Tải bản đầy đủ (.pdf) (110 trang)

Huyện phú bình tỉnh thái nguyên qua tư liệu địa bạ triều nguyễn nửa đầu thế kỉ xix.pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.87 MB, 110 trang )

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM






NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC







AN TOÀN KHU ĐỊNH HOÁ
TRONG CĂN CỨ ĐỊA KHÁNG CHIẾN
VIỆT BẮC




L
L
U
U



N
N


V
V
Ă
Ă
N
N


T
T
H
H


C
C


S
S
Ĩ
Ĩ


L
L



C
C
H
H


S
S

















Thái Nguyên, năm 2008

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM







NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC








AN TOÀN KHU ĐỊNH HOÁ
TRONG CĂN CỨ ĐỊA KHÁNG CHIẾN
VIỆT BẮC


Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số : 60 22 54


L

L
U
U


N
N


V
V
Ă
Ă
N
N


T
T
H
H


C
C


S
S
Ĩ

Ĩ


L
L


C
C
H
H


S
S






NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN XUÂN MINH








Thái Nguyên, năm 2008
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
LỜI CẢM ƠN


Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Xuân Minh, người đã
tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã giúp đỡ, động viên và
tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn những nhận xét, đánh giá của Hội đồng Khoa
học bảo vệ luận văn.
Tôi cũng xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cơ quan, đơn vị, những
người thân, đồng nghiệp và bạn bè đã động viên giúp đỡ để tôi hoàn thành
khoá học và bảo vệ thành công luận văn này !

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 9 năm 2008
Ngƣời thực hiện




Nguyễn Thị Bích Ngọc




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
MỤC LỤC


MỞ ĐẦU Trang
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài 4
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5. Đóng góp của đề tài nghiên cứu 6
6. Bố cục của đề tài 7

CHƢƠNG 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH AN TOÀN KHU ĐỊNH HOÁ
TRONG CĂN CỨ ĐỊA KHÁNG CHIẾN VIỆT BẮC.
1.1. Huyện Định Hoá - một địa bàn chiến lược trong căn cứ địa Việt Bắc. 8
1.2. Truyền thống yêu nước và cách mạng của nhân dân các
dân tộc huyện Định Hoá. 14
1.3. Quá trình hình thành An toàn khu Định Hoá. 28

CHƢƠNG 2: XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ AN TOÀN KHU ĐỊNH HOÁ TRONG
CĂN CỨ ĐỊA KHÁNG CHIẾN VIỆT BẮC.
2.1. Quá trình xây dựng An toàn khu Định Hoá. 33
2.1.1. Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. 33
2.1.2. Xây dựng nền kinh tế kháng chiến tự cấp tự túc. 38
2.1.3. Đẩy mạnh công tác văn hoá - giáo dục, y tế. 41
2.2. Công tác bảo vệ An toàn khu Định Hoá. 45
2.2.1. Tổ chức lực lượng bảo vệ. 45
2.2..2. Hình thức và biện pháp bảo vệ. 51
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
CHƢƠNG 3: VỊ TRÍ, VAI TRÕ CỦA AN TOÀN KHU ĐỊNH HOÁ TRONG
CĂN CỨ ĐỊA KHÁNG CHIẾN VIỆT BẮC.
3.1. An toàn khu Định Hoá là một bộ phận quan trọng nhất trong căn cứ

địa Việt Bắc nói chung và An toàn khu Trung ương nói riêng. 61
3.2. An toàn khu Định Hoá là một trong những nơi thực hiện chế độ
dân chủ mới. 67
3.3. An toàn khu Định Hoá là một trong những nơi xác lập các mối
quan hệ ngoại giao. 70
3.4. An toàn khu Định Hoá làm tròn vai trò hậu phương kháng chiến. 75
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU

1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư gửi đồng bào các tỉnh Cao, Bắc, Lạng
ngày 2 tháng 9 năm 1947 đã khẳng định vai trò to lớn của căn cứ địa Việt Bắc
đối với sự phát triển của phong trào cách mạng cả nước như sau: “Cách mạng
đã do Việt Bắc mà thành công thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi”
[48, tr.15]. Việt Bắc, nơi mà “lòng yêu nước của đồng bào hoà nhập với hình
thế hiểm trở của núi sông thành một lực lượng vô địch” [44, tr.366] đã được
lịch sử chứng minh là hậu cứ vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến
thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp.
Căn cứ địa Việt Bắc là nơi Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh
triển khai và xúc tiến mạnh mẽ quá trình chuẩn bị cuộc tổng khởi nghĩa, xây
dựng lực lượng vũ trang tập trung, lãnh đạo và động viên nhân dân cả nước
đứng lên giành chính quyền tháng 8 năm 1945. Trong kháng chiến chống thực
dân Pháp, Việt Bắc được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết
định xây dựng và củng cố làm chỗ đứng chân của các cơ quan đầu não lãnh
đạo kháng chiến.

Trong căn cứ địa Việt Bắc, các huyện Định Hoá, Đại Từ, Phú Lương, Võ
Nhai (tỉnh Thái Nguyên), Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hoá (tỉnh Tuyên
Quang), Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn), trong đó trung tâm là Định Hoá, Chợ Đồn,
Sơn Dương, Yên Sơn, được chọn làm nơi xây dựng An toàn khu Trung ương.
An toàn khu Trung ương Định Hoá nằm ở trung tâm căn cứ địa Việt Bắc,
nơi có địa thế hiểm trở “tiến có thể đánh, lui có thể giữ”, có đầy đủ yếu tố địa
lợi, nhân hoà, đã trở thành địa bàn hoạt động an toàn của các cơ quan đầu não
kháng chiến. Từ nơi đây, Trung ương Đảng, Chính phủ lãnh đạo sự nghiệp
kháng chiến, kiến quốc, tiến hành các hoạt động ngoại giao tranh thủ sự đoàn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
kết, ủng hộ của thế giới đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Cũng tại
đây, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho ra đời
những chủ trương, đường lối quan trọng, những quyết sách có ý nghĩa chiến
lược đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.
Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong
suốt thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân các dân tộc huyện
Định Hoá sớm nhận thức được trách nhiệm to lớn của mình, đã vượt qua mọi
khó khăn, gian khổ, phát huy cao độ truyền thống đấu tranh và những thế
mạnh của địa phương, làm tròn vai trò của một An toàn khu Trung ương trong
căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc.
Nghiên cứu “An toàn khu Định Hoá trong căn cứ địa kháng chiến Việt
Bắc” giúp chúng ta hiểu một cách sâu sắc và toàn diện hơn về sự lãnh đạo
đúng đắn, sáng suốt của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng
như vai trò to lớn của nhân dân các dân tộc Việt Bắc nói chung và Định Hoá
nói riêng đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Nghiên cứu đề tài này còn giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tầm nhìn chiến
lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng, củng cố căn cứ địa Việt
Bắc, trong đó có An toàn khu Định Hoá và càng có điều kiện để hiểu sâu sắc
rằng, căn cứ địa (trong đó có An toàn khu Trung ương) là một trong những

