Tải bản đầy đủ (.pdf) (141 trang)

Thế Lữ với tiến trình văn học việt nam giai đoạn 1930 - 1945

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.48 MB, 141 trang )

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
-------------------------------




NGUYỄN THỊ VÂN ANH





THẾ LỮ VỚI TIẾN TRÌNH VĂN HỌC VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 1930 - 1945




L
L
U
U


N
N



V
V
Ă
Ă
N
N


T
T
H
H


C
C


S
S
Ĩ
Ĩ


K
K
H
H
O

O
A
A


H
H


C
C


N
N
G
G




V
V
Ă
Ă
N
N













THÁI NGUYÊN - 2008
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
-------------------------------




NGUYỄN THỊ VÂN ANH




THẾ LỮ VỚI TIẾN TRÌNH VĂN HỌC VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 1930 - 1945

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60.22.34


L
L
U
U


N
N


V
V
Ă
Ă
N
N


T
T
H
H


C
C


S

S
Ĩ
Ĩ


K
K
H
H
O
O
A
A


H
H


C
C


N
N
G
G





V
V
Ă
Ă
N
N




Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. PHAN TRỌNG THƯỞNG







THÁI NGUYÊN - 2008
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Sư phạm
Thái Nguyên, Khoa Sau đại học, Khoa Ngữ văn, các thầy cô giáo đã tạo điều
kiện giúp đỡ tôi trong suốt khoá học.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn PSG.TS. Phan Trọng
Thưởng người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học
tập và hoàn thành luận văn này.

Tôi xin chân thành cảm ơn tới Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái
Nguyên, Trường THPT Trại Cau - Đồng Hỷ - Thái Nguyên đã tạo điều kiện
và nhiệt tình giúp đỡ tôi về mọi mặt trong suốt thời gian học tập và hoàn
thành luận văn.
Tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới bạn bè và gia đình những người
đã động viên, khích lệ tôi để hoàn thành tốt luận văn.

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2008
HỌC VIÊN CAO HỌC


NGUYỄN THỊ VÂN ANH



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................... 2
2.1. Về thơ ................................................................................................. 2
2.1.1. Trước cách mạng ......................................................................... 2
2.2.2. Sau cách mạng............................................................................. 4
2.2. Về văn xuôi ........................................................................................ 7
3. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................. 10
4. Đóng góp mới của Luận văn ................................................................... 10
5. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................... 10
6. Cấu trúc luận văn .................................................................................... 11
Chương 1. SỰ XUẤT HIỆN CỦA THẾ LỮ TRONG BỐI CẢNH VĂN

HỌC VIỆT NAM THỜI KỲ 30 - 45 ............................ 12
1.1. Bối cảnh văn hoá, xã hội Việt Nam thời kỳ 1930 - 1945 .................... 12
1.1.1. Vài nét về tình hình chính trị - văn hoá - xã hội ........................... 12
1.1.2. Sự nở rộ và phát triển các khuynh hướng, nhóm phái văn học .... 15
1.1.3. Sự xuất hiện một thế hệ nhà văn, nhà thơ tài năng và sự hoàn thiện
về thể loại ....................................................................................... 17
1.2. Vị trí vai trò của Thế Lữ trong sự hình thành và phát triển của một số
thể loại văn học mới............................................................................ 20
1.2.1. Cuộc đấu tranh giữa thơ mới và thơ cũ ......................................... 22
1.2.2. Sự xuất hiện của Thế Lữ ................................................................ 25
Chương 2. NHỮNG PHẨM CHẤT CÁCH TÂN TRONG THƠ THẾ LỮ ... 30
2.1. Quan điểm nghệ thuật của Thế Lữ - Một bước tiến so với quan điểm
nghệ thuật của văn học trung đại ......................................................... 30
2.1.1. Khái quát quan điểm nghệ thuật văn học trung đại ...................... 30
2.1.2. Quan niệm nghệ thuật của Thế Lữ ................................................ 33
2.2. Những cách tân về hình thức và nội dung nghệ thuật .......................... 39
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
2.2.1. Thế Lữ - Một sự đổi mới về cảm hứng sáng tạo ........................... 39
2.2.1.1. Thiên nhiên............................................................................. 39
2.2.1.2. Tình yêu ................................................................................. 45
2.2.1.3. Cõi tiên ................................................................................... 50
2.2.2. Cách tân về hình thức (hình thức biểu hiện) ................................. 59
2.2.2.1. Đổi mới cấu trúc câu thơ ........................................................ 60
2.2.2.2. Phong phú về thể thơ .............................................................. 67
2.2.2.3. Nghệ thuật xây dựng hình ảnh bằng chất liệu hội hoạ ........... 70
2.2.2.4. Tài hoa trong nghệ thuật diễn tả âm thanh ............................. 74
2.2.2.5. Nhạc điệu trong thơ Thế Lữ ................................................... 76
2.3. Tiểu kết ............................................................................................. 79
Chương 3. THẾ LỮ VỚI NHỮNG ĐÓNG GÓP VỀ VĂN XUÔI

NGHỆ THUẬT ............................................................ 81
3.1. Thế Lữ với thể loại văn xuôi mới ........................................................ 81
3.2. Truyện trinh thám ................................................................................. 84
3.2.1. Nguồn gốc truyện trinh thám ........................................................ 84
3.2.2. Thế Lữ với thể loại truyện trinh thám ở Việt Nam ....................... 85
3.2.2.1. Cốt truyện ............................................................................... 85
3.2.2.2. Nhân vật ................................................................................. 90
2.2.2.3. Cách giải mã độc đáo trong truyện trinh thám của Thế Lữ ... 93
3.3. Truyện kinh dị ................................................................................... 100
3.3.1. Truyện kinh dị tiếp nối dòng truyện truyền kỳ ........................... 100
3.3.2. Sự khác biệt giữa truyện kinh dị của Thế Lữ và truyện truyền kỳ .....101
3.3.2.1. Nghệ thuật kể chuyện ........................................................... 104
3.3.2.2. Nghệ thuật tả ........................................................................ 108
3.3.2.3. Cách giải thích khoa học trong truyện kinh dị của Thế Lữ . 116
PHẦN KẾT LUẬN ..................................................................................... 130
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................... 133
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong giai đoạn 1930 - 1945, xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến
sâu sắc. Sự gặp gỡ của văn minh Phương Tây sự tiếp thu mạnh mẽ và rộng rãi
những tinh hoa văn hoá thế giới đã thúc đẩy văn học Việt Nam bứt ra khỏi hệ
hình trung đại trì trệ, để tiến hành công cuộc hiện đại hoá với sự tăng tốc đặc
biệt. Văn học Việt Nam thay đổi từ diện mạo tới nội dung, hàng loạt những
thể tài, thể loại mới hình thành và phát triển, một đội ngũ đông đảo các nhà
văn sung sức tung hoành trên khắp mọi lĩnh vực văn chương. Một trong
những đại diện xuất sắc của đội ngũ này là Thế Lữ.
Thế Lữ thuộc số ít những nghệ sĩ đa tài của nền văn học nghệ thuật trước
cách mạng. Là "khởi điểm của những khởi điểm", ông không chỉ là người mở

