Tải bản đầy đủ (.doc) (76 trang)

Điều tra các loài cây làm thuốc chữa các nhóm bệnh thời tiết, bệnh hô hấp, bệnh phụ nữ ở huyện nghi xuân, tỉnh hà tĩnh luận văn thạc sĩ sinh học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.01 MB, 76 trang )

1
Bễ GIAO DUC VA AO TAO
TRNG AI HOC VINH

Lê Thị Phợng

Điều tra các loại cây làm thuốc chữa các nhóm bệnh thời
tiết, hô hấp, phụ nữ ở huyện nghi xuân, tỉnh hà tĩnh
Chuyên ngành: thực vật
MÃ số: 60.42.20

LUN VN THAC SĨ SINH HỌC

Vinh – 2011

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tơi xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc đến PGS.
TS Phạm Hồng Ban hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc nghiên
cứu và hoàn thành luận văn.


2
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học, các thầy,
cô giáo thuộc khoa Sinh học trường Đại học Vinh, cùng Ban lãnh đạo, các cán
bộ Phịng địa chính huyện Nghi Xn, UBND xã: Xn Yên, Tiên Điền, Xuân
Giang đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi trong q trình nghiên cứu.
Tơi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè cùng các anh,
chị học viên cao học đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tơi hồn
thành luận văn này.
Trong q trình thực hiện đề tài cịn nhiều thiếu sót. Tơi mong nhận được
sự góp ý q báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè.


Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 12 năm 2011
Tác giả


3

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU..........................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC........................3
1.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên thế
giới......................................................................................................................................3
1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam.............................7
1.3. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở huyện Nghi Xuân............12
1.4. Điều kiện tự nhiên.................................................................................................13
1.4.1. Vị trí địa lý..........................................................................................................13
1.4.2. Địa hình................................................................................................................14
1.4.3. Đất đai..................................................................................................................16
1.4.4. Khí hậu, thủy văn..............................................................................................16
1.5. Điều kiện kinh tế - xã hội....................................................................................17
1.5.1. Dân số, lao động................................................................................................17
1.5.2. Phát triển kinh tế................................................................................................17
1.5.3. Văn hóa xã hội...................................................................................................19
CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU...............................................................................................20
2.1. Mục tiêu nghiên cứu.............................................................................................20
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu....................................................................20
2.3. Thời gian nghiên cứu...........................................................................................20
2.4. Nội dung nghiên cứu............................................................................................20

2.5. Phương pháp nghiên cứu.....................................................................................20
2.5.1. Phương pháp phỏng vấn, điều tra..................................................................20
2.5.2. Phương pháp thu hái, xử lí và bảo quản mẫu vật......................................21
2.5.3. Phương pháp giám định nhanh họ và chi ngoài thiên nhiên...................21


4
2.5.4. Phương pháp xác định tên khoa học.............................................................21
2.5.5. Phương pháp xây dựng danh lục...................................................................21
2.5.6. Phương pháp đánh giá đa dạng thực vật về phân loại..............................21
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU...........................................................23
3.1. Thống kê các lồi cây làm thuốc chữa các nhóm bệnh thời tiết, bệnh
hô hấp, bệnh phụ nữ tại các điểm nghiên cứu ở huyện Nghi Xuân, tỉnh
Hà Tĩnh............................................................................................................................23
3.2. Đánh giá tính đa dạng cây thuốc của người dân ở khu vực nghiên
cứu.....................................................................................................................................37
3.2.1. Đa dạng về bậc ngành......................................................................................37
3.2.2. Đa dạng về các lớp trong ngành Mộc lan....................................................38
3.2.3. Sự đa dạng về số lượng loài và chi trong các họ.......................................39
3.3. Đa dạng về dạng thân các cây thuốc được người dân sử dụng.................42
3.4. Sự phân bố cây thuốc theo môi trường sống..................................................43
3.5. Vấn đề sử dụng cây thuốc của người dân ở khu vực nghiên cứu.............45
3.5.1. Sự đa dạng về các bộ phận sử dụng..............................................................45
3.5.2. Sự đa dạng về số lượng các bộ phận của từng loại được sử dụng........47
3.5.3. Đa dạng về ba nhóm bệnh được người dân chữa trị bằng cây thuốc
............................................................................................................................................48

3.6. Đa dạng phương pháp bào chế và sử dụng thuốc.........................................49
3.7. Các bài thuốc chữa ba nhóm bệnh thời tiết, phụ nữ và hô hấp thu
thập được.........................................................................................................................51

3.8. Bảng tổng hợp ba nhóm bệnh thời tiết, hơ hấp, phụ nữ..............................52
KẾT LUẬN...................................................................................................................54
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................56


