Tải bản đầy đủ (.pdf) (28 trang)

Tài liệu Đề tài "Một số vấn đề pháp lý về doanh nghiệp liên doanh" doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (788.62 KB, 28 trang )



Luận văn

Đề tài " Sản phẩm dệt may xét từ góc độ
marketing và các giải pháp về sản phẩm
trong hoạt động marketing của công ty may
chiến thắng "

1
LỜI NÓI ĐẦU

Trong quá trình mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới chúng ta đã đạt
được những thành tựu hết sức to lớn trên tất cả các mặt như kinh tế chính trị, ngoại
giao vv… Đặc biệt về mặt hợp tác kinh tế, nhờ vào quá trình hội nhập kinh tế đã
tạo ra những cơ hội hợp tác kinh tế, liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp trong
nước với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong quá trình hội nhập kinh tế
thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức đầu tư phổ biến và thu hút được
nhiều sự quan tâm của các nhà hoạch định cũng như của các doanh nghiệp.
Ngày nay đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI) ngày càng trở nên quan trọng với
chúng ta bởi FDI không chỉ là nguồn cung cấp vốn quan trọng mà còn là con đường
cung cấp công nghệ hiện đại, những bí quyết kĩ thuật đặc biệt là những kinh
nghiệm trong quản lý và là cơ hội tốt cho Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế thế
giới. Vì thế thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một nhiệm vụ hết sức
quan trọng trong giai đoạn hiện nay đồng thời chúng ta phải có những giải pháp
phù hợp để các doanh nghiệp liên doanh hoạt động mạnh mẽ và sử dụng có hiệu
quả nguồn vốn này.
Sau thời gian học môn Luật Kinh tế, tôi xin chọn đề tài: "Một số vấn đề pháp
lý về doanh nghiệp liên doanh" để viết bài tiểu luận môn học.



2
PHẦN I
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỚI DOANH
NGHIỆP LIÊN DOANH.

1.1. KHÁI NIỆM DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH
Vậy bản chất của doanh nghiệp liên doanh là một tổ chức kinh tế được hình
thành trên cơ sở góp vốn của các tổ chức kinh tế thuộc các quốc gia khác nhau hoạt
động trong những lĩnh vực nhất định.
Trên thực tế thường có các quan niệm doanh nghiệp liên doanh là một công
ty được hình thành do sự cùng tham gia của hai hoặc nhiêu công ty khác nhau.
Theo quan niệm này, một xí nghiệp liên doanh phải được hình thành ít nhất từ hai
công ty khác nhau. Các công ty có thể cùng quốc tịch hoặc khác quốc tịch. Trong
quan niệm này khía cạnh pháp lý hầu như chưa được đề cập đến.
Một quan niệm khác coi “ Liên doanh là sự cùng làm chủ của hai hãng hoặc
một hãng và chính phủ đối với hoạt động sản xuất kinh doanh. Liên doanh làm cho
tổng số vốn được sử dụng lớn hơn trong việc cung ứng hàng hoá và dịch vụ, và có
thể có hiệu quả đặc biệt trong việc khai thác nguồn, bổ sung đối với một bên, chẳng
hạn đóng góp tri thức về quá trình sản xuất và đóng góp kiến thức về thị trường.
Quan niệm này chỉ ra liên doanh là sự cùng làm chủ của hai hãng hoặc một
hãng và chính phủ đối với việc sản xuất – kinh doanh. Điều này nhấn mạnh đến
khía cạnh sở hữu của liên doanh và số lượng các bên tham gia vào liên doanh. Liên
doanh thuộc quyền sở hữu của cả hai bên tham gia liên doanh. Hai bên có thể là 2
hãng, hoặc một bên là một doanh nghiệp và một bên là chính phủ nhằm thực hiện
các hoạt động kinh doanh.
Tuy vậy, quan niệm này mới chỉ dừng lại ở liên doanh với sự tham gia của 2
bên. Trên thực tế, số lượng các bên tham gia vào liên doanh còn có thể lớn hơn.
Ngoài ra, trong quan niệm, khía cạnh pháp lý chưa được đề cấp xác đáng. Hơn nữa,
liên doanh không chỉ dừng lại ở lĩnh vực sản xuất – kinh doanh mà còn cả trogn
hoạt động nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu triển khai.

