của thận. Ngoai ra cịn có thể có
các di tật ở một số cơ quan khác.
- Di tật về vi trí của thận.
+ Thận lạc chỗ.
+ Hai thận dính nhau, điển hình nhất la thận móng ngựa (tần suất la
1/600 trẻ mới sinh).
+ Thận không quay, bể thận hướng ra phía trước.
- Di tật về hình thái của thận.
+ Thận đa nang: trước kia, một số tác giả cho rằng bệnh lý nay la do sự
“không ăn khớp” giữa 2 hệ thống bai tiết va bai xuất. Hiện nay, nhiều tác giả
cho rằng bệnh nay do một khuyết tật di truyền lam tăng sản biểu mô các ống
góp, gây biến dạng các ống thận va gây tắc nghẽn đường bai xuất [11].
+ Thận không phát triển hoặc kém phát triển: Do nụ niệu quản không
tiếp xúc được với mầm sinh hậu thận (tỷ lệ: 1/500 trẻ mới sinh).
+ Niệu quản đôi hai nụ niệu quản xuất phát từ một ống Wolff, một nụ ở
vi trí bình thường, nụ kia ở vi trí cao hơn va chi phối phần trên của mầm thận.
Trong quá trình hình thanh vùng tam giác bang quang, niệu quản được sát
nhập sớm hơn vao xoang niệu dục. Niệu quản trên còn liên quan đến ống


Wolff, niệu quản chi phối phần trên của mầm thận sẽ đổ thấp hơn niệu quản
kia (định luật Weiger – Meyer).
+ Thận có nhiều động mạch: Trong q trình di chuyển lên phía thắt
lưng, vi trí của thận thay đổi kéo theo sự thay đổi về phân bố động mạch thận.
Vì vậy, thận có thể có
mơṭ


hay nhiều động mạch.

+ Thận có dạng tiểu thùy như trong giai đoạn thai nhi [17], [40].
1.2. Giải phẫu của thận ứng dụng trong phẫu thuật
- Thận nằm sau phúc mạc, trên thanh bụng sau. Thận phải thấp hơn thận
trái 1- 2 cm. Thận dai khoản 11 cm, rộng khoảng 6cm, day khoảng 4cm [5].
* Liên quan:
- Liên quan phía sau thận bao gồm cơ hoành, cơ vuông thắt lưng, cơ thắt
lưng, cơ ngang bụng, xương sườn thứ XII va 3 dây thần kinh liên sườn, chậu
hạ vi va chậu bẹn.

Hình 1.1. Liên quan
măṭ
(Hình 330 -Atlas giải
phâũ

sau của thận
người-Netter F H) [8]


- Liên quan phiá trước của thận phải la gan phải, đoạn D2 tá tràng va đại
trang lên. Liên quan phía trước thận trái la dạ day, tụy cùng các mạch máu
của tuỵ , lách va đại trang xuống.


Tuyến thượng thận úp lên cực trên mỗi thận như một cái mũ.
Bờ trong của thận có 1 khe sâu nằm thẳng đứng gọi la rốn thận. Chaỵ
qua rốn thận kể từ trước ra sau có tĩnh mạch thận, động mạch thận, bể thận va
thường có một nhánh phụ của động mạch thận. Các sợi thần kinh đi vào thận
la các sợi giao cảm ma chủ yếu la sợi vận mạch.

Bể thận thường có những biến đổi giải phẫu đáng kể, có thể nằm hoan
toan bên ngoai nhu mơ thận (thậm chí tới mức có một phần các đài lớn ở
ngoai thận) hoặc có thể hầu như bi vùi trong rốn thận. Giữa hai thái cực nay
cịn có cấp độ trung gian.
Ở bên trong thận, bể thận chia thanh hai hoặc 3 đài thận lớn, mỗi đài thận
lớn lại chia thanh các đai thận nhỏ. Mỗi đai thận nhỏ lại ở một nhú của nhu
mô thận ấn lồi vao, nhú thận chính la nơi các ống góp đổ nước tiểu vao xoang.