5

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
Trang

Sơ đồ 1: Bản đồ hành chính huyện Nghi Xuân.....................................................15
Bảng 3.1. Danh lục các lồi cây làm thuốc chữa các nhóm bệnh thời tiết,
hô hấp, phụ nữ ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh...............................................24
Bảng 3.2. Đánh giá đa dạng vị trí taxon trong các ngành...................................37
Bảng 3.3. Số lượng họ, chi, loài ở hai lớp trong ngành Mộc lan......................38
Bảng 3.4. Sự phân bố số lượng loài cây thuốc trong các họ..............................39
Bảng 3.5. Các họ có số lượng lồi nhiều nhất.......................................................42
Bảng 3.6. Dạng thân của các cây thuốc được người dân sử dụng....................42
Bảng 3.7. Sự phân bố các lồi cây thuốc theo mơi trường sống.......................44
Bảng 3.8. Sự đa dạng trong các bộ phận được sử dụng làm thuốc...................46
Bảng 3.9. Số lượng bộ phận được sử dụng làm thuốc.........................................48
Bảng 3.10. Sự đa dạng về 3 nhóm bệnh được chữa trị bằng cây thuốc..........49
ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh..................................................................................................49
Bảng 3.11. Thống kê cách bào chế và sử dụng cây thuốc............................50
Bản 3.12. Bảng tổng hợp 3 nhóm bệnh thời tiết, hô hấp, phụ nữ.....................52


6

DANH MỤC HÌNH

Trang

Hình 3.1. Tỷ lệ % taxon của các ngành cây làm thuốc tại điểm nghiên
cứu.....................................................................................................................................37
Hình 3.2. Sự phân bố họ, chi, loài trong hai lớp của ngành Mộc lan................................38

Hình 3.3. Tỷ lệ % các nhóm dạng thân của cây thuốc ở khu vực nghiên
cứu.....................................................................................................................................43
Hình 3.4. Phân bố các lồi cây thuốc khu vực nghiên cứu.................................45
theo mơi trường sống...................................................................................................45
Hình 3.5. Tỷ lệ % các bộ phận được sử dụng làm thuốc....................................46
Hình 3.6. Tỷ lệ % cách bào chế thuốc của người dân ở Nghi Xuân................50


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tài nguyên cây thuốc là một trong những nguồn tài nguyên vô giá mà
thiên nhiên đã ban tặng cho con người. Ngay từ thủa ban sơ hay khi y học tây
y chưa phát triển nó đã giúp con người chống chọi với thiên nhiên, với bệnh
tật để tồn tại và phát triển tới ngày nay. Gần 150.000 loài cây thuốc trong số
250.000 – 300.000 lồi thực vật có hoa ở vùng nhiệt đới đã được sử dụng làm
thuốc. Gần 5% số cây thuốc đó đã được nghiên cứu thành phần hóa học.
Trong số 11.373 lồi cây có hoa ở Việt Nam có tới 3.870 loài được sử dụng
làm thuốc.
Ngày nay, những hiểu biết về cây cỏ làm thuốc đã biến thành những tri
thức thông thường mà nhiều người cùng biết, nhiều cây thuốc đã đi vào đời
sống, vào bữa ăn hàng ngày của nhân dân. Chẳng hạn như quả xoài, quả quất
đều là thức ăn, đều là thuốc chữa bệnh ho, Bạc Hà (Mentha arvensis L.) là

một vị thuốc rất phổ biến ở nước ta dùng chữa cảm sốt, nhức đầu, Ích mẫu
(Leonurus heterophyllus Sw.) được biết đến như một loại dược thảo trị bách
bệnh cho phụ nữ trong điều kinh nguyện tự nhiên.
Từ xưa cho tới nay cây thuốc nam là loài cây quen thuộc đối với người
Việt Nam, các loài cây này có ở khắp nơi, có ngay cả trong vườn nhà của các
gia đình, sử dụng tiện lợi, hiệu quả kinh tế, ít độc hại nên việc trồng các lồi
cây này đem lại nhiều lợi ích đặc biệt đối với nước ta, một nước có điều kiện
tự nhiên thích hợp cho các loài cây thuốc phát triển.
Hiện nay, ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có nhiều tài liệu, nhiều
nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc đi sâu tìm hiểu từng hoạt chất có trong
cây cỏ, trong các bài thuốc dân gian từ đó chiết suất tạo ra các sản phẩm có
giá trị chữa bệnh, có hiệu quả, nhưng việc sử dụng cây cỏ và các bài thuốc


2
dân gian truyền thống vẫn được duy trì. Tuy nhiên dưới sức tàn phá quá mức
của con người đã làm cho các loài cây thuốc đang dần mất đi. Do đó, việc
điều tra các lồi cây cỏ có tác dụng chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian là
rất cần thiết.
Sử dụng cây thuốc nam chữa các bệnh thông thường là một chủ trương
lớn của ngành y tế nhằm thực hiện phương châm thầy tại chỗ, thuốc tại chỗ.
Xuất phát từ vấn đề trên chúng tôi chọn đề tài: “Điều tra các lồi cây làm
thuốc chữa các nhóm bệnh thời tiết, bệnh hô hấp, bệnh phụ nữ ở huyện
Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh”.


