Tải bản đầy đủ (.pdf) (9 trang)

Kỹ năng ứng phó với những khó khăn trong gia đình của học sinh THPT - Thành phố Huế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (472.47 KB, 9 trang )

KỸ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG GIA ĐÌNH
CỦA HỌC SINH THPT - THÀNH PHỐ HUẾ
NGUYỄN DIỆU THẢO NGUYÊN
Học viên Cao học, Trường ĐHSP - Đại học Huế
TRẦN THỊ TÚ ANH
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế
Tóm tắt: Trong những năm gần đây, Kỹ năng ứng phó (KNƯP) là một trong
những vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà tâm lý học trên thế giới.
Tuy nhiên, ở nước ta, chưa có nhiều cơng trình nghiên cứu về vấn đề này.
Với mong muốn đóng góp thêm cơ sở thực tiễn cho lĩnh vực nghiên cứu này,
chúng tôi giới thiệu kết quả nghiên cứu thực trạng KNƯP với những khó
khăn trong gia đình của học sinh (HS) Trung học phổ thông (THPT) - Thành
phố Huế (TP Huế) và từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm giáo dục KNƯP
cho HS.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong cuộc sống, mỗi người đều phải đối mặt với những khó khăn, căng thẳng liên quan
đến gia đình, học tập, cơng việc… và mức độ ảnh hưởng của chúng phụ thuộc rất nhiều
vào KNƯP của cá nhân. Nếu cá nhân sử dụng những cách ứng phó (ƯP) phù hợp thì có
thể giải quyết khó khăn, giảm nhẹ hoặc loại bỏ căng thẳng. Ngược lại, nếu cá nhân áp
dụng những cách ƯP không thích hợp và thiếu hiệu quả thì khó khăn sẽ không được
giải quyết, hoặc giải quyết theo hướng tiêu cực và sẽ tác động không tốt đến bản thân cá
nhân và xã hội.
Học sinh THPT là lứa tuổi rất cần được quan tâm khi nghiên cứu về KNƯP. Những
thay đổi về tâm sinh lý, vai trị, vị trí xã hội cộng với những áp lực học tập gây nên
nhiều khó khăn cho các em. Bên cạnh đó, tri thức, kinh nghiệm sống, KNƯP với khó
khăn của các em đang cịn hạn chế. Vì thế, chương trình giáo dục kỹ năng sống nói
chung và KNƯP nói riêng cho HS THPT đang ngày càng là một đòi hỏi cấp bách trong
xã hội hiện đại.
Kỹ năng ứng phó đã được nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, ở nước ta,
vấn đề này chưa được quan tâm một cách thấu đáo. Thơng qua nghiên cứu về KNƯP


với khó khăn trong gia đình của HS THPT TP Huế, chúng tơi mong muốn tìm hiểu thực
trạng KNƯP của một nhóm khách thể cụ thể, đối với một loại khó khăn cụ thể, từ đó
xác định hướng tác động giáo dục nhằm nâng cao KNƯP với những khó khăn. Nghiên
cứu được thực hiện với 254 học sinh lớp 10 và lớp 11 của ba trường gồm THPT Quốc
Học (QH), THPT Gia Hội (GH) và THPT bán công Bùi Thị Xuân (BTX). Phương pháp
nghiên cứu chủ đạo là sử dụng phiếu điều tra được chúng tôi xây dựng dựa trên việc lựa
chọn, kết hợp, chỉnh sửa các bộ công cụ nghiên cứu về KNƯP đang được sử dụng trên
thế giới và ở Việt Nam. [1] [2] [3]
Tạp chí Khoa học và Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Huế
ISSN 1859-1612, Số 03(11)/2009: tr. 138-146


KỸ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG GIA ĐÌNH CỦA HỌC SINH THPT... 139

