Tải bản đầy đủ (.pdf) (24 trang)

(Sáng kiến kinh nghiệm) vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học mĩ thuật lớp 6

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.03 MB, 24 trang )

MỤC LỤC

Mục

Nội dung

Trang

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1

1.1

Lý do chọn đề tài

1

1.2

Mục đích nghiên cứu

2

1.3

Đối tượng nghiên cứu

2



1.4

Phương pháp nghiên cứu

2

1.5

Những điểm mới của Sáng kiến kinh nghiệm

2

2

NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

3

2.1

Cơ sở lý luận của Sáng kiến kinh nghiệp

3

2.2

Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh

4


nghiệm
2.3

Các giải pháp đã sư dụng để giải quyết vấn đề

5

2.4

Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm...

16

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

17

3.1

Kết luận

17

3.2

Kiến nghị

18


3


1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài:
Mĩ thuật là nghệ thuật tạo ra cái đẹp nhằm phục vụ nhu cầu vật chất
và tinh thần của con người. Đúng thật như vậy, nhà văn hào lớn của giai
cấp vô sản Mác Xim Goóc Ky đã nói: “Con người bản tính là nghệ sĩ, bất
cứ ở đâu và vào lúc nào con người cũng muốn đưa cái đẹp vào cuộc
sống”.
Hàng năm, ngành giáo dục tổ chức thi học sinh giỏi môn Mĩ thuật
nhằm phát huy tinh thần học tập và phát triển tồn diện về Đức - Trí - Thể
- Mĩ nhằm phát hiện năng khiếu thực sự, từ đó có kế hoạch bồi dưỡng,
Định hướng cho các em sau này sẽ trở thành hoạ sĩ, nhà điêu khắc, nhà
kiến trúc sư trong tương lai. Để đạt được điều đó, ngoài năng khiếu bẩm
sinh, sự say mê học tập của các em thì lịng nhiệt tình cũng như kinh
nghiệm, kiến thức vững vàng của người thầy giáo. Người thầy phải biết
vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học tích cực để
phù hợp với thời kì mới.
Đổi mới phương pháp dạy học và ứng dụng các kĩ thuật trong dạy
học là nhiệm vụ cấp thiết đang đặt ra cho ngành giáo dục hiện nay. Nghị
quyết Đại hội đại biểu lần IX của Đảng đã chỉ rõ: “Đổi mới phương pháp
dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người
học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khoá, làm chủ kiến thức,
tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay”. Đất nước ta đang chuyển mình mang
tầm vóc lịch sử, đang từng bước hội nhập với khu vực và quốc tế. Hơn
bao giờ hết cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đang diễn ra mạnh mẽ thì
yêu cầu xây dựng một chiến lược con người trong công cuộc đổi mới
giáo dục và đào tạo đã và đang được toàn Đảng, toàn dân quan tâm. Công
nghệ thông tin là phương tiện được ứng dụng trong rất nhiều ngành nghề

khác nhau. Công nghệ thông tin hỗ trợ đắc lực cho việc áp dụng sơ đồ tư

1


duy trong dạy học hiện nay. Ngược lại, phương pháp dạy học và kĩ thuật
dạy học của giáo viên cũng lại chịu sự tác động qua lại của các phương
tiện dạy học hiện đại.
Thấy được vai trò và hiệu quả của sơ đồ tư duy trong dạy học, tôi đã
nghiên cứu tài liệu và ứng dụng vào các tiết dạy học mĩ thuật. Các tiết dạy
được sử dụng sơ đồ tư duy trong bài giảng tạo cho bài giảng sôi nổi hơn
hẳn, các em học sinh tham gia các hoat động học một cách tích cực hơn.
Vì vậy tơi đã nghiên cứu và lựa chon đề tài là:
“ Vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học mĩ thuật lớp 6 ” góp phần
cho việc ứng dụng các kĩ thuật dạy học vào các phương pháp dạy học tích
cực được tốt hơn, phù hợp với sự phát triển hiện của xã hội.
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Giáo dục mĩ thuật đóng vai trò rất quan trọng trong nền giáo dục
hiện nay, nhưng vấn đề đáng quan tâm ở đây là dạy mĩ thuật như thế nào?
với môn mĩ thuật trong trường trung học cơ sở có những phân mơn như:
Vẽ theo mẫu, vẽ trang trí, vẽ tranh, thường thức mĩ thuật. Vậy làm sao để
học sinh hứng thú với môn mĩ thuật? làm sao để học sinh không cảm thấy
nhàm chán và khơ khan? đó là phụ thuộc ở người giáo viên, giáo viên nắm
vững kiến thức điều hoà tốt các phương pháp dạy học kết hợp với sự sáng
tạo trong dạy học, làm được như vậy người giáo viên sẽ làm chủ được mọi
kiến thức và tình huống trong giảng dạy, thơng qua đó học sinh sẽ cảm
thấy được sự thích thú khi học mơn mĩ thuật.
- Giáo viên nắm được tác dụng, cách tiến hành và yêu cầu sư phạm khi sử
dụng sơ đồ tư duy.
- Có kĩ năng vận dụng có hiệu quả sơ đồ Tư duy vào các phân môn mĩ

