Tải bản đầy đủ (.doc) (117 trang)

Một số giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện thanh trì thành phố hà nội luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (492.47 KB, 117 trang )

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Về mặt lí luận
Cán bộ có vị trí quan trọng đặc biệt, là một trong những nhân tố quan
trọng quyết định sự thành công hay thất bại của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã tổng kết “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” và “Công việc thành
công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [24, 425]. Trong quá trình lãnh
đạo cách mạng, Đảng ta cũng ln coi cán bộ có vai trị đặc biệt quan trọng
đối với tồn bộ sự nghiệp cách mạng. Nghị quyết Trung ương khóa VII đã
khẳng định: “Cán bộ có vai trị cực kỳ quan trọng, hoặc thúc đẩy hoặc kìm
hãm tiến trình đổi mới”.
Trong các nhà trường, các cơ sở giáo dục nhà giáo giữ vai trò quyết
định đối với quá trình đào tạo con người, đặc biệt trong nhà trường phổ thơng
giáo viên là lực lượng có chức năng quan trọng chi phối và định hướng, đáp
ứng nguồn nhân lực tương lai cho đất nước. Người giáo viên thông qua các
hoạt động giảng dạy và giáo dục góp phần cung cấp những kiến thức rất lớn
đối với q trình hình thành nhân cách cơng dân trẻ tuổi ngay từ khi cịn ngồi
trên ghế nhà trường phổ thơng.
Trong quan niệm dạy học mới, người thầy vừa là đạo diễn, trọng tài,
người huấn luyện, người tổ chức, hướng dẫn và tạo ra môi trường hợp tác
tương tác cho học sinh. Mức độ đáp ứng của người thầy đối với các cơng việc
đó là vô cùng quan trọng, quyết định chất lượng giáo dục. Tuy nhiên trong
thực tiễn hiện nay, một mâu thuẫn thường xuyên tồn tại đó là sự bất cập của
đội ngũ giáo viên, đặc biệt là chất lượng đội ngũ, không đáp ứng được mọi
mặt của thực tiễn đầy biến động của nhà trường. Nhất là khi mà khoa học
công nghệ càng có sự phát triển nhanh chóng thì mâu thuẫn đó càng trở nên

2



nghiêm trọng nếu khơng có các biện pháp khắc phục kịp thời. Mâu thuẫn đó
hiện nay đang gay gắt trước yêu cầu đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới nội
dung, chương trình, sách giáo khoa nhà trường phổ thơng nói riêng để đáp
ứng nhu cầu cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Vấn đề chuẩn hóa đội ngũ cả về số lượng, cơ cấu, chất lượng trong đó
nâng cao chất lượng là trọng tâm đang trở thành vấn đề mang tính thời sự
trong quản lý giáo dục. Việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn giáo dục, trên cơ
sở đó tìm ra các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên sát, đúng, đảm bảo
tính khoa học và đưa nó vào áp dụng thành cơng tại các cơ sở giáo dục là một
yêu cầu thiết thực, nghiêm túc và thực sự bức thiết trong khoa học giáo dục
hiện nay. Chính những vấn đề đặt ra trước yêu cầu mới đó đã và đang trở
thành một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Cụ thể là:

- Nghị quyết TW2 (Khóa VIII) đã khẳng định: Giáo viên là nhân tố
quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh - giáo viên phải
có đủ đức, đủ tài. Do đó phải:

+ Thực hiện chế độ ưu đãi để thu hút nhân tài vào ngành sư phạm.
+ Thực hiện chương trình bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng chuẩn
hóa, nâng cao phẩm chất, năng lực chun mơn cho đội ngũ.
+ Có chính sách đãi ngộ đối với giáo viên và tơn vinh nghề dạy học.
- Báo cáo của Bộ chính trị tại Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành TW
khóa IX cũng nêu: “Đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo
dục đủ sức đủ tài cùng với đội ngũ nhà giáo và toàn xã hội chấn hưng nền
giáo dục nước nhà” và “Chú trọng việc nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm
chất, lối sống của nhà giáo”.
- Chỉ thị 40-CT/TW của Ban bí thư về việc “Xây dựng nâng cao chất
lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục” cũng đã khẳng định

“Phải tăng cường đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách

3

toàn diện” với “Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về
cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống,
tay nghề của nhà giáo”.