2. KHÁI NIỆM KỸ NĂNG ỨNG PHĨ
Kỹ năng ứng phó là khả năng con người lựa chọn và áp dụng hiệu quả những cách thức
phù hợp, hữu ích cho sự phát triển của cá nhân để đáp ứng với các tình huống khó khăn.
Những cách thức này có thể bao gồm những phản ứng bên trong (suy nghĩ và tình cảm)
trước hồn cảnh xảy ra và những hành động bên ngoài nhằm đáp lại yêu cầu của hồn
cảnh. Thơng thường, hồn cảnh được mỗi cá nhân nhận thức khác nhau và sự nhận thức
này phụ thuộc vào đặc điểm tâm lý của cá nhân. Chính vì vậy, cả nhận thức của con
người về đặc điểm của hoàn cảnh và khả năng tâm lý của cá nhân đều chi phối việc lựa
chọn cách ƯP và KNƯP. Ý nghĩa tâm lý của KNƯP là giúp con người thích ứng nhanh
chóng với những u cầu của hồn cảnh, cho phép họ nắm bắt và làm chủ hoàn cảnh
hoặc thay đổi hoàn cảnh, làm suy yếu hoặc giải quyết triệt để khó khăn... Từ đó, KNƯP
giúp cá nhân đảm bảo sức khỏe về mặt thể chất cũng như tâm lý, làm thoả mãn các quan
hệ xã hội của họ [4].
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

LUCKY 10/16/09 8:05 AM

Deleted: .

3.1. Nhận định chung về KNƯP của HS với những khó khăn trong gia đình
Thang điểm “3 - 2 - 1” được sử dụng tương ứng với các mức độ “thường xuyên - thỉnh
thoảng - không bao giờ” trong phiếu điều tra. Như vậy, điểm thấp nhất là 1, cao nhất là
3 và HS có điểm càng cao thì càng thường xun sử dụng cách ƯP đó, và ngược lại.
3.1.1. Nhóm “Ứng phó tích cực, chủ động”
Bảng 1. Kết quả nhóm “Ứng phó tích cực, chủ động”
I. ỨNG PHĨ TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG

ĐTB

ĐLC

A. Suy nghĩ về sự việc
1. Tôi suy nghĩ xem tại sao sự việc đó xảy ra
2. Tơi suy nghĩ về những điều sẽ xảy ra tiếp theo
3. Tôi nghĩ xem mình có thể làm gì để cải thiện tình hình
4. Tơi nghĩ xem mình có thể rút được kinh nghiệm gì từ vấn đề đã xảy ra
B. Quyết tâm và có kế hoạch giải quyết vấn đề
1. Tơi quyết tâm tự mình vượt qua khó khăn
2. Tơi điều chỉnh lại mục tiêu của mình cho phù hợp với hồn cảnh mới
3. Tôi lập kế hoạch giải quyết vấn đề
4. Tơi liệt kê những biện pháp có thể có và chọn cách giải quyết tốt nhất
C. Trực tiếp giải quyết vấn đề
1. Tơi tìm kiếm những thơng tin cần thiết giúp tơi hiểu rõ vấn đề của mình
2. Tơi cố gắng thay đổi bản thân để giải quyết vấn đề tốt hơn
3. Tơi nói chuyện trực tiếp với những người liên quan để tìm cách giải
quyết vấn đề
4. Tơi cố gắng hành động tích cực để thay đổi tình huống

Chung cho nhóm

2,34
2,46
2,22
2,37
2,32
2,15
2,41
2,17
1,94
2,10
2,26
2,33
2,39
2,00

0,37
0,57
0,62
0,58
0,58
0,40
0,53
0,58
0,58
0,67
0,37
0,58
0,56

0,66

2,33
2,25

0,56
0,31

Ghi chú: ĐTB: Điểm trung bình; ĐLC: Độ lệch chuẩn

HP6520S 8/24/09 3:39 PM
Formatted: Portuguese (Brazil)
HP6520S 8/24/09 3:39 PM
Formatted: Portuguese (Brazil)
HP6520S 8/24/09 3:39 PM
Formatted: Portuguese (Brazil)

HP6520S 8/24/09 2:59 PM
Formatted: Right
LUCKY 10/16/09 8:04 AM
Formatted: Font:Italic


140

NGUYỄN DIỆU THẢO NGUYÊN - TRẦN THỊ TÚ ANH

Bảng 1 cho thấy với ĐTB của nhóm là 2,25, nhìn chung, nhóm “Ứng phó tích cực chủ
động” được các em sử dụng ở mức độ khá thường xuyên. Cụ thể, có 91 em (35,9%) ở
mức điểm cao (ĐTB lớn hơn 2,33); 157 em (61,8%) ở mức trung bình (ĐTB từ 1,67 đến