3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC

1.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên thế
giới
Thực vật nói chung là một kho tài nguyên vô giá, với nguồn dược liệu
phong phú bao gồm nhiều lồi cây cỏ có thể dùng làm thuốc chữa bệnh cho
con người. Từ xa xưa, con người đã biết dùng các thực vật hoang dại và một
số cây trồng quanh nhà để làm dược liệu chữa và phòng nhiều thứ bệnh, cũng
như để bồi bổ cơ thể. Các bài thuốc dân gian đó là những kinh nghiệm quý
báu của bao nhiêu thế hệ ngày càng được thế giới quan tâm [theo 30].
Nền y học Trung Quốc được xem là cái nôi của nền đông y nhân loại.
Vào đầu thế kỷ thứ II người Trung Quốc đã biết dùng các loài cây cỏ để chữa
bệnh như: Sử dụng nước chè (Thea sinensi L.) đặc để rửa vết thương và tắm
ghẻ; dùng rễ cây cốt khí củ (Polygonum cuspidatum); vỏ rễ cây táo tầu
(Zizyphus vulgaris) …để chữa vết thương; dùng các loài nhân sâm (Panax) để
phục hồi ngũ quan, trấn tĩnh tinh thần, chế ngự cảm xúc, chặn đứng kích
động, giải trừ lo âu, sáng mắt, khai sáng trí tuệ, gia tăng sự thông thái được sử
dụng phổ biến từ lâu ở Trung Quốc [theo 30]. Thần nông là người đã sưu tầm
và ghi chép nên 365 vị thuốc đông y trong cuốn sách “Mục lục cây thuốc
thảo mộc” [theo 30]. Từ 400 năm TCN, người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã
biết đến gừng (Zingiber officinale Rosc.). Đây cũng là thành phần của một bài
thuốc cổ truyền Ayurveda dùng rộng rãi ở Nepan để chữa các chứng bệnh
cúm, cảm lạnh, kém ăn, viên khớp. Ở Bungari, gừng được dùng ở dạng chè
thuốc để chữa cảm lạnh, ho, sổ mũi, sốt v.v… [theo 30]. Ở Trung Quốc và
Nhật Bản gừng được dùng để phịng chữa sỏi mật, ăn nhiều gừng có thể hạn
chế sự hình thành và phát triển của sỏi mật [theo 4]. Trong cuốn “Cây thuốc


4
An Giang” (1991) đã liệt kê một danh lục các cây cỏ để chữa bệnh như cây
Mã Đề (Plantago major L.) sắc hoặc nấu cao uống làm thuốc thông tiểu, chữa
ho lâu ngày, viên khí quản, tả lỵ, đau mắt đỏ, lá tươi giã nát đắp mụn nhọt,

làm mụn nhọt chóng vỡ mủ và mau lành; Mơ lơng chữa sơi bụng, ăn không
tiêu, viêm dạ dày, viêm ruột, trị ho, mệt ít ngủ…[8]. Trầu khơng (Piper betle
L.) trị vết thương nhiễm trùng có mủ sưng đau, hen suyễn, đầu nhức khó thở,
đau bụng đầy hơi [9].
Trong y học dân tộc cổ truyền của nước ta cũng như nhiều nước trên thế
giới đã nói đến dùng tỏi để điều trị bệnh và vết thương trong quyển “Nam dược
thần hiệu” thế kỷ 14 Tuệ Tĩnh đã ghi: Tỏi chữa được mụn nhọt, giải độc [31].
Galien một thầy thuốc thời cổ Ai Cập đã xem tỏi là một loại thuốc chữa
bệnh của người nông thôn. Đồng nghiệp của ông là Dioscoride xem tỏi là một
loại thuốc bổ, lợi tiểu, trị giun, giải độc và trị hen xuyễn, vàng da, đau răng và
các bệnh về da. Tại Trung Quốc, tỏi được dùng chống bệnh đau màng óc,
bệnh xơ cứng động mạnh, huyết áp cao, ung thư, hạn chế bệnh đái tháo
đường, chữa bệnh viêm đường ruột do vi khuẩn và trị giun sán [theo 23]. Ở
Campuchia, Malaixia dùng hương nhu tía (Ocimun sanctum L.) trị đau bụng,
sốt rét, nước lá tươi uống trị long đờm hoặc giã nát đắp trị khớp và bệnh ngoài
da [theo 33]. Nhân dân Ấn Độ dùng cây Bồ Công Anh (Cichorium intybus L.)
chữa bệnh ỉa chảy, nôn mửa, sốt rét [theo 33]. Cây hẹ dùng lá và rễ chữa bệnh
ho của trẻ em, kiết lỵ ra máu, làm thuốc bổ giúp tiêu hóa, trị viêm họng, viêm
tai. Hạt hẹ chữa mộng tinh, di tinh, đi đái ra máu. Hải Thượng Lãn Ơng đã nói
về hẹ như sau: Hẹ có vị cay, đắng, chua, chữa chứng đau lưng. Theo kinh
nghiệm của người cổ Hy Lạp và La Mã quả Óc chó (Juglans regia) được
dùng để chữa vết loét, vết thương lâu ngày không liền [25]. Ở vùng Á Đông,
cách đây hơn 6000 năm dùng Củ Nghệ (Curcuma longa) vừa làm chất màu
làm gia vị, bảo quản thức ăn tốt [theo 28]. Phụ nữ Philippin dùng củ Nghệ


5
chữa kinh nguyệt không đều; lá cùng với hoa chữa ho, giun, giúp tiêu hóa
tốt. Cây Ngãi cứu (Artemisia vuilgris) dùng trị thổ huyết, chữa trực tràng, tử
cung xuất huyết, còn chữa đau bụng, bế kinh, phụ nữ bị động thai [theo 15].