nhân tố quan trọng, quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến.
Là một giáo viên bộ môn Lịch sử ở trường Trung học phổ thông, nghiên
cứu đề tài này giúp tôi có thêm nguồn tư liệu phong phú để nâng cao chất
lượng giảng dạy. Thông qua đó sẽ góp phần vào việc giáo dục truyền thống
cách mạng, niềm tự hào về quê hương cho thế hệ trẻ.
Xuất phát từ những lí do trên đây, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “An
toàn khu Định Hoá trong căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc” làm Luận văn
Thạc sỹ khoa học Lịch sử.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Vấn đề “An toàn khu Định Hoá trong căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc”
đã được đề cập trong không ít các tác phẩm với các góc độ khác nhau.
Cuốn “Bắc Thái: Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 -
1954)” của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bắc Thái xuất bản năm 1990 đã phản ánh
tương đối sinh động cuộc chiến tranh “toàn dân, toàn diện” của nhân dân các
dân tộc và các lực lượng vũ trang trên địa bàn hai tỉnh Bắc Kạn và Thái
Nguyên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Cuốn sách đề cập một
số nét về sự ra đời ATK Định Hoá và cuộc chiến đấu bảo vệ ATK Định Hoá
trong Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947.
Cuốn “Căn cứ địa Việt Bắc (1940 - 1945)” của TS. Hoàng Ngọc La - Nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995 đã đề cập đến vị trí chiến lược, truyền
thống đấu tranh trong lịch sử và khẳng định vai trò vô cùng quan trọng của căn
cứ địa Việt Bắc đối với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Cuốn “Lịch sử ATK Định Hoá trong kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược (1945 - 1954)” của TS. Nguyễn Xuân Minh và Nguyễn Xuân Hùng
- Huyện uỷ Định Hoá xuất bản năm 1997, đã trình bày một cách chân thực
quá trình xây dựng và bảo vệ ATK, sự đóng góp to lớn của nhân dân các dân
tộc Định Hoá trong kháng chiến.
Cuốn “Hồ Chí Minh với việc xây dựng ATK Định Hoá trong căn cứ địa

Việt Bắc” (Kỷ yếu hội thảo khoa học) - Sở Văn hoá Thông tin Thái Nguyên
xuất bản năm 2004, tập hợp nhiều bài viết của các cán bộ cao cấp của Đảng,
Chính phủ, Quân đội, đồng thời là những nhân chứng lịch sử từng sống, làm
việc tại ATK Định Hoá và của các nhà nghiên cứu lịch sử trong nước. Mỗi
bài viết đề cập đến ATK Định Hoá ở những khía cạnh khác nhau, song đều
tập trung làm nổi bật vấn đề sự lựa chọn Định Hoá làm ATK Trung ương
trong căn cứ địa Việt Bắc là một quyết định hết sức đúng đắn của Chủ tịch Hồ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
Chí Minh, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Người trong sự nghiệp lãnh đạo
cách mạng Việt Nam.
Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Định Hoá (1930 - 2000)” do Huyện uỷ
(huyện) Định Hoá xuất bản năm 2000 đã phần nào khái quát về điều kiện tự
nhiên, lịch sử hình thành, đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của huyện. Cuốn
sách đã trình bày tương đối có hệ thống 55 năm đấu tranh của Đảng bộ và
nhân dân các dân tộc trong huyện, kể từ khi Đảng bộ ra đời, với những diễn
biến trong từng thời kì lịch sử, trong đó có một thời kì lịch sử sôi động gắn
liền với quá trình xây dựng và bảo vệ ATK - một trong những trung tâm của
Thủ đô kháng chiến trong căn cứ địa Việt Bắc.
Ngoài ra còn có các tác phẩm viết dưới dạng hồi ký, bút ký, ghi chép…
khắc hoạ khá trung thực về hoạt động, về tình cảm gắn bó sâu sắc của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí trong các cơ quan của Trung ương Đảng,
Chính phủ, Bộ Tổng tư lệnh… với đồng bào Việt Bắc nói chung và Định Hoá
nói riêng.
Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu hoàn
chỉnh, hệ thống về An toàn khu Định Hoá trong căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc.
Những công trình đã được công bố nói trên là những tư liệu quý giá và
thực sự có ích giúp chúng tôi hoàn thành Luận văn này.
3. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về An toàn khu Định Hoá trong căn cứ
địa kháng chiến Việt Bắc.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên trong mối quan hệ
với ATK Trung ương ở Việt Bắc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Về thời gian: Từ đầu năm 1947 khi Định Hoá trở thành trung tâm An
toµn khu trong căn cứ địa Việt Bắc, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương
Đảng, Chính phủ, Bộ Tổng Tư lệnh… đặt bản doanh lãnh đạo cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp đi đến thắng lợi năm 1954.
3.3. Nhiệm vụ của đề tài:
- Làm rõ vị trí chiến lược của vùng Việt Bắc nói chung và nhất là huyện
Định Hoá nói riêng.
- Quá trình hình thành ATK Định Hoá. Trên cơ sở đó làm rõ tầm
nhìn chiến lược của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong
việc chọn căn cứ địa Việt Bắc làm nơi xây dựng An toàn khu (trong đó
có ATK Định Hoá).
- Quá trình xây dựng, củng cố và bảo vệ ATK Định Hoá.
- Xác định vị trí, vai trò của ATK Định Hoá trong căn cứ địa Việt Bắc.
- Bước đầu đề xuất một số ý kiến về việc bảo tồn và phát huy giá trị của
khu di tích An toàn khu Định Hoá.
4. NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Nguồn tài liệu:
Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi đã sử dụng nhiều nguồn tài liệu
khác nhau:
- Các văn kiện của Đảng và Nhà nước; các bài nói, bài viết của Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Nguồn tư liệu này giúp
chúng tôi có quan điểm, phương hướng, cách nhìn nhận, đánh giá một cách
đúng đắn tầm quan trọng, vai trò của căn cứ địa (trong đó có an toàn khu) đối