đầu cho phong trào Thơ mới, mà còn là người khai phá nền kịch nói Việt Nam,
là cây bút đầu tiên của một vài thể loại văn xuôi nghệ thuật như tiểu thuyết
trinh thám, truyện đường rừng, truyện kinh dị, truyện khoa học,... ở những lĩnh
vực văn chương này ông luôn bộc lộ đầy đủ cốt cách của người đi "tiên phong"
với những thể nghiệm mới mẻ trên cả bình diện nội dung lẫn hình thức.
Mặc dù đã có rất nhiều công trình, bài viết về sự nghiệp văn chương
của Thế Lữ, chúng tôi vẫn mong muốn tìm hướng tiếp cận mới đối với sáng
tác của ông ngõ hầu nhìn nhận rõ hơn những điểm sáng mới trong thế giới
nghệ thuật phong phú của nhà văn tài ba này. Đặt sáng tác của ông trong sự
phát triển nhanh chóng của văn học Việt Nam ba thập niên đầu thế kỷ XX,
trong sự phát triển đa dạng của thể loại và thể tài văn học, trong sự tìm kiếm
nghệ thuật rốt ráo, so sánh với các sáng tác của các nhà văn, cách tân cùng
thời, chúng tôi muốn tìm hiểu sâu sắc hơn những thành tựu nghệ thuật của
ông, từ đó nhằm khẳng định vị trí, vai trò đóng góp của ông trong công cuộc
hiện đại hoá văn học dân tộc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
Mặt khác, hiện sáng tác của Thế Lữ, trong đó có mảng thơ của ông, đã
được đưa trở lại giảng dạy trong nhà trường ở cả cấp trung học cơ sở và trung
học phổ thông. Nên việc đi sâu nghiên cứu văn tài của ông là hết sức cần
thiết. Đối với người viết luận văn, việc thực hiện đề tài là quá trình học hỏi,
trang bị cho bản thân vốn kiến thức đầy đủ về một tác gia lớn nhằm đáp ứng
tốt hơn cho công tác giảng dạy trong nhà trường.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Là sứ giả tiên phong của trào lưu văn học lãng mạn, sáng tác của Thế
Lữ được các nhà biên khảo lịch sử, các nhà nghiên cứu văn học hết sức quan
tâm tiến hành khảo sát và nghiên cứu. Tuy vậy, mức độ đánh giá về văn
nghiệp của Thế Lữ ở mỗi thể loại văn học, mỗi giai đoạn lịch sử có khác
nhau.
2.1. Về thơ

2.1.1. Trước cách mạng
Ngay từ khi mới ra đời thơ Thế Lữ đã được hoan nghênh nhiệt liệt.
Vào những năm 1933, 1934, 1935, 1936 các cây bút viết văn, viết phê bình
trong và ngoài nhóm Tự lực văn đoàn như: Nhất Linh, Nguyễn Tường Bách,
Nguyễn Nhược Pháp, Lê Tràng Kiều... đã đăng bài nhiệt liệt ủng hộ, cổ vũ
ca ngợi Thế Lữ.
Nhất Linh là người đầu tiên có công phát hiện, có bài giới thiệu Thế Lữ
trên báo Phong hoá (số 54 - 1933) Nhất Linh khẳng định Thế Lữ là "một
nhân vật mới trong làng thơ mới". Trên báo Phong hoá (số 97, 11/5/1937)
Nguyễn Tường Bách nhiệt tình tán dương Thơ mới, lấy thơ Thế Lữ làm mẫu
rồi nhận định "Những bài thơ của ông Thế Lữ đã tỏ ra rằng Thơ mới đã vượt
ra những khuôn sáo chật hẹp của thi văn cũ mà đi vào một con đường khá
rộng rãi tốt đẹp hơn nhiều". Khi phân tích một số bài thơ Nguyễn Nhược Pháp
cho rằng: "Đối với sự miêu tả những tình cảm nhẹ nhàng, ông Thế Lữ đã thực
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
sự chứng tỏ một tài năng lớn". Trên Hà Nội báo (số 14 ngày 8/4/1936) Lê
Tràng Kiều cho rằng hồn thơ, cảm hứng của Thế Lữ "dồi dào" "ông Nguyễn
Thế Lữ có thể ngồi chung chiếu với ông Nguyễn Khắc Hiếu mà không
ngượng ngùng". Đến bài thơ mới Thế Lữ đăng ở Hà Nội báo (số 24 ngày
7/6/1936) khi so sánh bài Tiếng sáo Thiên thai của Thế Lữ với đoạn Nguyễn
Du tả tiếng đàn của nàng Kiều, Lê Tràng Kiều nhận xét "Các tài nghệ của Thế
Lữ về phương diện này quả không kém Nguyễn Du là mấy".
Không phải ngẫu nhiên khi tuyển chọn 46 thi sĩ để đưa vào tập Thi
nhân Việt Nam, Hoài Thanh - Hoài Chân đã trân trọng đặt Thế Lữ ở vị trí
đầu tiên. Và trong tiểu luận Một thời đại trong thi ca, Hoài Thanh đã tôn
vinh Thế Lữ là "đệ nhất thi sĩ" và ngợi ca "Độ ấy thơ mới vừa ra đời - Thế
Lữ như vầng sao đột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam (...) Thế
Lữ đã dựng thành nền Thơ mới ở xứ này (...) Thế Lữ chỉ lặng lẽ, chỉ điềm
nhiên bước những bước vững vàng mà trong khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ

xưa phải tan vỡ".
Năm 1942 trong cuốn Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã dành những
trang viết về Thế Lữ. "Ông là thi sĩ có công đầu trong việc xây dựng nền thơ
mới. Phan Khôi, Lưu Trọng Lư chỉ là những người làm cho người ta chú ý
đến Thơ mới mà thôi, còn Thế Lữ mới chính là người cho ta tin cậy ở tương
lai của Thơ mới [69 - 309]".
Ngoài những ý kiến đánh giá (với những ý nghĩa bênh vực, cổ vũ cho
Thơ mới trong giai đoạn phôi thai) của các nhà phê bình nghiên cứu, các bạn
đồng nghiệp dành cho Thế Lữ chúng ta còn thấy xuất hiện trong công trình
nghiên cứu Việt Nam văn học sử của Dương Quảng Hàm. Trong công trình
nghiên cứu này, tác giả đã đặt Thế Lữ vào hàng những người cải cách, đề cao
Thế Lữ, cho rằng đó là nhà thơ có ngôn từ mới lạ, diễn tả trung thực ý tưởng
và hình ảnh trong thơ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
Là "một ngôi sao sáng khắp trời thơ Việt Nam" nhưng danh vọng chói
lọi đã bị mờ đi nhanh chóng. Sau đó tác giả Thi nhân Việt Nam cũng phải than
thở về sự lạnh nhạt của công chúng đối với Thế Lữ "Tôi thấy xung quanh tôi
người ta lạnh lùng quá. Thế Lữ cơ hồ đã đi theo phần đông trong Văn đàn bảo
gián [14 - 51]. Bởi vì chỉ mấy năm sau, thơ Thế Lữ không còn đáp ứng thị
hiếu, tâm lý của lớp công chúng mới. Có thể nói khi Thế Lữ viết lời tựa giới
thiệu "Thơ thơ" của Xuân Diệu thì chính ông đã viết "chiếu nhường ngôi" cho
nhà thơ trẻ mới nhất trong các nhà thơ mới đó.
Thơ mới lãng mạn nói chung và thơ Thế Lữ nói riêng ngay từ khi mới
ra đời đã gây được luồng dư luận xôn xao một thời. Người khen thì khen hết
sức mà người chê cũng không tiếc lời, đặc biệt là những cây bút đứng trên lập
trường quan điểm cách mạng phê phán như Hải Triều, Hồ Xanh... Họ đã chế
giễu nhiều nhà Thơ mới trong đó có Thế Lữ. Nhưng rồi cũng như quy luật tất
yếu của lịch sử, phong trào Thơ mới được đông đảo công chúng văn học nhất
là lớp độc giả thanh niên đón nhận.

2.2.2. Sau cách mạng
Sau Cách mạng tháng Tám ở miền Bắc đứng trên quan điểm cách mạng,
phong trào Thơ mới được nhìn nhận và đánh giá khác trước. Từ năm 1945 -
1975 Thơ mới cũng như văn học lãng mạn nói chung đều bị coi là tiêu cực.
Trong tập Nói chuyện thơ kháng chiến năm 1951 Hoài Thanh cho rằng:
"Những vần thơ buồn tủi và bơ vơ ấy là những vần thơ có tội. Nó xui con
người ta buông tay cúi đầu do đó làm yếu sức ta và làm lợi dụng cho giặc. Sự
thật khách quan là thế" [103 - 25].
Không chỉ tác giả Thi nhân Việt Nam mà nhiều nhà thơ trong phong
trào Thơ mới như Thế Lữ - Huy Cận, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Xuân Diệu...
đều nhìn lại một cách nghiêm khắc. Trong bài Những sợi dây trói buộc tôi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
trên con đường phấn đấu đăng trên tạp chí Văn nghệ (số 47 năm 1953) - Thế
Lữ phủ định hầu như tất cả mọi đóng góp của mình vào nền văn học.
Khoảng năm 1956 - 1957, Thơ mới tuy vẫn bị phê phán nhưng đã được
nhìn lại với con mắt rộng hơn và Thế Lữ vẫn được coi là trường hợp có nhiều
yếu tố tích cực hơn cả. Lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 1945 (Tập 5 tủ sách
ĐHSP - Nxb GD 1962), Nguyễn Trác cũng dành một chương viết về Thế Lữ
và tập Mấy vần thơ.
Tháng 3 - 1963, trong một lần nói chuyện, nhà thơ Tố Hữu tâm sự "Tôi
cũng thích nhạc điệu và hơi thở của Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy
Cận... trong tâm hồn các anh lúc đó tôi tìm thấy những nỗi băn khoăn đau
buồn của những người cùng thế hệ, đòi hỏi tự do, ước mơ hạnh phúc, tuy các
anh chưa tìm thấy lối ra và nhiều khi rơi vào chán nản [39].
Năm 1966, Phan Cự Đê cho ra đời một chuyên luận công phu và toàn
diện về Phong trào Thơ mới (1932 - 1945). Ông đã phê phán khuynh hướng
thoát ly tiêu cực, đồng thời ghi nhận tấm lòng yêu nước, yêu dân tộc, yêu
cuộc sống của các nhà Thơ mới. Đặc biệt, ông đề cao Thế Lữ với tinh thần
dân tộc tinh thần yêu nước khá rõ nét qua bài thơ Nhớ rừng.

Trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 1945 của Nguyễn Hoành
Khung (Nxb GD 1973), ông đã dành cả một mục trong chương 3 - Phong trào
Thơ mới để nhìn nhận Thế Lữ như là người tiêu biểu đầy đủ của cái "tôi" Thơ
mới. Ông đánh giá cao những yếu tố tiến bộ và ngòi bút tài hoa dồi dào của
Thế Lữ.
Ở miền Nam, sau Cách mạng, Thơ mới cũng là đối tượng được các nhà
phê bình nghiên cứu quan tâm. Đã có nhiều bài tiểu luận về tác giả, tác phẩm
về phong trào Thơ mới đăng tải trên các tạp chí Bách khoa nghiên cứu văn
học... Đặc biệt là sự xuất hiện khá nhiều tập hồi ký chuyên khảo, chuyên luận
về thi ca tiền chiến như Lược thảo về thơ của Uyên Thao (Nxb 1967), Thi ca
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Việt Nam hiện đại của Trần Tuấn Việt, Nxb 1969. Đặc biệt là cuốn Việt Nam
thi nhân tiền chiến (Nxb 1968 - 1969), Nguyễn Tấn Long nhận định: "Thế Lữ
đặt cho Thơ mới một nền móng vững chắc, ông gây được niềm tin mãnh liệt
trong lòng khách yêu thơ, những sáng tác của ông vừa xuất hiện đã khua
những tiếng vang sâu rộng; tựa như tia lửa loé sáng trong màn đêm, những
hồn thơ còn đang mò mẫm sợ sệt cái táo bạo của Thơ mới, bỗng nhiên bắt
được mục tiêu tiến bước...".
Từ thời kỳ đổi mới đến nay, văn học lãng mạng nói chung trong đó có
Thế Lữ đã được thẩm định lại. Nhiều bài nghiên cứu chuyên luận của các tác
giả Hà Minh Đức, Nguyễn Hoành Khung, Trần Đình Hượu, Phan Cự Đê, Vũ
Ngọc Phan… đã đánh giá lại trào lưu lãng mạn nói chung dưới ánh sáng của
tư duy mới.
Những năm 1984 - 1987 liên tiếp có nhiều bài viết về Thế Lữ. Trong
Từ điển văn học tập 1 Nguyễn Hoành Khung khẳng định "Ngòi bút của Thế
Lữ khá dồi dào, già dặn, tạo nên được những bức tranh đẹp, thi vị (...) Thế Lữ
đã đóng góp quan trọng vào việc hiện đại hoá thơ ca Việt Nam, khẳng định
biểu hiện giá trị sinh động của Thơ mới.
Năm 1987 trong cuốn Nhà văn và tác phẩm trong trường phổ thông, Lê