Những cây mọc hoang phổ biến như cây Bồ cu vẽ (Breynia fruticosa) sắc vỏ
cây làm thuốc cầm máu hoặc tán bột rắc chữa mụn nhọt, vết lở loét chóng
khỏi [theo 30]. Nhân dân Campuchia dùng củ khoai sáp (Alocasi macrrhiza)
chữa ghẻ, ngứa. Người dân Lào ngâm vỏ cây Đại (Plumeria rubra) với rượu
để chữa ghẻ lở. Dân Thái Lan dùng nhựa mủ cây đại trộn với dầu dừa bơi
ngồi da trị viêm khớp [theo 5].
Cùng với phương thức chữa bệnh theo Y học cổ truyền, các nhà khoa
học trên thế giới còn đi sâu nghiên cứu cơ chế của các hợp chất hóa học trong
cây cỏ có tác dụng chữa bệnh. Tokin, Klein, Penneys đã công nhận rằng hầu
hết cây cỏ đều có tính kháng khuẩn. Tính kháng khuẩn này là do có các hợp
chất như Phenolic, antoxyan, các dẫn xuất quinin, alkaloid, heterozit,
saponin… tạo nên [theo 30]. Theo Anon (1982) trong vòng gần 200 năm trở
lại đây có ít nhất 121 hợp chất hóa học tự nhiên con người đã biết được cấu
trúc có trong cây cỏ có thể dùng làm thuốc. Ví dụ như cây Lô Hội (Aloe
barbadensis) theo Gotthall (1950) đã phân lập được chất Gucosit barbaloin có
tác dụng với vi khuẩn Lao ở người và có tác dụng với Bacilus subtilic [theo
30]. Lucas và Lewis (1944) đã chiết được Berberin từ cây Hoàng Liên
(Coptis tecta) có tác dụng chữa bệnh đường ruột ở người và kiềm chế một số
giống vi khuẩn làm hại cây cối. Schlederre (1962) cho rằng chất đó có thể
chữa khỏi bệnh Bontond orient. Lebedev nhận xét rằng berberin có tác dụng
đối với tụ cầu, liên cầu, trực khuẩn, ho gà, trực khuẩn lị, thương hàn và trực
khuẩn lao [theo 30].
Gần đây theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO) thì đến năm
1985 đã có gần 20000 loài thực vật (trong tổng số 250000 loài đã biết) được


6
sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để chế biến thuốc. Trong đó ở
ấn Độ có khoảng 6000 loài, Trung Quốc 5000 loài, Vùng nhiệt đới Châu Mỹ
hơn 1900 lồi thực vật có hoa. Theo số liệu của WHO yêu cầu sử dụng cây

thuốc ngày càng cao. Ở Trung Quốc tiêu thụ hàng năm 700000 tấn dược liệu,
sản phẩm thuốc y học dân tộc đạt giá trị hơn 1,7 tỉ USD vào năm 1986. Tổng
giá trị về thuốc có nguồn gốc thực vật trên thị trường Âu – Mỹ và Nhật bản
vào năm 1985 là hơn 43 tỉ USD. Tại các nước có nền cơng nghiệp phát triển
tăng từ 335 triệu USD (1976) lên 551 triệu USD (1980). Còn ở Nhật bản nhập
khẩu dược liệu tăng 21000 tấn(1979) lên 22640 tấn dược liệu (1980) tương
đương 50 triệu USD. Ở Mỹ 4,5 % tổng giá trị GDP (tương đương 75 triệu
USD) thu được từ cây hoang dại làm thuốc phục vụ cho nền y học cổ truyền
[18]. Như vậy, cây thuốc là loại cây kinh tế, cung cấp nhiều loài thuốc dân tộc
và hiện đại trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho con người (Theo
Chieng Mai Declaration, 1988). Dù bất cứ quốc gia nào thì cây thuốc và Y
học cổ truyền ln có ý nghĩa thiết thực trong việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe
cho người dân [18].
Thế giới thực vật đa dạng và phong phú, đem lại nhiều lợi ích cho con
người trong đó có lợi trong việc chữa bệnh cho người và động vật. Do đó đã
bị khai thác một cách khơng hợp lý, khai thác không đi đôi với việc bảo vệ
nên nhiều lồi trở nên khan hiếm, có nguy cơ bị tuyệt chủng hoặc đã tuyệt
chủng. Sự mất mát các loài đang xảy ra nhanh chóng và đang trong thời kỳ
báo động khẩn cấp. Ước tính từ năm 1990 đến 2020 có khoảng 5 – 10% số
lượng các loài sẽ biến mất và số loài bị tiêu diệt sẽ tăng lên là 25% vào
khoảng năm 2050 [18]. Trong số các loài thực vật bị mất hoặc bị tuyệt chủng
có rất nhiều lồi làm thuốc. Ba gạc là một trong nhiều loài đang trong tình
trạng bị khai thác quá mức ở Ấn Độ, Srilanca, Bănglađet, Thái lan… với khối
lượng 400 – 500 tấn có khi đến hàng ngàn tấn vỏ rễ mỗi năm để xuất sang thị


