Tải bản đầy đủ (.pdf) (71 trang)

Quy trình xử lý kỷ luật công chức

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (805.83 KB, 71 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

QUY TRÌNH XỬ LÝ KỶ LUẬT CƠNG CHỨC
Chun ngành: Luật Hành chính
Mã số:

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: Mai Thị Lâm
Học viên: Hà Thị Minh Châu
Lớp: Luật Hành chính- Nhà nƣớc
Khóa: 2014

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2014


LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành đƣợc khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến quý Thầy, Cơ trƣờng Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh đã tận tình chỉ bảo
cho tơi suốt 4 năm học tập tại trƣờng. Đặc biệt, tơi xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc
tới Cô Mai Thị Lâm – ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn và chỉ bảo cho tôi hồn thành
khóa luận này.
Tơi xin chân thành cảm ơn bạn bè và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều
kiện và giúp đỡ tơi trong suốt q trình thực hiện và hồn thành khóa luận.
Tơi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ KHÓA LUẬN


LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh ln coi trọng kỷ luật. Theo Ngƣời, việc
bồi dƣỡng văn hoá pháp luật, kỷ luật khơng những phải gắn với việc duy trì nghiêm


pháp luật, kỷ luật và quản lý chặt chẽ mọi chế độ, mà còn phải kiên quyết đấu tranh
ngăn chặn những hiện tƣợng, hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật, khi cần thiết thì
phải thi hành kỷ luật nghiêm minh, đúng mức. Bên cạnh đó, Ngƣời cịn ln nhắc
nhở cán bộ, chiến sỹ phải hình thành thói quen có kỷ luật hằng ngày.
Cơng chức là đội ngũ đóng vai trị quan trọng trong bộ máy hành chính của
nƣớc ta, là những ngƣời trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nƣớc, giữ vai trò đảm bảo
cho pháp luật đƣợc thực thi trong cuộc sống và là nhân tố quyết định hiệu lực, hiệu
quả của nền hành chính nhà nƣớc, vì vậy, họ phải là ngƣời tiên phong trong việc
tuân thủ kỷ luật, kỷ cƣơng. Tuy nhiên, hiện nay một bộ phận công chức có dấu hiệu
suy thối phẩm chất, đạo đức, thiếu tu dƣỡng, rèn luyện bản thân, phai nhạt lý
tƣởng, mất cảnh giác, giảm sút ý chí, kém ý thức kỷ luật, tha hóa về lối sống. Từ đó,
dẫn đến tình trạng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, gây phiền hà đối với nhân dân;
lợi dụng chức trách, thẩm quyền đƣợc Nhà nƣớc và nhân dân giao phó để nhận hối
lộ, tham nhũng, buôn lậu, làm biến dạng những giá trị và tiêu chuẩn đích thực của
“ngƣời cơng bộc của nhân dân”, làm suy giảm lòng tin của ngƣời dân đối với nhà
nƣớc.
Chính vì vậy, pháp luật đã có những chế tài phù hợp để xử lý những tiêu cực
của công chức. Bên cạnh chế tài hình sự nghiêm khắc, pháp luật cịn có chế tài kỷ
luật nhằm xử lý những hành vi vi phạm kỷ luật chƣa đến mức truy cứu trách nhiệm
hình sự. Việc xử lý kỷ luật cơng chức cũng phải tuân theo một trình tự đƣợc quy
trình rõ ràng tại Luật Cán bộ, công chức 2008 và Nghị định số 34/2011/NĐ-CP
ngày 17 tháng 05 năm 2011 về xử lý kỷ luật công chức. Tuy nhiên, một thực tế
khách quan chúng ta phải thừa nhận là các quy định về quy trình xử lý kỷ luật của
các văn bản nói trên vẫn cịn có những điểm chƣa hợp lý, còn tồn tại nhiều bất cập
chƣa đƣợc giải quyết.
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết đó, tác giả đã chọn đề tài: “Quy trình xử lý kỷ
luật cơng chức” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp. Hy vọng kết quả đạt đƣợc của đề
tài này sẽ góp phần vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về quy trình xử
lý kỷ luật cơng chức.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài



Trong những năm gần đây, vấn đề kỷ luật công chức đƣợc nhiều học giả, tác
giả quan tâm, nhƣng hầu hết các cơng trình nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở mức độ
nghiên cứu dƣới dạng là các bài viết tạp chí nhƣ các bài viết: “Một số bất cập của
pháp luật về xử lý kỷ luật công chức”, ThS. Cao Vũ Minh, ThS. Nguyễn Thị Thiện
Trí, tạp chí Luật học số 11/2012, tr 23; “Một số vấn đề về kỷ luật cán bộ, công
chức”, TS. Bùi Thi Đào, tạp chí Luật học số 6/2010, tr 14…
Tuy nhiên, hiện nay vẫn chƣa có một cơng trình nghiên cứu nào ở góc độ là
một cơng trình khóa luận tốt nghiệp về quy trình xử lý kỷ luật cơng chức.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
 Mục đích
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ những vấn đề lý luận, pháp lý về quy
trình xử lý kỷ luật cơng chức, từ đó, đánh giá thực trạng pháp lý về vấn đề này và
đƣa ra những biện pháp nhằm khắc phục những bất cập của pháp luật.
 Nhiệm vụ
Để thực hiện đƣợc mục tiêu trên, tác giả phải hoàn thành những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những khái niệm về cơng chức, quy trình xử lý kỷ luật cơng chức;
- Phân tích các quy định của pháp luật liên quan đến quy trình xử lý kỷ luật
cơng chức.
- Phân tích thực trạng pháp luật về quy trình xử lý kỷ luật công chức, chỉ ra
những nguyên nhân và đƣa ra đƣợc các giải pháp cụ thể để giải quyết vấn
đề.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung phân tích cơ sở lý luận và những bất
cập của các quy định pháp luật về quy trình xử lý xử lý kỷ luật công chức.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở phân tích, nhìn nhận và đánh giá các vấn đề dựa
trên phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ
nghĩa Mác – Lê-nin kết hợp tƣ tƣởng Hồ Chí Minh cũng nhƣ đƣờng lối của Đảng và

Nhà nƣớc, chính sách pháp luật nói chung. Ngồi ra, tác giả còn vận dụng các
phƣơng pháp nghiên cứu khoa học nhƣ phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp…
nhằm làm sáng tỏ vấn đề cần giải quyết.
6. Cấu trúc của đề tài
LỜI NÓI ĐẦU
MỤC LỤC
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUY TRÌNH XỬ LÝ KỶ
LUẬT CƠNG CHỨC


CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

VỀ QUY TRÌNH XỬ LÝ KỶ LUẬT CƠNG CHỨC
KẾT LUẬN
DANH MỤC ĐỀ TÀI THAM KHẢO


MỤC LỤC
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUY TRÌNH XỬ
LÝ KỶ LUẬT CƠNG CHỨC .................................................................................. 1
1.1. Cơ sở lý luận về quy trình xử lý kỷ luật công chức ............................. 1
1.1.1. Khái niệm công chức ...................................................................... 1
1.1.2. Khái niệm quy trình xử lý kỷ luật cơng chức ................................ 4
1.1.2.1. Khái niệm “quy trình” ......................................................... 4
1.1.2.2.Khái niệm “xử lý” ................................................................. 5
1.1.2.3.Khái niệm “kỷ luật” .............................................................. 5
1.1.2.4.Khái niệm “quy trình xử lý kỷ luật cơng chức” .................... 6
1.1.3. Ý nghĩa của quy trình xử lý kỷ luật cơng chức ............................. 6
1.2. Cơ sở pháp lý về quy trình xử lý kỷ luật công chức ............................ 8
1.2.1. Giai đoạn phát hiện vi phạm và khởi xướng việc thụ lý ............... 8

1.2.1.1. Về thời hiệu xử lý kỷ luật công chức .................................... 8
1.2.1.2.Về các trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật ...................... 9
1.2.1.3.Về việc tạm đình chỉ cơng tác của công chức ..................... 10
1.2.2. Giai đoạn chuẩn bị xử lý kỷ luật .................................................. 11
1.2.2.1.Thời hạn xem xét kỷ luật công chức.................................... 11
1.2.2.2. Tổ chức họp kiểm điểm công chức ..................................... 11
1.2.2.3.Thành lập Hội đồng kỷ luật ................................................ 13
1.2.3. Giai đoạn xem xét ở Hội đồng kỷ luật ......................................... 14
1.2.3.1.Tổ chức họp Hội đồng kỷ luật ............................................. 15
1.2.3.2.Nguyên tắc xử lý kỷ luật cơng chức .................................... 17
1.2.3.3.Các hình thức xử lý kỷ luật ................................................. 22
1.2.4. Giai đoạn ra quyết định kỷ luật .................................................... 29
1.2.4.1.Thẩm quyền xử lý kỷ luật .................................................... 29
1.2.4.2.Trình tự ra quyết định kỷ luật ............................................. 31
1.2.5. Giai đoạn khiếu kiện và giải quyết khiếu kiện ............................ 32
1.2.5.1. Quyền khiếu nại của công chức ......................................... 33
1.2.5.2. Quyền khởi kiện của công chức ......................................... 34
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP HỒN
THIỆN VỀ QUY TRÌNH XỬ LÝ KỶ LUẬT CÔNG CHỨC ............................ 36
2.1. Thực trạng pháp luật về quy trình xử lý kỷ luật cơng chức ............. 36