thuật ở lớp 6.
- Vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học nhằm phát huy tính tích cực trong
học tập của các em. Học sinh dễ dàng tiếp thu kiến thức thông qua sơ đồ
tư duy.
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
2


Các giải pháp vận dụng “sơ đồ tư duy” trong dạy học mĩ thuật ở lớp 6
Trường THCS Bắc Sơn, Bỉm Sơn.
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: thu thập tài
liệu, tự học, tự nghiên cứu qua tài liệu, sách vở, các trang mạng, các dự
án đổi mới phương pháp dạy học.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thơng tin, phân tích
tổng hợp và xử lí thông tin.
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:
Thu hẹp phạm vi nghiên cứu đồng thời nghiên cứu sâu hơn và vận dụng
vào thực tiễn dạy học nhiều hơn.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Ngày nay cái đẹp đã trở thành một trong những nhu cầu thiết yếu
của cuộc sống con người. Tất cả phục vụ cho con người đều cần đẹp về cả
hình thể, màu sắc và khi cuộc sống ngày càng cao thì cái đẹp lại càng trở
nên quan trọng. Có thể nói mĩ thuật đóng góp một phần quan trọng cho sự
phát triển của xã hội.
Căn cứ vào nhiệm vụ chủ yếu năm học 2016 – 2017 của bộ giáo dục
và đào tạo.
Căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ môn Mĩ thuật lớp 6 là:
- Giúp học sinh phát triển tồn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ

và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và
sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây
dựng tư cách và trách nhiệm công dân, giáo dục thẩm mĩ có mục tiêu là
phát triển năng lực, thẩm mĩ cho mỗi thành viên trong xã hội, góp phần
quan trọng vào việc hình thành con người mới, sự phát triển năng lực
thẩm mĩ sẽ giúp con người biết nhận thức và đánh giá, biết vận động và

3


sáng tạo theo quy định cái đẹp, giáo dục thẩm mỹ ở trường phổ thông
được thực hiện chủ yếu trong các giờ chính khố trong nhà trường.
- Giúp học sinh tiếp thu có hiệu quả hơn tri thức ở các mơn học khác vì
các mơn học có liên quan, móc nối với nhau, hơn nữa mĩ thuật tạo điều
kiện cho học sinh suy nghĩ, sáng tạo để có nhiều cách thể hiện khác nhau
cho bài tập sẽ giúp các em học tốt hơn các môn khác.
- Định hướng cho một bộ phận nhỏ học sinh học tiếp ngành mĩ thuật, hay
tạo điều kiện cho một số học sinh thi vào các trường chuyên nghiệp có
liên quan đến mĩ thuật. Dạy mĩ thuật ở trường phổ thơng nói chung, ở
trưởng trung học cơ sở nói riêng là góp phần xây dựng thẩm mĩ cho xã
hội, mọi người đều hướng đến cái đẹp, bíêt tạo ra cái đẹp, thưởng thức cái
đẹp theo ý mình sẽ làm cho cuộc sống ngày càng trở nên tốt đẹp, phong
phú và hài hoà hơn.
Căn cứ vào thực tế giảng dạy: Với sự phát triển không ngừng của xã
hội, đổi mới cách dạy, cách học là một yêu cầu thiết yếu trong giai đoạn
hiện nay. Vận dụng linh hoạt sơ đồ tư duy vào trong dạy học mĩ thuật
nhằm phát huy tính tích cực sang tạo của học sinh từ đó tạo cho các em
hứng thú học tập. Nộ dung bài học được thể hiện bằng sơ đồ hóa giúp các
em nắm bắt nội dung bài học một cách logic, có hệ thống. Sơ đồ tư duy
giúp các em ghi nhớ kiến thức một cách sâu sắc hơn.