7
trường Âu – Mỹ. Với tốc độ khai thác như vậy đã dẫn đến sự khan hiếm có
nguy cơ tuyệt chủng. Một loài cây thuốc quý của Ấn Độ là Coptis teeta, trước
kia thu hái quá mức để bán sang các nước Đơng Á nên hiện nay đã lâm vào

tình trạng khan hiếm [18].
Trong giai đoạn hiện nay, để phục vụ cho mục đích sức khỏe con người,
cho sự hưng thịnh của nước nhà và sự phát triển không ngừng của xã hội, để
chống lại các bệnh nan y, thì cần thiết phải kết hợp giữa Đông – Tây Y, giữa
y học hiện đại với y học cổ truyền. Thống nhất của họ là chìa khóa nhân loại
khám phá ra những loại thuốc có ích cho tương lai. Cho nên việc khai thác kết
hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức quan trọng. Các nước trên
thế giới đang hướng về thực hiện chương trình “Quốc gia kết hợp sử dụng,
bảo tồn và phát triển cây thuốc” [19].
1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam
Người Việt Nam từ xa xưa đã biết dùng các loài thực vật trong thiên
nhiên vào làm thức ăn và thuốc chữa bệnh. Những bài thuốc chữa bệnh được
tích lũy từ thế hệ này đến thế hệ khác rất hiệu nghiệm đã góp phần giữ gìn sức
khỏe và bảo vệ sự tồn tại của nòi giống suốt 4000 năm lịch sử. Điều này được
minh chứng qua lịch sử phát hiện và sử dụng cây thuốc của tổ tiên người Việt.
Ngay từ thời vua Hùng (2879 – 257 trước cơng ngun) qua các văn tự
Hán Nơm cịn sót lại (“Đại việt sử ký ngoại ký”, Lĩnh nam chính quái liệt
truyện”, tổ tiên ta đã biết sử dụng cây cỏ chữa bệnh như: cây búng báng, quả
tro, quả móc [theo 30]. Trước năm 11 trước cơng ngun đã có tục ăn trầu,
nhuộm cho chắc răng. Thế kỷ thứ III trước công nguyên đã phát hiện một số
cây cỏ làm thuốc như: Sắn dây, Cam, Nhãn, Vải, Khoai Lang... Theo Long
Uý chép lại, vào đầu thế kỷ II trước công nguyên có hàng trăm vị thuốc từ đất
giao chỉ như: Ý dĩ, Hoắc Hương, Sơn khương Đậu khấu…được giới thiệu và


8
sử dụng [theo 30]. Kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của nhân dân phát triển,
gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của các danh y nổi tiếng đương thời.
Đời nhà Trần (1225 – 1399), có sự kiện Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hưng
Đại Vương – Trần Quốc Tuấn xây dựng một vườn thuốc lớn để chữa bệnh

cho quân sỹ, tên núi đó gọi là “Sơn Được” nay cịn di tích tại một quả đồi
thuộc xã Hưng Đạo (Chí Linh – Hải Hưng). Chu Tiên biên soạn cuốn sách
“Bản thảo cương mục toàn yếu” đây là cuốn sách thuốc đầu tiên xuất bản năm
1429 [theo 34].
Hai Danh y nổi tiếng cùng thời đó là Phạm Cơng Bân (vào thế kỷ XIII)
và người thầy thuốc nổi tiếng là Tuệ Tĩnh, tên thực là Nguyễn Bá Tĩnh (vào
thế kỷ XIV). Ông biên soạn bộ “Nam dược Thần hiệu” gồm 11 quyển với 496
vị thuốc nam, trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật và 3932
phương thuốc đơn giản để trị 184 chứng bệnh của 10 khoa lâm sàng. Ông còn
viết cuốn “Hồng Nghĩa Giác tư Y thư” gồm hai Hán Nơm phú, tóm tắt cơng
dụng của 130 lồi cây thuốc cùng 13 đơn thuốc và cách trị cho 37 chứng sốt
khác nhau. Ơng đã khẳng định vai trị của thuốc nam trong đời sống. Trong
“Nam dược Thần Hiệu” có ghi: Tơ mộc (Caesalpinia sappan L.), vị mặn, tính
bình khơng độc, trừ huyết xấu, trị đau bụng thương phong, sưng lở [31]. Sử
quân tử (Quisqualis indica L.) có vị ngọt, tính ơn, khơng độc vào hai kinh tỳ
và vị, chữa 5 chứng cam trẻ em, tiểu tiện, sát khuẩn, chữa tả lị, còn làm thuốc
mạnh tỳ vị, chữa hết thẩy các chứng lở ngứa của trẻ em [32], Sầu đâu rừng
(Brucea javanica (L.) Merr.) vị đắng, tính hàn, có độc, sát trùng, trị đau ruột
non nhiệt trong bàng quang, điên cuồng và ghẻ lở. Cây lá móng (Lawsonia
inermis L.) chữa hắc lào, lở loét ngoài da, tê mỏi, viêm đường hô hấp, gan....
Bạc hà (Mentha arvensia L.) chữa sốt, nhức đầu [27] … Tuệ Tĩnh được coi là
một bậc Danh y kỳ tài trong lịch sử Y học nước ta, là “Vị thánh thuốc nam”.
Ông chủ trương lấy” Nam dược trị nam nhân” Trong bộ sách quý của ông về