2.1.1. Thực trạng quy định của pháp luật về giai đoạn phát hiện vi
phạm và khởi xướng việc xử lý..................................................................... 36
2.1.2. Thực trạng quy định của pháp luật về giai đoạn chuẩn bị xử lý
kỷ luật............................................................................................................. 38
2.1.3. Thực trạng quy định của pháp luật về giai đoạn xem xét tại Hội
đồng kỷ luật ................................................................................................... 39
2.1.4. Thực trạng quy định của pháp luật về giai đoạn ra quyết định kỷ
luật ................................................................................................................. 45

2.1.5. Thực trạng quy định của pháp luật về giai đoạn khiếu kiện và
giải quyết khiếu kiện ..................................................................................... 46
2.2. Nguyên nhân của thực trạng pháp luật về quy trình xử lý kỷ luật
cơng chức .................................................................................................................. 48
2.3. Giải pháp hồn thiện quy trình xử lý kỷ luật cơng chức ................... 51
2.3.1. Giải pháp hoàn thiện về mặt pháp luật........................................ 51
2.3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về giai đoạn phát hiện vi phạm và
khởi xướng việc xử lý ............................................................................... 51
2.3.1.2. Hoàn thiện pháp luật về giai đoạn chuẩn bị xử lý kỷ luật
công chức ................................................................................................. 53
2.3.1.3. Hoàn thiện pháp luật về giai đoạn xem xét ở Hội đồng kỷ
luật ............................................................................................................. 53
2.3.1.4. Hoàn thiện pháp luật về giai đoạn ra quyết định kỷ luật .. 56
2.3.1.5. Hoàn thiện pháp luật về giai đoạn khiếu kiện và giải quyết
khiếu kiện ................................................................................................... 56
2.3.2. Các giải pháp khác ....................................................................... 57
2.3.2.1. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giám sát việc áp dụng và
thực hiện quy trình xử lý kỷ luật công chức............................................. 57
2.3.2.2. Tăng cường công tác thi đua, khen thưởng công chức ...... 58
2.3.2.3. Bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ chun mơn cho các
cán bộ, cơng chức ...................................................................................... 59
2.3.2.4. Cải tiến, hồn thiện quy trình soạn thảo, ban hành văn bản
pháp luật .................................................................................................... 60
KẾT LUẬN ................................................................................................... 61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................... 62


1
CHƢƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUY TRÌNH XỬ LÝ KỶ LUẬT

CƠNG CHỨC
Cơ sở lý luận về quy trình xử lý kỷ luật cơng chức
1.1.1 Khái niệm cơng chức
Cơng chức là một khái niệm mang tính lịch sử, nội dung của nó phụ thuộc rất
nhiều vào quan niệm về hoạt động cơng vụ, vào chế độ chính trị và nền văn hóa của
mỗi quốc gia và phụ thuộc vào từng giai đoạn lịch sử cụ thể của từng nƣớc 1. Do đó,
1.1.

trên thế giới tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về công chức. Cụ thể là:
Theo pháp luật Hoa Kỳ, công chức bao gồm tất cả những ngƣời đƣợc bổ
nhiệm vào các ngành hành pháp, lập pháp và tƣ pháp trong Chính phủ Hoa Kỳ2.
Ở Pháp, công chức đƣợc coi là những ngƣời đƣợc bổ nhiệm giữ một công vụ
thƣờng xuyên, đƣợc xếp vào một ngạch trong hệ thống cơ quan hành chính của nhà
nƣớc hoặc trong các tổ chức dịch vụ công và các đơn vị sự nghiệp trực thuộc cơ
quan hành chính3.
Ở Đức, cơng chức đƣợc gọi là ngƣời nằm trong quan hệ công vụ nhà nƣớc
trên cơ sở lời tuyên thệ trung thành với pháp nhân quản lý cơng và hồn thành theo
sự ủy thác của pháp nhân đó chức năng pháp luật công 4.
Ở Nhật Bản, Điều 15 Hiến pháp hiện hành ghi nhận cơng chức là cơng bộc
của tồn xã hội mà không phải của một bộ phận riêng nào. Công chức Nhật Bản bao
gồm: (1) những ngƣời làm công tác chun mơn nghiệp vụ trong bộ máy hành
chính của Chính phủ; (2) những ngƣời làm công tác chuyên môn nghiệp vụ, quản lý
trong bộ máy hành chính ở địa phƣơng; (3) những ngƣời thực thi công vụ tại các tổ
chức dịch vụ công hoặc trong ngành lập pháp, tƣ pháp5.
Ở Việt Nam, qua các thời kỳ lịch sử khái niệm công chức lại đƣợc định
nghĩa khác nhau, gắn liền với sự thay đổi của nền hành chính nhà nƣớc. Khái niệm
cơng chức đƣợc luật hóa lần đầu tiên tại Sắc lệnh số 76/SL ban hành Quy chế công
chức của nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký vào ngày
20 tháng 5 năm 1950, theo đó, “Cơng chức Việt Nam là những cơng dân giữ một
nhiệm vụ trong bộ máy nhà nước của chính quyền nhân dân, dưới sự lãnh đạo tối

cao của Chính phủ”. Tại Điều 1, Sắc lệnh khẳng định “Những công dân Việt Nam
1

Trần Anh Tuấn (2007), Hoàn thiện thể chế quản lý công chức ở VN trong điều kiện phát triển và hội nhập
quốc tế, Đại học Luật TPHCM, tr. 14.
2
Nguyễn Cửu Việt (2011), Luật Hành chính nước ngồi, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 147.
3
Nguyễn Cửu Việt (2011), Luật Hành chính nước ngồi, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 202.
4
Nguyễn Cửu Việt (2011), Luật Hành chính nước ngoài, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 250.
5
Phạm Hồng Quang (2012), “Công chức, viên chức nhà nƣớc trong đơn vị sự nghiệp công lập ở Nhật Bản và
kinh nghiệm với Việt Nam”, Dân chủ và pháp luật (1), tr. 10.


2
được chính quyền nhân dân tuyển để giữ chức vụ thường xuyên trong cơ quan
Chính Phủ, ở trong nước hay nước ngồi đều là cơng chức theo quy chế này, trừ
trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”. Sắc lệnh này đã xác định rõ khái
niệm công chức mang tính khoa học phù hợp với một nền cơng chức hiện đại đang
đƣợc thực hiện ở một số nƣớc trên thế giới lúc bấy giờ. Tuy nhiên, hoàn cảnh kháng
chiến đã không cho phép triển khai thực hiện đầy đủ Sắc lệnh này6.
Sau đó, một thời gian khá dài (từ những năm đầu thập niên 60 tới những năm
cuối thập niên 80 của thế kỷ trƣớc) khái niệm công chức đã khơng đƣợc sử dụng
thay vào đó là các khái niệm nhƣ: “cán bộ, công nhân, viên chức nhà nƣớc”, “công
nhân viên chức”, họ là tất cả những ngƣời trong biên chế làm việc trong cơ quan,
đơn vị hành chính, sự nghiệp của Nhà nƣớc, của Đảng, của các tổ chức chính trị xã hội và các đơn vị kinh tế của Nhà nƣớc. Giai đoạn này khơng có sự rạch rịi giữa
các khái niệm “cán bộ”, “cơng chức”, “viên chức”. Đây là một trong những thiếu
sót cơ bản của pháp luật hành chính lúc bấy giờ.

Đến năm 1991, Nghị định số 169/HĐBT của Hội đồng Bộ trƣởng ban hành
ngày 25/5/1991 về công chức nhà nƣớc đã quy định khái niệm công chức mang bản
chất nhƣ Sắc lệnh 76/SL năm 1950, theo Nghị đinh này thì: “Cơng chức Nhà nước
Việt Nam là công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ
thường xuyên trong một cơ sở Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong
nước hay nước ngoài, đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà
nước cấp”. Nghị định này đã tách bạch khái niệm “công chức”, không lẫn lộn với
khái niệm “cán bộ” hay “viên chức” nhƣ thời kỳ trƣớc nữa.
Năm 1998, Pháp lệnh Cán bộ công chức ra đời, đánh dấu một bƣớc tiến
đáng kể trong sự nghiệp hồn thiện pháp luật về cơng chức. Tuy nhiên, Pháp lệnh
này không đƣa ra định nghĩa “công chức”, ngay cả trong Pháp lệnh cán bộ, công
chức đƣợc sửa đổi năm 2003 cũng không đƣa ra định nghĩa này, mà thay vào đó, cả
hai Pháp lệnh này lại dùng phƣơng pháp liệt kê các đối tƣợng là công chức. Việc
dùng phƣơng pháp liệt kê đã không bao hàm hết đƣợc các đối tƣợng là công chức,
mặt khác, phƣơng pháp liệt kê làm cho văn bản không khoa học, thể hiện sự “bất
lực” của ngƣời làm luật khi không thể đƣa ra một khái niệm bao qt thế nào là
cơng chức.
Vì vậy, để khắc phục những hạn chế trên, năm 2008, Quốc hội khóa XII ban
hành Luật Cán bộ, cơng chức đã hồn thiện khái niệm cơng chức. Theo đó, khoản 2,
Điều 4 Luật Cán bộ, công chức quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được
6

Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phƣơng (2005), “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, cơng
chức”, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr. 72.