với phong trào cách mạng nói chung, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
nói riêng.
- Các chỉ thị, nghị quyết của Liên Khu uỷ Việt Bắc, Tỉnh uỷ Thái Nguyên
và Huyện uỷ Định Hoá được lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia III, bộ phận
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
lưu trữ thông tin ; Trung tâm Văn thư lưu trữ Tỉnh uỷ và UBND tỉnh Thái
Nguyên; Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng tỉnh Thái Nguyên, Nhà Trưng bày
ATK Định Hoá. Đây là nguồn tư liệu quan trọng giúp chúng tôi cơ sở để
nghiên cứu đề tài này.
- Các công trình nghiên cứu về lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, lịch
sử Đảng bộ huyện Định Hoá, lịch sử Đảng bộ các xã thuộc huyện Định Hoá.
- Chúng tôi còn sử dụng các tài liệu hồi ký, nhật ký, bài viết của các
đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các tướng lĩnh và cựu chiến binh Quân
đội nhân dân Việt Nam, của các vị lão thành cách mạng và nhân chứng lịch sử
đã từng sống và làm việc tại ATK Định Hoá.
- Các công trình khoa học của các nhà nghiên cứu Lịch sử, các kỷ yếu
hội thảo khoa học đã được công bố.
- Các tài liệu thu được trong các đợt điền dã Khu di tích lịch sử ATK
Định Hoá.
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử
kết hợp với phương pháp lôgíc là chủ yếu. Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng
phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, phương pháp khảo sát điền dã.
5. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU:
- Trên cơ sở hệ thống hoá các nguồn tài liệu, kế thừa kết quả của các
công trình nghiên cứu trước, Luận văn là công trình đầu tiên trình bày
một cách hệ thống về An toàn khu Định Hoá trong căn cứ địa kháng chiến
Việt Bắc.
- Từ kết quả của quá trình nghiên cứu, Luận văn góp phần đánh giá một

cách đúng đắn, khoa học về vị trí, vai trò của ATK Định Hoá - một địa bàn
chiến lược quan trọng trong căn cứ địa Việt Bắc, một trong những trung tâm
của Thủ đô kháng chiến.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
- Thông qua quá trình nghiên cứu, Luận văn mạnh dạn đưa ra một số ý
kiến đóng góp phục vụ cho việc nâng cao hiệu quả của công tác bảo tồn, phát
huy giá trị của khu di tích lịch sử ATK.
- Luận văn còn là tài liệu tham khảo phục vụ cho việc giảng dạy, học tập
lịch sử địa phương.
6. BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn
gồm có 3 chương:
- Chương 1: Quá trình hình thành An toàn khu Định Hoá trong căn cứ
địa kháng chiến Việt Bắc.
- Chương 2: Xây dựng và bảo vệ An toàn khu Định Hoá trong căn cứ
địa Việt Bắc.
- Chương 3: Vị trí, vai trò của An toàn khu Định Hoá trong căn cứ địa
kháng chiến Việt Bắc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Chƣơng 1

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH AN TOÀN KHU ĐỊNH HOÁ
TRONG CĂN CỨ ĐỊA KHÁNG CHIẾN VIỆT BẮC

1.1. ĐỊNH HOÁ - MỘT ĐỊA BÀN CHIẾN LƢỢC TRONG CĂN CỨ ĐỊA VIỆT BẮC
Viêt Bắc là tên gọi một vùng lãnh thổ thuộc thượng du và trung du Bắc
Bộ; phía bắc và đông bắc giáp nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa; phía
đông nam giáp tỉnh Quảng Ninh; phía nam giáp đồng bằng Bắc Bộ; phía tây

giáp các tỉnh thuộc Tây Bắc.
Nằm kề sát đất nước Trung Hoa rộng lớn vốn có mối quan hệ chặt chẽ
với cách mạng Việt Nam từ nhiều năm trước, cùng chung dải biên giới, với
chiều dài 751km, đi qua địa phận 15 huyện, 97 xã, Việt Bắc có điều kiện
thông thương quốc tế thuận lợi.
Khu vực trung tâm của Việt Bắc gồm các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái
Nguyên, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang. Khu vực ngoại vi gồm một số
địa phương thuộc địa phận các tỉnh: Vĩnh Yên, Phúc Yên (nay là Vĩnh Phúc),
Phú Thọ, Yên Bái và Bắc Giang.
Việt Bắc có diện tích tự nhiên khoảng: 32991km2 (gần 1/10 diện tích cả
nước). Rừng núi chiếm khoảng 90% diện tích của khu, chủ yếu ở cá tỉnh: Cao
Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Bắc Kạn và phần lớn các
tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên, một phần phía bắc các tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên,
Bắc Giang. Núi rừng Việt Bắc trùng điệp với những vùng núi đất, rừng già
xen những dãy núi đá vôi. Trên các dãy núi có nhiều hang động. đó chính là
nơi ẩn nấp và cất giấu lương thực, thực phẩm khá an toàn của đồng bào các
dân tộc mỗi khi có giặc ngoại xâm. Trong cuộc vận động Cách mạng tháng
Tám, Việt Bắc đã từng là căn cứ địa, nơi đứng chân vững chắc của các cơ
quan lãnh đạo của Đảng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Việt Bắc có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, rừng
bạt ngàn với nhiều loại lâm, thổ sản, thú rừng. Đất đai ở những vùng đồi,
thung lũng thuận lợi cho việc trồng trọt và chăn nuôi. Việt Bắc có điều kiện
để xây dựng một nền kinh tế tự cấp tự túc. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng đối với một nước chưa có kinh tế hàng hoá, giao thông khó khăn như
nước ta, lại bị các thế lực thù địch bao vây, phong toả. Đất đai và sản vật của
vùng rừng núi rộng lớn, đa dạng có thể đảm bảo cung cấp một phần quan
trọng về hậu cần giúp lực lượng kháng chiến tồn tại và phát triển.
Việt Bắc có nhiều sông, suối, ao, hồ. Những con sông lớn (sông Hồng,