Bảo viết "Nếu trước đó ít lâu, Tản Đà dạo khúc nhạc đầu với "Non nước nặng
một lời thề vẫn còn sáo nhị thì Thế Lữ đã đem đến cho sân khấu âm nhạc một
giọng kèn đồng".
Năm 1989, Hà Minh Đức khi viết khải luận Phong trào thơ mới Việt
Nam thời kỳ 30 - 45 đã nhận xét: "Thế Lữ, người mở đầu cho phong trào Thơ
mới, ông hoàng của chủ nghĩa lãng mạn đã kết hợp được trong thơ tình cảm
chân thực và mở rộng với chất lãng mạn, thanh cao".
Vào dịp kỷ niệm 60 năm phong trào Thơ mới đã có rất nhiều bài nghiên
cứu về văn nghiệp của Thế Lữ. Đáng chú ý phải kể đến cuốn sách Nhìn lại
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
một cuộc cách mạng trong thi ca của Hà Minh Đức (năm 1993) đã chọn hai
bài thơ Nhớ rừng và Cây đàn muôn điệu của Thế Lữ xếp đầu danh sách.
Năm 1997 có bài Thế Lữ, nghệ sĩ hai lần tiên phong của Phan Trọng
Thưởng (Tạp chí Văn học số tháng 7) và các bài của Nguyễn Đình Thi,
Nguyễn Xuân Sanh (báo Văn nghệ) nhân kỷ niệm lần thứ 80 ngày sinh
Thế Lữ.
Năm 2000 Nxb KHXH đã công bố tập 25 trong hệ thống trọn bộ 42 tập
của Tổng tập văn học Việt Nam. Cuốn sách được in nhiều nhà thơ trong đó
tập Mấy vần thơ tập mới của Thế Lữ được in lại toàn bộ. Năm 2002 có tiểu
luận Thế Lữ - người mở đầu một trào lưu thơ ca của Hà Minh Đức. Tác giả đã
có cái nhìn bao quát sâu sắc làm nổi bật hồn thơ Thế Lữ.
Năm 2005, Phạm Đình Ân cho ra đời cuốn Thế Lữ - tác gia tác phẩm.
Cuốn sách đã có cái nhìn tổng quát về toàn bộ văn nghệ và những bài viết về
Thế Lữ.
Ngoài những bài nghiên cứu nói trên đã có rất nhiều những luận văn
thạc sĩ nghiên cứu về thơ Thế Lữ, song những luận văn này chỉ mới đề cập
thơ Thế Lữ ở những khía cạnh nhất định, chưa nghiên cứu sâu về những đóng
góp của Thế Lữ trong công cuộc hiện đại hoá văn học. Ở luận văn này, chúng
tôi sẽ làm rõ vị trí của Thế Lữ trong tiến trình văn học giai đoạn 1930 - 1945.

2.2. Về văn xuôi
2.2.1. Như trên đã nói, Thế Lữ thuộc vào số ít những nghệ sĩ đa tài của
nền văn học nghệ thuật trước cách mạng. Ông không chỉ là người mở đầu cho
phong trào Thơ mới mà còn là cây bút đầu tiên của một vài thể loại văn xuôi
nghệ thuật như truyện kinh dị, truyện trinh thám, truyện đường rừng... song
hoạt động nghiên cứu về sự nghiệp văn xuôi của Thế Lữ vẫn chưa được sự
chú ý của nhiều bạn đọc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Người đầu tiên nghiên cứu văn xuôi của Thế Lữ là Vũ Ngọc Phan.
Trong cuốn Nhà văn hiện đại Vũ Ngọc Phan viết "về thơ, người ta thấy rõ các
thi cốt, các chân tài của Thế Lữ. Về tiểu thuyết, tuy loại truyện trinh thám ông
chưa thành công, nhưng về những truyện ghê sợ, ông đã chứng tỏ là một tiểu
thuyết gia có biệt tài". Cũng trong cuốn sách này ông cho rằng: "Vàng và Máu
của Thế Lữ là một tiểu thuyết mà tác giả tỏ ra một văn gia có biệt tài. Nghệ
thuật viết tiểu thuyết của Thế Lữ ở đây đã lên tới trình độ cao" [26 - 27 - 28].
Tác giả Phạm Thế Ngũ trong cuốn Việt Nam Văn học giản ước tân biên
đã dành 11 trang nói về những truyện kinh dị lãng mạn và truyện trinh thám
của Thế Lữ. Theo Phạm Thế Ngũ, bên cạnh một Thế Lữ mở đường cho Thơ
mới còn có một Thế Lữ văn xuôi đặc sắc.
2.2.2. Từ giữa những năm 1980 đến nay, trong không khí đổi mới
mạnh mẽ của xã hội, nhiều tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn, nhiều tập thơ
lãng mạn được xuất bản với số lượng lớn. Song văn xuôi của Thế Lữ nói
chung cũng như các truyện kinh dị, truyện trinh thám của Thế Lữ vẫn được
đánh giá rất cao.
Báo văn nghệ số 23 ra ngày 3/6/89 đăng bài Thương tiếc nhà thơ Thế
Lữ, tác giả Tế Hanh viết: "Ở nơi anh cái chất mở đường đi tiên phong thật rõ
ràng, trong thơ, trong truyện, trong báo chí, trong sân khấu" [26 - 383].
Nguyễn Hoành Khung trong Lời giới thiệu bộ sách 8 tập Văn xuôi lãng
mạn Việt Nam 1930 - 1945 viết: "Ngôi sao rực rỡ nhất của phong trào Thơ