2,33) và 6 em (2,4%) ở mức thấp (ĐTB nhỏ hơn hoặc bằng 1,67). Điều này cho thấy đa
phần HS thường chọn cách ƯP tích cực, chủ động khi có khó khăn trong gia đình.
Trong 3 tiểu nhóm thành phần, “Suy nghĩ về sự việc” được lựa chọn ở mức thường
xun cao hơn so với hai tiểu nhóm cịn lại. Kết quả này cho thấy những cách ƯP tích
cực, chủ động được các em lựa chọn sử dụng ở trong suy nghĩ nhiều hơn trong hành
động cụ thể. Đây là một điểm cần lưu ý. Các chương trình giáo dục KNƯP cần hướng
các em thực hiện hành động nhằm giải quyết khó khăn chứ khơng chỉ dừng lại ở việc
suy nghĩ. Bên cạnh đó, xét riêng từng cách ƯP, ta thấy HS ít lập kế hoạch để giải quyết
vấn đề gây khó khăn. Xuất phát từ vai trị của việc lập kế hoạch đối với hiệu quả hành
động, chương trình giáo dục KNƯP cũng cần tác động đến nội dung này.
Một số cách ƯP khác cũng được sử dụng ở mức độ thường xuyên khá cao như suy nghĩ
về nguyên nhân (IA1), quyết tâm vượt khó khăn (IB1), cố gắng thay đổi bản thân để
giải quyết vấn đề (IC2). Việc thường xuyên sử dụng những cách ƯP này là một điểm
mạnh trong KNƯP với những khó khăn trong gia đình của các em.
3.1.2. Nhóm “Tìm kiếm sự hỗ trợ”
Bảng 2. Mức độ thường xun sử dụng nhóm ứng phó “Tìm kiếm sự hỗ trợ”
II. TÌM KIẾM SỰ HỖ TRỢ
A. Tìm kiếm chỗ dựa tình cảm
1. Tơi tìm đến những người làm tơi cảm thấy mình được quan tâm
2. Tơi chia sẻ những cảm xúc của mình qua nhật kí, blog, trên diễn đàn…
3. Tơi kể về điều mình lo lắng để cảm thấy dễ chịu hơn
B. Tìm kiếm sự giúp đỡ để giải quyết vấn đề
1. Tôi hỏi người khác xem trong trường hợp của tơi họ sẽ làm gì
2. Tôi xin lời khuyên của người khác về việc tôi nên làm gì
3. Tơi nhờ người khác đứng ra giúp tơi giải quyết vấn đề
Chung cho nhóm

ĐTB
2,08
2,32

1,80
2,13
1,88
1,96
2,15
1,51
1,98

ĐLC
0,49
0,64
0,77
0,69
0,43
0,59
0,66
0,53
0,39

Bảng 2 cho thấy ĐTB chung của nhóm“Tìm kiếm sự hỗ trợ” ở mức trung bình. Xét
riêng nhóm IIA và IIB ta thấy HS thường tìm kiếm chỗ dựa tình cảm nhiều hơn là tìm
kiếm sự giúp đỡ để giải quyết vấn đề. Về góc độ tâm lý học, tìm kiếm chỗ dựa tình cảm
để làm giảm lo lắng, căng thẳng là một việc làm mang tính tích cực. Tuy nhiên, điều
đáng quan tâm là các em chưa thường xuyên sử dụng nguồn lực từ bên ngoài để giúp
các em giải quyết vấn đề trong khi ở lứa tuổi này kinh nghiệm và khả năng xử lý tình
huống của các em cịn hạn chế, trong nhiều trường hợp khó có thể tự giải quyết vấn đề.
Dù vậy, xem xét mối quan hệ giữa hai tiểu nhóm “Tìm kiếm chỗ dựa tình cảm” và “Tìm
kiếm sự giúp đỡ để giải quyết vấn đề”, hệ số tương quan Pearson cho thấy mối tương
quan thuận, với r=0,41; p<0,001. Điều này cho thấy khi tìm chỗ dựa tình cảm, nhiều em
cũng đồng thời tìm kiếm sự giúp đỡ để giải quyết vấn đề.