1. Tuyến
thươṇ

; 2. Gan; 3. Gó c kết trà ng phả i; 4.
g
thâṇ Hôñ
2. Dạ dà y; 6. Lá ch; 7. t g; 8. Kết trà ng trái; 9.
a Hơñ
Tuỵ

Hình 1.2. Liên quan trước của thận [5]
* Mạc
thận

g trà ng5.
g trà ng


Thận nằm trong một đệm mỡ day (lớp mỡ quanh thận). Bao quanh lớp
mỡ nay la mạc thận (hình 1.3). Ở phía trên, mạc thận hịa lẫn với lá phúc mạc



phủ dưới cơ hoành va tách ra như một chẽ để tạo nên một ngăn riêng cho
tuyến thượng thận (vì vậy dễ tách thận khỏi tuyến thượng thận va bảo tồn
tuyến thượng thận trong khi tiến hanh thủ thuật cắt bỏ thâṇ ).
Về phía trong, mạc thận hịa lẫn với các bao của động mạch chủ va tĩnh
mạch chủ dưới. Về phía ngoai, nó liên tiếp với mạc ngang. Ở phía dưới 2 lá
trước va hai lá sau của mạc thận vẫn tương đối mở (khơng dính sát vao nhau),
chúng chạy xuống quanh niệu quản vao chậu hơng.

Hình 1.3. Thiết đồ cắt ngang vù ng thắ t lưng đi qua hai thận
(Hình 342 -Atlas giải phấu người-Netter F H) [8]
Như vậy, thực ra thận có ba bao là bao mạc (mạc thâṇ ); Bao mỡ (lớp
mỡ quanh thận); Bao thận thực sự, tức bao xơ. Bao xơ dễ bóc khỏi một thận
bình thường nhưng dính chặt vao thận khi thận đã bi viêm.
* Manh má u:
Động mạch thận xuất phát trực tiếp từ động mạch chủ. Động mạch thận
phải đi sau tĩnh mạch chủ dưới.


Tĩnh mạch thận đổ về tĩnh mạch chủ dưới. Tĩnh mạch thận trái đi trước
động mạch chủ, ngay dưới nguyên ủy của động mạch mạc treo trang trên.
* Bạch huyết: các mạch bạch huyết củ a thận
taọ
rối sau thông thương vớ i nhau, đá m rối quanh

nên 3 đá m rối, hai đá m
cùng đổ thẳ ng vao nhữ ng

thâṇ hac̣ h đó .
* Ứng dụng trong lâm sàng:
Máu từ một thận bi vỡ hoặc mủ trong một áp xe quanh thận trước hết la

giãn căng mạc thận, sau đó tràn xuống dưới trong khoang mạc thận va chậu
hơng. Vì mạc thận dính ở đường giữa nên dịch khơng tran sang bên đối diện
được.
Trong trường hợp tăng tính di động (thận bập bềnh) thì nó có thể di
động lên trên va xuống dưới trong khoang mạc thận nhưng không di động
theo bề ngang. Ở một mức độ ít hơn, thận cũng chuyển động lên xuống trong
khi hô hấp.
Bộc lộ thận qua vùng thắt lưng: một đường rạch chéo nằm giữa xương
sườn thứ 12 va mao chậu, từ bờ ngoai cơ dựng sống kéo dai ra phía ngoai la
đường rạch thường được ưa chuộng, sau khi rạch qua cơ lưng rộng va cơ răng
sau dưới thì nhận ra được bờ sau (bờ tự do) của cơ chéo bụng ngoai va nhờ
thế ma có thể tách cơ nay dọc theo hướng các sợi cơ, sau đó rạch cơ chéo
bụng trong va cơ ngang bụng, khi đó phúc mạc lộ ra ở phía trước va được đẩy
ra trước. Sau đó, bao mạc thận lộ rõ va được mở ra. Thường gặp thần kinh va
các mạch dưới sườn ở phần trên của đường rạch va phải bảo tồn chúng. Nếu
cần phải mở rộng đường rạch, có thể rạch qua bờ ngoài cơ vng thắt lưng va
cắt bỏ xương sườn thứ XII. Mang phổi bắt chéo nửa trong của xương sườn
nay, cần cẩn thận đẩy mang phổi lên, không được rạch vao mang phổi.
1.3. Bệnh nang đơn thận
1.3.1. Đinh
nghiã

bệnh nang đơn thận.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




Nang đơn thận (simple renal cyst) được đinh nghĩa la nang ở một thùy

thận, không thông thương với đài bể thận. Thanh nang la một lớp xơ, lòng
nang được phủ bởi các tế bao biểu mơ [7].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