mới thời kỳ đầu, cũng là cây bút văn xuôi đặc sắc, dồi dào, đề tài và bút phát
khá đa dạng. Ông được biết trước hết là ở loại truyện kinh dị (...) rồi loại
truyện tình lãng mạn đường rừng (...) và nhất là truyện trinh thám, ông là một
trong những người dẫn đầu về thể loại tiểu thuyết ở nước ta...".[37-423]
Năm 1991, trong cuốn Thế Lữ - cuộc đời trong nghệ thuật tác giả Hoài
Việt có bài: Thế Lữ như tôi viết trong bài viết của mình ông đánh giá rất cao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
những truyện quái dị của Thế Lữ so với các nhà văn cùng thời. Ông khẳng
định: "Thế Lữ là một nhà thơ, nhà văn giàu tưởng tượng, giàu mộng mơ nhưng
ông lại rất tỉnh táo trong phương pháp suy luận khoa học” [26-412; 413].
Tiếp đến trên tạp chí Văn học số 7 năm 1997, Phan Trọng Thưởng có bài
Thế Lữ nghệ sĩ hai lần tiên phong. Tác giả đã khẳng định: "Với loại truyện li
kỳ rùng rợn Thế Lữ đã đạt đỉnh cao của loại truyện này" chỉ sau khi tập Mấy
vần thơ ra đời được ít lâu Thế Lữ dần chuyển sang lĩnh vực văn xuôi với hai sở
trường là tiểu thuyết ly kỳ rùng rợn và tiểu thuyết trinh thám như Vàng và Máu
(Đời nay-1937), Bên đường thiên lôi (1936); Mai Hương và Lê Phong (1937)...
Với Vàng và Máu, ông có thể được coi là tác giả đạt đỉnh cao nghệ thuật của
loại truyện này [76-13]. Cũng trong bài viết này Phan Trọng Thưởng đã khẳng
định công lao to lớn của Thế Lữ trong việc mở ra khuynh hướng mới cho văn
chương nhóm Tự lực văn đoàn: "Cùng với Lan Khai và một vài tác giả khác
chuyên viết về loại truyện đường rừng, bí hiểm văn xuôi Thế Lữ mở ra một
khuynh hướng mới của văn chương Tự lực văn đoàn [76-13].
Năm 2003 trên Tạp chí Văn học số 8, Phạm Đình Ân có bài viết Thế Lữ
trong Tự lực văn đoàn. Trong bài viết này bên cạnh việc khẳng định vị trí, vai
trò và đóng góp của Thế Lữ với nhóm Tự lực văn đoàn tác giả còn khẳng định
"Văn xuôi nghệ thuật của Thế Lữ cũng có một vẻ đẹp riêng, hấp dẫn cho thấy
một khía cạnh đáng lưu ý ở tài năng Thế Lữ [2-68].
Nhìn chung, nhiều năm qua văn xuôi của Thế Lữ được học tập và
nghiên cứu rất đơn giản và dè dặt. Trong phạm vi nhà trường, học sinh không

được tiếp cận với các tác phẩm văn xuôi, ít được biết đến Thế Lữ ở phương
diện nhà phê bình văn học, nhà dịch thuật, nhà nghệ sĩ đa tài, nhà đạo diễn sân
khấu. Song ở luận văn này, chúng tôi muốn nghiên cứu một khía cạnh nhỏ
trong mảng văn xuôi của Thế Lữ đặc biệt là trong truyện trinh thám và truyện
kinh dị để khẳng định Thế Lữ - tác giả tiên phong của thể loại truyện này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài trên, luận văn sẽ nghiên cứu một cách cụ thể những
sáng tác của Thế Lữ giai đoạn 1930 -1945 ở hai lĩnh vực Thơ và Văn xuôi
(không khảo sát nghiên cứu hoạt động sân khấu, báo chí, lý luận, phê bình
văn học). Đặc biệt, luận văn này sẽ làm rõ hơn vị trí tiên phong của Thế Lữ
đối với một số thể loại văn học trong chặng đường văn học 1930 - 1945 nói
riêng và nền văn học nước nhà nói chung. Đúng như nhận định của PGS. TS
Phan Trọng Thưởng: Thế Lữ - Nghệ sĩ hai lần tiên phong và đánh giá của Lê
Đình Kỵ trong lời giới thiệu Tuyển tập Thế Lữ: "Cho đến nay trong lịch sử
văn học Việt Nam không có một tên tuổi nào đáng được xếp bên cạnh Thế Lữ
trong hai loại sáng tác khá độc đáo này" [2b - 55, 56].
4. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Từ các thành tựu nghệ thuật tiêu biểu trên các lĩnh vực Thơ và văn
xuôi, luận văn này nghiên cứu đánh giá vị trí của Thế Lữ với tiến trình văn
học Việt Nam thời kỳ 30 - 45 một cách có hệ thống theo quan điểm nghiên
cứu mới nhất.
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện các nhiệm vụ trên, trong quá trình thực hiện đề tài chúng
tôi chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp lịch sử: Nhằm nghiên cứu tác giả, tác phẩm dưới góc
nhìn của lịch sử văn học để làm nổi bật vị trí, vai trò của Thế Lữ trong tiến
trình văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Trong quá trình triển khai luận văn

chúng tôi sử dụng phương pháp thẩm mĩ truyền thống và phương pháp thống
kê khi tiếp cận tác phẩm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
- Phương pháp so sánh: Với quan điểm lịch sử trên đây luận văn sẽ cố
gắng so sánh Thế Lữ trên cả bình diện lịch đại và đồng đại để góp phần làm
sáng tỏ vai trò "mở đường", "tiên phong" của Thế Lữ đối với văn học Việt
Nam giai đoạn 30 - 45 ở một số thể loại.
6. CẤU TRÖC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Sự xuất hiện của Thế Lữ trong bối cảnh văn học Việt Nam
thời kỳ 30 - 45
Chương 2: Những phẩm chất cách tân trong thơ Thế Lữ
Chương 3: Thế Lữ với những đóng góp về văn xuôi nghệ thuật

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Chương 1
SỰ XUẤT HIỆN CỦA THẾ LỮ TRONG BỐI CẢNH VĂN
HỌC VIỆT NAM THỜI KỲ 30 - 45
1.1. BỐI CẢNH VĂN HOÁ, XÃ HỘI VIỆT NAM THỜI KỲ 1930 - 1945
1.1.1. Vài nét về tình hình chính trị - văn hoá - xã hội
Hiện thực đời sống xã hội không chỉ là đối tượng phản ánh một nền văn
học nhất định mà còn là nhân tố làm nảy sinh chính nền văn học ấy. Theo mối
quan hệ biện chứng này thì vào đầu thế kỷ XX, xã hội nước ta đã xuất hiện
đầy đủ tiền đề cho một nền văn học hiện đại ra đời.
Đến đầu thập kỷ 30 của thế kỷ này, thực dân Pháp đã thực hiện ở Việt
Nam hai cuộc khai thác thuộc địa lớn nhằm bù đắp những thiệt hại kinh tế ở
chính quốc do cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất gây ra. Xã hội Việt Nam do