Từ những nội dung trên ta thấy được sơ đồ tư duy rất cần thiết trong
quá trình dạy học của giáo viên và quá trình học tập của các em nên tôi đã
nghiên cứu và làm đề tài về cách vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học mĩ
thuật.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:

4


Từ lâu, dạy học theo kiểu “đọc – chép” được coi là một phương
pháp dạy học để truyền tải kiến thức cho học sinh và được sử dụng phổ
biến ở nhiều trường trong cả nước. Ngành Giáo dục và Đào tạo cũng đã có
nhiều cuộc hội thảo và cũng đã đưa ra nhiều phương pháp dạy học tích
cực hơn… nhưng hiện tại khơng ít giáo viên vẫn sử dụng cách dạy học
theo kiểu “Thầy đọc – Trị chép”
Phải nói rằng trong một tiết dạy, cũng có lúc giáo viên cần phải
đọc cho học sinh chép như mơn chính tả...ở bậc Tiểu học, đọc hoặc ghi
lên bảng các cơng thức tốn học, bảng cửu chương, một sự kiện lịch sử,
một số yếu tố địa lý, đoạn thơ, các khái niệm...ở bậc Trung học, điều này
khơng có nghĩa là giáo viên đã sử dụng phương pháp “đọc – chép”.
Với cách dạy học truyền thống, người thầy đã máy móc, rập khn
trong dạy học, dễ có tư tưởng phó mặc, khơng hứng thú trong cập nhật
kiến thức, khơng sáng tạo trong việc tìm kiếm các phương án thiết kế bài
dạy phù hợp với mọi đối tượng học sinh trong lớp mình phụ trách để kết
quả giảng dạy đạt mức tối ưu. Người học theo cách này sẽ trở nên thụ
động, chỉ biết thu nhận kiến thức một chiều, không động não suy nghĩ,
không biết tự mình chiếm lĩnh tri thức, khó vận dụng kiến thức vào cuộc
sống.
Việc giáo viên sử dụng cách dạy học theo kiểu đọc – chép, có thể
kể ra một số nguyên nhân sau:


5


Do một số bài học của chương trình có lượng kiến thức nhiều,
trong một tiết học chỉ có 45 phút, mà đã mất 10 đến 15 phút ổn định tổ
chức, kiểm tra bài cũ, dặn dò học, làm bài tập ở nhà…
Cũng cịn một số giáo viên khơng chịu khó đầu tư cho việc thiết kế bài
dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh mình đang phụ trách.
Khắc phục tình trạng đọc – chép là một yêu cầu cần thiết để nâng
cao chất lượng dạy học đối với tất cả các mơn học. Đó là một nhiệm vụ vơ
cùng khó khăn phức tạp trong điều kiện hiện nay của nhiều trường. Thực
hiện tốt việc chống dạy học theo kiểu “đọc – chép” là cả một quá trình lâu
dài với sự cố gắng của nhiều đối tượng khác nhau trong đó sự tận tâm của
thầy cơ giáo là điều hết sức quan trọng mới có thể có kết quả.
Chất lượng đầu năm
Năm học 2016 – 2017

Khối
Môn

Mĩ thuật

lớp

6

Điểm thi chất lượng đầu năm
Sỹ số


70

Đạt

Chưa đạt

SL

%

SL

%

64

91.4%

6

8.6%

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
2.3.1. Khái niệm sơ đồ tư duy:
Sơ đồ tư duy là một sơ đồ được trình bày một cách rõ ràng những ý
tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về
một chủ đề. Sơ đồ tư duy có thể được viết trên giấy, trên giấy trong, trên
bảng hay thực hiện trên máy tính.
2.3.2. Ưu điểm – Nhược điểm:
a. Ưu điểm:

- Ôn tập và ghi nhớ hệ thống kiến thức sẽ hiệu quả và nhanh hơn.
6


- Mỗi sơ đồ sẽ phân biệt nhau tạo sự dễ dàng cho việc gợi nhớ.
- Tạo ra thêm ý tưởng về sơ đồ tư duy.
- Dễ dàng nghiên cứu.
- Tăng cường bộ nhớ.
- Sử dụng toàn bộ não của bạn.
b. Nhược điểm:
- Mất thời gian.
- Các sơ đồ giấy thường khó lưu trữ, thay đổi, chỉnh sửa, tốn kém chi phí.
- Số học sinh yếu có thể khơng hình dung ra sơ đồ tư duy.
Sơ đồ tư duy là một kỹ thuật hình họa, với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình
ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động và chức
năng của não bộ. Sơ đồ tư duy hoạt động dựa trên hai nguyên tắc chủ chốt là
tưởng tượng và liên kết. Não bộ của con người chính là bộ máy nhân và nó nhân
các ý tưởng bằng sự liên kết.
Mơ hình các bước thiết kế bài dạy theo hướng đổi mới là:

Lựa chọn bài dạy.

Kỹ thuật dạy học
phù hợp với từng
bài.

Xác định mục tiêu
của các kỹ thuật

Mức độ cần đạt được

trong từng phần.

Thiết kế các hoạt
động dạy – học

Lựa chọn thể hiện

Kế hoạch nhận xét,
đánh giá.

thông tin.
Xử lý thông tin.

HS tự đánh giá
Đánh giá của giáo viên.

7


Các bước tiến hành:
Bước 1: Viết những ý liên quan tỏa ra từ ý tưởng trung tâm.
Bước 2: Tìm ra những ý tưởng liên quan từ tiêu đề.
Bước 3: Kết nối giữa những ý tưởng lại với nhau.
Có hai cách vẽ sơ đồ tư duy: vẽ bằng tay hoặc bằng máy vi tính. Nếu
vẽ bằng tay thì người học chỉ cần một tờ giấy A4 hoặc lớn hơn, một hộp bút màu
loại có đầu nhọn. Cịn vẽ bằng máy vi tính thì người học có thể sử dụng các phần
mềm Mind Mapping như phần mềm Mindjet MindManager Pro7, Corel hoặc vẽ
bằng chương trình Microsoft Word. Đối với học sinh phổ thơng thì vẽ bản đồ tư
duy bằng tay sẽ dễ dàng và thiết thực hơn cho việc học. Cụ thể là:
Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề.

Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính. Trên mỗi nhánh chính viết một
khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề, viết bằng CHỮ IN
HOA. Nhánh và chữ viết trên đó được vẽ và viết cùng một màu. Nhánh
chính đó được nối với chủ đề trung tâm. Chỉ sử dụng các thuật ngữ quan
trọng để viết trên các nhánh.
Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung
thuộc nhánh chính đó. Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in
thường. Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo.
2.3.3. Cách đọc sơ đồ tư duy:
Cấu trúc của bản đồ tư duy không xuất phát từ trái sang phải và từ trên
xuống dưới theo kiểu truyền thống. Thay vào đó, sơ đồ tư duy được vẽ,
viết và đọc theo hướng bắt nguồn từ trung tâm di chuyển ra phía ngồi và
sau đó là theo chiều kim đồng hồ. Các mũi tên xung quanh sơ đồ tư duy ở
hình 2 chỉ ra cách đọc thơng tin trong sơ đồ và các số thứ tự cũng chính là
thứ tự ghi và đọc các thông tin trong sơ đồ.      
2.3.4. Cách vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học:
Sơ đồ tư duy là một cơng cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ở trường phổ
thông cũng như ở các bậc học cao hơn vì nó giúp giáo viên và HS trong việc trình

8


bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, học tập thơng qua sơ đồ, tóm
tắt thơng tin của một bài học hay một cuốn sách, bài báo, hệ thống lại kiến.
thức đã học, tăng cường khả năng ghi nhớ, đưa ra ý tưởng mới… Sau đây là một
số ứng dụng cụ thể của sơ đồ tư duy trong dạy học ở trường trung học cơ sở:
* Lập kế hoạch :
Giáo viên dùng sơ đồ tư duy để lập kế hoạch giảng dạy, kế hoạch chủ
nhiệm cho một năm học, một học kỳ, một tháng hay kế hoạch cho một
tuần cụ thể. Cịn học sinh thì có thể xây dựng sơ đồ tư duy cho các kế

hoạch học tập, cũng như kế hoạch cho các hoạt động khác như thể dục,
thể thao, các hoạt động ngoại khóa...
Ví dụ: Giáo viên lên kế hoạch công việc tuần 22 bằng sơ đồ tư duy.