1.3.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh.
Căn nguyên bệnh sinh bệnh nang thận chưa được biết rõ rang, tập trung
vao hai giả thuyết: bẩm sinh va mắc phải [7], [10].
Giả thuyết bẩ m sinh: Giả thuyết nay được Baxter va Bialostock kiểm
chứng bằng nghiên cứu cắt lớp bao thai thận. Kampmeire (1923) chứng minh
ở các giai đoạn phân chia thứ 3 hoặc thứ 4 của nụ niệu quản trong thời kỳ bao
thai, một ống lượn có thể tách ra khỏi ống góp để trở thanh nang thận.
Osathanondh va Potter (1964) cho rằng trong thời kỳ bao thai, sự phát triển
dạng bóng lam dừng sớm sự phân chia ống thận tạo thanh nang thận.
Giả thiết mắc phải: Vì bệnh thường được phát hiện ở người trung niên
hoặc cao tuổi với sự gia tăng theo lứa tuổi, nên nhiều tác giả cho rằng bệnh
nang thận đơn la bệnh mắc phải. Nguyên nhân do viêm nhiễm gây tắc ống
dẫn niệu, hoặc do các chất lắng cặn (calci, protein..) kết hợp với sự tăng sinh
tế bao biểu mô ống thận gây tắc ống thận, cùng với hiện tượng mang đáy ống
thận yếu do thương tổn dần tạo thanh nang thận. Igarashi T va cộng sự (1992)
khi theo dõi bệnh nhân bi nhiễm acid ống thận bằng siêu âm va chụp cắt lớp
vi tính, cho rằng nang đơn thận có thể la biến chứng của nhiễm acid ống lượn
xa tiên phát [37].
Khi nang đơn thận phát triển, có thể chèn ép va phá hủy nhu mô thận
nhưng hiếm khi lam tổn thương quá nhiều nhu mơ thận hay dẫn đến suy thận.
Nang thận có thể ở vi trí ma khi kích thước đủ lớn sẽ chèn ép niệu quản dẫn
đến thận ứ nước, có thể gặp biến chứng nhiễm trùng nang taị

thâṇ

[40].

1.3.3. Giải phẫu bệnh lý của nang đơn thận
Nang đơn thận xuất phát từ nhu mô thận, phần lớn la từ vỏ thận, hình cầu
hay bầu dục. Kích thước nang thay đổi từ khoảng một milimet đến hang chục
milinmet. Thường chỉ có một nang trên một thận, nhưng cũng có thể có nhiều

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




nang trên một thận hoặc cả hai thận [7]. Nang đơn thận thường ở cực dưới
thận, vì vậy triệu chứng lâm sang thường bắt đầu xuất hiện khi nang có kích

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




thước khoảng 100mm. Đa số các nang ở bề mặt ngoai của thận nhưng có thể
gặp nang nằm sâu giữa nhu mơ thận, khơng có sự thơng thương giữa nang va
đai bể thận [40].
Thanh nang day xơ hóa, độ day thay đổi va khơng có tổ chức thận. Lớp
trong cùng la một lớp tế bao dẹt hoặc hình lập phương. Ở những nang bể thận
(pyelogenic) có thể có 1 lớp cơ trơn, gợi ý nguồn gốc nang xuất phát từ các
túi thừa của hệ đai bể thận, sau nay bi loại ra khỏi hệ thống bai xuất. Thỉnh
thoảng có thể gặp vơi hóa ở thanh nang.