đó cũng biến đổi theo. Các đô thị mọc lên rất nhanh theo đà phát triển của
kinh tế Tư bản chủ nghĩa. Việc buôn bán bắt đầu sôi động ở các thành phố
lớn. Bộ máy viên chức của thực dân và phong kiến đã có qui mô hoàn chỉnh.
Một tầng lớp tiểu tư sản được hình thành từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ
nhất đến đầu thập kỷ 30 đã phát triển đông đảo và chiếm một tỷ lệ không nhỏ
trong dân số các đô thị. Theo thống kê niên giám của Đông Dương năm 1932
- 1933, số trí thức tân học bao gồm học sinh, sinh viên và viên chức đã lên tới
35 vạn người.
Hầu hết các tầng lớp và giai cấp trên đều sống ở các đô thị. Một lối
sống tư sản hoá được gọi là "văn minh thành thị" lan tràn trong giai cấp tư sản
và tiểu tư sản lớp trên. Lối sống đô thị hoá được thể hiện rõ trong cách ăn mặc
của thanh niên nam nữ. Cuối thập kỷ 30 người ta thấy xuất hiện nhiều thiếu
nữ Hà Thành mặt đánh phấn, môi đỏ chót, áo màu, giày cao gót, chơi ping
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
pông, tennis. Nam thanh niên thành thị giàu sang cũng đua nhau ăn mặc
không kém thiếu nữ.
Có thể nói, những đổi mới trong sinh hoạt của các tầng lớp trên đây sẽ
dẫn đến sự thay đổi suy nghĩ, cảm xúc trong chính bản thân những con người
này. Góp phần vào sự thay đổi đó còn do sự tiếp xúc với văn hoá phương Tây
mà đặc biệt là với văn học lãng mạn Pháp.
Năm 1915, thực dân Pháp và triều đình phong kiến bắt buộc phải bãi bỏ
thi Hương ở Bắc Kỳ. Năm 1919 khoa thi Hội cuối cùng ở Huế đã kết thúc chế
độ khoa thi cử phong kiến. Từ đây, trong các trường học, học sinh bắt đầu say
sưa với văn hoá Pháp mà đặc biệt là văn học lãng mạn Pháp. Người ta bắt đầu
ca ngợi thơ lãng mạn của Huygô, Lamartine, Musset,... Nhiều người rất thích
bài thơ "Le Lac" (Cái hồ) của Lamartine, mê nhân vật Atala trong tác phẩm
cùng tên của Chateaubriand.
Sự tiếp xúc văn hoá trên đây đã đem đến cho tầng lớp thanh niên tiểu tư
sản thành thị những năm 30 của thế kỷ này những tình cảm mới, những rung

động mới. Họ yêu đương mơ mộng, vui buồn không giống các cụ ngày xưa
nữa. Điều này đã được Lưu Trọng Lư nêu lên công khai trong buổi diễn thuyết
ở nhà Học Hội Quy Nhơn hồi tháng 6 năm 1934: "Các cụ ta ưa những màu đỏ
chót ta lại ưa những màu xanh nhạt. Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm
khuya, ta lại nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ. Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây
thơ, các cụ coi như làm một điều tội lỗi ta thì cho là mát mẻ như đứng trước
một cánh đồng xanh. Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối
với ta thì trăm hình muôn trạng, cái tình say đắm, cái tình thoáng qua, cái tình
gần gũi, cái tình xa xôi, cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu..." [5-21].
Sự tiếp xúc với văn hoá phương Tây và lối sống đô thị hoá cũng làm
cho ý thức cá nhân nảy nở và phát triển rất nhanh lấn át ý thức cộng đồng xưa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
cũ. Những con người trong xã hội ngày càng muốn khẳng định cái tôi cá nhân
của mình trong gia đình và cả ngoài xã hội, điều này được biểu hiện rất rõ
trong văn học. Vì vậy, một quan niệm mới về văn chương cũng đồng thời
xuất hiện.
Đến thế kỷ XX, với sự xuất hiện của tầng lớp thị dân đông đảo và lối
sống đô thị hoá, với ảnh hưởng của văn hoá phương Tây... ý thức cá nhân mới
nảy sinh và phát triển mạnh mẽ trong tầng lớp thị dân mà trước hết là ở bộ
phận trí thức tân học. Họ có quan điểm hoàn toàn khác với thế hệ trước về cái
đẹp, về đạo đức, nhân sinh và đặc biệt là về văn hoá nghệ thuật. Họ cho rằng
những quy phạm chặt chẽ của thi pháp cổ đã trở thành vật cản trên chặng
đường tự do dân chủ hoá nền văn học nước nhà. Họ lên tiếng chống lại sự trói
buộc trái tự nhiên của thi pháp cổ mang tính phi ngã đã một thời là mẫu mực
cho các sáng tác văn chương nghệ thuật. Họ đòi hỏi một sự cách tân để thoả
mãn nhu cầu thẩm mỹ mới và để kích thích cá tính sáng tạo trong lĩnh vực
nghệ thuật văn chương.
Có thể nói, lối sống đô thị hoá và sự tiếp xúc văn hoá phương Tây của
một số tầng lớp dân chúng Việt Nam vào những năm 30 của thế kỷ này là tiền

đề quan trọng cho xu hướng hiện đại hoá đời sống xã hội, trong đó có văn
học. Ngoài ra, góp phần không nhỏ vào sự đổi mới của xã hội nói chung và
văn nghệ nói riêng còn phải kể đến vai trò của báo chí.
Từ năm 1913, báo chí bắt đầu đổi mới và có khuynh hướng, chương
trình rõ rệt hơn, hình thức báo chí cũng được cải tiến. Báo chí thời nay được
xuất bản bằng các thứ tiếng Tàu, Pháp, Quốc Ngữ và đôi khi cả chữ Nôm nữa.
Về sau, những trí thức tân học của ta đã cổ động cho chữ quốc ngữ và dùng
nó làm phương tiện phổ biến. Văn hoá, khoa học tiến bộ góp phần thúc đẩy
bánh xe lịch sử tiến lên. Chính báo chí đã hoạt động sôi nổi khiến chính
quyền thực dân và Chính phủ Nam triều phải bãi bỏ chế độ thi cử lỗi thời làm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
cho nền Hán học ở Việt Nam sụp đổ hoàn toàn. Báo chí cũng là diễn đàn để
các nhà nghiên cứu, phê bình văn học trao đổi ý kiến đánh giá tác phẩm, phổ
biến lý luận kinh nghiệm sáng tác. Đặc biệt, báo chí còn góp phần đấu tranh
cho sự thắng lợi của văn hoá tiến bộ, cho sự toàn thắng của chữ quốc ngữ, tạo
điều kiện thuận lợi cho sự đổi mới văn học.
Tham gia vào công cuộc đổi mới có một số tri thức Hán học chịu ảnh
hưởng của sinh hoạt đô thị tư sản và văn hoá phương Tây thông qua Tân Thư
Trung Quốc như Tàn Đà, Nguyễn Bá Học, Hoàng Ngọc Phách, Phan Khôi,...
nhưng chủ yếu vẫn là tầng lớp tri thức tân học. Những cây bút này đã tạo nên
trên văn đàn công khai ở Việt Nam vào những năm 30 của thế kỷ hai trào lưu
văn học là văn học hiện thực và văn học lãng mạn chủ nghĩa. Hai trào lưu này
đều đấu tranh thoát khỏi hệ thống thi pháp cổ trung đại và đã thực sự đóng
góp có hiệu quả vào tiến trình hiện đại hoá nền văn học Việt Nam.
Thế Lữ cũng thuộc kiểu tri thức nghệ sĩ mới tiểu tư sản ở một thuộc địa
nửa phong kiến trong số những văn nghệ sĩ, những nhà hoạt động khoa học xã
hội - nhân văn nói trên. Ông xuất hiện từ năm 1932 và trưởng thành trong 13
năm (1932 - 1945) có một vị trí hết sức quan trọng trong tiến trình hiện đại
hoá văn học nước nhà trước Cách mạng tháng Tám.