KỸ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG GIA ĐÌNH CỦA HỌC SINH THPT... 141

Xét riêng từng cách ƯP ta thấy một điều khá đặc biệt là mặc dù phong trào viết nhật ký
trên mạng (blog), tâm sự, chia sẻ trên diễn đàn được giới trẻ nói chung hưởng ứng, HS
THPT ở TP Huế ít lựa chọn hình thức này để ƯP với khó khăn trong gia đình.
3.1.3. Nhóm “Xoa dịu căng thẳng”
Bảng 3. Mức độ thường xuyên sử dụng nhóm “Xoa dịu căng thẳng”
III. XOA DỊU CĂNG THẲNG
A. Suy nghĩ theo hướng tích cực
1. Tơi nghĩ rằng đằng nào thì mọi việc cũng xảy ra rồi
2. Tơi cố gắng tìm kiếm mặt tích cực trong tình huống khó khăn nhất
3. Tơi nhắc nhở bản thân mình tơi vẫn cịn may mắn hơn nhiều người khác
4. Tơi tự nhủ rằng trong một thời gian ngắn, mọi thứ sẽ qua đi
B. Hành động giảm nhẹ căng thẳng
1. Tôi đi chơi với bạn bè
2. Tôi tham gia vào các hoạt động giải trí ngồi trời để giảm căng thẳng
3. Tơi khóc hoặc tìm nơi vắng vẻ để hét thật to hoặc ngủ một giấc
4. Tơi dành thời gian làm điều mình thích làm (ăn uống, chơi thể thao…)
Chung cho nhóm

ĐTB
2,20
1,95
2,18
2,37
2,28
2,26
2,21

2,40
2,06
2,38

ĐLC
0,36
0,62
0,59
0,59
0,61
0,38
0,60
0,63
0,74
0,63

2,23

0,29

Các cách ƯP trong nhóm “Xoa dịu căng thẳng” được các em sử dụng tương đối đồng
đều. Trong đó, tự an ủi bản thân về sự may mắn của mình (IIIA3), tham gia các hoạt
động giải trí (IIIB2) và hoạt động yêu thích (IIIB4) là những cách thức được sử dụng
thường xuyên hơn. Ngược lại, chấp nhận thực tế khách quan là sự việc đã xảy ra (IIIA1)
và hành động khóc, hét to hoặc ngủ (IIIB3) được sử dụng ít hơn nhưng vẫn ở mức độ
khá thường xuyên.
Mặc dù những cách ƯP trong nhóm “Xoa dịu căng thẳng” khơng giúp trẻ giải quyết
vấn đề khó khăn, chúng hữu ích về mặt tâm lý, đặc biệt là với HS THPT, lứa tuổi khó
có điều kiện giải quyết triệt để các vấn đề khó khăn trong gia đình. Nếu thành cơng
trong việc giảm nhẹ căng thẳng, cuộc sống tinh thần của các em sẽ đỡ nặng nề, từ đó có

thể tập trung vào hoạt động học tập, rèn luyện. Như vậy, “Xoa dịu căng thẳng” là nhóm
ƯP khơng hiệu quả trong việc giải quyết khó khăn nhưng lại có hiệu quả trong việc
giảm thiểu căng thẳng.
3.1.4. Nhóm “Lảng tránh”
Bảng 4. Mức độ thường xuyên sử dụng nhóm ứng phó “Lảng tránh”
IV. LẢNG TRÁNH
A. Lảng tránh về mặt nhận thức
1. Tôi xem như chưa từng có vấn đề gì xảy ra
2. Tơi phớt lờ, xem đó khơng phải là việc của mình
3. Tơi giải quyết vấn đề bằng tưởng tượng thay cho thực hiện trong thực tế
4. Tơi hy vọng có phép màu xảy ra
B. Hành động lảng tránh
1. Tôi vùi đầu vào chơi điện tử, đọc sách, truyện… để khơng cịn thời gian

ĐTB
1,71
1,62
1,57
1,72
1,91
1,78
1,53

ĐLC
0,38
0,64
0,56
0,66
0,73
0,37

0,67


142

NGUYỄN DIỆU THẢO NGUYÊN - TRẦN THỊ TÚ ANH

quan tâm đến những khó khăn
2. Tơi tránh xa những thứ khiến tôi cảm thấy buồn phiền
3. Tôi né tránh những người làm tơi buồn bằng cách đi thẳng về phịng
4. Tơi hồn tồn khơng làm gì để giải quyết vấn đề
Chung cho nhóm