sông Đà, sông Lô…) đều phát nguyên từ Trung Quốc, xuyên qua Việt Bắc đổ
về đồng bằng Bắc Bộ, rồi chảy ra biển. Một số con sông (Kì Cùng, Bằng
Giang…) bắt nguồn từ địa phận Việt Bắc rồi chảy sang Trung Quốc. Những
đoạn sông chảy qua vùng thượng du thường có lòng hẹp, nhiều thác ghềnh
hiểm trở và có độ dốc khá lớn. Vào mùa mưa, từ tháng 3 đến tháng 8, nước lũ
hay dâng cao đột ngột, dòng sông chảy xiết, ảnh hưởng không tốt đến cơ động
lực lượng và giao thông vận tải. Vào mùa khô, dòng sông cạn, thuyền bè khó
đi lại .
Cùng với sông ngòi, khe suối, Việt Bắc có các đường bộ, đường sắt được
xây dựng từ thời thuộc Pháp. Những con đường này phần lớn xuất phát từ Hà
Nội, toả ra các hướng, đi qua các tỉnh trong khu Việt Bắc, đến tận biên giới
Việt - Trung. Có nhiều đoạn đường chạy ven theo các sườn núi cao, một bên
là vách đá dựng đứng, một bên là sông sâu vực thẳm. Ngoài các con đường
lớn là hệ thống đường đất nhỏ, đường mòn, nối liền các vùng trong khu với
nhau, giữa khu với các vùng lân cận và giữa các địa phương hai bên biên giới
Việt - Trung. Với hệ thống các đường thuỷ, bộ, địa hình dốc, núi rừng hiểm
trở, việc giao thông, nhất là giao thông bằng phương tiện cơ giới trên địa phận
Việt Bắc gặp nhiều khó khăn. Ngược lại, địa thế đó rất thuận lợi cho hoạt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
động cách mạng thời kỳ trứng nước, đặc biệt là cho việc thực hiện chiến tranh
du kích [45, tr.12].
Việt Bắc là một địa bàn rất cơ động về chiến lược. Thông qua hệ thống
đường mòn, từ Việt Bắc, phong trào cách mạng Việt Nam có thể liên lạc dễ
dàng với quốc tế, trước hết là cách mạng Trung Quốc. Từ Việt Bắc, phong
trào cách mạng có thể mở rộng sang hướng Tây Bắc để liên lạc với cách
mạng Lào. Ở hướng đông, Việt Bắc nối liền với rừng núi Quảng Ninh, Đông
Triều, kéo dài xuống tận miền duyên hải. Về phía nam, Việt Bắc giáp với Thủ
đô Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ, thuận lợi cho việc mở rộng phong trào cách
mạng xuống miền xuôi. Vì thế, về mặt quân sự mà xét, Việt Bắc là nơi dụng

binh lợi hại.
Ở Việt Bắc, trước Cách mạng tháng Tám có khoảng 1.200.00 dân, thuộc
30 thành phần dân tộc anh em, đông nhất là dân tộc Việt sống tập trung ở
trung du và các thị xã, thị trấn; dân tộc Tày chủ yếu sống ở vùng núi thấp; dân
tộc Nùng sống ở vùng giáp biên giới Việt - Trung. Còn các dân tộc khác như
Dao, Cao Lan, Sán Chí, H’Mông ... sống ở triền núi cao hoặc xen kẽ với các
dân tộc khác. Mỗi dân tộc có một nền văn hoá độc đáo, phong tục, tập quán,
tiếng nói riêng… nhưng nét nổi bật chung là truyền thống yêu nước, đoàn kết
và đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm trong suốt quá trình lịch sử dựng
nước và giữ nước. Từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng bào các dân tộc
Việt Bắc một lòng son sắt đi theo Đảng, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh
chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Việt Bắc có cơ sở Đảng, cơ sở cách mạng ngay từ năm 1930. Những căn
cứ đầu tiên của cách mạng nước ta cũng được thành lập tại Việt Bắc. Cao
Bằng là nơi có phong trào cách mạng sớm nhất và vững chắc đã trở thành chỗ
đứng chân, là một trong hai trung tâm căn cứ địa cách mạng đầu tiên của cả
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
nước. Sau khi thực hiện chủ trương “Nam tiến”, căn cứ địa Cao Bằng nối với
căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai, tạo thành thế liên hoàn vững chắc, để trên cơ
sở đó, đến tháng 6 năm 1945, Khu Giải phóng chính thức ra đời gồm 6 tỉnh
Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Hà Giang.
Tân Trào (Tuyên Quang) trở thành Thủ đô của Khu Giải phóng. Tại Tân
Trào, những quyết định quan trọng liên quan tới cuộc tổng khởi nghĩa trên
toàn quốc đã được phát đi. Việt Bắc còn là nơi phát sinh và phát triển các đơn
vị vũ trang đầu tiên của Đảng, là nơi xuất phát và là bàn đạp vững chắc để
tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8 năm 1945. Có thể nói
rằng, Việt Bắc đã đóng vai trò quan trọng cho thắng lợi của cuộc Cách mạng
tháng Tám, xứng đáng là quê hương cách mạng dựng nên nền cộng hoà.
Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, với một tầm nhìn chiến lược,

Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch đã chọn vùng rừng núi Việt Bắc làm căn cứ
địa chủ yếu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Định Hoá (Thái Nguyên) là một vùng đất nằm sâu trong căn cứ địa Việt
Bắc, cách thành phố Thái Nguyên 50 km về phía bắc, có diện tích khoảng
520km
2
, trung tâm huyện lỵ là thị trấn Chợ Chu.
Định Hoá có đường ranh giới tiếp giáp 6 huyện: Phía bắc giáp Chợ Đồn,
Bạch Thông (Bắc Kạn); phía nam giáp Đại Từ; phía đông giáp Phú Lương;
phía tây giáp Sơn Dương và Yên Sơn (Tuyên Quang).
Địa hình Định Hoá khá phức tạp và hiểm trở. Cả huyện là một thung
lũng lòng chảo lớn được bao bọc bởi dãy núi cao dựng đứng ở phía Đông -
Bắc, có dãy núi Hồng án ngữ ở phía Tây - Nam. Địa hình Định Hoá phân làm
hai vùng: Phần Bắc huyện, bao gồm các xã: Linh Thông, Quy Kỳ, Lam Vĩ,
Tân Thịnh, Kim Phượng, Kim Sơn, Phúc Chu và Bảo Linh là vùng núi cao,
độ dốc khá lớn. Các dãy núi chạy từ tây bắc xuống đông nam, trong đó có dãy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
núi đá vôi thuộc phần cuối cùng của cách cung sông Gâm, chạy từ phía bắc
qua thị trấn Chợ Chu và dừng lại ở xã Trung Hội, tạo nên bức tường thành ở
phía Đông thị trấn. Dãy núi này có độ cao từ 200m - 400m, có nhiều hang
động có sức chứa tới vài trăm người, khi cần thiết có thể dùng làm kho tàng
hoặc nơi trú quân. Vì địa thế vùng phía Bắc phần lớn là núi cao, rừng già, lại
nhiều khe suối nhỏ, đồng ruộng ít, nên dân cư thưa thớt.
Phần phía Nam Định Hoá bao gồm thị trấn Chợ Chu và các xã Bảo
Cường, Trung Hội, Trung Lương, Tân Dương, Định Biên, Đồng Thịnh,
Phượng Tiến, Thanh Định, Bình Yên, Điềm Mặc, Sơn Phú, Phú Đình, Phú
Tiến, Bộc Nhiêu, Bình Thành. Đây là vùng đồi núi xen kẽ, có độ cao khoảng
từ 50m đến 200m, có nhiều rừng già và những cánh đồng rộng, đất đai phì
nhiêu, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và đời sống của con người nên dân

cư tập trung đông đúc hơn vùng phía Bắc huyện. Đặc biệt rừng các xã phía
Nam có nhiều cây cọ, lá dùng để lợp nhà, cuộng dùng làm mành, thân cọ làm
kèo, xà nhà. Cọ là loại cây đặc trưng của Định Hoá, có giá trị kinh tế, phục vụ
tốt cho nhu cầu thiết yếu của nhân dân trong huyện. Hơn nữa, trong kháng
chiến, rừng Định Hoá với các loại gỗ, tre, nứa, cọ sẽ có khả năng đáp ứng
một cách nhanh chóng, kịp thời việc xây dựng nhà ở, lán, trại cho các cơ quan
và đơn vị bộ đội đóng quân.
Định Hoá có nhiều sông suối, nhưng không rộng, không có khả năng lớn
về giao thông đường thuỷ. Sông suối Định Hoá quanh năm có nước và là
nguồn cung cấp nước chủ yếu cho việc canh tác và sinh hoạt của nhân dân
trong huyện.
Là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, Định Hoá tuy chỉ có 10%
diện tích đất canh tác, nhưng với một số cánh đồng phì nhiêu và hệ thống
sông suối tưới nước tự nhiên, nên nơi đây có khả năng phát triển các cây
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
lương thực, thực phẩm và chăn nuôi gia súc, gia cầm. các xã vùng phía Nam
Định Hoá là vựa lúa của huyện. Rừng núi Định Hoá có nhiều loại lâm thổ sản,
nuông thú, cây dược liệu quý. Đây là những cơ sở thuận lợi của nền kinh tế tự
cấp tự túc - một yếu tố quan trọng trong xây dựng căn cứ địa, an toàn khu.
Địa hình Định Hoá phức tạp, rừng núi chiếm tới 90%, lại có nhiều khe
suối, đèo dốc nên hệ thống đường giao thông hầu như chưa phát triển. Khi thực
dân Pháp chiếm đóng Định Hoá, để phục vụ cho mục đích cai trị, đàn áp và
khai thác thuộc địa, chúng xây dựng con đường 38 chạy từ Km 31 (Quốc lộ 3)
đi Chợ Chu, rồi từ đây chúng mở đường nối liền Thành Cóc (Sơn Dương,
Tuyên Quang), đồn Nghĩa Tá (Chợ Đồn), đồn Quảng Nạp và Phú Minh (Đại
Từ). Những đoạn đường này chỉ có loại ô tô vận tải nhỏ đi được. Ngoài ra, hệ
thống đường mòn cho người đi bộ và đi ngựa thì chằng chịt, ngang dọc khắp
huyện. Từ những con đường xuyên sơn này, những đoàn người dễ dàng luồn
rừng đi Sơn Dương, xuống Đại Từ, lên chợ Đồn, ra Phú Lương, cơ động

trong cả một vùng rừng núi đại ngàn giáp ranh giữa 3 tỉnh Thái Nguyên,
Tuyên Quang và Bắc Kạn, nối liền với các căn cứ của ta trong căn cứ địa Việt
Bắc. Từ Định Hoá theo các đường mòn và những lối đi kín đáo, thuận tiện
dựa vào sườn dãy núi Tam Đảo tiến về Sơn Tây, Hoà Bình lên Tây Bắc,
vào Khu 4 hoặc tạt xuống đồng bằng sông Hồng dễ dàng. Từ đây, dùng
ngựa men theo các triền núi qua Bắc Kạn - Cao Bằng ra Biên giới Việt -
Trung thuận lợi.
Chính điều kiện địa lý tự nhiên như vậy đã tạo thành thế “thiên hiểm”
ngăn cản sự tiến công và đóng giữ của địch, hạn chế tới mức tối đa uy lực vũ
khí và phương tiện chiến tranh hiện đại của kẻ thù. Ngược lại, Định Hoá lại là
địa bàn có nhiều điều kiện thuận lợi để ta xây dựng thành An toàn khu của
Trung ương. Nơi đây, với những cánh rừng già đại ngàn, càng đi sâu vào nội
huyện, rừng càng rậm rạp, tạo thành bức màn che phủ đường đi lối lại và nhà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
ở bên trong là địa điểm tuyệt đối bí mật, kẻ địch khó phát hiện, do đó Định
Hoá có thể bảo vệ an toàn cho cán bộ, lực lượng vũ trang và các cơ quan
kháng chiến của ta. Địa thế Định Hoá hiểm trở, là nơi “tiến có thể công, thoái
có thể thủ”. Khi bị tấn công, lực lượng cách mạng có thể chốt giữ, tổ chức
những cuộc chiến đấu chặn đánh để bảo toàn lực lượng; hoặc có thể nhanh
chóng di chuyển lực lượng, kho tàng, cơ quan đi các vùng xung quanh. Từ
Định Hoá có thể xuất phát tiến công địch ở những nơi khác, khi thắng có thể
tiến về vùng châu thổ sông Hồng, khi lui, lại về dựa vào địa thế rừng núi,
đứng chân an toàn.
Định Hoá là địa bàn chiến lược cơ động. Từ đây có thể thông thương với
các địa phương trong căn cứ địa Việt Bắc, với các tỉnh miền xuôi và cả nước.
“Định Hoá cùng với các huyện Chợ Đồn, Sơn Dương, Yên Sơn tạo thành thế
chân kiềng với nhiều lợi thế, thuận tiện cho việc thay đổi nơi ở, nơi làm việc
từ huyện này sang huyện khác, tỉnh này sang tỉnh khác. Chặng đường di
chuyển đó không quá xa nơi đóng các cơ quan Trung ương Đảng và Chính