3
tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng
sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp
huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan,

quân nhân chun nghiệp, cơng nhân quốc phịng; trong cơ quan, đơn vị thuộc
Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ
máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công
lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức
trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp cơng lập thì lương được bảo
đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Theo định nghĩa này, cơng chức có các dấu hiệu sau:
(1) Là công dân Việt Nam;
(2) Đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh;
(3) Công việc có tính chun nghiệp và thƣờng xun;
(4) Làm việc trong các cơ quan nhà nƣớc, Đảng, các tổ chức chính trị xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội
nhân dân và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập;
(5) Trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; riêng lƣơng
của công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp cơng lập thì
theo quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập.
Nhƣ vậy, so với pháp luật các nƣớc thì khái niệm cơng chức theo pháp luật
nƣớc ta có điểm riêng biệt, đó là, cơng chức nƣớc ta khơng chỉ có những ngƣời làm
việc trong cơ quan hành chính mà còn bao gồm cả những ngƣời đƣợc tuyển dụng,
bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong các tổ chức chính trị nhƣ Đảng Cộng
sản Việt Nam, hay tổ chức chính trị - xã hội nhƣ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Hội
Liên hiệp Phụ nữ…
So với pháp luật của nƣớc ta qua các giai đoạn lịch sử thì khái niệm công
chức đƣợc Luật Cán bộ, công chức 2008 đƣa ra là tiến bộ hơn cả.
Thứ nhất, Luật Cán bộ, công chức 2008 đã đƣa thuật ngữ “công chức” ra
thành một khái niệm chứ không gọi đơn thuần là một thuật ngữ chung chung nữa.
Thứ hai, dựa vào khái niệm này chúng ta đã có sự phân biệt giữa cơng chức,
viên chức và cán bộ.
Theo đó, cơng chức có nhiệm vụ vận hành quyền lực nhà nƣớc, làm nhiệm
vụ quản lý, cịn viên chức thì thực hiện chức năng xã hội, trực tiếp thực hiện nghiệp

vụ. Công chức đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm thuộc biên chế; còn viên chức thì đƣợc
tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc. Cơng chức đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà


4
nƣớc theo ngạch, bậc; đối với viên chức thì hƣởng lƣơng từ quỹ lƣơng của đơn vị sự
nghiệp công lập, tƣơng xứng với vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp, chức vụ
quản lý và kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ đƣợc giao.
Riêng với cán bộ thì cán bộ là công dân Việt Nam, đƣợc bầu cử, phê chuẩn,
bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản
Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, ở tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ƣơng, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và
hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc7.
So với cán bộ thì cơng chức làm việc thƣờng xun hơn theo biên chế và
hoạt động chun mơn, nghiệp vụ. Cán bộ thì đƣợc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm,
cịn cơng chức thì đƣợc tuyển dụng. Cán bộ làm việc có nhiệm kỳ cịn cơng chức thì
khơng có nhiệm kỳ mà họ làm việc theo chuyên môn, nghiệp vụ.
Thứ ba, Luật Cán bộ, công chức 2008 đã tách khái niệm “công chức cấp xã”
và “cán bộ cấp xã” thành các khái niệm khác nhau. Theo đó, cán bộ cấp xã là cơng
dân Việt Nam, đƣợc bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thƣờng trực Hội đồng
nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thƣ, Phó Bí thƣ Đảng ủy, ngƣời đứng đầu tổ chức
chính trị - xã hội8. Cịn cơng chức cấp xã là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng
giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong
biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc9. Trong khi Pháp lệnh Cán bộ, công
chức không trực tiếp gọi đây là cán bộ, công chức mà chỉ xếp cùng vào một nhóm
để quy định biên chế, lƣơng… nên cơ chế quản lý và chế độ chính sách do Nhà
nƣớc ban hành vẫn cịn những hạn chế, chƣa phù hợp với từng nhóm đối tƣợng.
1.1.2 Khái niệm quy trình xử lý kỷ luật cơng chức
1.1.2.1 Khái niệm “quy trình”
“Quy trình” là trình tự phải tuân theo để tiến hành một cơng việc nào đó 10.

Nó bao gồm các bƣớc, các giai đoạn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong một
chỉnh thể thống nhất nhằm đảm bảo cho sự hồn chỉnh và chính xác cho cơng việc
cần giải quyết. Nếu bỏ sót hoặc khơng thực hiện một bƣớc, một giai đoạn trong quy
trình sẽ phạm vào sự thống nhất, đồng thời không đạt đƣợc kết quả cao nhất hoặc là
khơng chính xác.
Bên cạnh đó, nếu các chủ thể khơng thực hiện theo đúng quy trình mà pháp
luật quy định thì có thể phải chịu các hình thức chế tài luật định. Ví dụ: quy trình tố
tụng hình sự - nếu các chủ thể có thẩm quyền thực hiện sai hoặc không đủ các giai
7

Khoản 1, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức 2008.
Khoản 3, Điều 4 Luật Cán bộ công chức 2008.
9
Khoản 3, Điều 4 Luật Cán bộ công chức 2008.
10
Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thơng, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, tr. 742.
8


5
đoạn của quy trình, thủ tục tố tụng hình sự thì phải chịu trách nhiệm trƣớc pháp
luật.
1.1.2.2 Khái niệm “xử lý”
Thuật ngữ “xử lý” đƣợc sử dụng khá phổ biến trong khoa học pháp lý cũng
nhƣ trong các văn bản pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế chƣa có một văn bản pháp
lý nào quy định về thuật ngữ này. Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thơng thì “xử lý” là
một động từ, nó có nhiều nghĩa ứng với từng sự vật, hiện tƣợng cụ thể. Với nghĩa
thứ nhất, “xử lý” là làm cho chịu những tác độngvật lí, hóa học nhất định để biến
đổi hợp với mục đích11. Ví dụ nhƣ: Xử lý hạt giống bằng thuốc trừ sâu, Xử lý vết
thƣơng trƣớc khi đƣa tới bệnh viện…

Nghĩa thứ hai, “xử lý” là áp dụng vào cái gì đó những thao tácnhất định để
nghiên cứu, sử dụng12. Ví dụ nhƣ: q trìnhxử lýthơng tin…
Nghĩa thứ ba, ứng với khoa học pháp lý thì “xử lý” là xem xét và giải quyết
về mặt tổ chức một vụ phạm lỗi nào đó13. Ví dụ nhƣ: Xử lýnghiêm minh những vụ
vi phạm pháp luật…
Trong giới hạn bài viết này, từ “xử lý” sẽ đƣợc sử dụng với nghĩa thứ ba, tức
là, xem xét và giải quyết về mặt tổ chức một vụ vi phạm pháp luật.
1.1.2.3 Khái niệm “kỷ luật”
Kỷ luật, dƣới góc độ chung nhất, là tổng thể các quy định nhằm bảo vệ trật
tự, nề nếp hoạt động nội bộ của mọi cơ quan, tổ chức của Nhà nƣớc và của xã hội
nói chung, cũng nhƣ sự tuân thủ nghiêm chỉnh của quy định đó14.
Ở một định nghĩa khác kỷ luật là tổng thể nói chung nhữngđiềuquy
địnhcầnphải tuân theo để giữ gìntrật tự15. Ví dụ nhƣ: kỷ luật nhà trƣờng, kỷ luật lao
động, vi phạm kỷ luật…
Kỷ luật còn là các hình thức phạt đối với ngƣời vi phạm kỷ luật 16, tức là các
hình thức kỷ luật mà cơng chức phải chịu, ví dụ nhƣ: hình thức kỷ luật cảnh cáo,
khiển trách, buộc thơi việc…
Kỷ luật có nhiều loại, ứng với mỗi chủ thể phải tuân thủ kỷ luật khác nhau,
chúng ta có thể phân chia theo khu vực áp dụng thành hai loại chính 17 là kỷ luật nhà
nƣớc (vi phạm các quy định pháp luật về kỷ luật, nhƣ kỷ luật công chức theo pháp