Thảo luận nhóm:

9


Sơ đồ tư duy tạo nên sự đồng thuận trong nhóm, các thành viên đều suy
nghĩ tập trung vào một vấn đề chung cần giải quyết, các ý kiến đưa ra của mỗi
cá nhân đều được liên kết với chủ đề, tránh được hiện tượng lan man và đi lạc
chủ đề. Mọi thành viên trong nhóm đều đóng góp ý kiến và cùng nhau xây dựng
sơ đồ tư duy do nhóm mình thiết kế.
* Vận dụng vào bài: Vẽ theo mẫu:
Sau khi tiến hành hoạt động quan sát, nhận xét và hướng dẫn cách vẽ xong:
+ Giáo viên cho học sinh thảo luận theo nhóm để trình bày nội dung bài học
bằng Sơ đồ tư duy.
Ví dụ: Sơ đồ tư duy của Bài 15-Tiết 16: Mẫu dạng hình trụ và hình cầu
(Tiết 1 – Vẽ hình) có lồng ghép thêm hình ảnh cho các em dễ dàng hình dung
nội dung bài học

+ Củng cố bài học bằng Sơ đồ tư duy: Gv treo bảng phụ vẽ sơ đồ tư duy Bài 15Tiết 16: Mẫu dạng hình trụ và hình cầu (Tiết 1 – Vẽ hình). Tuy nhiên chưa có
nội dung. Yêu cầu học sinh lên điền nội dung để sơ đồ tư duy thêm hoàn chỉnh.

10


+ Giao bài tập về nhà bằng cách: Trình bày nội dung bài học bằng sơ đồ tư duy.
Tuần tới giáo viên kiểm tra chỉnh sửa cho các em.

Ví dụ:
Bài 4-Tiết 4: CÁCH VẼ THEO MẪU
Giáo viên giao bài về nhà cho từng nhóm (Mỗi nhóm 3 – 4 em) dựa vào
bài vừa học để trình bày nội dung bài học bằng Sơ đồ tư duy vào tờ giấy A4.
Bài tập này sẽ giúp học sinh hệ thống lại được kiến thức đã học bằng sơ đồ tư
duy.

11


* Vận dụng bài: Thường thức mĩ thuật:
+ Sau khi học xong bài, giáo viên cần củng cố kiến thức bài học bằng cách:
Trình chiếu sơ đồ tư duy bằng máy chiếu và yêu cầu học sinh nhìn vào sơ đồ tư
duy để trình bày nội dung bài học một cách logic.
? để có bài vẽ theo mẫu đẹp chúng ta phải tiến hành những bước nào? (Quan
sát , Nhận xét, bày mẫu, vẽ hình, vẽ đậm nhạt)
? Khi quan sát ta cần chú ý cái gì? ( Từ bao qt tới chi tiết)
? Em có nhận xét gì về mẫu ? ( Hình dáng, kích thước, cấu tạo...)
?Nêu các bước vẽ hình? (Vẽ khung hình chung, riêng, vẽ phác, chỉnh sửa)
? Vẽ đậm nhạt chúng ta càn chú ý gì? (Hướng ánh sáng, các độ đạm nhạt, phân
mảng đậm nhạt, cách đánh đậm nhạt)
Ví dụ: Bài 9 - Tiết 9: SƠ LƯỢC VỀ MĨ THUẬT THỜI LÝ (1010 – 1225)

12


Giáo viên chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi mở để cho học sinh trình bày đúng
hướng.
? Mĩ thuật thời lý bát đầu từ năm nào và kết thúc vào năm nào? (1010 – 1225)
? Mĩ thuật thời Lý có những loại hình mĩ thuật nào? (Kiến trúc, điêu khắc và

trang trí, đồ gốm)
? Có những loại hình kiến trúc gì? ( Kiến trúc Phật giáo và kiến trúc Cung
đình)
? Có những loại tượng gì? ( Người và thú)
? Có những loại hình trang trí gì? ( Hình con rồng, hoa văn)
? Có những loại men gốm gì? ( Men da lương, men ngọc, Trắng ngà)
Ví dụ:

Sơ đồ tư duy bài: Bài 10 – Tiết 10:

MỘT SỐ CƠNG TRÌNH TIÊU BIỂU CỦA MĨ THUẬT THỜI LÝ
Giáo viên trình chiếu sơ đồ tư duy, cho học sinh lên nhìn sơ đồ tư duy và nêu
nội dung bài theo thứ tự danh mục.

