Tải bản đầy đủ (.pdf) (9 trang)

Hoạt động của doanh nghiệp sau khi đạt chuẩn ISO 9000 - Chương 6

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (233.89 KB, 9 trang )



Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp sau khi thực hiện ISO 9000





CHƯƠNG VI

KẾT LUẬN VÀ
KIẾN NGHỊ


Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp sau khi thực hiện ISO 9000

“Của cải đích thực của một quốc gia là con người của quốc gia đó.
Và mục đích của phát triển là để tạo ra một mơi trường thuận lợi cho phép
con người được hưởng cuộc sống dài lâu, mạnh khỏe và sáng tạo. Chân lý
đơn giản nhưng đầy sức mạnh này rất hay bị người ta qn mất trong lúc
theo đuổi của cải vật chất và tài chính.”
Đây là những dòng mở đầu của Báo cáo phát triển con người đầu tiên, xuất
bản năm 1990 trình bày sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng của con người trong
thế giới tồn cầu hóa ngày nay. Khơng gian đang thu nhỏ, những đường biên giới
biến mất dần đang kết nối cuộc sống của người dân với nhau một cách sâu sắc hơn,
mạnh mẽ hơn và nhanh chóng hơn bao giờ hết. Tồn cầu hóa đem lại những cơ hội
to lớn cho tiến bộ của con người – nhưng chỉ với điều kiện có sự quản lý mạnh hơn.
Trong thực tế, mỗi tổ chức sẽ cĩ những phương thức riêng để pht triển hệ
thống quản lý do họ có cơ cấu quản lý khc nhau, sản phẩm v cc dịch vụ khc nhau,
cc quy trình sản xuất, cc mục tiêu ưu tiên và các đặc điểm ti chính - chính trị khc
nhau. Tuy nhin, tất cả cc hệ thống quản lý đều cĩ một vài phương pháp chung khi


lập kế hoạch, đánh giá và tổng kết. Đối với một số tổ chức năng động, hệ thống
quản lý cĩ thể cĩ tc dụng kích thích, thúc đẩy thực hiện những thay đổi quan trọng
trong hoạt động của họ.
Tuy nhin, yếu tố quyết định sự thnh cơng của một hệ thống quản lý chất
lượng l khả năng kết hợp trch nhiệm quản lý chất lượng vo tồn bộ cơ chế quản lý
của tổ chức. Sự pht triển của một chính sch chất lượng và cơng tác đào tạo sẽ l nền
tảng để đảm bảo chất lượng sẽ được quan tâm đúng mức, cc nhn vin sẽ nhận thức
đầy đủ về chất lượng v trch nhiệm của mình, v cơng tc chất lượng của tổ chức sẽ
thực sự được cải tiến.
Luận văn tốt nghiệp này là một cơng trình nghiên cứu thực tế và lần đầu tiên
được thực hiện tại Trường Đại học Bách khoa thuộc Đại học Quốc gia Tp.HCM.
Nghiên cứu này tạo tiền đề thuận lợi cho những cuộc nghiên cứu về ISO 9000 và
các chương trình, cơng cụ, kỹ thuật cải tiến chất lượng khác trong thời gian tới.
Kết quả nghiên cứu cho thấy vấn đề lớn nhất là: có đến 90.2% tổ chức dừng


Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp sau khi thực hiện ISO 9000