11

Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, tr. 1071.
Viện ngơn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thơng, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, tr. 1071.
13
Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thơng, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, tr. 1071.
14
Nguyễn Cửu Việt (2013), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb. Công an Nhân dân, tr. 549.
15

Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thơng, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, tr. 461.
16
Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thơng, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, tr. 461.
17
Nguyễn Cửu Việt (1999), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 435.
12


6
luật về cán bộ, công chức; kỷ luật lao động theo pháp luật lao động…) và kỷ luật xã
hội (vi phạm các quy định về kỷ luật của các tổ chức xã hội).
Kỷ luật công chức là một dạng của kỷ luật nhà nƣớc. Kỷ luật nhà nƣớc theo
nghĩa rộng là những yêu cầu của nhà nƣớc đối với công chức nhà nƣớc mang tính
bắt buộc thực hiện và trật tự thực hiện những yêu cầu đó. Trong quản lý nhà nƣớc,
kỷ luật đƣợc đề cập từ nhiều hƣớng. 1) Với ý nghĩa khách quan, kỷ luật là toàn bộ
các quy tắc hành vi trong hoạt động của công chức do nhà nƣớc ban hành, chứa
đựng các quy định về hành vi đƣợc thực hiện, cấm thực hiện và về khuyến khích và
xử phạt trong thực hiện hành vi. 2) Từ góc nhìn chủ quan, kỷ luật là sự tn thủ, sử
dụng, thi hành, áp dụng đúng các quy tắc hành vi đã ban hành. 3) Kỷ luật nhà nƣớc
liên hệ với kỷ luật của các tổ chức mà công chức nhà nƣớc tham gia trên nguyên tắc
trách nhiệm công vụ và ngồi cơng vụ. Nhƣ vậy, nhà nƣớc ban hành các quy tắc
hành vi, cịn cơng chức phải hiểu và chấp hành các quy tắc ấy. Kỷ luật là sự thống
nhất giữa ban hành và thực hiện. Có quy tắc thì mới có quy chuẩn để thực hiện.
Cơng chức khơng tn theo những quy tắc, kỷ luật thì sẽ bị xem xét xử lý kỷ luật.
1.1.2.4 Khái niệm “quy trình xử lý kỷ luật cơng chức”
Vì pháp luật hiện hành không quy định về khái niệm xử lý kỷ luật nói chung
cũng nhƣ khái niệm xử lý kỷ luật cơng chức nói riêng nên dựa vào phần lý luận nêu
trên về việc diễn giải các khái niệm ta có thể rút ra khái niệm cụ thể nhƣ sau:
Quy trình xử lý kỷ luật cơng chức là q trình để các chủ thể có thẩm quyền
xem xét và giải quyết về việc cơng chức có hành vi vi phạm kỷ luật bằng cách buộc

họ phải chịu những hình thức kỷ luật do Nhà nước quy định. Đây là biện pháp pháp
lý mang tính cƣỡng chế cao và là nội dung rất cơ bản trong việc thiết lập và duy trì
kỷ luật cơng chức của các chủ thể có thẩm quyền khi thực hiện hoạt động quản lý
của mình. Việc xử lý kỷ luật cơng chức đóng vai quan trọng trong việc duy trì trật
tự, kỷ cƣơng, nâng cao hiệu quả của cơng tác quản lý ở các đơn vị. Ngồi tác dụng
trừng phạt, việc xử lý kỷ luật công chức cịn có ý nghĩa rất lớn trong việc phịng
ngừa, giáo dục những công chức khác để họ thực hiện tốt kỷ luật cơng chức.
Quy trình này bao gồm các bƣớc, các giai đoạn cụ thể để xử lý, giải quyết
những vụ vi phạm pháp luật của cơng chức, đó là các giai đoạn: phát hiện vi phạm
và khởi xƣớng việc xử lý, chuẩn bị xử lý, xem xét ở Hội đồng kỷ luật, ra quyết định
kỷ luật, khiếu kiện và giải quyết khiếu kiện. Các chủ thể có thẩm quyền xử lý kỷ
luật công chức phải thực hiện đúng các giai đoạn của quy trình này để đảm bảo
quyền và lợi ích của cơng chức bị vi phạm cũng nhƣ đây là sự tuân thủ pháp luật vì
quy trình này đã đƣợc NĐ 34/2011/NĐ-CP quy định rõ ràng.
1.1.3 Ý nghĩa của quy trình xử lý kỷ luật cơng chức


7
Đối tƣợng của quy trình xử lý kỷ luật cơng chức là cơng chức có hành vi vi
phạm kỷ luật, họ là những ngƣời đƣợc đào tạo có hệ thống, có uy tín xã hội nhất
định nhƣng lại có những hành vi hành xử không phù hợp dẫn đến phải chịu những
hình thức kỷ luật. Quy trình xử lý kỷ luật công chức nhằm xử lý những hành vi vi
phạm đó, nó có ý nghĩa về nhiều mặt:
- Đối với các chủ thể có thẩm quyền xử lý kỷ luật cơng chức:
Có thể nói, quy trình xử lý kỷ luật công chức là "thƣớc đo”, là cơ sở để tiến
hành xử lý kỷ luật đúng ngƣời, đúng hành vi vi phạm. Nếu quy trình xử lý kỷ luật
cơng chức khơng đƣợc pháp luật quy định rõ ràng có thể dẫn tới trƣờng hợp áp
dụng tùy tiện, ảnh hƣởng đến quyền lợi của cơng chức. Chính vì vậy, khi pháp luật
quy định rõ các bƣớc trong quy trình xử lý kỷ luật giúp cho các chủ thể có thẩm
quyền có cơ sở pháp lý làm nền tảng để xem xét hành vi vi phạm của cơng chức

một cách chính xác.
Mặt khác, quy trình xử lý kỷ luật cịn tạo điều kiện cho ngƣời có thẩm quyền
xem xét kỹ lƣỡng hành vi vi phạm kỷ luật của công chức trƣớc khi ra quyết định
cuối cùng vì đã đƣợc sự giúp đỡ, tƣ vấn từ Hội đồng kỷ luật với nhiều thành viên,
nhiều cách nhìn nhận khác nhau. Chính vì vậy, quy trình xử lý kỷ luật công chức
đƣợc pháp luật quy định giúp cho các chủ thể có thẩm quyền dễ dàng hơn trong xử
lý.
- Đối với cơng chức: Quy trình xử lý kỷ luật cơng chức nhằm hƣớng đến
những mục đích sau:
Giúp cơng chức vi phạm nhìn nhận lại hành vi của mình từ đó giúp cơng chức
nhận thức đƣợc sai lầm, tìm ra hƣớng đúng đắn để hồn thành tốt nhiệm vụ đƣợc
giao mà không vi phạm kỷ luật. Bên cạnh đó, quy trình xử lý kỷ luật cịn giúp cho
cơng chức nói lên tiếng nói bảo vệ mình cũng nhƣ có cơ hội để trình bày những
ngun nhân, lý do vi phạm kỷ luật thông qua các bƣớc kiểm điểm và họp tại Hội
đồng kỷ luật.
Thơng qua quy trình xử lý kỷ luật đƣợc pháp luật quy định còn giúp cho việc
bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của công chức một cách tốt hơn, khi mà pháp
luật quy định vấn đề này chặt chẽ sẽ khơng cịn cơ hội cho các chủ thể có thẩm
quyền sách nhiễu, bao che hay trù dập công chức.
- Đối với nhà nước:
Quy trình xử lý kỷ luật mang tính khách quan và khoa học sẽ giúp nhà nƣớc
xử lý kịp thời sai phạm của công chức, tránh những tổn thất do hành vi vi phạm
pháp luật gây ra. Thơng qua đó, khơi phục nhanh chóng trật tự quản lý nội bộ của
các cơ quan, tổ chức, đơn vị và tăng hiệu quả hoạt động của các cơ quan này.