Theo Luật đầu tư nước ngoài 2000 thì “doanh nghiệp liên doanh” là doanh
nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp
đồng liên doanh hoặc hiệp định ký kết giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ
3
nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặclà doanh nghiệp do doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp
liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với nhà đầu tư nước
ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
Như vậy các đối tác trong liên doanh doanh với nước ngoài bao gồm:
Một bên Việt Nam và một bên nước ngoài
Một bên Việt Nam và nhiều bên nước ngoài
Nhiều bên Việt Nam và 1 bên nước ngoài
Nhiều bên Việt Nam và nhiều bên nước ngoài
Theo Luật đầu tư nước ngoài thì doanh nghiệp liên doanh được tổ chức dưới
dạng công ty TNHH hoặc chuyển hoá thành công ty cổ phần. Thời gian hoạt động
của doanh nghiệp liên doanh không quá 50 năm trong trường hợp đặc biệt không
quá 70 năm.
Những đặc trưng của doanh nghiệp liên doanh có thể mô tả bằng mô hình
sau:















1.2. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỚI DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH
1.2.1. Xây dựng chiến lược, quy hoạch FDI trên cơ sở chiến lược và quy
hoạch phát triển kinh tế xã hội.
DOANH
NGHIỆP LIÊN
DOANH
Đặc trưng về
kinh doanh
Đặc trưng về
pháp lý
Cùng
sở
hữu
vốn
Cùng
tham
gia
quản

Cùng
phân
chia
lợi
nhuậ
n
Cùng
chia

sẻ rủi
ro
DNLD
hoạt
động
theo
hợp
đồng
liên
DNLD

tư cách
pháp
nhân
4
Sau khi có chủ trương về chuyển đổi cơ chế từ cơ chế tập trung chuyển sang
cơ chế thị trườn với nhiều thành phần kinh tế Đảng và nhà nước ta đã thừa nhận
kinh tế nước ngoài và coi nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài là một nguồn vốn quan
trọng trong phát triển kinh tế. Từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ sáu đến nay, vai
trò của FDI luôn được coi là một trong những nguồn vốn quan trọng và thực chất
nó đã chiếm một vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của nước ta.
Đại hội Đảng toàn quốc VIII nâng tầm quan trọng của kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài lên một bước với việc đưa kinh tế vốn đầu tư nước ngoài trở thành một thành
phần kinh tế bên cạnh kin tế nhà nước và các thành phần kinh tế khác. Như vậy,
trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội chúng ta đã thừa nhận vai trò quan trọng
của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đặc biệt là các nguồn FDI.
1.2.2 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chính sách FDI
Trên cơ sở chiến lược, định hướng phát triển kinh tế – xã hội của toàn bộ nền
kinh tế, Nhà nước đề ra mục tiêu của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài theo
ngành, lãnh thổ, theo thành phần kinh tế và thị trường. Thể hiện dưới các định

hướng sau:
Khuyến khích mạnh mẽ việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các
ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp chế biến; công nghiệp
phục vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn; các dự án ứng dụng công
nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí, điện tử, vật liệu mới, viễn thông, sản
xuất phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và các ngành mà Việt Nam có nhiều
lợi thế cạnh tranh gắn với công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm, góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Tiếp tục thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào những địa bàn có nhiều lợi
thế để phát huy vai trò của các vùng động lực, tạo điều kiện liên kết phát triển các
vùng khác trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh. Khuyến khích và dành các ưu đãi tối
đa cho đầu tư trực tiếp nước ngoài vào những vùng và địa bàn có điều kiện kinh tế -
xã hội khó khăn và đẩy mạnh đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng ở các
địa bàn này bằng các nguồn vốn khác để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu
tư trực tiếp nước ngoài. Tập trung thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các Khu
công nghiệp tập trung đã hình thành theo quy hoạch được phê duyệt.
5
Khuyến khích các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài từ tất cả các nước và vùng
lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài có tiềm năng lớn
về tài chính và nắm công nghệ nguồn từ các nước công nghiệp phát triển; tiếp tục
thu hút các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài ở khu vực. Có kế hoạch vận động các
tập đoàn, công ty lớn đầu tư vào Việt Nam, đồng thời chú ý đến các công ty có quy
mô vừa và nhỏ, nhưng công nghệ hiện đại; khuyến khích, tạo thuận lợi cho người
Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước.
Từ những định hướng các Bộ, ngành liên quan xây dựng kế hoạch hành động
cũng như các chính sách khuyến khích, ưu tiên, nhằm thu hút được nguồn vốn FDI,
đầu tư dưới các hình thức khác nhau, trong đó có hình thức DNLD.
Các địa phương bám chặt vào những hướng dẫn của Nhà nước, và từ thực tế
của địa phương đề ra những quyết sách khác nhau cho địa phương mình, với xu
hướng tích cực đầu tư vào các doanh nghiệp hiện có tại địa phương, và thành lập