2,26
1,98
1,35
1,74

0,66
0,72
0,55
0,30

Với ĐTB là 1,74, nhóm ƯP “Lảng tránh” được lựa chọn ở mức trung bình và thấp hơn
so với ba nhóm ƯP ở trên chứng tỏ HS ít sử dụng các cách ƯP này. Các cách ƯP lảng
tránh thường chỉ giúp các em tạm thời “quên” đi khó khăn trong hiện tại chứ khơng
giúp trẻ giải quyết khó khăn hay giảm thiểu cảm giác căng thẳng, lo lắng. Chính vì vậy,
việc khơng sử dụng thường xun nhóm ƯP này, đặc biệt là cách ƯP“hồn tồn khơng
làm gì để giải quyết vấn đề” (ĐTB = 1,35), là biểu hiện mang tính tích cực.
Xét riêng từng cách ƯP cụ thể, “Tơi hi vọng có phép màu xảy ra” và tiếp theo là “Tôi

giải quyết vấn đề bằng tưởng tượng thay cho thực hiện trong thực tế” được sử dụng khá
thường xuyên. Kết quả này xem ra phản ánh đặc điểm tâm lý của lứa tuổi HS THPT là
còn nhiều mộng mơ, thiếu tính thực tế, cộng với khả năng giải quyết vấn đề cịn hạn
chế. Ngồi ra, các em cũng sử dụng cách ƯP “tránh xa những thứ khiến tôi cảm thấy
bực bội” và“né tránh những người làm tôi buồn…” với mức độ thường xuyên khá cao.
Do tính thiếu hiệu quả của các cách ƯP lảng tránh, các nhà giáo dục và phụ huynh cần
tác động nhằm giảm mức độ sử dụng thường xuyên những nội dung trên.
3.1.5. Nhóm “Kiểu ứng phó tiêu cực”
Bảng 5. Mức độ thường xuyên sử dụng nhóm “Kiểu ứng phó tiêu cực”
V. KIỂU ỨNG PHĨ TIÊU CỰC
A. Suy nghĩ theo hướng tiêu cực
1. Tôi nghĩ đời tơi chẳng cịn ý nghĩa
2. Tơi có ý định tự vẫn (hoặc thường nghĩ đến cái chết)
3. Tôi nghĩ rằng đó là lỗi của người khác, tơi khơng có trách nhiệm
B. Hành động theo hướng tiêu cực
1. Tôi ném, đập vỡ thứ gì đó, la hét, chửi thề, cãi vã với mọi người
2. Tơi bỏ nhà đi lang thang, ít ở nhà mình
3. Tơi tìm đến rượu, bia, thuốc lá, chất kích thích... để giải sầu
4. Tơi tự gây thương tích cho bản thân như một cách để giảm nhẹ nỗi buồn
5. Tơi tự trách cứ, dày vị bản thân
6. Tơi cơ lập mình, khơng muốn gặp gỡ người khác
Chung cho nhóm

ĐTB
1,26
1,26
1,20
1,33
1,27
1,24

1,12
1,07
1,13
1,69
1,37
1,27

ĐLC
0,32
0,50
0,44
0,52
0,25
0,46
0,37
0,30
0,39
0,58
0,57
0,25

Bảng 5 cho thấy ĐTB chung cho cả nhóm Ứng phó tiêu cực là thấp (1,27 so với ĐTB
tối thiểu là 1). Bên cạnh đó, xét theo từng cá nhân, có 93,6% HS chọn cách ƯP tiêu cực
ở mức thường xuyên thấp (từ 1 đến 1,67). Các cách ƯP tiêu cực thường khơng những
khơng đem lại lợi ích cho người sử dụng mà cịn có thể ảnh hưởng tiêu cực đến người
đó cũng như xã hội. Chính vì vậy, việc ít sử dụng các cách ƯP tiêu cực của đại đa số HS
là một điểm mạnh trong KNƯP của nhóm khách thể nghiên cứu.