8
1.2. Cơ sở pháp lý về quy trình xử lý kỷ luật cơng chức
Pháp luật về quy trình xử lý kỷ luật công chức là một bộ phận trong pháp
luật về công chức, do vậy, việc nghiên cứu cơ sở pháp lý về quy trình xử lý kỷ luật

cơng chức phải gắn liền với pháp luật về công chức. Quy trình xử lý kỷ luật cơng
chức đƣợc phân thành nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn đều mang một ý
nghĩa khác nhau. Việc phân thành các giai đoạn trên thực tế cịn có nhiều quan
điểm. Tác giả nhất trí theo quan điểm của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt là quy trình xử
lý kỷ luật cơng chức trải qua 5 giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên là phát hiện vi phạm và
khởi xƣớng việc xử lý, giai đoạn thứ 2 là chuẩn bị xử lý, giai đoạn thứ 3 là xem xét
ở Hội đồng kỷ luật, giai đoạn thứ 4 là ra quyết định kỷ luật, giai đoạn cuối cùng là
khiếu kiện và giải quyết khiếu kiện.
Quy trình xử lý kỷ luật công chức đƣợc quy định tại Luật Cán bộ, công chức
2008, Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17/05/2011 về xử lý kỷ luật đối với cơng
chức của Chính phủ (sau đây gọi là NĐ 34/2011/NĐ-CP).
1.2.1 Giai đoạn phát hiện vi phạm và khởi xướng việc thụ lý
Đây là giai đoạn mở đầu cho trình tự xử lý kỷ luật cơng chức, cơ sở pháp lý
của giai đoạn này giúp cho các cơ quan có thẩm quyền xác định đƣợc các bƣớc cần
tiến hành khi phát hiện ra hành vi vi phạm kỷ luật của cơng chức. Thơng qua đó,
xem xét hành vi này còn thời hiệu xử lý kỷ luật hay khơng? Hoặc trƣờng hợp này có
rơi vào các trƣờng hợp chƣa xem xét xử lý kỷ luật hay không? Mặt khác, có cần
thiết phải tạm đình chỉ cơng tác của công chức vi phạm? Đây là tất cả các vấn đề mà
cơ quan có thẩm quyền cần xem xét trong giai đoạn này. Cơ sở pháp lý của giai
đoạn này đƣợc quy định cụ thể nhƣ sau:
1.2.1.1 Về thời hiệu xử lý kỷ luật công chức
Việc quy định về thời hiệu xử lý kỷ luật là cần thiết, nhằm bảo vệ quyền lợi
của công chức bị kỷ luật cũng nhƣ tăng cƣờng trách nhiệm của ngƣời có thẩm
quyền trong việc phát hiện và xử lý vi phạm. Nếu nhƣ pháp luật khơng có quy định
về thời hiệu thì có thể dẫn đến trƣờng hợp xử lý kỷ luật về một hành vi phát sinh từ
nhiều năm trƣớc, hiệu quả của nó và các vấn đề có liên quan đã có nhiều biến đổi
dẫn đến việc giải quyết sẽ gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, hoạt động xử lý kỷ
luật địi hỏi phải nhanh nhạy, kịp thời, vì ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau hành vi
này có thể xem là vi phạm và bị xử lý kỷ luật nhƣng giai đoạn khác lại khơng xem
đó là hành vi vi phạm và không cần phải xử lý. Do vậy, việc xử lý kỷ luật chỉ có thể

đƣợc thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định.Thời hiệu xử lý kỷ luật công
chức là khoảng thời gian pháp luật cho phép xử lý kỷ luật công chức.


9
Trƣớc đây, Pháp lệnh Cán bộ, công chức không quy định thời hiệu xử lý kỷ
luật cán bộ, công chức. Tuy nhiên, tại Điều 9 Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày
17/3/2005 của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, cơng chức có quy định thời hiệu
xử lý kỷ luật. Theo đó, thời hiệu xử lý kỷ luật là khoảng thời gian quy định phải tiến
hành xem xét xử lý kỷ luật cơng chức và đƣợc tính từ thời điểm cơ quan, tổ chức
đơn vị có thẩm quyền xem xét, xử lý kỷ luật xác định cơng chức có hành vi vi phạm
kỷ luật cho đến thời điểm Hội đồng kỷ luật họp. Thời hiệu xử lý kỷ luật là 3 tháng.
Thực chất, đây chính là thời hạn xử lý kỷ luật chứ không phải là thời hiệu.
Luật Cán bộ, cơng chức 2008 thì có quy định về thời hiệu xử lý lỷ luật, theo
đó, tại Khoản 1, Điều 80 quy định thời hiệu xử lý kỷ luật là thời hạn do Luật này
quy định mà khi hết thời hạn đó thì cán bộ, cơng chức có hành vi vi phạm không bị
xem xét xử lý kỷ luật. Thời hiệu xử lý kỷ luật là 24 tháng, kể từ thời điểm có hành
vi vi phạm.
Nhƣ vậy, Luật Cán bộ, cơng chức 2008 đã quy định về thời hiệu hợp lý hơn,
đó là khoảng thời gian mà ngƣời có thẩm quyền có quyền xử lý kỷ luật cơng chức,
cịn hết khoảng thời gian này thì cơng chức khơng bị xử lý kỷ luật nữa. Đây là quy
định hợp lý nhằm phân biệt với thời hạn xử lý kỷ luật công chức là khoảng thời gian
mà ngƣời có thẩm quyền phát hiện xử lý kỷ luật cơng chức đến khi có quyết định kỷ
luật.
1.2.1.2 Về các trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật
Nghị định 34/2011/NĐ-CP quy định các trƣờng hợp nếu phát hiện cơng chức
có hành vi vi phạm trong khoảng thời gian này thì chƣa xem xét xử lý kỷ luật:
- Công chức đang trong thời gian nghỉ hàng năm, nghỉ theo chế độ, nghỉ việc
riêng đƣợc ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cho phép.
- Đang trong thời gian điều trị có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền.

- Cơng chức nữ đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con
dƣới 12 tháng tuổi.
- Đang bị tạm giữ, tạm giam chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền điều tra,
truy tố, xét xử về hành vi vi phạm pháp luật.
Đây là quy định mang tính nhân văn của pháp luật, vừa hợp tình và hợp lý, bởi
lẽ, việc xử lý kỷ luật sẽ không khả quan khi công chức đang có khoảng thời gian
nghỉ đƣợc pháp luật cho phép, mặt khác, khi công chức đang ốm đau, công chức nữ
đang mang thai mà lại xử lý kỷ luật họ trong lúc này không những không đem lại
hiệu quả mà còn gây áp lực cho họ dẫn đến những trƣờng hợp xấu có thể xảy ra.
Bên cạnh đó, trong những trƣờng hợp này cơng chức có hành vi vi phạm kỷ luật
đang có khoảng thời gian khơng ở cơ quan, đơn vị nên việc triệu tập công chức để


10
viết bản kiểm điểm gặp khó khăn. Chính vì vậy, pháp luật quy định các trƣờng hợp
chƣa xem xét xử lý kỷ luật công chức trong các trƣờng hợp trên là hoàn toàn phù
hợp.
Thời gian chƣa xem xét xử lý kỷ luật đối với công chức trong các trƣờng hợp
này cũng khơng tính vào thời hạn xử lý kỷ luật18.
1.2.1.3 Về việc tạm đình chỉ cơng tác của cơng chức
Đây là nội dung mang tính pháp lý cần chú ý trong giai đoạn phát hiện vi
phạm và khởi xƣớng việc xử lý.
Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức có thể ra quyết định tạm đình chỉ
cơng tác trong thời gian xem xét, xử lý kỷ luật công chức, nếu để cơng chức đó tiếp
tục làm việc có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý. Thời hạn tạm đình chỉ
cơng tác khơng q 15 ngày, trƣờng hợp cần thiết có thể kéo dài thêm nhƣng tối đa
không quá 15 ngày; nếu công chức bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ công tác điều
tra, truy tố, xét xử thì thời gian tạm giữ, tạm giam đƣợc tính là thời gian nghỉ việc
có lý do; hết thời hạn tạm đình chỉ cơng tác nếu cơng chức khơng bị xử lý kỷ luật
thì đƣợc tiếp tục bố trí làm việc ở vị trí cũ19.

Trong thời gian bị tạm đình chỉ cơng tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ
cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, công chức đƣợc hƣởng lƣơng theo quy định
của Chính phủ20.
NĐ số 34/2011/NĐ-CP có Điều 24 quy định cụ thể về chế độ, chính sách đối
với cơng chức đang trong thời gian tạm giữ, tạm giam và tạm đình chỉ công tác nhƣ
sau:
-

-

Trong thời gian tạm giữ, tạm giam để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố,
xét xử hoặc tạm đình chỉ cơng tác để xem xét xử lý kỷ luật thì cơng chức
đƣợc hƣởng 50% của mức lƣơng theo ngạch, bậc hiện hƣởng, cộng với phụ
cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vƣợt khung, phụ cấp thâm niên
nghề và hệ số chênh lệch bảo lƣu lƣơng (nếu có).
Trƣờng hợp cơng chức khơng bị xử lý kỷ luật hoặc đƣợc kết luận là oan, sai
thì đƣợc truy lĩnh 50% còn lại của mức lƣơng theo ngạch, bậc hiện hƣởng,
cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vƣợt khung, phụ cấp
thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lƣu lƣơng (nếu có) trong thời gian
tạm đình chỉ cơng tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam.

18

Khoản 5, Điều 2 NĐ 34/2011/NĐ-CP.
Khoản 1, Điều 81 Luật cán bộ, công chức 2008.
20
Khoản 2, Điều 81 Luật cán bộ, công chức 2008.
19



11
-

Trƣờng hợp công chức bị xử lý kỷ luật hoặc bị Tịa án tun là có tội thì
khơng đƣợc truy lĩnh 50% còn lại của mức lƣơng theo ngạch, bậc hiện
hƣởng, cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vƣợt khung,
phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lƣu lƣơng (nếu có) trong
thời gian tạm đình chỉ cơng tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam.