13


? Mĩ thuật thời Lý có những cơng trình nào tiêu biểu về kiến trúc, điêu khắc,
chạm khắc, gốm?( Chùa Một cột, tượng A-di-đà, chạm khắc Rồng, gốm)
- Chùa Một cột có những đắc điểm gì?( Thể loại, địa điểm, bố cục, nghệ thuật..)
- Một số đặc điểm của tượng A-di-đà? (Chất liệu, kích thước, bố cục…)
- Hình tượng con rồng thời Lý có đặc điểm? ( Đường nét, ý nghĩa..)
- Gốm thời Lý có đặc điểm gì? ( Men gốm, xương gốm )
Luy ý: Khi học sinh trình bày cần chú ý trình bày từ trung tâm trước(ý chính),
sau đó trình bày đến từng các nhánh, và trình bày tiếp đến các nhánh nhỏ tủa ra
từ nhánh lớn. Trình bày cần ngắn gọn, xúc tích, dễ hiểu. Tránh trình bày lan
man. Trình bày đến đâu chỉ thước đến đấy để cả lớp đều có thể quan sát.

Ví dụ: Sơ đồ tư duy khái quát nội dung bài:


14


* Vận dụng bài: Vẽ trang trí:
Ví dụ: Trong bài 11 - Tiết 11: MÀU SẮC
Phần củng cố dặn dò: Giáo viên cho học sinh thảo luận nhóm: Em hãy thể hiện
nội dung bài học “Màu sắc” bằng sơ đồ tư duy?

Nội dung bài Màu sắc Lớp 6 được thể hiện bằng sơ đồ tư duy.

15


Bản đồ tư duy giúp cho các thành viên hiểu được nội dung bài học
một cách rõ ràng và hệ thống, việc ghi nhớ cũng như vận dụng cũng sẽ tốt
hơn và dể thuyết trình được nội dung bài học.
* Vận dụng vào bài: Vẽ tranh:
Ví dụ: Bài 6 - Tiết 6: CÁCH VẼ TRANH ĐỀ TÀI
Giáo viên cho học sinh quan sát sơ đồ tư duy và trình bày nội dung bài học.

Giáo viên có thể ứng dụng bản đồ tư duy vào trong việc dạy học như soạn
bài giảng, trình bày bài giảng... Sử dụng một bảng đen lớn hay máy
chiếu, giáo viên có thể vẽ phần tương ứng của bản đồ tư duy trong khi

16


đang giảng bài. Cách biểu thị quy trình tư duy như thế sẽ làm rõ cấu trúc
bài học, đồng thời duy trì được sự chú ý của HS, giúp các em nhớ và hiểu
bài dễ hơn, cũng có thể cho HS tự hồn chỉnh bản đồ tư duy.

Ghi chép, tóm tắt, hệ thống hóa nội dung bài học, đưa ra các ý tưởng.
Ví dụ: Bài 13 - Tiết 16: Đề tài bộ đội.
Học sinh nhình sơ đồ tư duy và trình bày nội dung sơ đồ trước khi tiến hành
thực hành vẽ tranh.

Hoặc có thể sử dụng bản đồ tư duy để học bài mới hay ghi chép, tóm
tắt, hệ thống hóa nội dung bài học. So với cách ghi chép theo kiểu truyền
thống, tức là ghi chép thông tin bằng cách sử dụng các kí tự và chữ số
theo đường thẳng, thì việc ghi chép bằng cơng cụ bản đồ tư duy hiệu quả
hơn nhiều. Kĩ thuật ghi chép này cho phép học sinh nhanh chóng ghi lại
các ý tưởng bằng các từ khóa, sắp xếp một cách cơ bản thơng tin khi nó
được truyền tải và cho học sinh cơ hội để hình thành những mối liên hệ và
liên tưởng. Học sinh cũng có thể tham gia vào bài học bằng cách bổ sung
17