1.1.2. Sự nở rộ và phát triển các khuynh hƣớng, nhóm phái văn học
Thời kỳ 1930 - 1945 là thời kỳ đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp
hết sức gay gắt. Từ đó dẫn đến những cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng
và ý thức hệ, sự tác động qua lại hết sức phức tạp của các khuynh hướng và
phương pháp sáng tác khác nhau.
Năm 1930 là năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng đó cũng
là năm xuất hiện phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, mở đầu cho dòng văn học vô
sản và các khuynh hướng lãng mạn, hiện thực phê phán đã phát triển thành
dòng độc lập.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Từ 1923 đến 1931 Nguyễn Công Hoan đã khẳng định phương pháp
hiện thực phê phán trong thể loại truyện ngắn (Răng con chó của nhà tư sản,
Oẳn tà roằn, Thật là phúc, Ngựa người và người ngựa...).
Trong hai năm 1930 - 1931 Ngô Tất Tố viết những tiểu phẩm văn học
nổi tiếng trên các báo phổ thông, Đông Phương với các biệt hiệu Thiết Khẩu
Nhi; Thục Điểu,... Năm 1931 cũng là năm tác phẩm đầu tay của Vũ Trọng
Phụng ra đời (Không một tiếng vang).
Năm 1932 đánh dấu một bước phát triển đột biến của dòng văn học
lãng mạn: Báo Phong hoá; Văn xuôi Tự lực văn đoàn; Phong trào Thơ mới...
Từ 1930 - 1935 cũng nổ ra hàng loạt cuộc tranh luận lớn nhỏ: cuộc tranh luận
về Nho giáo giữa Phan Khôi, Trần Trọng Kim và Tản Đà; cuộc tranh luận
xung quanh vấn đề Thơ mới. Báo Phong Hoá cho đăng hàng loạt phóng sự
dài chủ trương bỏ cũ theo mới. Tất cả những cuộc tranh luận đó phản ánh
cuộc đấu tranh giữa lễ giáo phong kiến, đại gia đình phong kiến với chủ nghĩa
cá nhân tư sản, cuộc đấu tranh của tình cảm cá nhân, ý thức cá nhân chống lại
những khuôn khổ gò bó, lối suy nghĩ và ngôn ngữ khuôn sáo của thơ ca một
lớp nhà nho đã lỗi thời, đã tàn tạ. Tự Lực Văn Đoàn đề xướng phong trào Âu
hoá, đề cập đến cuộc xung đột giữa mới và cũ, lên án gia đình phong kiến,
bênh vực tình yêu lứa đôi, bênh vực chủ nghĩa cá nhân tư sản.

Văn học lãng lạn thời kỳ 30 - 45 gần như chiếm địa vị độc tôn trên thi
đàn văn học công khai. Bắt đầu với nhóm Tự Lực Văn Đoàn và Phong trào
Thơ mới. Ngoài nhóm Phong hoá, Ngày nay còn phải kể đến các nhóm Hà
Nội báo (Huy Thông, Lưu Trọng Lư, Thái Can, Nguyễn Nhược Pháp), Tiểu
thuyết thứ bảy (Thâm Tâm, Trần Huyền Trân; Lai Ba, Ngọc Giao, Thanh
Châu), Tao Đàn (Nguyễn Tuân, Phạm Hầu, Lưu Kỳ Linh), Xuân Thu Nhã
Tập (Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Văn Hạnh, Đoàn Phú Tứ...). Ngoài làng văn
đất Hà Thành còn phải kể đến các nhóm Sông Thương (Bàng Bá Lân, Anh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
Thơ), nhóm Huế (Nam Trân, Nguyễn Đình Thư), nhóm Bình Định (Hàn Mặc
Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê,...).
Ở nước ta, các nhà văn lãng mạn ít khi thành lập trường phái và có
những tuyên ngôn nghệ thuật riêng. Tuy nhiên ở thời kỳ này chúng ta cũng
thấy được quan điểm thẩm mĩ của họ qua một số bài thơ của Thế Lữ (Cây đàn
muôn điệu), Xuân Diệu (Cảm xúc, lời thơ, Gửi hương), những bài phát biểu
của Lưu Trọng Lư trong cuộc tranh luận về nghệ thuật (1935 - 1936) và cuối
cùng người ta đã nghe thấy âm thanh của chủ nghĩa "nghệ thuật vị nghệ thuật"
từ những bản nhạc dạo đầu của Cây đàn muôn điệu của Thế Lữ.
Như vậy, văn học thời kỳ 1930 - 1945 là thời kỳ nở rộ và phát triển các
khuynh hướng, nhóm phái văn học cùng với khuynh hướng văn học hiện thực
phê phán, văn học lãng mạn, đặc biệt là phong trào thơ mới đã góp phần rất
quan trọng trong việc đưa văn học Việt Nam tiến thẳng vào thời kỳ hiện đại.
Một trong những người có công đầu tiên phải kể đến là Thế Lữ - người có vai
trò mở đường cho Thơ mới nói riêng và cho cả giai đoạn văn học 1930 - 1945
nói chung.
1.1.3. Sự xuất hiện một thế hệ nhà văn, nhà thơ tài năng và sự hoàn thiện
về thể loại
Cùng với sự chuyển biến của tình hình xã hội, văn học thời kỳ từ đầu
thế kỷ XX đến năm 1945, đặc biệt từ đầu những năm 30 trở đi, đã phát triển