1.2.2 Giai đoạn chuẩn bị xử lý kỷ luật
Giai đoạn này nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết để tiến hành xử lý kỷ
luật công chức tốt hơn, tránh tình trạng xử lý qua loa, khơng đúng hành vi vi phạm.
Trên thực tế, việc thực hiện tốt các quy định của pháp luật hiện hành về chuẩn bị xử
lý kỷ luật cơng chức đã góp phần thiết thực vào việc nâng cao hiệu quả xử lý kỷ
luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơng chức.
Ngồi việc xem xét thời hạn xử lý kỷ luật công chức giai đoạn này công việc
quan trọng của chủ thể có thẩm quyền cịn có việc tổ chức họp kiểm điểm cho cơng
chức có vi phạm pháp luật để cơng chức nhận ra hành vi vi phạm pháp luật của
mình và tự nhận hình thức kỷ luật mà mình cho là hợp lý. Đây là quy định cần thiết,
là yếu tố mà sau này Hội đồng kỷ luật có thể sử dụng để xem xét hình thức kỷ luật
hợp lý. Mặt khác, nhiệm vụ quan trọng nữa của giai đoạn này là việc thành lập Hội
đồng kỷ luật. Nội dung cụ thể mà pháp luật quy định về giai đoạn này nhƣ sau:
1.2.2.1 Thời hạn xem xét kỷ luật công chức
Quy định về thời hạn xử lý kỷ luật là rất cần thiết, nó ràng buộc trách nhiệm
xử lý của các chủ thể có thẩm quyền phải xử lý hành vi vi phạm trong một khoảng
thời gian nhất định. Tăng cƣờng trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền trong
q trình xử lý kỷ luật cơng chức.
Trƣớc đây, cả Pháp lệnh Cán bộ, công chức và NĐ 35/2005/NĐ-CP đều
không quy định về thời hạn xử lý kỷ luật, đây là khái niệm mới đƣợc quy định ở
Luật Cán bộ, cơng chức 2008, theo đó, tại khoản 2, Điều 80 Luật này quy định thời

hạn xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức là khoảng thời gian từ khi phát hiện
hành vi vi phạm kỷ luật của cán bộ, cơng chức đến khi có quyết định xử lý kỷ luật
của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Thời hạn xử lý kỷ luật không quá 02 tháng;
trƣờng hợp vụ việc có những tình tiết phức tạp cần có thời gian thanh tra, kiểm tra
để xác minh làm rõ thêm thì thời hạn xử lý kỷ luật có thể kéo dài nhƣng tối đa
không quá 04 tháng.
1.2.2.2 Tổ chức họp kiểm điểm công chức
Đây là công việc không thể bỏ qua khi xem xét xử lý kỷ luật công chức, việc
này giúp xem xét thái độ cũng nhƣ mức độ nhận thức sai lầm của công chức. Mặt
khác, đây cũng là cơ hội để cơng chức có thể nói lên suy nghĩ về hành vi của mình.


12
Dựa vào các yếu tố đó, chủ thể có thẩm quyền có thể xem xét xử lý kỷ luật cơng
chức đúng đắn, hợp tình, hợp lý. Pháp luật về xử lý kỷ luật công chức quy định vấn
đề này cụ thể nhƣ sau:
Thứ nhất, ngƣời đứng đầu cơ quan sử dụng công chức chịu trách nhiệm tổ
chức cuộc họp để cơng chức có hành vi vi phạm pháp luật tự kiểm điểm và nhận
hình thức kỷ luật. Việc tổ chức cuộc họp kiểm điểm đƣợc tiến hành đối với các
trƣờng hợp có thành lập Hội đồng kỷ luật và khơng thành lập Hội đồng kỷ luật quy
định tại Điều 17 Nghị định 34/2011/NĐ-CP21.
Việc tổ chức cuộc họp kiểm điểm đƣợc tiến hành nhƣ sau:
- Trƣờng hợp cơ quan sử dụng cơng chức có đơn vị cơng tác cấu thành thì tổ
chức cuộc họp kiểm điểm với thành phần dự họp là tồn thể cơng chức của
đơn vị cơng tác cấu thành. Biên bản cuộc họp kiểm điểm ở đơn vị công tác
cấu thành đƣợc gửi đến ngƣời đứng đầu cơ quan sử dụng công chức. Cuộc
họp kiểm điểm của cơ quan sử dụng cơng chức có hành vi vi phạm pháp luật
đƣợc tổ chức với thành phần dự họp là đại diện lãnh đạo chính quyền, cấp ủy
và cơng đồn của cơ quan sử dụng công chức22;
- Trƣờng hợp cơ quan sử dụng cơng chức khơng có đơn vị cơng tác cấu thành

thì tổ chức cuộc họp kiểm điểm với thành phần dự họp là tồn thể cơng chức
của cơ quan sử dụng công chức23.
Thứ hai, đối với ngƣời đứng đầu hoặc cấp phó của ngƣời đứng đầu có hành vi
vi phạm pháp luật thì ngƣời đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan sử
dụng công chức có trách nhiệm tổ chức họp kiểm điểm và quyết định thành phần dự
họp24.
Thứ ba, cơng chức có hành vi vi phạm pháp luật phải làm bản tự kiểm điểm,
trong đó có tự nhận hình thức kỷ luật. Trƣờng hợp cơng chức có hành vi vi phạm
pháp luật khơng làm bản kiểm điểm hoặc vắng mặt sau 02 lần gửi giấy triệu tập mà
khơng có lý do chính đáng, đến lần thứ 03 sau khi đã gửi giấy triệu tập, nếu cơng
chức vẫn vắng mặt thì cuộc họp kiểm điểm vẫn đƣợc tiến hành25.
Thứ tư, nội dung các cuộc họp kiểm điểm cơng chức có hành vi vi phạm phải
đƣợc lập thành biên bản. Biên bản các cuộc họp kiểm điểm phải có kiến nghị áp
dụng hình thức kỷ luật đối với cơng chức có hành vi vi phạm pháp luật. Trong thời
hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc cuộc họp kiểm điểm, biên bản cuộc họp
21

Khoản 1, Điều 16, NĐ 34/2011/NĐ-CP.
Điểm a, Khoản 1, Điều 16, NĐ 34/2011/NĐ-CP.
23
Điểm b, khoản 1, Điều 16 NĐ 34/2011/NĐ-CP.
24
Khoản 2, Điều 16 NĐ 34/2011/NĐ-CP.
25
Khoản 3, Điều 16 NĐ 34/2011/NĐ-CP.
22


13
kiểm điểm của cơ quan sử dụng công chức đƣợc gửi đến Chủ tịch Hội đồng kỷ luật

trong trƣờng hợp thành lập Hội đồng kỷ luật hoặc ngƣời có thẩm quyền xử lý kỷ
luật trong trƣờng hợp không thành lập Hội đồng kỷ luật để xem xét theo thẩm
quyền quy định tại NĐ 34/2011/NĐ-CP26.
1.2.2.3 Thành lập Hội đồng kỷ luật
Việc thành lập Hội đồng kỷ luật phải tuân theo quy định tại NĐ 34/2011/NĐCP về xử lý kỷ luật công chức.
Thứ nhất, về thẩm quyền thành lập hội đồng kỷ luật27: Những ngƣời có thẩm
quyền xử lý kỷ luật quy định tại Điều 15 Nghị định 34/2011/NĐ-CP quyết định
thành lập Hội đồng kỷ luật để tƣ vấn về việc áp dụng hình thức kỷ luật đối với cơng
chức có hành vi vi phạm pháp luật, trừ các trƣờng hợp quy định tại khoản 2 Điều
17, NĐ 34/2011/NĐ-CP.
Thứ hai, các trƣờng hợp sau đây không thành lập Hội đồng kỷ luật28:
Công chức có hành vi vi
phạm pháp luật bị phạt tù mà không đƣợc hƣởng án treo.
Trong trƣờng hợp này, công chức có hành vi vi phạm pháp luật và hành vi này
đã đƣợc xem xét bởi Tòa án, là cơ quan có thẩm quyền xét xử duy nhất ở nƣớc ta.
Những quyết định của Tòa án đƣợc đƣa ra bởi những thủ tục tố tụng chặt chẽ, tuân
theo pháp luật tố tụng. Tòa án cũng làm việc theo chế độ tập thể nhƣ Hội đồng kỷ
luật. Do vậy, việc xem xét hành vi vi phạm pháp luật của công chức ở Tịa án đã
đảm bảo tính khách quan, chính xác, đúng ngƣời, đúng tội nên nếu cũng là hành vi
đó mà xem xét ở Hội đồng kỷ luật nữa là khơng cần thiết, mất thời gian, cơng sức.
Chính vì vậy, NĐ 34/2011/NĐ-CP đã quy định trƣờng hợp này không cần thành lập
Hội đồng kỷ luật.
Công chức giữ chức vụ lãnh
đạo, quản lý bị xem xét xử lý kỷ luật khi đã có kết luận về hành vi vi phạm
pháp luật của cấp ủy, tổ chức Đảng theo quy định phân cấp quản lý cán bộ,
công chức của Ban Chấp hành Trung ƣơng.
Trong trƣờng hợp này, hành vi vi phạm của công chức cũng đã đƣợc xem xét
bởi tổ chức khác là cấp ủy, tổ chức Đảng. Việc xem xét lại ở Hội đồng kỷ luật cũng
khơng cịn cần thiết nữa. Tuy nhiên, trƣờng hợp này có một số điểm bất cập, chƣa
hợp lý, sẽ đƣợc trình bày ở chƣơng hai.