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI nhấn mạnh: “Giáo dục và đào tạo
có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài,
góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người
Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và
công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư
phát triển. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu
phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại
hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội
và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời.”

Trên cơ sở đó, Đảng ta đã đưa ra định hướng phát triển ngành giáo dục
đào tạo như sau: “Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và
học”. Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, nâng cao
chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường,
phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh viên” và
“bảo đảm đủ số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở tất cả các cấp
học, bậc học”.

- Luật giáo dục 2005 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã dành chương IV với 13 điều quy định địa vị pháp lý của nhà giáo [30, 56].

Điều 99 Luật giáo dục khẳng định một trong mười nội dung quản lý nhà nước
về giáo dục là: “Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục”. [ 30, 73]

4

- Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2001 - 2010 ban hành theo
quyết định 201/2001/QĐ-TTg ngày 28/12/2001 của Thủ tướng chính phủ coi
“Xây dựng đội ngũ nhà giáo” là một giải pháp quan trọng trong 7 giải pháp cơ
bản để phát triển giáo dục đến năm 2010: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý đảm bảo đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng”.

1.2. Về mặt thực tiễn
Trong những năm qua, huyện Thanh Trì đã có một số biện pháp được
áp dụng và đã tạo nên những thành quả nhất định trong việc phát triển đội ngũ
giáo viên nói chung, đội ngũ giáo viên Tiểu học nói riêng. Đội ngũ này đã đầy
đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, phần lớn có ý thức chính trị, phẩm chất
đạo đức tốt, trình độ chun mơn ngày càng được nâng cao và đáp ứng quan
trọng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài góp phần
vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của đất nước và quê hương. Tuy
nhiên, trước những yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục trong thời kỳ cơng
nghiệp hóa, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn một số điểm hạn
chế nhất định. Chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên có
mặt chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, một bộ phận giáo viên còn thiếu
gương mẫu trong đạo đức, lối sống, chưa làm gương tốt, làm “khuôn vàng,
thước ngọc”cho học sinh.
Hơn nữa trong giai đoạn tới đây, giáo dục phổ thơng nói chung, giáo
dục tiểu học nói riêng phải tập trung giải quyết những nhiệm vụ rất lớn theo
yêu cầu đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới giáo dục Tiểu học nói riêng.
Cụ thể là:

- Đổi mới nội dung, chương trình và sách giáo khoa theo nghị định
40/NQ của Quốc hội khóa X và chỉ thị 14/2001/CT-TTg của Thủ tướng
chính phủ.

5

- Thực hiện chiến lược phát triển giáo dục theo tinh thần nghị quyết Đại
hội IX và quyết định của Thủ tướng chính phủ số 201/2001/QĐ-TTg về việc
phát triển giáo dục từ năm 2001-2010.

- Không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học theo tinh thần đổi mới,
đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

Giải quyết những nhiệm vụ trên là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân
trong đó nhà giáo là lực lượng nịng cốt, có vai trò quyết định trực tiếp chất
lượng và hiệu quả của GD&ĐT. Hiệu quả và chất lượng của GD&ĐT thực
hiện cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào độ ngũ nhà giáo. Vì vậy, vận dụng
lý luận khoa học giáo dục để phân tích, đánh giá thực trạng việc phát triển đội
ngũ giáo viên nói chung, GVTH nói riêng từ đó đề xuất các giải pháp xây
dựng, phát triển đội ngũ GVTH cũng như hệ thống giáo dục địa phương là
một yêu cầu bức thiết.

Vì những căn cứ trên, chúng tơi chọn đề tài nghiên cứu “Một số giải
pháp phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học huyện Thanh Trì - thành phố
Hà Nội.”

2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng đội
ngũ GVTH và công tác phát triển đội ngũ GVTH huyện Thanh Trì, Hà Nội
trong những năm qua, đề xuất các giải pháp để xây dựng và phát triển đội ngũ

GVTH học đủ về số lượng, đồng thời về cơ cấu, đảm bảo về chất lượng đáp
ứng yêu cầu về phát triển giáo dục của huyện trong giai đoạn cơng nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác phát triển đội ngũ GVTH huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội.