9
sau bị quân minh thu gần hết nay chỉ còn lại: [theo 30]. “Nam dược thần
hiệu”, “Tuệ Tĩnh y thư”, “Thập tam phương gia giảm”, “Thương hàn tam thập
thất trùng pháp” [14].
Sau Tuệ Tĩnh một thời gian không thấy xuất hiện tác giả nào mãi đến

thời Lê Dụ Tông xuất hiện Hải Thượng Lãn Ông - tên thực là Lê Hữu Trác
(1721 – 1792). Ông là người am hiểu nhiều về y học, sinh lý học, đọc nhiều
sách thuốc. Trong 10 năm khổ cùng tìm tịi nghiên cứu, ơng viết bộ “Lãn Ơng
tâm lĩnh” hay “Y tơn tâm lĩnh” gồm 66 quyển đề cập tới nhiều vấn đề y dược.
Như “Y huấn cách ngôn”, “Y lý thân nhân”, “Lý ngôn phụ chính”, “Y nghiệp
thần chương” xuất bản năm 1772. Trong bộ sách này ngoài sự kế thừa “Nam
dược Thần hiệu” của Tuệ Tĩnh ơng cịn bổ sung thêm 329 vị thuốc mới.
Trong quyển “Lĩnh nam bản thảo”. Ông đã tổng hợp được 2854 bài thuốc
chữa bệnh bằng kinh nghiệm dân gian. Mặt khác ông mở trường đào tạo y
sinh, truyền bá tư tưởng và hiểu biết của mình về y học. Do vậy, Lãn Ơng
được mệnh danh là ơng tổ sáng lập ra nghề thuốc Việt Nam [theo 11].
Cùng thời với Hải Thượng Lãn Ơng cịn có hai trạng ngun là Nguyễn
Nho và Ngô Văn Tĩnh đã biên soạn bộ “Vạn Phương tập nghiêm” gồm 8
quyển xuất bản năm 1763 [theo 30].
Dưới triều Tây Sơn (1788 – 1802) Có “Nam dược” với 620 vị và các
phương thuốc kinh nghiệm trong “Gia truyền bí phương” và “Kinh nghiệm
lương phương” của Nguyễn Hồnh ở Quảng n – Thanh Hóa [theo 30].
Đầu triều nhà Nguyễn (1802 – 1845) có “Nam dược”, “Nam dược chỉ
danh truyền”, “La kê phương dược” … của Nguyễn Quang Tuân, ghi chép
500 vị thuốc nam trong dân gian dùng để chữa bệnh [theo 30]; “Nam dược tập
nghiệm quốc âm” của Nguyễn Quang Lượng, ghi chép về các phương thuốc
dân gian [theo 30]; “Ngư tiều y thuật vấn đáp” của Nguyễn Đình Chiểu [theo
30]; “Nam Thiên Đức Bảo tồn thư” của Lê Đức Huệ với 511 vị thuốc nam


10
và bệnh học [theo 30]. Đến năm 1858, Trần Nguyên Phương đã thống kê và
mơ tả trên 100 lồi cây thuốc trong cuốn “Nam bang thảo mộc”.
Dưới thời Pháp thuộc, người Pháp đã tổ chức y tế nước ta theo cách Tây
y. Y học cổ truyền khơng cịn nằm trong hệ thống y tế nhà nước. Số người

hành nghề y học cổ truyền cũng bị hạn chế. Tuy vậy, dược học cổ truyền của
ta vẫn có “Trung Việt dược tính hợp biên” của Đinh Nho Chân gồm 1.600 vị
thuốc nam bắc, rồi bộ “Nam dược” của Nguyễn An Cư ở Nam bộ và “Việt
Nam dược học” của Phó Đức Thành [27]. Một số tác giả người Pháp như:
Erevost, Petelot, Perrol Hurrier đã xuất bản bộ “Catalogue des produits de
L’indochine” (1928-1935) trong đó tập V (Produits medicanaux, 1928) đã mơ
tả 368 cây thuốc và vị thuốc. Đến năm 1952 Petelot bổ sung và xây dựng
thành bộ “Les plantes medicinales du Cambodge, du laos et du Việt Nam”
gồm 4 tập đã thống kê 1482 vị thuốc thảo mộc có ở ba nước Đơng Dương
[theo 30].
Từ ngày hồ bình lập lại ở Miền Bắc và giải phóng miền Nam, thống nhất
đất nước. Đảng và nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực, quan tâm đến công tác điều
tra nghiên cứu nguồn cây thuốc ở Việt Nam, phục vụ cho vấn đề sức khỏe toàn
dân. Ngày 27 tháng 2 năm 1955, trong thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Hội
nghị ngành y tế. Người đã đề ra đường lối xây dựng nền y học Việt Nam khoa
học, dân tộc và đại chúng, dựa trên sự kết hợp giữa y học cổ truyền của dân tộc
với Y học hiện đại. Bộ Y tế cũng tạo điều kiện cho đông Y phát triển, nên việc
nghiên cứu thuốc nam được xúc tiến mạnh mẽ. Nhà nước đã tổ chức mạng lưới
y học từ Trung ương đến địa phương, thành lập viện y học dân tộc để đào tạo y,
bác sỹ, các bệnh viện y học dân tộc, hội đông y … cho sưu tầm các nguồn tài
liệu về thuốc nam, tổ chức điều tra, phân loại tìm hiểu dược tính, thành phần hố
học lập bản đồ dược liệu trong cả nước và sản xuất các loại thuốc từ nguồn cây
cỏ trong thiên nhiên. Vấn đề này đã được GS – TS Đỗ Tất Lợi dày công nghiên