Dịch nang thường trong, mau vang hổ phách, kiềm tính (pH ≥ 8), có tỷ
trọng từ 1,005-1,030, chứa một số thanh phần chính như protein,
glucose, creatinin. Khi bi nhiễm khuẩn, dịch nang đục va khi bi chảy máu,
dịch nang có mau hồng hoặc nâu. Khoảng 5% các trường hợp dich nang có
máu, trong sớ nà y
khoảng 50% các trường hợp này la do ung thư dạng nú ở thanh nang [40].
Nang thận đơn có thể phân loại như sau:
- Phân loại theo số lượng:
+ Nang đơn độc (solitary): 85% nang đơn ở một bên thận.
+ Nhiều nang (multiple): 10% nang ở một bên, 5% nang ở hai bên.
- Phân loại theo vi trí trên thận:
+ Nang ở vùng chu vi thận.
+ Nang ở nhu mô thận.
+ Nang cạnh bể thận.
+ Nang ở cực trên, giữa thận hay cực dưới thận [40].
1.3.4. Triệu chứng lâm sàng
Nang đơn
thâṇ

thường khơng có biểu hiện lâm sang (70% khơng có biểu

hiện lâm sang) hoặc không gây triệu chứng rầm rộ, nên bệnh nhân khơng chú
ý. Do đó, bệnh nhân thường được phát hiện tình cờ trên siêu âm, cắt lớ p
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




vi tinh
́ hoặc chụp hệ tiết niệu vì những bệnh lý khác, hoặc khi nang phát

triển
lớn, có biến chứng [7], [40], [67].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




Đau tức, cảm giác tức nặng, khó chịu vùng thắt lưng một cách mơ hồ va
liên tục khi thể tích nang lớn chèn ép vao thận va tổ chức xung quanh. Bệnh
nhân có cảm giác đau tức nhiều khi nang ở vùng rốn thận. Khi nang ở cực
trên có thể chèn ép cơ hoanh lam bệnh nhân khó thở. Nhiều khi bệnh nhân có
cơn đau dữ dội nếu có sỏi thận kèm theo hoặc khi sỏi di chuyển gây bít tắc
đường niệu.
Khi nang chả y má u đột ngột có thể lam bệnh nhân đau đột ngột va dữ
dội vì thanh nang bi căng phồng nhanh chóng.
Khi nang to, có thể nhìn thấy thanh bụng gồ lên hoặc sờ thấy khối u ở
vùng bụng, hố thắt lưng căng, nhẵn, ấn đau tức.
Thỉnh thoảng có thể gặp các rối loạn của đường tiêu hóa ma triệu chứng
giống như bệnh cảnh của loét đường tiêu hóa hay bệnh lý của túi mật [40].
Khi nang bi nhiễm trùng, bệnh nhân đau thắt lưng nhiều, sốt.
Bệnh nhân có thể bi tăng huyết áp thứ phát do nang to chèn ép vao các tổ
chức thận, mạch máu ở nhu mô thận, hoặc nang chèn vao một số nhánh mạch
máu thận gây thiếu máu cục bộ thùy thận, gây tăng rennin trong máu.
Đái ra máu khi nang bi vỡ thông vao đai bể thận. Bệnh nhân đau dữ dội,
đột ngột sau chấn thương hoặc một kích thích bất thường. Bệnh nhân đái ra
máu toan bãi, có trường hợp lỗ thông thương giữa nang thận với hệ thống đai
bể thận được bit lại hoặc do máu cục bịt lại, khi đó sẽ hết đái máu. Nếu lỗ
thơng giữa nang va đai bể thận không tự bịt lại, dần dần sẽ tạo thanh túi thừa
giả (pseudo calyceal diverticulum) ở đai bể thận [40].

1.3.5. Cận lâm sàng
Ngay nay, nhờ sự phát triển của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh, nhất
la siêu âm, khả năng phát hiện nang đơn
thâṇ

nhiều hơn va chính xác hơn.

* Siêu âm thận
Siêu âm thận la một phương tiện chẩn đoán không xâm hại, cho tỷ lệ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




×