6

3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các giải pháp phát triển đội ngũ GVTH huyện Thanh Trì thành
phố Hà Nội.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu áp dụng được những giải pháp trong đề tài đảm bảo tính khoa học,
khả thi thì sẽ phát triển được đội ngũ GVTH huyện Thanh Trì từ đó góp phần
quan trọng vào việc nâng cao chất lượng giáo dục, thực hiện có hiệu quả đổi
mới chương trình giáo dục phổ thơng hiện nay.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, hệ thống hóa một số vấn đề về quản lý giáo dục, phát
triển đội ngũ giáo viên nói chung và đội ngũ GVTH học nói riêng.
- Nghiên cứu thực trạng công tác phát triển đội ngũ giáo viên và tình
trạng đội ngũ GVTH ở huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội.
- Đề xuất, hoàn thiện các giải pháp phát triển đội ngũ GVTH đáp ứng
yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục trong giai đoạn cơng nghiệp hóa hiện
đại hóa ở huyện Thanh Trì đến năm 2017.
6. Phạm vi nghiên cứu
Vì thời gian và điều kiện có hạn nên đề tài của luận văn tập trung vào
phạm vi cụ thể sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề về lý luận quản lý, đặc biệt phát triển đội
ngũ giáo viên Tiểu học.

- Khảo sát và đánh giá thực trạng công tác phát triển đội ngũ giáo viên
và thực trạng đội ngũ GVTH ở huyện Thanh Trì trong 5 năm từ năm 2006
đến năm 2010.
- Phân tích, đề xuất, hồn thiện các giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ
GVTH đến năm 2017.

7

7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phân tích, tổng hợp các văn kiện của Đảng, Nhà nước về nhiệm vụ
phát triển giáo dục - đào tạo và công tác xây dựng, phát triển đội ngũ giáo
viên trong giai đoạn hiện nay.
- Phân tích, tổng hợp các cơng trình, văn bản về cơng tác quản lý, công
tác quản lý giáo dục các quy phạm hiện hành về cấp TH và GVTH làm cơ sở
cho việc đề ra các giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên.
- Vận dụng cụ thể các lý thuyết tổng quát vào việc xác định các giải
pháp phát triển đội ngũ GVTH.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tế
- Phương pháp phân tích, tổng kết kinh nghiệm: Tiến hành xem xét
thực trạng GD&ĐT Tiểu học huyện Thanh Trì trong thời gian từ 2006 - 2010
để tổng kết kinh nghiệm và nguyên nhân thành công, thất bại những mặt
mạnh, yếu trong bậc học, trong phát triển đội ngũ giáo viên.
- Phương pháp điểu tra bằng bảng hỏi: Để trưng cầu ý kiến các nhà
quản lý giáo dục, giáo viên về thực trạng, chất lượng đội ngũ GVTH và tính
đúng đắn, cần thiết của các giải pháp phát triển đội ngũ GVTH.
Chúng tôi đã yêu cầu các khách thể khảo sát (CBQL Phịng GD&ĐT,
Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng, giáo viên cốt cán của các trường TH trong
huyện) trả lời hai bảng câu hỏi và các nội dung:
+ Đánh giá về mức độ đạt được của giáo viên hiện nay trên các mặt tư

tưởng, chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ…
+ Tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp phát triển đội ngũ
GVTH nêu ra trong luận văn.

8

- Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn trực tiếp với các nhà quản lý
giáo dục, GVTH để có thể hiểu sâu hơn về những vấn đề đã được trả lời
theo bảng hỏi.

- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến một số cán bộ lãnh đạo
địa phương, ngành và các nhà giáo có kinh nghiệm về việc phát triển đội ngũ
giáo viên.

7.3. Các phương pháp khác
- Phương pháp thống kê toán học: sử dụng phương pháp thống kê để xử
lý các số liệu và so sánh, phân tích các kết quả nghiên cứu.
- Phương pháp dự báo: sử dụng các phương pháp dự báo khoa học để
tiến hành quy hoạch mạng lưới trường lớp và đội ngũ giáo viên.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Mục lục, đề tài
gồm có 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên
Chương 2. Thực trạng đội ngũ GVTH và thực trạng cơng tác phát
triển đội ngũ GVTH ở huyện Thanh Trì - Hà Nội.
Chương 3. Một số giải pháp phát triển đội ngũ GVTH huyện Thanh
Trì- Hà Nội đến năm 2017.