Thứ ba, về thành phần của Hội đồng kỷ luật29:
26

Khoản 4, Điều 16 NĐ 34/2011/NĐ-CP.
Khoản 1, Điều 17 NĐ 34/2011/NĐ-CP.
28
Khoản 2 Điều 17, NĐ 34/2011/NĐ-CP.
27


14
-

Đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có hành vi vi phạm
pháp luật, Hội đồng kỷ luật có 05 thành viên, bao gồm:

 Chủ tịch Hội đồng là ngƣời đứng đầu hoặc cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ
quan quản lý công chức hoặc cơ quan đƣợc phân cấp quản lý công chức;


Một Ủy viên Hội đồng là đại diện Ban Chấp hành cơng đồn của cơ quan
quản lý công chức hoặc cơ quan đƣợc phân cấp quản lý công chức;

 Một Ủy viên Hội đồng là đại diện của đơn vị cơng tác có công chức bị xem
xét xử lý kỷ luật, ủy viên Hội đồng này do ngƣời đứng đầu của đơn vị cơng
tác đó lựa chọn và cử ra;
 Một Ủy viên Hội đồng là ngƣời trực tiếp quản lý hành chính và chuyên môn,
nghiệp vụ của công chức bị xem xét xử lý kỷ luật;



-

Một Ủy viên kiêm Thƣ ký Hội đồng là ngƣời phụ trách bộ phận tham mƣu
về công tác tổ chức, cán bộ của cơ quan, tổ chức, đơn vị có cơng chức bị
xem xét xử lý kỷ luật.
Đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có hành vi vi phạm pháp
luật, Hội đồng kỷ luật có 05 thành viên, bao gồm:

 Chủ tịch Hội đồng là ngƣời đứng đầu hoặc cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ
quan quản lý công chức hoặc cơ quan đƣợc phân cấp quản lý công chức;
 Một Ủy viên Hội đồng là ngƣời đứng đầu hoặc cấp phó của ngƣời đứng đầu
cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan sử dụng công chức;


Một Ủy viên Hội đồng là đại diện cấp ủy của cơ quan quản lý công chức
hoặc cơ quan đƣợc phân cấp quản lý công chức;



Một Ủy viên Hội đồng là đại diện Ban Chấp hành cơng đồn của cơ quan
quản lý cơng chức hoặc cơ quan đƣợc phân cấp quản lý công chức;



Một Ủy viên kiêm Thƣ ký Hội đồng là ngƣời phụ trách bộ phận tham mƣu
về công tác tổ chức, cán bộ của cơ quan quản lý công chức hoặc cơ quan
đƣợc phân cấp quản lý cơng chức.
Khơng đƣợc cử ngƣời có quan hệ gia đình nhƣ cha, mẹ, con đƣợc pháp luật
thừa nhận; vợ, chồng; anh, chị, em ruột; chị, em dâu; anh, em rể hoặc ngƣời
có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật của công chức bị xem xét xử lý


-

kỷ luật tham gia thành viên Hội đồng kỷ luật.
1.2.3 Giai đoạn xem xét ở Hội đồng kỷ luật
Đây là một bƣớc quan trọng trong trình tự xử lý kỷ luật cơng chức, nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơng chức có hành vi vi phạm. Hội đồng kỷ luật
29

Điều 15 NĐ 34/2011/NĐ-CP.


15
làm việc tập thể nên sẽ đƣa ra những quyết định mang tính khách quan, hợp lý nhất,
trách tình trạng chủ quan, định kiến của một cá nhân khi giải quyết vi phạm. Giai
đoạn này, Hội đồng kỷ luật phải xem xét hành vi vi phạm của công chức cần tuân
theo những nguyên tắc nào, bị xử lý bằng hình thức kỷ luật nào, có áp dụng trách
nhiệm tăng nặng hay không? Trƣớc khi xem xét tất cả các vấn đề này, việc tiên
quyết là phải tổ chức họp Hội đồng kỷ luật.
1.2.3.1 Tổ chức họp Hội đồng kỷ luật
Thứ nhất, về nguyên tắc làm việc của Hội đồng kỷ luật30:
Hoạt động của Hội đồng kỷ luật phải tuân theo những nguyên tắc sau:
- Hội đồng kỷ luật họp khi có đủ 03 thành viên trở lên tham dự, trong đó có
Chủ tịch Hội đồng và Thƣ ký Hội đồng. Hội đồng kỷ luật kiến nghị áp dụng
hình thức kỷ luật thơng qua bỏ phiếu kín.
Đây là ngun tắc quan trọng, đảm bảo quyết định của Hội đồng kỷ luật phải
đƣợc đƣa ra bởi tập thể có 3 thành viên trở lên.
Chủ tịch Hội đồng và Thƣ ký Hội đồng là những thành viên quan trọng, họ
không thể vắng mặt trong cuộc họp Hội đồng.
Nguyên tắc bỏ phiếu kín đảm bảo tính khách quan, mục đích của nguyên tắc

này là nhằm đảm bảo tự do thể hiện ý chí của thành viên, không bị sự tác động từ
các chủ thể khác, để có sự khách quan trong việc lựa chọn họ.
- Việc họp Hội đồng kỷ luật phải đƣợc lập thành biên bản ghi ý kiến của các
thành viên dự họp và kết quả bỏ phiếu kiến nghị hình thức kỷ luật áp dụng
đối với cơng chức có hành vi vi phạm pháp luật.
Thứ hai, về công tác chuẩn bị họp31:
Chậm nhất là 07 ngày làm việc trƣớc cuộc họp của Hội đồng kỷ luật, giấy
triệu tập họp phải đƣợc gửi tới cơng chức có hành vi vi phạm pháp luật. Cơng chức
có hành vi vi phạm pháp luật vắng mặt phải có lý do chính đáng. Trƣờng hợp cơng
chức có hành vi vi phạm pháp luật vắng mặt sau 02 lần gửi giấy triệu tập thì đến lần
thứ 3 sau khi đã gửi giấy triệu tập, nếu công chức đó vẫn vắng mặt thì Hội đồng kỷ
luật vẫn họp xem xét và kiến nghị hình thức kỷ luật;
Hội đồng kỷ luật có thể mời thêm đại diện của tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị - xã hội nơi cơng chức có hành vi vi phạm pháp luật đang cơng tác dự họp.
Ngƣời đƣợc mời dự họp có quyền phát biểu ý kiến và đề xuất hình thức kỷ luật
nhƣng khơng đƣợc bỏ phiếu về hình thức kỷ luật;

30
31

Khoản 3, Điều 17 NĐ 34/2011/NĐ-CP.
Khoản 1 Điều 19 NĐ 34/2011/NĐ-CP.


16
Ủy viên kiêm Thƣ ký Hội đồng kỷ luật có nhiệm vụ chuẩn bị tài liệu, hồ sơ
liên quan đến việc xử lý kỷ luật, ghi biên bản cuộc họp của Hội đồng kỷ luật;
Hồ sơ xử lý kỷ luật trình Hội đồng kỷ luật gồm có bản tự kiểm điểm, trích
ngang sơ yếu lý lịch của cơng chức có hành vi vi phạm pháp luật, biên bản cuộc họp
kiểm điểm của cơ quan sử dụng công chức và các tài liệu khác có liên quan.