Phủ, nên luôn bảo đảm kịp thời cho sự lãnh đạo, chỉ đạo quân dân ta trong
cuộc kháng chiến” [62, tr.58]
Với vị thế, địa hình và những điều kiện tự nhiên như vậy, Định Hoá thực sự
là một địa bàn chiến lược quan trọng trong căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc.
1.2. TRUYỀN THỐNG YÊU NƢỚC VÀ CÁCH MẠNG CỦA NHÂN DÂN CÁC
DÂN TỘC HUYỆN ĐỊNH HOÁ
Định Hoá là một địa bàn quần cư của nhiều thành phần dân tộc như Tày,
Nùng, Kinh, Dao, Cao Lan - Sán Chay, Mông, Hoa. Tuy ngôn ngữ và phong
tục tập quán khác nhau, song lòng yêu quê hương đất nước đã cố kết họ lại
thành một khối vững chắc. Nhân dân các dân tộc Định Hoá có truyền thống
đấu tranh chống giặc ngoại xâm rất vẻ vang.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Ngay từ thời dựng nước, nhân dân các dân tộc Định Hoá đã không
ngừng đấu tranh, bảo vệ và củng cố nền độc lập của Tổ quốc. Thời Bắc
thuộc, dưới ách thống trị của các thế lực phong kiến phương Bắc xâm lược,
nhân dân các dân tộc Định Hoá liên tục nổi dậy, góp phần cùng nhân dân cả
nước giành độc lập cho dân tộc.
Nửa đầu thế kỉ XIX, nhân dân các dân tộc Định Hoá anh dũng nổi dậy
khởi nghĩa chống lại triều đình phong kiến nhà Nguyễn. Tiêu biểu là vào năm
1883, đông đảo nhân dân Định Hoá đã hưởng ứng cuộc khởi nghĩa do Nông
Văn Vân lãnh đạo chiếm thành Thái Nguyên, làm cho quan quân triều đình
nhà Nguyễn khốn đốn. Nhân dân Định Hoá không chỉ đấu tranh chống ách áp
bức bóc lột của giai cấp phong kiến nhà Nguyễn mà còn phải đấu tranh chống
lại nạn cướp bóc của bọn thổ phỉ từ bên kia biên giới phía Bắc tràn sang nước
ta, do Tạ Văn Sơn và Lê Khai Nguyên cầm đầu. Đặc biệt, năm 1867, sau khi
thất bại và bị triều đình Mãn Thanh đánh dẹp, khoảng hơn 2000 tàn quân của
phong trào nông dân "Thái Bình Thiên Quốc" dô Ngô Côn cầm đầu vượt biên
giới, chạy vào Việt Nam và trở thành thổ phỉ đi cướp bóc, tàn phá, giết hại
dân lành. Trong số đó, khoảng 1000 quân do Lường Tam Kỳ - một phó tướng

của Ngô Côn chỉ huy tiến vào đánh chiếm Định Hoá. Nhận thấy đây là một
địa bàn có vị trí chiến lược rất cơ động, Lường Tam Kỳ đã lấy vùng Định
Hoá làm sào huyệt, xây dựng lực lượng, xây đồn, đắp luỹ . Quân của Lường
Tam Kỳ đã cướp bóc, chiếm ruộng đất của nhân dân Định Hoá, Phú Lương,
Đại Từ và một số địa phương lân cận, gây loạn cả một vùng.
Mượn cớ truy đuổi tàn quân “Thái Bình thiên quốc”, triều đình Mãn
Thanh đã cử Đề đốc Phùng Tử Tài chỉ huy một đạo quân lớn tràn vào Việt
Nam. Khi đến Định Hoá, quân của Đề đốc Phùng Tử Tài đã bị Lường Tam
Kỳ đánh bại. Đồng bào các dân tộc Định Hoá phải gánh chịu thảm hoạ của
các cuộc chiến tranh liên miên này, làng xóm của họ nhiều khi đã trở thành
bãi chiến trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Tháng 5/1884, Pháp chiếm thành Thái Nguyên, thiết lập chế độ quân
quản. Trong khi đó, Lường Tam Kỳ dựa vào vùng núi hiểm trở của Định Hoá,
xây dựng hệ thống phòng ngự kiên cố, tích trữ lương thực, phát triển lực
lượng đông tới hai nghìn người, mở rộng địa bàn hoạt động, nổ súng vào
những cuộc hành binh của thực dân Pháp, gây cho quân Pháp nhiều khó khăn
trong quá trình đánh chiếm.
Ngày 12 - 1 - 1889, tướng Boócnhi Đềboóc chỉ huy một đạo quân gồm
924 sĩ quan và binh lính tấn công vào Chợ Chu, trung tâm sào huyệt của
Lường Tam Kỳ, nhưng đã thất bại. Cuối tháng 1 năm 1889, Pháp tiếp tục huy
động hơn 2000 quân, gồm có pháo binh, công binh chia làm 4 mũi tấn công
vào chợ Chu.Gặp phải sự chống cự quyết liệt của quân Lường Tam Kỳ và
nhân dân địa phương, đến ngày 2-2-1889, thực dân Pháp mới chiếm được
Chợ Chu, nhưng không thể tiến sâu vào các làng, xã. Quân của Lường Tam
Kỳ vẫn bám trụ được những vị trí kiên cố ở các dãy núi bao quanh Chợ Chu và
làm chủ hầu hết vùng Định Hoá. Tại thị trấn chợ Chu, thực dân Pháp xây dựng
có hơn 200 quân được trang bị vũ khí mạnh, chốt giữ, thường xuyên bị quân
Lường Tam Kỳ quấy phá..