KỸ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG GIA ĐÌNH CỦA HỌC SINH THPT... 143


Tuy nhiên, thực trạng cũng cho thấy có 1 em (0,4%) sử dụng kiểu ƯP tiêu cực ở mức độ
thường xuyên cao ( X = 2,42) và 15 em, chiếm 6%, ở mức độ thường xun trung bình
(từ 1,67 đến 2,33). Bên cạnh đó, đáng lưu ý là có 4 em (chiếm 1,6%) chọn mức độ
“Thường xuyên”, và 43 em (chiếm 16,9%) chọn mức độ “Thỉnh thoảng” với nội dung
“Tơi có ý định tự vẫn”. Kết quả phỏng vấn 7 em trong số đó cho thấy có tới 4 em đã
từng thực hiện hành vi tự vẫn và có em thậm chí đã thử đến ba lần. Mặc dù số HS sử
dụng kiểu ƯP tiêu cực ở mức độ thường xuyên trung bình và cao này không nhiều, đây
vẫn là điều cần được các thầy cô giáo, phụ huynh đặc biệt quan tâm nhằm ngăn chặn
những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra.
Hai tiểu nhóm “Suy nghĩ theo hướng tiêu cực” và “Hành động theo hướng tiêu cực” có
mối tương quan thuận với nhau (r = 0,48 với p<0,001). Điều này có nghĩa là HS có suy
nghĩ tiêu cực thường hướng đến việc sử dụng hành động tiêu cực trong ƯP của mình. Vì
thế ngay khi phát hiện những suy nghĩ tiêu cực của các em thì người lớn cần quan tâm,
ngăn chặn kịp thời, tránh để xảy ra những hành động tiêu cực.
Xét mối quan hệ giữa năm nhóm ƯP vừa trình bày ở trên, kết quả thu được cho thấy
nhóm “Ứng phó tích cực chủ động” có tương quan thuận với “Tìm kiếm sự hỗ trợ”
(r=0,41; p<0,001) và “Xoa dịu căng thẳng” (r=0,38; p<0,001). Điều này có nghĩa
những HS lựa chọn ƯP tích cực, chủ động cũng thường tìm kiếm sự hỗ trợ cũng như
tìm cách xoa dịu căng thẳng và ngược lại. Bên cạnh đó, “Ứng phó tiêu cực” tương quan
thuận với “Lảng tránh” (r=0,51; p<0,001), chứng tỏ những HS lựa chọn ƯP tiêu cực
cũng thường chọn cách lảng tránh vấn đề khó khăn và ngược lại.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 5 nhóm ƯP trên được chia thành 3 nhóm dựa trên tính tích
cực: (1) nhóm tích cực gồm ƯP tích cực chủ động và tìm kiếm sự hỗ trợ; (2) nhóm tiêu
cực gồm lảng tránh và ƯP tiêu cực; (3) nhóm trung gian gồm xoa dịu căng thẳng, có thể
tiêu cực nhưng cũng có thể tích cực. Mức độ thường xuyên sử dụng từng nhóm ƯP này
cung cấp những thơng tin hữu ích về mức độ phát triển của KNƯP. Mức độ phát triển
của KN ứng phó cao hơn nếu cá nhân sử dụng những cách ƯP ở nhóm (1) thường
xun hơn, ở nhóm (2) ít hơn. Việc sử dụng các cách ƯP ở nhóm (3) cần được xem xét
kết hợp với mức độ thường xuyên sử dụng hai nhóm trên: Mức độ phát triển KNƯP cao

hơn nếu các cách ƯP ở nhóm (3) được sử dụng kết hợp nhiều hơn với nhóm (1) và ít
hơn với nhóm (2).
3.2. Cách ứng phó của HS với khó khăn trong gia đình xét theo giới tính và trường
3.2.1. Theo giới tính
Nhìn chung, HS nam lựa chọn cách ƯP tích cực, chủ động nhiều hơn các HS nữ
(t252=2,12; p<0,05). Ngược lại, các em nữ có xu hướng sử dụng các cách ƯP “Tìm kiếm
chỗ dựa tình cảm” (t252= 2,99; p<0,01), “Tìm kiếm sự giúp đỡ để giải quyết vấn đề”
(t252=2,15; p<0,05) nhiều hơn. Ở nhóm “Ứng phó tiêu cực”, các em nữ có suy nghĩ tiêu
cực nhiều hơn nhưng các em nam lại có hành vi tiêu cực nhiều hơn. Khi gặp khó khăn,
các em nam thường tự tìm cách giải quyết hoặc thực hiện hành động nào đó để xoa dịu
căng thẳng, cách thể hiện ra ngồi có thể tích cực nhưng cũng có thể tiêu cực. Ngược