nhanh chóng đạt nhiều thành tựu to lớn. Chỉ trong vòng hơn một thập niên,
các khu vực các dòng văn học đều vận động, phát triển với nhịp độ khẩn
trương, mau lẹ. Điều đó thể hiện ở sự phát triển về số lượng tác giả và tác
phẩm, sự hình thành và đổi mới các thể loại văn học và độ kết tinh ở những
tác giả, tác phẩm tiêu biểu.
Tiểu thuyết từ trước năm 1930 còn ít ỏi và có phần đơn giản, thậm chí
một số chỉ là phỏng tác. Đến những năm 30, thể loại này trở nên phong phú
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
và thật sự đổi mới, nhất là ở cách dựng truyện, tổ chức kết cấu và xây dựng
tính cách nhân vật. Nhóm Tự lực văn đoàn với những tác phẩm thành công
của Nhất Linh, Khái Hưng đã đẩy cuộc cách tân tiểu thuyết lên một bước mới.
Tiếp đó là những tiểu thuyết có giá trị của Vũ Trọng Phụng. Ngô Tất Tố,
Nguyên Hồng, Nam Cao... đã đưa thể loại này lên đến đỉnh cao.
Truyện ngắn thời kỳ này cũng phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng. Chưa
bào giờ truyện ngắn Việt Nam lại phong phú, đặc sắc như thế: truyện ngắn
trào phúng của Nguyễn Công Hoan; truyện ngắn trữ tình của Thạch Lam,
Thanh Tịnh, Hồ Zếnh, truyện ngắn phong tục của Tô Hoài, Bùi Hiển, Kim
Lân; truyện ngắn có khả năng tạo nên bầu không khí Vang bóng một thời của
Nguyễn Tuân; truyện ngắn viết về đời tư, về cái hằng ngày, dựng lên được cả
thế giới "sống mòn", mang tư tưởng sâu sắc, ý nghĩa khái quát rộng lớn với
nhiều trang phân tích tâm lý đạt tới trình độ bậc thầy của Nam Cao... Chỉ sau
hơn một thập niên, chúng ta đã thấy xuất hiện nhiều truyện ngắn đặc sắc,
trong đó một số truyện ngắn có thể coi là kiệt tác.
Phóng sự và tuỳ bút cũng phát triển mạnh được kết tinh trong những
sáng tác của Tam Lang, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân. Về bút
ký, tuỳ bút phải kể đến Xuân Diệu và đặc biệt là Nguyễn Tuân - một cây bút
tài hoa, độc đáo với nhiều tác phẩm đặc sắc.
Trong lĩnh vực thơ ca, phong trào Thơ mới đã đem lại sự đổi thay sâu
sắc với đội ngũ thi sĩ đông đảo, đa dạng, phong phú về phong cách nghệ thuật.

Hoài Thanh khẳng định trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một
thời đại phong phú như thế: "Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một
lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng
tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như
Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên... và thiết tha
rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu" (Thi nhân Việt Nam).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
Thơ ca cũng là thể loại chủ lực và có giá trị nhất của bộ phận văn học
cách mạng. Đáng chú ý hơn cả là sáng tác của nhà thơ Hồ Chí Minh, Tố Hữu,
Xuân Thuỷ, Sóng Hồng,... trong đó tiêu biểu nhất là những tập thơ sáng tác
trong tù như Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh và Từ Ấy của Tố Hữu. Đây là
hai thành tựu xuất sắc đưa thơ ca cách mạng lên tầm cao mới.
Ở chặng này, kịch nói tiếp tục phát triển, được nhiều thành tựu vượt
trội hơn so với trước đây. Gây được tiếng vang là những vở kịch của Vi
Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ, nhất là những vở kịch khai thác đề tài lịch sử
của Nguyễn Huy Tưởng.
Cùng với sáng tác, nghiên cứu lý luận phê bình văn học cũng phát triển,
đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Có giá trị hơn cả là những công
trình như Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân. Nhà văn hiện đại
của Vũ Ngọc Phan, Văn học Khải Luận của Đặng Thai Mai... đã góp phần
thúc đẩy nền văn học phát triển.
Dường như bất cứ thể loại nào, văn học cũng phát triển ngày càng phát
triển mạnh mẽ. Chính vì phát triển với tốc độ vũ bão như vậy nên không có
cây bút nào giữ được vai trò tiên phong trong suốt chặng đường dài. Đó là
cuộc chạy tiếp sức đầy căng thẳng, quyết liệt và cũng thật ngoạn mục tạo một
nhịp độ khẩn trương, nhanh chóng chưa từng thấy trong lịch sử văn học dân
tộc. Vì vậy, Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại thật có lí khi khẳng định
"Ở nước ta một năm có thể kể như ba mươi năm của người".
Hoà chung trong sự phát triển mạnh mẽ đó chúng ta phải kể đến vai trò

của Thế Lữ trong sự phát triển và hoàn thiện một số thể loại góp phần làm cho
văn học giai đoạn này thực sự có một diện mạo mới, đa dạng, phong phú
mang tính hiện đại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
1.2. VỊ TRÍ, VAI TRÕ CỦA THẾ LỮ TRONG SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT
TRIỂN CỦA MỘT SỐ THỂ LOẠI VĂN HỌC MỚI
Thế Lữ tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, bút hiệu Lê Ta, sinh ngày 06 tháng
10 năm 1907 tại ấp Thái Hà - Hà Nội trong một gia đình viên chức nhỏ. Thuở
nhỏ ở Lạng Sơn sau đó về Hải Phòng học sơ học và thành chung. Năm 1929
học song năm thứ ba bậc thành chung thì về Hà Nội thi đỗ dự thinh vào
trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương, học được một năm thì bỏ.
Có thể nói, Nguyễn Thế Lữ thuộc vào một số ít những nghệ sĩ đa tài
của nền văn học nghệ thuật trước cách mạng. Thế Lữ là "khởi điểm của
những khởi điểm".
Khi sống ở Hải Phòng, lúc chỉ mới mười tám, đôi mươi Thế Lữ đã viết
truyện, làm thơ. Khi nền văn học nước nhà bước vào thời kỳ hiện đại hoá văn
học, Thế Lữ bắt đầu được mời làm báo Phong hoá, sau đó ra nhập Tự lực văn
đoàn là người sáng lập văn phái này. Ông là nhà báo, người biên tập nòng cốt,
mẫn cán của hai tờ Phong hoá và Ngày nay.
Về văn xuôi nghệ thuật, Thế Lữ cũng có những đóng góp đáng kể ở thể
loại truyện trinh thám, truyện huyễn tưởng như là mở đầu một thể tài mới,
một cách viết mới.
Trong khi các tiểu thuyết gia văn học hiện thực phê phán như Ngô Tất
Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao,... đang trực tiếp dùng ngòi bút của mình để
phơi bầy sự xấu xa, thối nát của xã hội thực dân nửa phong kiến đang đè nặng
lên tâm hồn và thể xác của những người dân lương thiện, trong khi các tác giả
văn xuôi Tự lực văn đoàn đang tập trung miêu tả những câu chuyện tình
ngang trái do lề thói phong kiến cổ hủ gây ra thì Thế Lữ cho ra đời một loạt
sáng tác khác hẳn: ông viết truyện trinh thám và các "truyện lạ" theo kiểu

Etga Pô.

×