Trước tình hình đó, thực dân Pháp dùng mọi thủ đoạn mua chuộc, lôi
kéo Lường Tam Kỳ và chúng đã thành công. Ngày 14 - 8 - 1890, Lường Tam
Kỳ đã quy thuận và ký giao ước với Pháp. Theo bản giao ước đó, Kỳ được
phong chức phó lãnh binh Thái Nguyên kiêm “phòng phủ sứ” được quyền
buôn bán thuốc phiện và giữ nguyên quân số, vũ khí của đội quân Cờ Vàng.
Hàng năm, Pháp cấp 40.200đ để Lường nuôi số quân này và trả lương cho Kỳ
200đ một tháng. Ngược lại, Kỳ không được cho quân quấy phá các vùng lân
cận, phải cùng với binh lính Pháp đảm bảo an ninh ở các vùng Chợ Chu, Đại
Từ, Phú Lương, Phổ Yên và Bình Xuyên (Vĩnh Phúc ngày nay); Kỳ phải đuổi
khỏi địa hạt những toán thổ phỉ; phải bắt giữ và nộp cho Pháp những người đã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
cung cấp vũ khí, đạn dược cho bọn cướp, phải báo tin tức cho Pháp và khi cần
phải đem quân cùng với lính Pháp đàn áp giặc cướp (chỉ những cuộc nổi dậy
của nhân dân chống Pháp). Với bản giao ước ngày 14 - 8 - 1890 với Pháp,
Lường Tam Kỳ có quyền lực như một lãnh chúa, dung túng cho thuộc hạ
cướp đất của nhân dân lập ấp, tuỳ tiện bắt dân đóng góp, phục dịch, đầu độc
thế hệ trẻ Định Hoá bằng rượu và thuốc phiện … Lường Tam Kỳ đã trở thành
một tên tay sai đắc lực cho thực dân Pháp.
Căm thù bè lũ cướp nước, nhân dân các dân tộc huyện Định Hoá đã nổi
dậy đấu tranh. Nhiều người bí mật tham gia các toán nghĩa quân chống Pháp
của Hoàng Hoa Thám, chiến đấu dũng cảm, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Tiêu
biểu là các trận đánh ngày 1 - 4 - 1912 trên đoạn đường Chợ Chu - Quảng
Nạp, ngày 13 - 9 - 1912 trên đường Chợ Chu - Chợ Mới, làm cho quân Pháp
khiếp sợ.
Ngày 4 - 8- 1916, nhân dân Định Hoá đã hỗ trợ một đoàn tù nhân bị áp
giải từ Thái Nguyên lên Chợ Chu nổi dậy ở Phố Ngữ (xã Phú Tiến) giết chết
tên lãnh binh, thu vũ khí của lính và rút vào rừng an toàn.
Rạng sáng ngày 28 - 2- 1922, được sự hỗ trợ của nhân dân và binh lính
yêu nước, những người tù chính trị bị giam giữ tại nhà lao Chợ Chu đã nổi

dậy phá ngục, cướp vũ khí diệt địch, tấn công nhà bưu điện, rồi rút vào rừng
tiếp tục chống Pháp.
Mặc dù bị thực dân Pháp đàn áp, khủng bố dã man, nhưng tinh thần yêu
nước trong nhân dân các dân tộc huyện Định Hoá không bao giờ bị dập tắt. Đây
chính là điều kiện căn bản để sau ngày Đảng cộng sản Việt Nam thành lập (3- 2
1930), nhân dân Định Hoá đã tiếp thu ánh sáng cách mạng và bước vào thời kì
đấu tranh mới.
Một trong những chiến sĩ cách mạng có công đầu trong việc truyền bá tư
tưởng cách mạng của Đảng cho nhân dân các dân tộc huyện Định Hoá là đồng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
chí Vũ Hưng (tên thật là Văn Uyển, sinh ngày 3-2-1901; quê xã Tiên Minh,
huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam). Là một thanh niên giàu lòng yêu nước, hăng
hái tham gia hoạt động cách mạng, năm 1930- 1931 đồng chí được bầu vào
Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam và giữ cương vị phó Bí thư Tỉnh uỷ.
Cuối năm 1931, Đảng bộ tỉnh Hà Nam bị địch khủng bố dữ dội, nhiều
đồng chí sa vào tay giặc, đồng chí Vũ Hưng thoát hiểm, chạy sang Hà Đông,
Hưng yên, rồi lên Vĩnh Yên. Ở ba tỉnh này đồng chí không bắt được liên lạc
với Đảng. Năm 1932, sau khi thoát khỏi sự vây bắt của đế quốc Pháp, đồng
chí vượt vòng vây lên vùng Bộc Nhiêu, huyện Định Hoá, tiếp tục hoạt động.
Tại đây, tuy không bắt được liên lạc với các tổ chức Đảng, nhưng với tinh
thần của người đảng viên Cộng sản, đồng chí đã vừa đi làm thuê, nấu rượu để
kiếm sống, vừa tuyên truyền, giác ngộ cách mạng cho quần chúng nhân dân
trong vùng và gây dựng được một số cơ sở quần chúng trung kiên ở Bộc
Nhiêu. Một thời gian sau, đồng chí Nguyễn Đình Chiêm, đảng viên của Đảng
bộ Hà Nam cũng lên Định Hoá, cùng đồng chí Vũ Hưng gây dựng cơ sở, phát
triển phong trào cách mạng ở các xã Bộc Nhiêu, Bảo Cường, Trung Hội …
Nhân dân trong huyện đã tích cực đấu tranh chống sưu cao, thuế nặng ….
Trong những năm 1936 - 1939, phong trào đấu tranh đòi quyền dân sinh,
dân chủ ở Định Hoá ngày càng phát triển, thu được kết quả. Qua đó, cơ sở