những suy nghĩ, quan điểm và cảm nghĩ của chính mình. Đồng thời, trong
kĩ thuật ghi chép này, học sinh cịn sử dụng cả màu sắc, hình ảnh để lưu
trữ thơng tin nên rất dễ nhớ vì đã tận dụng được chức năng của cả não trái
lẫn não phải trong việc ghi nhớ.
Như vậy, sơ đồ tư duy có vai trò rất quan trọng trong dạy học và đặc
biệt đổi mới cách tổ chức dạy học của giáo viên đồng thời góp phần bồi
dưỡng năng lực tự học cho học sinh phổ thông phù hợp với các mục tiêu
đổi mới phương pháp dạy học: dạy học theo hướng hoạt động học tập chủ
động, chống lại thói quen học tập thụ động.
2.4 Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường:
Từ cách làm trên bài giảng được diễn ra một cách tự nhiên, có trọng
tâm. Giáo viên giữ đúng vai trò là người hướng dẫn điều khiển theo
phương pháp dạy học tích cực. Thu hút được cả tập thể lớp tập trung chú

ý, tham gia vào hoạt động học một cách tích cực, tạo nên khơng khí lớp
học sơi nổi. Học sinh hiểu bài, hình thành ở các em tính đoàn kết, thi đua
để vươn lên trong học tập...
Từ những thực trạng trên tôi đã từng bước đổi mới phương pháp, sử
dụng Sơ đồi tư duy trong dạy học: “Lấy học sinh làm trung tâm” và ứng
dụng công nghệ thông tin trong dạy học từ đó đã đạt được những chuyển
biền đáng kể trong giờ học mĩ thuật. Giờ học có khơng khí vui tươi, thoải
mái hơn, được các em học sinh ủng hộ hơn.
Để có kết quả trên tơi đã làm nhiều đồ dùng trực quan, ln có ý
thức sưu tầm tranh ảnh có liên quan đến nội dung để minh hoạ trong các
giờ dạy. Đồ dùng trực quan phải dùng đúng lúc đúng chỗ để đản bảo tính
khoa học. Một số bài tôi con sử dụng cả băng hình, máy chiếu đa năng để
chiếu cho học sinh xem, áp dụng các phương pháp mới từ các đợt học
chuyên đề, bồi dưỡng. Từ những phương pháp mới, thiết bị dạy học hiện
đại mà đã tạo được hứng thú trong từng tiết học.
Đến cuối học kỳ 2 tỉ lệ học sinh xếp loại “Đạt” tăng lên đáng kể:

18


Điểm thi chất lượng cuối học kì 2
Mơn

Khối Sỹ
lớp số

Mĩ thuật

6


70

Đạt

Chưa đạt

SL

%

SL

SL

70

100%

0

0%

Điều đáng chú ý là ở học kỳ 1 có một số em khơng chú ý học nhưng
đến học kỳ 2 các em rất hăng say học tập, tự tìm tịi sưu tầm tài liệu và
tham gia các hoạt động nhóm nhỏ.

3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:

3.1 Kết luận:
+ Giáo viên cần gũi quan tâm tới học sinh, khuyến khích động viên học

sinh kịp thời, nắm bắt tâm lý và chất lượng của học sinh qua bài học để có
cách dạy phù hợp .
+ Để áp dụng sơ đồ tư duy và phương pháp dạy học tích cực thì phương
tiện hỗ trợ đắc lực nhất là máy chiếu đa năng. Vì vậy người giáo viên phải
biết sử dụng máy chiếu cũng như biết soạn thảo giáo án điện tử một cách
thành thạo.
+ Giáo viên cần có kiến thức về tin học để vẽ sơ đồ tư duy trên máy tính
đồng thời biết tin học sẽ giúp giáo viên soạn, chỉnh sửa giáo án điện tử
một cách thuần thục hơn.
+ Kiên trì, theo dõi từng bước của học sinh để thấy được sự tiến bộ của
các em.
+ Ln tìm tịi, học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp để có phương pháp
dạy phù hợp.
Qua thời gian áp dụng, và thực hiện đổi mới phương pháp và kĩ
năng dạy học phát huy tính tích cực của học sinh theo yêu cầu đổi mới
19


phương pháp dạy học môn mĩ thuật. Giáo viên cần đọc, nghiên cứu sách
giáo khoa, sách giáo viên, tài liệu tham khảo, chuẩn bị tốt phương tiện
dạy học.
Lập kế hoạch giảng dạy và soạn giáo án chi tiết giúp Giáo viên nắm
được mục tiêu bài dạy và phân bố thời gian hợp lí cho từng hoạt động của
tiết dạy.
Giáo viên phải thường xuyên học hỏi chuyên môn nghiệp vụ, nghiên
cứu phương pháp giảng dạy để ứng dụng phương pháp phù hợp với môn
học.
Cần bồi dưỡng cho đội ngũ cốt cán của lớp có năng lực tốt về
chun mơn và ngơn ngữ hội hoạ để các em chủ động và có kiến thức khi
tham gia vào một số hình thức làm việc theo nhóm đạt hiệu quả. Khi hoạt