144

NGUYỄN DIỆU THẢO NGUYÊN - TRẦN THỊ TÚ ANH

lại, HS nữ chủ yếu lựa chọn cách ƯP trong nhận thức hoặc trong quan hệ xã hội như
chia sẻ, xin lời khuyên, nhờ người khác giải quyết vấn đề nhiều hơn. Như vậy, có thể
thấy đặc điểm giới được thể hiện khá rõ nét trong việc lựa chọn cách ƯP của HS THPT
TP Huế và điều này cũng tương đồng với các nghiên cứu trước về KNƯP [2]. Đây là
một vấn đề cần được quan tâm trong các chương trình giáo dục KNƯP.
3.2.2. Theo trường
Bảng 6. Tỉ lệ học sinh các trường sử dụng các nhóm ứng phó (%)

Ứng phó tích cực, chủ động
Tìm kiếm sự hỗ trợ
Xoa dịu căng thẳng
Lảng tránh
Ứng phó tiêu cực


Quốc Học (QH)
Thấp
TB
Cao
1,2 57,1 41,7
32,1 58,3
9,5
3,6 65,5 31,0
54,8 45,2
0,0
100,0
0,0
0,0

Gia Hội (GH)
Thấp TB
Cao
4,6 63,2 32,2
14,9 67,8 17,2
4,6 49,4 46,0
40,2 55,2
4,6
89,7
9,2
1,2

Bùi Thị Xuân (BTX)
Thấp
TB

Cao
1,2
65,1 33,7
22,9
68,7
8,4
2,4
54,2 43,4
39,8
55,4
4,8
91,6
8,4
0,0

Ghi chú: cao: ĐTB từ 2,33 đến 3; trung bình: từ 1,67 đến 2,33; thấp: từ 1 đến 1,67

Bảng 6 cho thấy trong khi HS trường GH và BTX có KNƯP với khó khăn trong gia
đình khá tương đồng thì HS QH có xu hướng sử dụng nhóm “Ứng phó tích cực, chủ
động” với mức độ cao nhiều hơn, sử dụng “Xoa dịu căng thẳng” ở mức độ cao ít hơn,
sử dụng “Lảng tránh” và “Ứng phó tiêu cực” ở mức độ thấp nhiều hơn (“Lảng tránh”
có F(2,251)=6,30; p<0,01; “Ứng phó tiêu cực” có F(2,251)=3,70; p<0,05). Với đặc điểm về
tính tích cực của mỗi nhóm ƯP như đã trình bày ở trên, kết quả này chỉ ra rằng HS QH
có xu hướng có KNƯP phát triển ở mức cao hơn so với HS hai trường cịn lại.
Tuy nhiên, mặc dù “Tìm kiếm sự hỗ trợ” được xem là nhóm ƯP mang tính tích cực, số
HS QH sử dụng nhóm ƯP này ở mức độ thấp nhiều hơn so HS GH và BTX
(F(2,251)=4,63; p<0,05). Kết quả này có thể liên quan đến mức độ tự tin của HS QH đối
với khả năng tự giải quyết vấn đề, thói quen độc lập trong giải quyết vấn đề hoặc các
yếu tố khác, cần được tiếp tục nghiên cứu để làm rõ.
Sự khác biệt trong KNƯP giữa HS trường QH và HS GH và BTX có thể phản ánh sự

khác biệt trong môi trường giáo dục giữa các trường cũng như đặc điểm về học lực và
hoàn cảnh gia đình của HS. Cần lưu ý rằng trường QH là trường điểm Quốc gia, nơi tập
trung các HS giỏi đến từ các trường ở trong và ngoài tỉnh Thừa Thiên Huế thơng qua
q trình tuyển chọn khá gắt gao.
4. KẾT LUẬN
Nhìn chung, HS THPT TP Huế có KNƯP với những khó khăn trong gia đình thể hiện ở
việc sử dụng những nhóm ƯP mang tính tích cực, phù hợp nhiều hơn, những nhóm ƯP
tiêu cực, thụ động, khơng phù hợp ít hơn. Yếu tố giới và trường học có liên quan đến
việc lựa chọn nhóm/cách ƯP và KNƯP của các em.
Tuy nhiên, xét riêng từng cách ƯP cụ thể và từng cá nhân HS cụ thể, có một số cách ƯP
tiêu cực, thụ động, không phù hợp được một số HS sử dụng ở mức độ khá thường