9


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN

1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Bước sang thể kỷ XXI các quốc gia trên thế giới đã xác định xu
thế phát triển là: sự hình thành xã hội thông tin; khoa học công nghệ ngày
càng phát triển nhanh chóng; xu thế tồn cầu hóa; u cầu mới của thương
trường, việc làm; sự xuất hiện của kinh tế tri thức.
Điều đó đặt ra cho giáo dục Việt Nam những vấn đề: Đổi mới tư duy về
giáo dục, đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục, giáo dục suốt đời và
phổ cập CNTT, HĐH giáo dục, học tập thường xuyên và học tập suốt đời.
Có 5 điều kiện cơ bản để phát triển giáo dục:
+ Môi trường kinh tế của giáo dục
+ Chính sách và cơng cụ thể chế hóa giáo dục
+ Cơ sở vật chất kỹ thuật và tài chính dành cho giáo dục
+ Đội ngũ giáo viên và người học
+ Nghiên cứu lý luận và thông tin giáo dục.
Trong 5 điều kiện cơ bản trên, đội ngũ giáo viên là điều kiện cơ bản
nhất quyết định sự phát triển của giáo dục. Vì vậy nhiều nước khi đi vào
cải cách giáo dục, phát triển giáo dục thường bắt đầu bằng phát triển đội
ngũ giáo viên.
1.1.2. Tôn sư trọng đạo là truyền thống của dân tộc ta. Từ xa xưa ơng
cha ta đã nói: “Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ thì u lấy
thầy” “Muốn khơn thì phải có thầy, khơng thầy dạy dỗ đố mày làm nên”.
Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, nghề dạy học luôn được dân
tộc ta tơn vinh; vai trị, vị trí của người thầy luôn luôn được coi trọng.

10

Ngày nay đội ngũ giáo viên luôn là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp

giáo dục, người thầy giáo là chiến sĩ cách mạng trên mặt trận tư tưởng văn
hóa. Đó là những người truyền thụ cho thế hệ trẻ lý tưởng và đạo đức cách
mạng, bồi đắp cho học sinh nhân cách văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp
thu tinh hoa văn hóa nhân loại, dạy cho các em tri thức và kỹ năng lao động
nghề nghiệp, tạo nên lớp người có ích cho đất nước.

Bác Hồ đã nói: “Người thầy giáo tốt- thầy giáo xứng đáng là thầy
giáo- là người vẻ vang nhất. Dù tên tuổi không đăng trên báo, không được
thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những người anh
hùng vô danh”.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng nói: “Nghề dạy học là nghề
cao quý bậc nhất trong các nghề cao quý. Nghề dạy học là nghề sáng tạo
vào bậc nhất trong các nghề sáng tạo, vì nó sáng tạo ra những con người
sáng tạo”. [18, 13]

Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành TW Đảng khóa VIII đã
khẳng định: “Đội ngũ giáo viên giữ vai trò quyết định chất lượng giáo dục và
được xã hội tôn vinh”. [10, 38]

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã ghi rõ: “Con người là nguồn
nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ cơng
nghiệp hóa, cần tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào
tạo”. [11, 22]

Để thực hiện mục tiêu phát triển KT-XH của đất nước, trong những
năm đầu và những năm tiếp theo của thế kỷ XXI chúng ta cần phát triển sự
nghiệp CNH-HĐH, vì đây là động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền
vững đất nước. Mục tiêu phát triển của giáo dục nhằm nâng cao dân trí, làm
cơ sở đào tạo nhân lực và là gốc để đào tạo và bồi dưỡng nhân tài, làm giàu

thêm nguyên khí quốc gia, là nguồn tài sản vô giá của dân tộc và nhân loại.

11

Đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển CNH-HĐH đất nước được
coi là mục tiêu ưu tiên của phát triển nguồn nhân lực. Trong đó đội ngũ giáo
viên là bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực xã hội, là nguồn nhân lực cơ
bản của ngành giáo dục và đào tạo, của một nhà trường, nó được thừa hưởng
tất cả những ưu tiên của quốc gia về phát triển nguồn nhân lực và cũng đòi
hỏi phải được nghiên cứu đổi mới theo những thay đổi của nền giáo dục.