cách mạng được hình thành ở Quán Vuông, Bảo Cường. Đặc biệt, giữa năm
1938, khi bị thực dân Pháp bắt đi làm đường Chợ Chu - Thành Cóc (Tuyên
Quang), được cán bộ cách mạng tuyên truyền và vận động, anh em dân phu
nổi dậy đấu tranh đòi tăng tiền công. Cuộc đấu tranh bắt đầu từ đoàn dân phu
xã Bộc Nhiêu rồi lan ra khắp công trường. Trước tinh thần đấu tranh quyết
liệt của anh em dân phu, viên Tri phủ phải nhượng bộ, giải quyết các yêu sách
do dân phu đưa ra. Thắng lợi này đã cổ vũ tinh thần đấu tranh và tạo niềm tin
cho nhân dân Định Hoá đối với cách mạng. Cơ sở cách mạng Định Hoá được
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
chắp nối với cơ sở cách mạng huyện Đại Từ. Năm 1940, Định Hoá đã hoà
vào phong trào cáh mạng chung của tỉnh Thái Nguyên và nhận sự chỉ đạo trực
tiếp của Xứ uỷ Bắc Kỳ. Từ đây, nhân dân Định Hoá có sự lãnh đạo của Đảng,
đã bí mật hăng hái tham gia cách mạng, đẩy mạnh các cuộc đấu tranh trực
diện chống chế độ thống trị của thực dân Pháp, đòi dân sinh, dân chủ. Cơ sở
cách mạng từ Bảo Cường, Trung Hội mở rộng sang Bình Trung, Bình Liên,
Phú Đình, Phúc Chu, An Lạc.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng ở huyện Định
Hoá, thực dân Pháp ra tay khủng bố. Ngày 25 -5 - 1941, chúng đã huy động
binh lính, có mật thám, chỉ điểm tham gia, do thanh tra Sở Mật thám Bắc Kỳ
Bơvêna chỉ huy, đánh phá vào các cơ sở cách mạng ở Định Hoá và vây bắt
đồng chí Vũ Hưng. Cuộc khủng bố này kéo dài hơn 10 ngày, nhiều người bị
bắt, bị tra tấn dã man. Với tinh thần yêu nước, bất khuất, một lòng theo cách
mạng, nhân dân Định Hoá đã che chở, bảo vệ cán bộ lãnh đạo thoát khỏi vòng
vây của kẻ thù, cơ sở cách mạng vẫn được giữ vững.
Sau cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, nhất là khi Mặt trận Việt Minh ra đời,
tiếng súng đánh Pháp của Cứu quốc quân ở Võ Nhai đã có ảnh hưởng mạnh
mẽ, cổ vũ tinh thần đánh Pháp của nhân dân Định Hoá. Những tháng cuối
năm 1941, cơ sở cách mạng và nhân dân trong huyện đã gửi vũ khí, lương
thực ủng hộ các chiến sĩ Võ Nhai, che chở, đùm bọc nhiều thân nhân Cứu

quốc quân bị địch khủng bố sang Định Hoá lánh nạn. Khi thực dân Pháp giam
giữ thân nhân của các chiến sĩ Cứu quốc quân tại nhà tù Chợ Chu, cơ sở cách
mạng Định Hoá đã bí mật cấp dưỡng lương thực, quần áo, thuốc men và đấu
tranh đòi trả tự do cho họ về Võ Nhai.
Tháng 2 - 1942, một bộ phận Cứu Quốc quân đang hoạt động ở Võ Nhai
vượt vòng vây của giặc Pháp sang Định Hoá mở rộng địa bàn. Đó là những
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
cán bộ, chiến sĩ đã được học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương
lần thứ Tám (họp tháng 5 - 1941) và chương trình, điều lệ của Mặt trận Việt
Minh tại căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai. Hơn nữa, họ đều là những cán bộ có kinh
nghiệm trong công tác bí mật vận động quần chúng, gây dựng cơ sở, tổ chức
lực lượng tự vệ.
Được sự tuyên truyền, giác ngộ của Cứu Quốc quân, cơ sở cách mạng
ở Định Hoá được xây dựng và phát triển nhanh chóng. Năm 1942, tổ chức
quần chúng mới xuất hiện ở một số xã phía Nam huyện, nhưng sang năm
1943 đã lan rộng đến tất cả các xã, kể cả những bản người Dao tận núi cao
hẻo lánh, như Khuổi Nhà, Khuổi Giang, Khuổi Dọc… Một số nơi đã lập
đội vũ trang tự vệ.
Tháng 2 - 1943 đã diễn ra cuộc họp giữa các đồng chí lãnh đạo căn cứ
địa Cao Bằng và các đồng chí chỉ huy Cứu Quốc quân tại Hoà An, Cao Bằng
để bàn kế hoạch phối hợp thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh về “Xây
dựng những con đường quần chúng” đánh thông hai trung tâm căn cứ địa Cao
Bằng với Bắc Sơn - Võ Nhai, từ đó mở đường về xuôi kết hợp với phong trào
cách mạng toàn quốc. Cứu Quốc quân mở con đường Bắc tiến đón các đội
xung phong Nam tiến từ Cao Bằng xuống. Đầu tháng 3 - 1943, từ Định Hoá
Cứu Quốc quân bắt đầu vượt sang địa giới huyện chợ Đồn (Bắc Kạn) tuyên
truyền cách mạng, gây dựng cơ sở trong đồng bào dân tộc Dao, dân tộc Tày
thuộc các xã Bình Trung, Nghĩa Tá, Lương Bằng. Khoảng trung tuần tháng
10 - 1943, các đội xung phong “Nam Tiến” đã phát triển xuống Nghĩa Tá, nối

liền hai trung tâm căn cứ với nhau, đánh dấu bước ngoặt của sự hình thành
Khu căn cứ địa Việt Bắc từ Cao Bằng, Bắc Kạn xuống Thái Nguyên. Cứu
Quốc quân tiếp tục đẩy mạnh hoạt động sang Đại Từ, Phú Lương, Bắc Đồng
Hỷ và Sơn Dương (Tuyên Quang). Từ cuối năm 1943, Định Hoá như là trung
tâm căn cứ địa, đất đứng chân vững chắc của Cứu Quốc quân.

×