thêm các doanh nghiệp mới.
Như vậy, ngành, nghề hoạt động, lãnh thổ và thị trường của doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài về cơ bản đã được Nhà nước định hướng phục vụ chiến lược
phát triển kinh tế xã hội của đất nước từ Trung ương đến địa phương.
Bên cạnh việc xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, Nhà nước còn xây
dựng các chính sách đầu tư nước ngoài. Nhà nước đảm bảo cho hệ thống chính
sách khuyến khích đầu tư nước ngoài được mềm dẻo, hấp dẫn, đồng bộ và ổn định.
Các chính sách khuyến khích đầu tư được soạn thảo và ban hành trong nhiều lĩnh
vực khác nhau như: chính sách ưu đãi thuế, tiền thuê mặt bằng, thuê đất, hỗ trợ giải
phóng mặt bằng; chính sách thúc đẩy xuất khẩu; chính sách tiền tệ, thu nhập; chính
sách hỗ trợ nguồn nhân lực, đào tạo nghề
1.2.3. Cụng tác thẩm định và cấp giấy phép dự án
Việc cấp giấy phép đầu tư được quy định cụ thể trong Nghị định của Chính
phủ số 24/2000/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2000 Quy định chi tiết thi hành Luật
Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được sửa đổi bổ sung bởi nghị định 27/2003/NĐ-
CP ngày 19 tháng 3 năm 2003.
Về thẩm quyền cấp giấy phép
Thẩm quyền quyết định dự án đầu tư tuỳ thuộc vào các dự án thuộc nhóm A,
B hay C. Theo đó:
6
1. Thủ tướng Chính phủ quyết định các dự án nhóm A gồm:
*Các dự án không phân biệt quy mô vốn đầu tư thuộc các lĩnh vực:
- Xây dựng cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao,
Khu đô thị; dự án BOT, BTO, BT;
- Xây dựng và kinh doanh cảng biển, sân bay; kinh doanh vận tải đường biển,
hàng không;
- Hoạt động dầu khí;
- Dịch vụ bưu chính, viễn thông
- Văn hoá; xuất bản, báo chí; truyền thanh, truyền hình; cơ sở khám, chữa
bệnh; giáo dục, đào tạo; nghiên cứu khoa học; sản xuất thuốc chữa bệnh cho người;

- Bảo hiểm, tài chính, kiểm toán, giám định;
- Thăm dò, khai thác tài nguyên quý hiếm;
- Xây dựng nhà ở để bán;
- Dự án thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh.
* Các dự án có vốn đầu tư từ 40 triệu USD trở lên thuộc các ngành điện, khai
khoáng, luyện kim, xi măng, cơ khí chế tạo, hoá chất, khách sạn, căn hộ Văn phòng
cho thuê, khu vui chơi - giải trí - du lịch;
*Các dự án sử dụng đất đô thị từ 5 ha trở lên và các loại đất khác từ 50 ha trở
lên.
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư quyết định dự án nhóm B.
3. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định đối với những dự án quy định nhúm
C
Về phân cấp cấp Giấy phép đầu tư:
Dự án đầu tư phân cấp cấp Giấy phép đầu tư cho ủy ban nhân dân cấp tỉnh
phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:
Phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đã được duyệt;
Không thuộc dự án nhóm A có quy mô vốn đầu tư theo quy định của Thủ
tướng Chính phủ.
. Không phân cấp việc cấp Giấy phép đầu tư cho ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối
với dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực sau đây (không phân biệt quy mô vốn đầu tư):
Xây dựng đường quốc lộ, đường sắt;
7
Sản xuất xi măng, luyện kim, điện, đường ăn, rượu, bia, thuốc lá; sản xuất, lắp
ráp ôtô, xe máy;
Du lịch lữ hành.
Về nội dung và quy trình thẩm định dự án đầu tư được quy định trong nghị
định 24 như sau:
Nội dung thẩm định dự án đầu tư gồm:
- Tư cách pháp lý, năng lực tài chính của Nhà đầu tư nước ngoài và Việt Nam;
- Mức độ phù hợp của dự án với quy hoạch;