1.1.3. Trong gần 20 năm đổi mới, nhiều giải pháp nhằm phát triển đội
ngũ giáo viên các cấp, bậc học đã được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi. Đặc
biệt từ khi có chủ trương của Đảng và Nghị quyết của Quốc hội về đổi mới
chương trình giáo dục phổ thơng thì một số dự án, cơng trình nghiên cứu khoa
học lớn có liên quan đến đội ngũ giáo viên ở tất cả các bậc học, cấp học đã
được thực hiện:

- Dự án quốc gia nghiên cứu tổng thể về GD& ĐT và phân tích nguồn
nhân lực, mã số VIE/89/022, năm 1991-1992 (gọi tắt là Dự án tổng thể về
giáo dục). Mục đích của dự án là:

+ Đánh giá hệ thống giáo dục về hiệu quả trong và hiệu quả ngoài.
+ Đề xuất chiến lược dài hạn thích nghi với yêu cầu đang thay đổi của
xã hội và sự hạn chế về tài chính.
- Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới- Đề tài
khoa học mã số KX-07-14 thuộc chương trình khoa học cơng nghệ cấp nhà
nước, mã số KX-07 (năm 1996).
Mục đích của đề tài này là:
+ Đánh giá thực trạng về tình hình bồi dưỡng và đào tạo lại các loại

hình lao động hiện nay.
+ Đề xuất với nhà nước một số nội dung chính sách và giải pháp nhằm
thúc đẩy việc bồi dưỡng và đào tạo lại các hình thức lao động có hiệu quả,

12

đáp ứng nhu cầu về nhân lực cho phù hợp yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội
trong điều kiện mới.

- Quyết định 02/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về nâng cao
chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục.

Liên quan đến cấp học Tiểu học đã có các nghiên cứu sau:
- Dự án “Tăng cường năng lực đào tạo giáo viên”, thuộc nội dung tài
trợ của Ngân hàng phát triển Châu Á(ADB). Mục tiêu của dự án nhằm củng
cố năng lực các cơ sở đào tạo và tăng cường mối liên kết giữa các cơ quan
trung ương và chính quyền địa phương tham gia đào tạo giáo viên THCS theo
4 lĩnh vực sau:
+ Xây dựng chương trình và viết giáo trình đào tạo giáo viên THCS.
+ Lập kế hoạch chiến lược cho đào tạo giáo viên.
+ Quản lý tiến hành cải cách hệ thống đào tạo giáo viên
+ Giám sát, đánh giá nhằm duy trì những nội dung cải cách trong đào
tạo GVTH.
- Dự án hỗ trợ kỹ thuật xây dựng kế hoạch tổng thể giáo dục trong giai
đoạn 2001-2010 do Ngân hàng thế giới tài trợ.
- Dự án hỗ trợ Bộ GD&ĐT do Uỷ ban Châu Âu tài trợ.
Tuỳ các mức độ khác nhau, tất cả các đề tài khoa học, các dự án trên đề
cập đến vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên.
Ngoài ra hàng năm các Sở GD&ĐT và các Phịng GD&ĐT đều có
những nghiên cứu khoa học hay thực hiện các giải pháp nhất định để phát

triển đội ngũ giáo viên. Tuy nhiên trong những năm 1990 và đầu năm 2000
quy mô học sinh tăng nhanh dẫn đến mất cân đối về nhiều mặt trong đó có đội
ngũ giáo viên. Hầu hết các địa phương phải đối mặt với việc tăng nhanh đội
ngũ giáo viên bằng nhiều giải pháp tình thế như: đào tạo giáo viên cấp tốc,
đào tạo lại giáo viên thừa để chuyển sang dạy những môn thiếu, tuyển dụng

13

trở lại giáo viên đã nghỉ việc, tuyển dụng những người trái chuyên môn… đã
làm cho chất lượng đội ngũ giáo viên bị giảm sút. Nhiều loại hình đào tạo
hình thức bồi dưỡng đã được mở rộng thiếu tính quy hoạch, kế hoạch đã làm
sai lệch số lượng, cơ cấu đội ngũ giáo viên. Điều này không chỉ là trách
nhiệm thuộc địa phương mà còn ở tầm vĩ mô là cơ quan quản lý nhà nước về
giáo dục trung ương.

Ở Hà Nội, từ những năm 1990 đã có một số nghiên cứu cấp ngành về
đội ngũ giáo viên phổ thông nhằm phục vụ cho công tác QLGD của Hà Nội.

Năm 1995 có đề tài “Điều tra cơ bản đội ngũ giáo viên các cấp, từ đó
xây dựng quy hoạch, kế hoạch, phương thức đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng
đội ngũ đến năm 2000”.