11
cứu trong nhiều năm và đã được xuất bản nhiều tài liệu trong việc sử dụng của
đồng bào dân tộc về vấn đề cây con dùng làm thuốc. Đáng chú ý nhất là năm
1957 đã biên soạn bộ “Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập. Năm
1961 tái bản in thành 2 tập. Trong đó tác giả đã mô tả nêu công dụng của hơn

100 cây thuốc nam [theo 30].
Từ 1962 – 1965 Đỗ Tất Lợi lại cho xuất bản bộ “Những cây thuốc và vị
thuốc Việt Nam” gồm 6 tập, đến năm 1969 tái bản thành hai tập trong đó có 500
tập vị thuốc có nguồn gốc thực vật động vật và khống vật. Ơng tiếp tục nghiên
cứu, bổ sung về cây thuốc lần tái bản thứ 11 (2003) gồm 792 lồi cây thuốc được
mơ tả hình thái, phân bố, thành phần hóa học và cơng dụng chữa các nhóm bệnh
khác nhau [20].
Năm 1965, Hội đông y Việt Nam đã biên soạn và đưa ra 50 lồi cây thuốc
chữa bỏng thơng thường [17]. Võ Văn Chi (1976) trong luận án Tiến sĩ của
mình ơng đã thống kê 1360 loài cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành hạt kín ở
Miền Bắc. Đến năm 1991, trong một báo cáo tham gia hội thảo quốc gia về
cây thuốc lần thứ 2 tổ chức ở thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã giới thiệu
một danh sách các loài cây thuốc Việt Nam với 2280 loài cây thuốc bậc cao
có mạch, thuộc 254 họ trong 8 ngành. Năm 1997 trong “Từ điển cây thuốc
Việt Nam” [6] ông đã giới thiệu 3200 lồi cây thuốc, mơ tả tỉ mỉ về hình thái,
các bộ phận sử dụng, cách chế biến, các đơn thuốc đi kèm tác giả còn nghiên
cứu cây thuốc ở một số địa phương như “cây thuốc của tỉnh Lâm Đồng”
(1982), “Hệ cây thuốc Tây nguyên” (1985), “Cây thuốc Đồng Tháp Mười”
(1987), “Cây thuốc An Giang” (1991) [8]…
Nguồn tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam đa dạng, phong phú và là
nguyên liệu cho công nghiệp dược, công tác chiết xuất hoạt chất tự nhiên
được đẩy mạnh. Chỉ tính trong vịng hơn chục năm lại đây có 701 lồi cây
thuốc được điều tra tính kháng khuẩn và một số lồi cây thuốc chính thức


12
được đưa vào sản xuất thuốc đại trà như: Thanh hao (Artemisia annua L),
Vằng đắng (Coscinium fenestratum (Gaertn) Colebr), Sừng dê (Strophanthus
divergens A.Graham), Ba gạc (Rauvolfia verticilata (Luor) Baill) [21], [22].
Theo công bố của Trần Ngọc Ninh (1994), Lê Trần Đức (1995, 1997) [12],

[13], các nhà khoa học Việt Nam bước đầu chiết được hợp chất Taxol từ các
lồi Thơng đỏ (Taxus spp.) có tác dụng chống ung thư. Hiện nay, ở nước ta
cây cỏ dùng làm thuốc đã vượt quá 3.800 loài, khoảng 1.200 chi và trên 300
họ, trong đó phần lớn là thực vật có hoa với hơn 2.500 loài thuộc 1.050 chi.
Mới đây nhất bộ “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” (2003) gồm
2 tập, của tập thể tác giả Viện dược liệu đã giới thiệu 920 loài cây thuốc, 80
loài động vật làm thuốc và giới thiệu gần 1.000 bài thuốc chữa các bệnh
thường gặp [2].
Diệu Phương (2001) vai trò của cây Thương lục đến sức khỏe con người
[26]. Bùi Trọng Thái (2007) giới thiệu 18 loài cây thuốc chữa bệnh cảm sốt, 7
loài cây thuốc nam chữa bệnh ỉa chảy, 12 loài chữa bệnh lỵ, 6 loài chữa bệnh
điều kinh, 10 loài chữa phong thấp, 10 loài chữa ho, 7 loài chữa bệnh nhọt,
ngứa [28]. Tác giả Vũ Thế Dân (2005) đã giới thiệu 25 loài cây thuốc nam và
những bài thuốc dân gian chữa bệnh [10].
Như vậy, xuyên suốt theo dòng lịch sử cùng với sự hình thành, xây dựng,
đấu tranh và bảo vệ tổ quốc, kinh nghiệm dùng các loài cây cỏ để chữa bệnh
của đồng bào ta là phong phú, đa dạng. Đây là kết quả của một quá trình lâu
dài từ thế kỷ này sang thế kỷ khác của cả dân tộc, khi mà cuộc sống ngày một
trở nên sung túc thì con người lại có xu hướng sử dụng những sản phẩm có
nguồn gốc từ thiên nhiên, đặc biệt là thảo dược.
1.3. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở huyện Nghi Xn
Những cơng trình nghiên cứu về cây thuốc nam tại vùng này nói chung ít
được cơng bố mà chỉ có cơng trình của Võ Văn Chi là những cơng trình nổi