động nhóm diễn ra một số học sinh lười suy nghĩ chỉ trông đợi kết quả
làm việc nhóm của bạn đưa ra do vậy giáo viên cần khắc phục bằng cách
đưa yêu cầu cho cả những học sinh trung bình, yếu, kém từ đó các em có
điều kiện được giao lưu cùng các bạn. Lời nhận xét cần khéo léo, động
viên kịp thời những học sinh có tiến bộ. Tham gia đầy đủ các tiết dạy
chuyên đề, dự giờ, rút kinh nghiệm.
3.2. Kiến nghị:
- Cần bồi dưỡng kiến thức tin học cho giáo viên hàng năm để giáo viên áp
dụng những phương tiện dạy học hiện đại trong quá trìng giảng dạy. Cần
cấp thêm các tài liệu tham khảo, tranh trực quan, các đồ dùng dạy học để
phục vụ cho việc dạy và học tốt hơn.
Trên đây là một vài kinh nghiệm qua thực tế giảng dạy tôi rút ra.
Tuy đã đạt được những kết quả khả quan song vẫn không tránh khỏi thiếu
sót. Để bản Sáng kiến kinh nghiệm của tơi thêm hồn chỉnh, tơi rất mong
có sự góp ý, bổ sung của các quý thầy cô cùng các bạn đồng nghiệp để đề
tài này đạt kết quả tốt hơn nữa trong giảng dạy.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 01 tháng 06
năm2017
20


Tôi xin cam đoan đây là SKKN của tôi
viết, không sao chép nội dung của
người khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)

PHẠM VĂN TIẾN


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1- Bộ giáo dục và đào tạo – Vụ giáo dục trung học: Tài liệu bồi dưỡng
thường xuyên cho giáo viên THCS chu kì III (2004-2007) mơn Mĩ thuật,
nhà xuất bản Giáo dục năm 2005.
2- Bộ giáo dục và đào tạo – Vụ giáo dục trung học: Những vấn đề chung
về đổi mới giáo dục Trung học cơ sở môn Mĩ thuật, nhà xuất bản Giáo
dục năm 2007.
3- Dự án Việt – Bỉ, dạy và học tích cực – Một số phương pháp và kĩ thuật
dạy học, NXB đại học Sư phạm, 2010.
4- Nguyễn Hữu Châu (chủ biên), Phương pháp, phương tiện, kĩ thuật và
hình thức tổ chức dạy học trong nhà trường, NXB ĐHSP, Hà Nội, 2005.

21


5- Trần Duy Hưng, Nhóm nhỏ và việc tổ chức dạy cho học sinh theo
nhóm nhỏ, T/c NCGD số 7/1999.
6- Lưu Thu Thủy, Module 16, một số kĩ thuật dạy học ở tiểu học, NXB
Giáo dục, 2012

DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ
CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN

Họ và tên tác giả: Phạm Văn Tiến
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên Trường THCS Bắc Sơn – Bỉm Sơn
– Thanh Hóa
TT


Tên đề tài SKKN

Cấp đánh

Kết quả

Năm học

giá xếp

đánh

đánh giá
22


1.

Rèn kỹ năng vẽ theo mẫu cho
học sinh THCS.

2.

Phương pháp hình thành và
phát triển kỹ năng mơn mĩ thuật

3.

Kỹ thuật và thủ thuật trong dạy
học thường thức mĩ thuật ở khối


loại

giá xếp

(Phòng,

loại (A,

Sở,

B, hoặc

Tỉnh...)

C)

xếp loại

Phòng
GD&ĐT

C

2005 - 2006

B

2006 - 2007


C

2008 - 2009

Phòng
GD&ĐT
Phòng
GD&ĐT

8

----------------------------------------------------

23



×