Năm 1999 có đề tài “Thực trạng cơ cấu bộ môn đội ngũ giáo viên Tiểu
học của Thành phố Hà Nội và xây dựng quy hoạch đào tạo đến năm 2010”

Các nghiên cứu trên mới đề cập đến một khía cạnh về thực trạng đội
ngũ là cơ sở cho việc xây dựng quy hoạch kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ giáo viên. Các đề tài trên chưa đề cập sâu về các biện pháp phát triển đội
ngũ giáo viên trong giai đoạn mới; giai đoạn đổi mới giáo dục phổ thông.


Tại huyện Thanh Trì chưa có tác giả nào đề cập nghiên cứu đề tài này,
vì vậy vấn đề chúng tôi đặt ra ở luận văn này là tìm hiểu thực trạng nhằm đề
xuất “Một số giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Thanh
Trì- Hà Nội” đến năm 2017 phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của địa
phương trong giai đoạn mới.

1.2. Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Quản lý
1.2.1.1. Khái niệm quản lý
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại
và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của tổ chức. Từ một nhóm nhỏ đến

14

nhóm rộng lớn hơn tầm quốc gia, quốc tế đều phải nhận và chịu đựng một sự
quản lý nào đó.

Ngày nay thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một
định nghĩa thống nhất. Tuy vậy khi bàn tới quản lý xã hội các tác giả đều chú
ý tới sự điều khiển các cá nhân nhằm đạt mục đích nhất định. Có người cho
rằng quản lý là hoạt động đảm bảo sự hồn thành cơng việc thơng qua sự nỗ
lực của người khác.

Cũng có người cho quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo
phối hợp những nỗ lực cá nhân để đạt được mục đích của nhóm.

Có tác giả lại quan niệm một cách đơn giản hơn, coi quản lý là sự có
trách nhiệm về một cái gì đó…

Từ những ý chung của các định nghĩa và xét quản lý với tư cách là một

hoạt động có thể định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể
quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và
hoạt động phù hợp với quy luật khách quan”.

1.2.1.2. Vai trò của quản lý trong đời sống xã hội
Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội
của lao động. Cho đến nay về cơ bản mọi người đều cho rằng: Quản lý chính
là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những
người khác nhau nhằm thu được kết quả mong muốn.
Ngay từ khi con người bắt đầu hình thành nhóm đã địi hỏi phải sự phối
hợp hoạt động của các cá nhân để duy trì sự sống và do đó cần sự quản lý. Từ
khi xuất hiện nền sản xuất xã hội, các quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội tăng lên
thì sự phối hợp các hoạt động riêng rẽ càng tăng lên.
Ngày nay, hầu như tất cả mọi người đều cơng nhận tính thiết yếu của
quản lý và thuật ngữ quản lý đã trở thành câu nói hàng ngày của nhiều người
từ người lãnh đạo cao nhất đến người dân bình thường.

15

Như vậy, quản lý đã trở thành một hoạt động phổ biến diễn ra trên mọi
lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người. Đó là một loại hoạt động
xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hiệp tác để
làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung. Các Mác đã viết “Tất cả
mọi người lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên
quy mơ tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến mọi sự chỉ đạo để điều
hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh
từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những
khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy
mình, cịn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.


Có thể kết luận rằng, nơi nào có hoạt động chung thì nơi đó có quản
lý. Quản lý có vai trò cụ thể sau:

- Nhằm tạo sự thống nhất ý chí trong tổ chức bao gồm các thành viên
của tổ chức, giữa những người bị quản lý với nhau và giữa những người bị
quản lý với người quản lý.

- Định hướng sự phát triển của tổ chức trên cơ sở xác định mục tiêu
chung và hướng mọi nỗ lực của các cá nhân, của tổ chức vào mục tiêu
chung đó.

- Tạo mọi động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức bằng cách kích
thích, đánh giá, khen thưởng những người có cơng, uốn nắn những lệch lạc,
sai sót của cá nhân trong tổ chức nhằm giảm bớt những tổn thất, sai lệch trong
quá trình quản lý.

- Tạo môi trường và điều kiện cho sự phát triển cá nhân và tổ chức,
đảm bảo phát triển ổn định, bền vững và hiệu quả.