lại sau khi đã thực hiện ISO 9001:2000, các tổ chức còn lại đã thực hiện thành cơng
đồng thời các cơng cụ, chương trình, kỹ thuật cải tiến chất lượng khác như 5S,
QCC, ISO 14000, TQM, Giải thưởng chất lượng Việt Nam, OHSAS. Người ta
thường đề cập đến quản lý chất lượng như việc ngồi lên một chiếc xe đạp. Khi đã
lên xe đạp chúng ta khơng thể ngồi n mà phải đạp xe để tiến lên, nều khơng đạp
thì xe sẽ đổ, do vậy chúng ta phải đạp xe liên tục. Tất nhiên có lúc ta đi nhanh, có
lúc đi chậm, có lúc phải tránh các vật cản. Đó cũng chính là ý tưởng của quản lý
chất lượng: phải thường xun tiến lên, khơng ngừng cải tiến. Dừng lại nghĩa là
thất bại – dừng lại nghĩa là bị đẩy ra ngồi cuộc chơi. Tuy nhiên để đạt được mục
tiêu đó, chúng ta cần phải kết hợp rất nhiều động tác lại với nhau một cách nhuần
nhuyễn thành một hệ thống hồn chỉnh thì mới có thể đi xa được.
Tất cả các tổ chức đều sử dụng kỹ thuật thống kê trong q trình hoạt động

của tổ chức mình với các cơng cụ thống kê truyền thống: biểu đồ Pareto, phiếu
kiểm tra, biểu đồ nhân quả, lưu đồ, biểu đồ kiểm sốt, biểu đồ tần suất.
Hiểu biết của lãnh đạo cấp cao trong tổ chức về các chương trình, kỹ thuật,
cơng cụ cải tiến chất lượng khác như: 5S, Kaizen, SPC, 6 Sigma, Benchmarking,
QCC, ISO 14000, SA 8000, TQM, TPM là chưa tốt.
Sau khi được chứng nhận ISO 9000 việc đào tạo trong các tổ chức khơng
được xem trọng, thậm chí có tổ chức còn khơng thực hiện đào tạo bên ngồi và cả
đào tạo nội bộ. Đa số là ít đào tạo thường xun, khơng phân biệt loại hình kinh
doanh, loại hình doanh nghiệp, địa chỉ của các tổ chức.
Trong tương lai có 21.3% tổ chức chọn 5S là cơng cụ cải tiến để thực hiện
tiếp theo sau ISO 9001:2000 vì có lẽ nó dễ thực hiện nhất, hiệu quả dễ nhìn thấy
nhất, 3.3% dự định áp dụng 6 Sigma, 3.3% dự định áp dụng Benchmarking, 3.3%
dự định áp dụng QCC, 6.6% dự định áp dụng ISO 14000, 1.6% dự định áp dụng
SA 8000, 1.6% dự định áp dụngTPM, 1.6% dự định áp dụng TQM, 1.6% dự định
áp dụng Giải thưởng chất lượng Việt Nam 1000 điểm.
Mặc dù số lượng các tổ chức dự định áp dụng các cơng cụ, chương trình, kỹ
thuật khác là thấp nhưng điều này cho thấy lãnh đạo cấp cao của các tổ chức này đã


Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp sau khi thực hiện ISO 9000

nhận ra được vấn đề ISO 9000 khơng phải là “chiếc đũa thần”, khơng phải là đích
đến cuối cùng của cuộc hành trình cải tiến chất lượng mà đó chỉ là bước khởi đầu
cho việc áp dụng cả một chuỗi các cơng cụ, chương trình, kỹ thuật khác.
Có 9 khó khăn khi tiếp cận và áp dụng các kỹ thuật khác rút ra được từ các
đối tượng trả lời phỏng vấn, chia làm 3 nhóm ngun nhân sau:
* Các khó khăn xuất phát trong chính nội bộ tổ chức:
1/ Khó khăn do trình độ cơng nghệ, máy móc thiết bị sử dụng là lạc hậu,
thiết bị hỗn tạp của nhiều nước sản xuất (thiết bị khơng đồng bộ): chiếm 54.1%.
2/ Khó khăn do tư tưởng, nhận thức, thói quen của nhân viên, kể cả cán bộ