13
tiếng, có giá trị thực tiễn rất lớn lao đối với khoa học nói riêng và nhân dân
Việt Nam nói chung.
Một số cuốn sách viết về cây thuốc và bài thuốc ở Nghệ Tĩnh như:
Những phương thuốc hay “Rau cỏ trị bệnh” (1989) của Tạ Duy Chân đã sưu

tầm và giới thiệu 48 loài thực vật làm rau kèm với phương thức trị các chứng
bệnh cho người lớn và trẻ em [9]. Trong cuốn “Thực vật học dân tộc – Cây
thuốc của đồng bào Thái huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An” (2001) của
Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Hạnh, Ngơ Trực Nhã giới thiệu và bổ sung
551 loài cây thuốc thuộc 361 chi, 120 họ [ theo 30].
Tóm lại, trong nhân dân có nhiều bài thuốc hay, những cây thuốc quý,
nhiều kinh nghiệm chữa bệnh có hiệu quả cho nhân dân huyện Nghi Xuân nói
riêng và Hà Tĩnh nói chung cho nên nhiều cây thuốc được khai thác quá mức
có nguy cơ bị tuyệt chủng. Những kinh nghiệm chữa bệnh được truyền bá
theo tính chất gia truyền khơng được phổ biến vì thế cần được gấp rút sưu
tầm, thừa kế và phát huy, phát triển để phục vụ cho công tác chăm sóc sức
khỏe cộng đồng. Cần có sự kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại để
bổ sung cho nhau phục vụ sức khỏe cho mọi người ngày một tốt hơn.
1.4. Điều kiện tự nhiên
1.4.1. Vị trí địa lý
Huyện Nghi Xuân là một huyện ven biển, hữu ngạn sơng Lam phía đơng
bắc của tỉnh Hà Tĩnh, tồn huyện có 2 thị trấn và 17 xã, phần lớn các xã nằm
ven biển.
Huyện cách thị xã Hà Tĩnh 50 km về phía bắc, cách thành phố Vinh 10
km và cách thủ đơ Hà Nội 310 km về phía nam
- Phía Bắc giáp Thị xã Cửu Lị, huyện Nghi Lộc (Nghệ An)
+ Phía Tây – Bắc giáp huyện Hưng Nguyên và Thành phố Vinh
- Phía Nam giáp huyện Can Lộc và huyện lộc Hà


14
+ Phía Tây – Nam giáp thị xã Hồng Lĩnh
- Phía Đơng giáp biển Đơng
1.4.2. Địa hình
Nghi Xn có địa hình đặc trưng của tỉnh Hà Tĩnh cũng như của khu vực

miền Trung. Địa hình nghiêng từ Tây Nam sang Đơng Bắc, phía Tây Bắc dọc
theo ranh giới của tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Nghệ An là con sông La, phía Tây Nam
chắn bởi dãy núi Hồng Lĩnh, kế tiếp là dải đồng bằng nhỏ hẹp ven núi Hồng
Lĩnh, cuối cùng là bãi cát ven biển và Biển Đông. Địa hình chia làm 3 vùng.
- Vùng 1: Bao gồm phù sa sơng Lam và cát biển phía Bắc gồm 10 xã :
Xuân Trường, Xuân Đan, Xuân Phổ, Xuân Hải, Tiên Điền, thị trấn Nghi
Xuân, Xuân Giang, thị trấn Xuân An, Xuân Hồng, Xuân Lam.
- Vùng 2: Thuộc dãy núi Hồng Lĩnh nằm ở phía Nam. Đây là những dãy
núi đá có độ dốc lớn, chủ yếu là đá Mácma axit, cao nhất là đỉnh núi Ông
(+676 m so với mặt nước biển) gồm: Cương Gián, Cổ Đạm, Xuân Liên, Xuân
Thành, Xuân Viên, Xuân Lĩnh, Xuân Hồng, Xuân Lam.
- Vùng 3: Bao gồm các dãy cồn cát ven biển kéo dài dọc theo bờ biển,
tạo bởi các dãy đụn cát. Vùng này có tiềm năng phát triển kinh tế biển và dịch
vụ du lịch nghỉ mát gồm: Cương Gián, Xuân Liên, Cổ Đạm, Xuân Thành,
Xuân Yên, Xuân Hải, Xuân Phổ, Xuân Đan, Xuân Trường, Xuân Hội.



×