LUCKY 10/16/09 8:06 AM
Formatted: Space Before: 6 pt


KỸ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG GIA ĐÌNH CỦA HỌC SINH THPT... 145

xuyên. Điều này cần được các nhà nghiên cứu tìm hiểu thêm, được xã hội, đặc biệt là
thầy cô giáo và phụ huynh, quan tâm thơng qua các chương trình trợ giúp ƯP và giáo
dục KNƯP cho các em.
Từ kết quả nghiên cứu thực trạng, chúng tôi đề xuất một số biện pháp giáo dục KNƯP
cho HS THPT như sau:
Xây dựng mối quan hệ gia đình hồ thuận, đối xử với trẻ cơng bằng, phù hợp với đặc
điểm lứa tuổi… Bên cạnh đó, gia đình cần là tấm gương mẫu mực trong việc lựa chọn
cách ƯP tích cực, có hiệu quả và là những người hướng dẫn, động viên trẻ rèn luyện
hình thành KNƯP ngay từ nhỏ.
Giáo dục KNƯP cho các em thông qua các hình thức khác nhau, như tích hợp trong
chương trình học nội khoá, tổ chức các buổi trao đổi ngoại khoá, các cuộc thi về những
vướng mắc trẻ thường gặp trong thực tế và cách giải quyết chúng hoặc bình chọn cách

ƯP hay nhất cũng như chỉ ra cách ƯP dở nhất trước các tình huống khó khăn trong gia
đình để trẻ có thể học hỏi.
Thơng qua các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao, sinh hoạt tập thể để tăng cường
tình đồn kết trong trường, từ đó các em có thể chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, sống vui vẻ
và giảm đi những suy nghĩ bi quan, tiêu cực.
Giáo viên chủ nhiệm cần hiểu rõ hồn cảnh gia đình, đặc điểm tâm sinh lý, KNƯP với
khó khăn của từng HS trong lớp mình, quan tâm đến những em có hồn cảnh đặc biệt để
can thiệp kịp thời khi có dấu hiệu bất thường. Phối hợp với gia đình để giáo dục HS có
hiệu quả.
Nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở những khó khăn trong gia đình, trong khi các em
cịn phải ƯP với nhiều khó khăn khác nữa. Chính vì vậy, cần có thêm những nghiên cứu
về KNƯP với các loại khó khăn khác của HS THPT cũng như mở rộng sang các lứa
tuổi khác, đặc biệt là HS Trung học cơ sở, lứa tuổi có nhiều vấn đề cần được quan tâm.
Ngồi ra, cần có những nghiên cứu thử nghiệm các biện pháp tác động nhằm trợ giúp và
giáo dục KNƯP cho HS THPT và các nhóm khách thể khác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]
[2]
[3]
[4]

Phan Thị Mai Hương (chủ biên) (2007), Cách ứng phó của trẻ vị thành niên với hồn
cảnh khó khăn, NXB Khoa học xã hội.
Frydenberg, Erica (2008), Adolescent Coping - Advances in Theory, Research and
Practice, The Taylor & Francis e-Library.
Program For Prevention Research - Arizona State University (1999), Manual For The
Children’s Coping Strategies Checklist & The How I Coped Under Pressure Scale,
http://www.asu.edu/clas/asuprc/.
Mittler, Jane A. (2007), The Use of Coping Skills to Reduce the Negative
Consequences of Stress in Adolescence, University of Missouri - Columbia,

http://tdpmh-dev.missouri.edu/prevprez/.


146

NGUYỄN DIỆU THẢO NGUYÊN - TRẦN THỊ TÚ ANH

Title: COPING SKILLS TO FAMILY PROBLEMS OF HIGH SCHOOL STUDENTS OF
HUE CITY

LUCKY 10/16/09 8:06 AM
Deleted:

Abstract: Coping skills have attracted the concern of many psychologists over the world in
recent years. However, there have not been many studies on this issue in Vietnam. In order to
contribute to this field of study with practical basis, we present results of a study on real
situation of coping skills to family problems of High School students in Hue city and some
suggestions for coping skills education.
NGUYỄN DIỆU THẢO NGUYÊN
Học viên Cao học chuyên ngành Tâm lý học, Khóa 16 (2007-2009), Trường Đại học Sư phạm Đại học Huế.
TS. TRẦN THỊ TÚ ANH
Phó Trưởng phịng Khoa học - Cơng nghệ - HTQT, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế.



×