quản lý, có tâm lý chống lại sự thay đổi: chiếm 47.6%.
3/ Khó khăn do chảy máu chất xám: chiếm 37.8%.
4/ Khó khăn do khả năng quản trị, điều hành thấp, hoạt động sản xuất kinh
doanh chưa có quy hoạch mang tầm chiến lược trung và dài hạn: chiếm 19.7%.
5/ Khó khăn do phân cấp chưa đủ mạnh, thói quen can thiệp sâu vào mọi
cơng việc của lãnh đạo nhưng lại do dự trong quyết định nên tốn nhiều thời gian
cho các buổi họp: chiếm 13.1%.
* Các khó khăn xuất phát từ mặt lý thuyết và thực hành của các tiêu
chuẩn:
6/ Khó khăn do chúng khơng rõ ràng, khó thực hiện: chiếm 45.9%.
7/ Khó khăn do áp dụng chúng nhưng khơng tạo được sự khác biệt rõ ràng
với các đối thủ khác: chiếm 9.8%.
* Các khó khăn xuất phát từ phía nhà tư vấn:
8/ Khó khăn do kỹ năng của nhà tư vấn chưa cao, tư vấn chưa sát với tình
hình hoạt động của tổ chức: chiếm 41%.
9/ Khó khăn do kinh phí tư vấn cao: chiếm 31.2%.
Hạn chế của đề tài:


Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp sau khi thực hiện ISO 9000

1. Một trong những hạn chế của cuộc nghiên cứu là mẫu nhỏ nên kết
quả thống kê định lượng cũng bị hạn chế. Lấy mẫu thuận tiện rơi vào số đơng
các tổ chức nhận giấy chứng nhận ISO 9001:2000 được 1-2 năm nên cũng làm
ảnh hưởng đến một phần kết quả nghiên cứu.
2. Mẫu lấy tập trung ở Tp.HCM và tỉnh Đồng Nai nên khơng thể đại
diện cho hơn 500 tổ chức đã có chứng nhận ISO 9001:2000 trên cả Việt Nam.
Đề ra một số kiến nghị là vấn đề rất cần thiết cho các tổ chức Việt Nam
trong hồn cảnh hiện nay. Do một số điều kiện khách quan nên việc nghiên cứu và
kiến nghị chắc chắn khơng tránh khỏi các thiếu sót nhưng nó khơng nằm ngồi mục

đích đóng góp cho sự phát triển bền vững của các tổ chức và người nghiên cứu rất
hy vọng đây sẽ là những đóng góp có giá trị thực tiễn.

CÁC KIẾN NGHỊ

1/ Để các tổ chức nhận ra được vấn đề ISO 9000 khơng phải là “chiếc đũa
thần”, khơng phải là đích đến cuối cùng của cuộc hành trình cải tiến chất lượng, mà
đó chỉ là bước khởi đầu cho việc áp dụng cả một chuỗi các cơng cụ, chương trình,
kỹ thuật khác; khơng phải muốn thực hiện các chương trình này đòi hỏi phải có
trình độ cơng nghệ, máy móc thiết bị tiên tiến thì điều cần thiết là phải tổ chức
tun truyền cho các nhà lãnh đạo cấp cao biết được sự ngộ nhận này. Hình thức có
thể lập các câu lạc bộ chất lượng ở từng vùng, miền do các hiệp hội ngành nghề hay
Chi cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng các vùng miền đó chủ trì, mời các tổ chức
đã hay áp dụng hay bắt đầu xây dựng ISO 9000 gia nhập vào các câu lạc bộ này.
Thơng qua các buổi hội thảo, thuyết trình về tình hình thực hiện hệ thống ở các tổ
chức tiêu biểu sẽ giúp mọi tổ chức có cái nhìn đúng đắn về chất lượng và cải tiến
liên tục nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Bên cạnh đó tổ chức các buổi tham
quan học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau tại ngay nơi làm việc để tìm hiểu xem họ làm gì
để có hoạt động ưu việt hơn hẳn mình – khi đó là các tổ chức bắt đầu đi vào quỹ

×