Thứ ba, về trình tự họp32, Hội đồng kỷ luật họp với trình tự thống nhất nhƣ
sau:
- Chủ tịch Hội đồng kỷ luật tuyên bố lý do, giới thiệu các thành viên tham dự;
-

Ủy viên kiêm Thƣ ký Hội đồng kỷ luật đọc trích ngang sơ yếu lý lịch của
cơng chức có hành vi vi phạm pháp luật và các tài liệu khác có liên quan;

-

Cơng chức có hành vi vi phạm pháp luật đọc bản tự kiểm điểm, nếu cơng
chức có hành vi vi phạm pháp luật vắng mặt thì Thƣ ký Hội đồng kỷ luật đọc
thay, nếu cơng chức có hành vi vi phạm pháp luật khơng làm bản tự kiểm
điểm thì Hội đồng kỷ luật tiến hành các trình tự cịn lại của cuộc họp quy
định tại khoản này;

-

Ủy viên kiêm Thƣ ký Hội đồng kỷ luật đọc biên bản cuộc họp kiểm điểm;
Các thành viên Hội đồng kỷ luật và ngƣời tham dự cuộc họp phát biểu ý
kiến;
Cơng chức có hành vi vi phạm pháp luật phát biểu ý kiến; nếu cơng chức có
hành vi vi phạm pháp luật khơng phát biểu ý kiến hoặc vắng mặt thì Hội
đồng kỷ luật tiến hành các trình tự cịn lại của cuộc họp quy định tại khoản

này;
- Hội đồng kỷ luật bỏ phiếu kín kiến nghị áp dụng hình thức kỷ luật;
- Chủ tịch Hội đồng kỷ luật công bố kết quả bỏ phiếu kín và thơng qua biên
bản cuộc họp;
- Chủ tịch Hội đồng kỷ luật và Ủy viên kiêm Thƣ ký Hội đồng kỷ luật ký vào

biên bản cuộc họp.
Trƣờng hợp nhiều công chức trong cùng cơ quan, tổ chức, đơn vị có hành vi vi
phạm pháp luật thì Hội đồng kỷ luật họp để tiến hành xem xét xử lý kỷ luật đối với
từng công chức33.
Thứ tư, Hội đồng kỷ luật gửi kiến nghị hình thức kỷ luật và biên bản cuộc họp
đến ngƣời có thẩm quyền. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc
cuộc họp, Hội đồng kỷ luật phải có kiến nghị việc xử lý kỷ luật bằng văn bản (kèm

32
33

Khoản 2, Điều 19 NĐ 34/2011/NĐ-CP.
Khoản 3, Điều 19 NĐ 34/2011/NĐ-CP.


17
theo biên bản họp Hội đồng kỷ luật và hồ sơ xử lý kỷ luật) gửi ngƣời có thẩm quyền
xử lý kỷ luật34.
1.2.3.2 Nguyên tắc xử lý kỷ luật công chức
Bất kỳ hoạt động nào có tổ chức của con ngƣời đều phải đƣợc tiến hành dựa
trên những nguyên tắc nhất định, nó sẽ giúp hoạt động đó đƣợc tiến hành tốt hơn, có
hệ thống hơn. Hoạt động xử lý kỷ luật công chức cũng vậy, cũng phải tuân theo
những nguyên tắc nhất định để tránh tùy tiện của những chủ thể có thẩm quyền,
nhằm bảo vệ lợi ích của công chức, đồng thời để đảm bảo cho việc xử lý kỷ luật
công chức đƣợc khách quan, đúng pháp luật và phát huy đƣợc tác dụng tích cực của
kỷ luật cơng chức trong quản lý cơng chức. Chính vì vậy, pháp luật về xử lý công
chức đã quy định về các nguyên tắc xử lý kỷ luật công chức. Nguyên tắc xử lý kỷ
luật công chức là những tƣ tƣởng chỉ đạo, định hƣớng cho tồn bộ q trình xử lý
kỷ luật cơng chức. Địi hỏi những chủ thể có thẩm quyền phải nắm rõ những nguyên
tắc này, có nhƣ vậy mới đảm bảo xử lý khách quan, công minh.

Nguyên tắc xử lý kỷ luật đƣợc quy định tại Điều 2, NĐ 34/2011/NĐ-CP cụ thể
nhƣ sau:
Thứ nhất, việc xử lý kỷ luật phải khách quan, công bằng, nghiêm minh, đúng
pháp luật35 .
Đây là nguyên tắc quan trọng, góp phần bảo đảm việc tuân thủ pháp luật, nâng
cao ý thức pháp luật của cơng chức. Ngun tắc này địi hỏi việc xử lý kỷ luật công
chức phải đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục, đặc biệt
là đảm bảo đúng thời hạn giải quyết, thủ tục gọn, tránh dây dƣa kéo dài gây tốn
kém, ảnh hƣởng đến quyền và lợi ích của cơng chức.
Việc xử lý kỷ luật khách quan là quá trình xử lý kỷ luật phải đƣợc tiến hành
dựa trên cơ sở tôn trọng thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho
mọi hoạt động, khơng đƣợc bóp méo, xuyên tạc sự thật. Đảm bảo nguyên tắc khách
quan mới giúp cho chủ thể có thẩm quyền xử lý đúng hành vi vi phạm.
Tính cơng bằng là một trong những yếu tố quan trọng trong việc bảo đảm thiết
chế dân chủ. Tính cơng bằng trƣớc hết thể hiện ở chỗ quá trình xử lý kỷ luật phải
tránh các hiện tƣợng vì lợi ích của một cá nhân hoặc của một nhóm ngƣời mà làm
trái các quy định của pháp luật, nhƣ bao che hành vi vi phạm, hay vì thù hằn cá
nhân mà xử lý kỷ luật công chức nặng hơn. Chính vì vậy, cùng một hành vi vi
phạm, cùng một điều kiện, hoàn cảnh phải đƣợc xử lý kỷ luật nhƣ nhau, không bao
che, thiên vị hay trù dập công chức.
34
35

Khoản 1, Điều 20 NĐ 34/2011/NĐ-CP.
Khoản 1, Điều 2 NĐ 34/2011/NĐ-CP.


18
Xử lý kỷ luật công chức phải thật sự nghiêm minh, không “giơ cao đánh khẽ”,
thực hiện nguyên tắc này giúp đảm bảo quyền lực nhà nƣớc, nhằm răn đe những

cơng chức khác để họ khơng có hành vi vi phạm tƣơng tự.
Việc xử lý kỷ luật phải đúng pháp luật, tức là mọi chủ thể phải tôn trọng và
tuân thủ các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về xử lý kỷ luật cơng
chức nói riêng một cách tự giác, nghiêm minh, đầy đủ, triệt để, thống nhất…
Việc thực hiện nguyên tắc này không chỉ bảo vệ đƣợc quyền lợi của cơng chức
vi phạm mà cịn góp phần kiểm sốt, giám sát quyền lực nhà nƣớc một cách hữu
hiệu, ngăn chặn tình trạng tha hóa quyền lực nhà nƣớc, xâm phạm các quyền và lợi
ích hợp pháp của nhân dân.
Thứ hai, mỗi hành vi vi phạm pháp luật chỉ bị xử lý một hình thức kỷ luật36.
Đây là một trong những nguyên tắc của việc áp dụng trách nhiệm pháp lý nói chung
(bao gồm cả trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật lao
động). Nguyên tắc này xuất phát từ mục đích của việc áp dụng trách nhiệm kỷ luật
công chức chủ yếu là để giáo dục, thuyết phục chứ không phải để trừng phạt cơng
chức và cũng nhằm mục đích bảo vệ cơng chức.
Nếu cơng chức có nhiều hành vi vi phạm pháp luật thì bị xử lý kỷ luật về từng
hành vi vi phạm và chịu hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức kỷ
luật áp dụng đối với hành vi vi phạm nặng nhất, trừ trƣờng hợp có hành vi vi phạm
phải xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thơi việc37.
Để tn thủ ngun tắc, các chủ thể có thẩm quyền xử lý kỷ luật phải có
những nhận định chính xác, xử lý một cách công bằng, nghiêm minh về những hành
vi vi phạm của công chức. Trƣờng hợp cần thiết, phải tiến hành điều tra làm rõ vụ
việc với từng hành vi, mức độ vi phạm cụ thể để đảm bảo rằng việc xử lý kỷ luật
phải tƣơng xứng với hành vi, mức độ vi phạm đó. Mỗi hành vi vi phạm chỉ bị xử lý
một hình thức kỷ luật, ví dụ: cơng chức A bị phạt tù mà không đƣợc hƣởng án treo,
chủ thể có thẩm quyền ra quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức A, nhƣ vậy,
hành vi vi phạm của công chức A đã đƣợc xử lý bằng một hình thức kỷ luật là buộc
thơi việc, lúc này khơng thể áp dụng hình thức kỷ luật khác nhƣ cảnh cáo, khiển
trách… đối với hành vi vi phạm này. Đối với trƣờng hợp cơng chức có nhiều hành
vi vi phạm pháp luật thì bị xử lý kỷ luật về từng hành vi vi phạm và chịu hình thức
kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức kỷ luật áp dụng đối với hành vi vi phạm

nặng nhất, trừ trƣờng hợp có hành vi vi phạm phải xử lý kỷ luật bằng hình thức
buộc thơi việc. Ví dụ: cơng chức B có thái độ hách dịch, cửa quyền hoặc gây khó
36
37

Khoản 2, Điều 2 NĐ 34/2011/NĐ-CP.
Khoản 2, Điều 2 NĐ 34/2011/NĐ-CP.


×