- Lợi ích kinh tế - xã hội (khả năng tạo năng lực sản xuất mới, ngành nghề mới
và sản phẩm mới; mở rộng thị trường; khả năng tạo việc làm cho người lao động;
lợi ích kinh tế của dự án và các khoản nộp cho ngân sách,...);
- Trình độ kỹ thuật và công nghệ áp dụng, sử dụng hợp lý và bảo vệ tài
nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái;
- Tính hợp lý của việc sử dụng đất, định giá tài sản góp vốn của Bên Việt Nam
(nếu có).
Quy trình thẩm định dự án do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy phép đầu tư
- Đối với dự án nhóm A, Bộ Kế hoạch và Đầu tư lấy ý kiến của các Bộ, ngành
và Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh có liên quan để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét,
quyết định. Trường hợp có ý kiến khác nhau về những vấn đề quan trọng của dự
án, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức họp tư vấn với đại diện có thẩm quyền của các
cơ quan có liên quan để xem xét dự án trước khi trình Thủ tướng Chính phủ. Tùy
từng trường hợp cụ thể, Thủ tướng Chính phủ có thể yêu cầu Hội đồng thẩm định
Nhà nước về các dự án đầu tư nghiên cứu và tư vấn để Thủ tướng Chính phủ xem
xét quyết định;
- Đối với dự án nhóm B thuộc thẩm quyền quyết định của Bộ Kế hoạch và
Đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư lấy ý kiến của các Bộ, ngành và Uỷ ban Nhân dân
cấp tỉnh có liên quan trước khi xem xét, quyết định.
- Thời hạn thẩm định dự án:
+ Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ
Kế hoạch và Đầu tư gửi hồ sơ tới các Bộ, ngành và Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh liên
quan lấy ý kiến.
8
+ Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, các
Bộ, ngành và Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh có ý kiến bằng văn bản gửi Bộ Kế hoạch
và Đầu tư về nội dung dự án thuộc phạm vi quản lý của mình; quá thời hạn trên mà
không có ý kiến bằng văn bản thì coi như chấp thuận dự án.
+ Đối với dự án nhóm A, trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận
được hồ sơ hợp lệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình ý kiến thẩm định lên Thủ tướng

Chính phủ. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ khi nhận được Tờ trình của Bộ
Kế hoạch và Đầu tư, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định đối với dự án. Trong thời
hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Thủ tướng Chính phủ,
Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo quyết định về việc cấp Giấy phép đầu tư đối với
dự án;
+ Đối với dự án nhóm B, trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận
được hồ sơ hợp lệ , Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoàn thành việc thẩm định dự án và cấp
Giấy phép đầu tư.
Thời hạn trên đây không kể thời gian Nhà đầu tư sửa đổi, bổ sung hồ sơ xin
cấp Giấy phép đầu tư.
Mọi yêu cầu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đối với Nhà đầu tư về việc sửa đổi,
bổ sung hồ sơ dự án được thực hiện bằng văn bản trong vòng 20 ngày làm việc kể
từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ .
Sau khi hết thời hạn quy định nêu trên mà không cấp Giấy phép đầu tư, Bộ
Kế hoạch và Đầu tư thông báo bằng văn bản cho Nhà đầu tư nêu rõ lý do, đồng sao
gửi cho các cơ quan có liên quan.
- Việc cấp Giấy phép đầu tư đối với các dự án trong các Khu công nghiệp,
Khu chế xuất và Khu công nghệ cao thực hiện theo cơ chế uỷ quyền của Bộ Kế
hoạch và Đầu tư.
Quy trình thẩm định đối với các dự án do Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh cấp
Giấy phép đầu tư
Thời hạn thẩm định dự án và cấp Giấy phép đầu tư:
Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban
Nhân dân cấp tỉnh gửi hồ sơ dự án tới Bộ quản lý ngành kinh tế kỹ thuật và các Bộ,
ngành liên quan lấy ý kiến đối với dự án.
9
Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, các Bộ,
ngành có ý kiến bằng văn bản gửi Uỷ ban Nhân dân tỉnh về nội dung dự án thuộc
phạm vi quản lý của mình; quá thời hạn trên mà không có ý kiến bằng văn bản thì
coi như chấp thuận dự án.

Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban
Nhân dân cấp tỉnh hoàn thành việc thẩm định dự án và cấp Giấy phép đầu tư.
Thời hạn trên đây không kể thời gian Nhà đầu tư sửa đổi, bổ sung hồ sơ xin
cấp Giấy phép đầu tư.
Mọi yêu cầu của Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh đối với Nhà đầu tư về việc sửa
đổi, bổ sung hồ sơ dự án được thực hiện bằng văn bản trong vòng 20 ngày làm việc
ngày kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ .
Sau khi hết thời hạn quy định nêu trên mà không cấp Giấy phép đầu tư, Uỷ
ban Nhân dân cấp tỉnh thông báo bằng văn bản cho Nhà đầu tư nêu rõ lý do, đồng
thời sao gửi cho các cơ quan có liên quan.
Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày cấp Giấy phép đầu tư, Giấy phép
điều chỉnh, Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh gửi bản gốc Giấy phép đầu tư, Giấy phép
điều chỉnh đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư và bản sao đến Bộ Tài chính, Bộ Thương
mại, Bộ quản lý ngành kinh tế kỹ thuật và các cơ quan quản lý Nhà nước có liên
quan
Như vậy việc cấp giấy phép đầu tư được phân cấp quản lý theo từng lĩnh vực
đầu tư và số vốn đầu tư. Các DNLD sẽ được cấp phép đầu tư sau khi đơn và hồ sơ
dự án được các cấp có thẩm quyền thẩm định và tiến hành cấp giấy phép đầu tư.
Cơ quan quản lý nhà nước cũng có thể điều chỉnh nội dung trong giấy phép
đầu tư đối với các dự án đã được cấp giấy phép nhwng trong quá trình triển khai
cần có những điều chỉnh về mục tiêu dự án, thay đổi đối tác, tăng vốn, thay đổi
mức ưu đãi.... Để giúp các doanh nghiệp có những điều chỉnh kịp thời, đảm bảo
hoạt động có hiệu quả, cơ quan quản lý nhà nước xem xét, cấp giấy phép chia tách,
hoặc hợp nhất các doanh nghiệp khi có đề nghị từ các doanh nghiệp, thậm chí dưa
ra các quyết định về việc chấm dứt hoạt động và thu hồi giấy phép đầu tư đối với
các trường hợp giải thể trước thời hạn.
Quy định về tỷ lệ góp vốn của các bên tham gia liên doanh.
10
Đối với liên doanh nói chung, tỷ lệ góp vốn của phía Việt Nam càng cao càng
tốt, nhất là đối với các dự án quan trọng, tỷ suất lợi nhuận cao và thời gian thu hồi

vốn nhanh. Nhà nước khuyến khích các đối tác Việt Nam cùng góp vốn chung để
có được cổ phần hoặc vốn góp lớn hơn trong các liên doanh, đưa ra các chính sách
cụ thể trong việc huy động vốn trong nước cho những lĩnh vực thu lợi nhuận nhanh
và lôi kéo các ngân hàng của Việt nam vào cuộc. Cụ thể như sau:
- Vốn pháp định của Doanh nghiệp liên doanh ít nhất phải bằng 30% vốn đầu
tư. Đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, dự án đầu tư vào địa bàn
khuyến khích đầu tư, dự án trồng rừng, dự án có quy mô lớn, tỷ lệ này có thể thấp
hơn, nhưng không dưới 20% vốn đầu tư và phải được Cơ quan cấp Giấy phép đầu
tư chấp thuận.
- Tỷ lệ góp vốn của Bên hoặc các Bên liên doanh nước ngoài do các Bên liên
doanh thoả thuận, nhưng không được thấp hơn 30% vốn pháp định của Doanh
nghiệp liên doanh. Căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh, công nghệ, thị trường, hiệu quả
kinh doanh và các lợi ích kinh tế - xã hội khác của dự án, Cơ quan cấp Giấy phép
đầu tư có thể xem xét cho phép Bên liên doanh nước ngoài có tỷ lệ góp vốn thấp
hơn, nhưng không dưới 20% vốn pháp định.
Trường hợp thành lập Doanh nghiệp liên doanh mới, tỷ lệ góp vốn pháp định
của các Nhà đầu tư nước ngoài phải bảo đảm điều kiện nêu trên.
- Đối với những dự án quan trọng theo quy định của Chính phủ, khi ký kết
Hợp đồng liên doanh, các Bên liên doanh thoả thuận việc tăng tỷ lệ góp vốn của
Bên Việt Nam trong vốn pháp định của Doanh nghiệp liên doanh.
Bên cạnh đó, nhà nước còn có biện pháp tính toán, kiểm soát chặt chẽ về giá
cả, máy móc thiết bị, công nghệ của phía nước ngoài để tránh tình trạng nước ngoài
nâng giá quá cao gây thiệt hại không chỉ bên Việt nam mà cho cả lợi ích của Nhà
nước Việt Nam.
Kiểm soát, giám sát việc nhập thiết bị, chuyển giao công nghệ.
Nhà nước quản lý quá trình chuyển giao công nghệ, nhập máy móc, thiết bị
của các doanh nghiệp có vốn dầu tư trực tiếp nước ngoài để tránh trường hợp các
doanh nghiệp nhập khẩu những công nghệ đã lạc hậu. Tuy nhiên, việc lựa chọn
công nghệ phải mang tính loại trừ, tức là phải hi sinh một mục tiêu khác. Muốn tạo

×