16

1.2.1.3. Chức năng của quản lý
Chức năng quản lý là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của
chủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân cơng, chun mơn hóa trong hoạt động
quản lý nhằm thực hiện mục tiêu chung quản lý.
Quản lý phải thực hiện nhiều chức năng khác nhau, mỗi chức năng
có tính độc lập tương đối nhưng chúng được liên kết hữu cơ trong một hệ
thống nhất. Quản lý có chức năng cơ bản, cụ thể, với nhiều cách tiếp cận
khác nhau có thể nêu các chức năng khác nhau. Tuy vậy có thể kể tới bốn
chức năng cơ bản:

* Kế hoạch hóa
Kế hoạch hóa là chức năng cơ bản trong số các chức năng quản lý bao
gồm: Dự báo, xác định mục tiêu, xây dựng chương trình hành động và bước
đi cụ thể nhằm đạt được mục tiêu trong một thời gian nhất định của hệ thống
quản lý.
* Tổ chức
Tổ chức là xác định một cơ cấu nhất định về vai trò nhiệm vụ hay chức
vụ được hợp thức hóa, thực chất nó là sự tổ chức cơng việc, sắp xếp con
người nó chính là sự kết hợp, liên kết những bộ phận riêng rẽ thành một hệ
thống hoạt động nhịp nhàng như một cơ thể thống nhất.
* Chỉ đạo, điều hành
Chỉ đạo là huy động lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch và điều
hành mọi việc nhằm đảm bảo cho bộ máy vận hành thuận lợi. Chỉ đạo là tổ
chức một cách khoa học lao động của cả tập thể người cũng như từng người
để biến mục tiêu dự kiến thành kết quả, biến kế hoạch thành hiện thực.
Nội dung của việc chỉ đạo là điều hành công việc, động viên khuyến
khích, giám sát tiến hành, đánh giá hoạt động và điều chỉnh, uốn nắn các sai
lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động của hệ thống.

17

* Kiểm tra
Kiểm tra là một chức năng có liên quan đến mọi cấp quản lý để đánh
giá đúng kết quả hoạt động của hệ thống, đo lường các sai lệch nảy sinh trong
quá trình hoạt động so với mục tiêu và kế hoạch đã định, nhằm kịp thời điều
chỉnh sai sót đưa bộ máy đạt được mục tiêu đã xác định.
1.2.2. Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một bộ phận trong quản lý XH Việt Nam. Vì vậy,
mặc dù quản lý giáo dục có những đặc điểm riêng biệt, song cũng chịu sự chi
phối bởi mục tiêu quản lý XH.

Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp
quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho vận hành theo đường lối và
nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường
XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ,
đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.
Như vậy mục đích của QLGD là:
- Thực hiện các quan điểm, đường lối giáo dục của Đảng “Nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” đáp ứng yêu cầu cách mạng
trong giai đoạn mới.
- Góp phần phát triển và hồn thiện hệ thống giáo dục, nâng cao chất
lượng giáo dục và đào tạo, pháy huy vai trò chủ đạo của giáo viên, tích cực
chủ động của học sinh đem lại kết quả “dạy tốt, học tốt”.
- Động viên và sử dụng các nguồn lực trong ngành và ngồi xã hội một
cách có hiệu quả cho sự nghiệp GD&ĐT.
- Đảm bảo sự cân đối và thống nhất giữa các hoạt động giáo dục và dạy
học, giữa lý luận và thực hành, giữa nội dung và phương pháp, giữa cơ sở vật
chất, thiết bị và hoạt động dạy học nhằm phục vụ tốt mục tiêu giáo dục.

18

Trong giáo dục, chủ thể quản lý được phân thành nhiều cấp độ theo
quy mô và chức năng quản lý:

Trong phạm vi cả nước, chủ thể quản lý giáo dục là chính phủ và chức
năng chuyên ngành của Bộ trưởng Bộ GD& ĐT, khách thể quản lý là tất cả
các yếu tố của hệ thống giáo dục quốc dân và toàn bộ nội dung những cơng
việc liên quan của nó đến hệ thống giáo dục đó.

Trên địa bàn vùng lãnh thổ (tỉnh, huyện, xã) chủ thể quản lý giáo dục là
UBND các cấp và người đứng đầu cơ quan chức năng quản lý giáo dục địa

phương (Giám đốc Sở, Trưởng phòng GD&ĐT quận, huyện, thị xã) khách thể
quản lý ở đây là các yếu tố của hệ thống giáo dục quốc dân được phân cấp
cho địa phương quản lý và cộng đồng xã hội ở địa phương cùng những công
việc liên quan đến hệ thống giáo dục quốc dân trên vùng lãnh thổ đó.

- Chủ thể quản lý nhà trường là lãnh đạo của các trường, khách thể
quản lý là các yếu tố, thành viên, bộ phận, cùng toàn bộ điều kiện vật chất kỹ
thuật phục vụ hoạt động của nhà trường.

- Mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể trong quản lý
là điều kiện để khơng ngừng nâng cao chất lượng quản lý. Do đó quản lý là
một quá trình tác động hai chiều giữa chủ thể và khách thể quản lý.

- Nói tóm lại, quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều
hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục thế hệ
trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội. QLGD tuân thủ hệ thống lý luận chung
của quản lý KT-XH đồng thời cũng chứa đựng những đặc thù riêng của nó mà
đặc trưng nhất là chủ thể và khách thể quản lý, nội dung quản lý trong QLGD.
Ngày nay với xu thế chung học tập thường xuyên, học tập suốt đời và xây
dựng một xã hội học tập thì nội dung và phương thức QLGD được mở rộng
và rất linh hoạt.

19

1.2.3. Phát triển
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về “phát triển”.
- Theo quan điểm duy vật biện chứng, phát triển là một quá trình
biến đổi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Đó là q trình tích
lũy dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình nảy sinh cái
mới trên cơ sở cái cũ, do sự đấu tranh giữa các mặt đối lập nằm trong bản

thân sự vật hiện tượng.
Theo Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng 2010: “Phát triển là biến đổi
hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản
đến phức tạp”. [33, 989].
Như vậy mọi sự vật hiện tượng, con người xã hội hoặc là biến đổi để
tăng tiến số lượng, thay đổi chất lượng hoặc dưới tác động của bên ngoài làm
cho biến đổi tăng tiến đều được coi là phát triển.
1.2.4. Nhà giáo. Giáo viên phổ thông
Khoản 1, Điều 70 chương IV Luật giáo dục (sửa đổi và bổ sung năm
2005) quy định: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy giáo dục trong
nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác. Nhà giáo dạy ở cơ sở giáo dục phổ
thông gọi là giáo viên".
Giáo viên trường phổ thông bao gồm: Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng,
giáo viên bộ mơn, giáo viên tổng phụ trách Đội thiếu niên Tiền Phong Hồ
Chí Minh.
Nhà giáo - giáo viên là tên gọi vừa bao hàm nội dung nghề nghiệp vừa
mang ý nghĩa tôn vinh, trang trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có gì vẻ
vang hơn là đào tạo con người, thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng
XHCN… Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ
vang nhất, thầy giáo tốt là những người anh hùng vô danh”.

20

Từ xưa đến nay, nghề dạy học đòi hỏi người thầy phải là người gương
mẫu, là tấm gương về nhân cách, là người hướng đạo trên đường đời học sinh.
Bất cứ ai và bất cứ lúc nào, khi bàn về phẩm chất lý tưởng mà nhà giáo phải
có đều nghĩ tới mơ hình những con người hết sức mẫu mực, có phẩm chất mà
tồn xã hội phải tơn trọng. Về điều này thì khơng có sự phân biệt giữa giáo
viên THCS hay giảng viên các trường cao đẳng, đại học, khơng kể tuổi tác
hay trình độ học vấn mà quan trọng là có thật sự đủ tư cách là nhà giáo hay

khơng. Những phẩm chất cần phải có của nhà giáo là nhân cách và lối sống
tốt đẹp, lời nói và việc làm phải luôn đi đôi với nhau. Phải được đào tạo chuẩn
mực và luôn được rèn luyện trong môi trường tốt.

Tiêu chuẩn chung đối với nhà giáo được quy định trong Luật giáo
dục (2005)

- Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt.
- Đạt trình độ chuẩn đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ.
- Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp.
- Lý lịch bản thân rõ ràng.
Trong vấn đề đào tạo, bồi dưỡng giáo viên thời đại ngày nay cần quan
tâm tới các yếu tố: Tạo cho người giáo viên có được một lượng tri thức tương
đối rộng, học sâu một số chuyên ngành, bên cạnh đó phải được trang bị thêm
một số môn học khác để phục vụ việc hiểu sâu hơn những môn chuyên ngành;
đào tạo, huấn luyện phương pháp và kỹ năng dạy học một cách chu đáo và
thường xuyên được trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp: thường xuyên
được rèn luyện nhân cách, đặc biệt là vấn đề rèn luyện đạo đức nghề nghiệp,
tăng cường ý thức của người giáo viên, là tấm gương sáng để làm “Khuôn
vàng, thước ngọc” cho học sinh noi theo.


×