Tải bản đầy đủ (.doc) (117 trang)

Một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh lớp 5 luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (482.14 KB, 117 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ BẢO TÂN

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO
HỌC SINH LỚP 5
Chuyên ngành: Giáo dục học (Bậc tiểu học)
Mã số: 60.14.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS NGUYỄN BÁ MINH

Nghệ An, 2012


LỜI CẢM ƠN
Đề tài này được hoàn thành ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi xin bày tỏ
sự biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo – PGS. TS Nguyễn Bá Minh là người đã
tận tâm, trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tơi trong suốt q trình học tập và q
trình nghiên cứu để hồn thành luận văn này. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến
các thầy cô giáo khoa Sau Đại học – Trường Đại học Vinh, các thầy cô giáo
đã trực tiếp giảng dạy lớp Cao học 18 – Giáo dục học (bậc Tiểu học).
Tôi chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình, tạo mọi điều kiện của ban
lãnh đạo và giáo viên các trường Tiểu học quận Thanh Khê, Đà Nẵng đã cung
cấp cho tơi những tư liệu bổ ích giúp tơi hồn thành luận văn này.
Tơi cũng xin cảm ơn gia đình, người thân và tất cả bạn bè đã có sự
động viên, giúp đỡ tơi rất nhiều trong suốt q trình học tập và nghiên cứu
luận văn.


Mặc dù tôi đã cố gắng nhưng luận văn cũng không thể tránh khỏi một
số thiếu sót. Tác giả mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ thầy cô, đồng
nghiệp và bạn bè.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Thị Bảo Tân


MỤC LỤC

Trang

Phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Bảng kí hiệu các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU

1

1. Lí do chọn đề tài

1

2. Mục đích nghiên cứu

3

3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu


3

4. Giả thuyết khoa học

3

5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3

6. Các phương pháp nghiên cứu

4

7. Đóng góp mới của luận văn

4

8. Cấu trúc nội dung của đề tài

4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
NGOÀI GIỜ LÊN LỚP

6

1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề


6

1.2 Các khái niệm cơ bản

9

1.2.1 Trường Tiểu học

9

1.2.2 Học sinh Tiểu học

13

1.2.3 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

16

1.2.4 Chất lượng

18

1.2.5 Biện pháp

18

1.3 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh lớp 5

19


1.3.1 Vị trí, vai trị của HĐGDNGLL đối với học sinh lớp 5

19

1.3.2 Mục tiêu của HĐGDNGLL cho học sinh lớp 5

22


1.3.3 Nội dung của HĐGDNGLL cho học sinh lớp 5

25

1.3.4 Phương pháp tổ chức HĐGDNGLL cho học sinh lớp 5

27

1.4 Chất lượng HĐGDNGLL cho học sinh lớp 5

29

1.4.1 Sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng HĐGDNGLL cho học sinh lớp
5

29

1.4.2 Những yếu tố đảm bảo chất lượng HĐGDNGLL cho học sinh lớp 5

30


Tiểu kết chương 1

33

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA BIỆN PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ
LÊN LỚP CHO HỌC SINH LỚP 5

35

2.1 Khái quát về tình hình phát triển kinh tế, xã hội và giáo dục quận Thanh
Khê thành phố Đà Nẵng

35

2.2 Giới thiệu về quá trình khảo sát thực trạng

38

2.3 Thực trạng chất lượng HĐGDNGLL cho học sinh lớp 5 trên địa bàn quận
Thanh Khê thành phố Đà Nẵng

39

2.3.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và phụ huynh về
HĐGDNGLL

39

2.3.2 Thực trạng việc xây dựng kế hoạch tổ chức HĐGDNGLL


45

2.3.3 Thực trạng về việc thực hiện chương trình HĐGDNGLL cho học sinh lớp
5

46

2.3.4 Thực trạng về hiệu quả của HĐGDNGLL và những yếu tố ảnh hưởng
đến chất lượng HĐGDNGLL cho học sinh lớp 5

56

2.4 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên

59

Tiểu kết chương 2

59

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH
LỚP 5

61


3.1 Một số nguyên tắc để xây dựng biện pháp


61

3.2 Một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp cho học sinh lớp 5

63

3.2.1 Biện pháp nâng cao nhận thức của các lực lượng giáo dục trong và
ngoài nhà trường về HĐGDNGLL cho học sinh lớp 5

64

3.2.2 Biện pháp xây dựng nội dung đa dạng và sử dụng linh hoạt các hình thức
tổ chức HĐGDNGLL cho học sinh lớp 5

66

3.2.3 Biện pháp xây dựng quy trình tở chức HĐGDNGLL cho học sinh lớp 5
73
3.2.4 Biện pháp nâng cao năng lực tổ chức HĐGDNGLL cho giáo viên

77

3.2.5 Biện pháp phối hợp giữa các lực lượng giáo dục cùng tham gia vào

80

3.2.6 Biện pháp tăng cường cơ sở vật chất, nguồn tài chính phục vụ
HĐGDNGLL


81

3.3 Thăm dị tính khoa học và tính khả thi của các biện pháp

83

Tiểu kết chương 3

87

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

88

1. Kết luận

88

2. Kiến nghị

89

Tài liệu tham khảo

91

Phụ lục


BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

Từ viết tắt
CBQL
CNH
GD – ĐT
GV
HĐH
HĐGDNGLL
NXB
PHHS
TT
TPTĐ

Nội dung
Cán bộ quản lý
Cơng nghiệp hóa
Giáo dục – Đào tạo
Giáo viên
Hiện đại hóa

Hoạt động giáo dục ngồi giờ lên lớp
Nhà xuất bản
Phụ huynh học sinh
Thứ tự
Tổng phụ trách Đội


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh học sinh và
học sinh về vị trí HĐGDNGLL

40

Bảng 2.2: Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về HĐGDNGLL

41

Bảng 2.3: Vai trò của HĐGDNGLL cho học sinh lớp 5

42

Bảng 2.4: Nhiệm vụ HĐGDNGLL cho học sinh lớp 5

43

Bảng 2.5: Thống kê ý kiến của cán bộ quản lý và giáo viên về việc thực hiện
nội dung HĐGDNGLL

47


Bảng 2.6: Thống kê ý kiến của học sinh về việc thực hiện nội dung
HĐGDNGLL

50

Bảng 2.7: Thống kê ý kiến của CBQL, giáo viên về các hình thức tổ chức
HĐGDNGLL cho học sinh lớp 5

52

Bảng 2.8: Thống kê ý kiến của học sinh về các hình thức tổ chức
HĐGDNGLL cho học sinh lớp 5

53

Bảng 2.9: Thống kê ý kiến của giáo viên về các phương pháp tổ chức
HĐGDNGLL cho học sinh lớp 5

55

Bảng 2.10: Tổng hợp ý kiến của học sinh và PHHS về hiệu quả HĐGDNGLL
mang lại cho học sinh lớp 5

56

Bảng 2.11: Tổng hợp ý kiến của CBQL và giáo viên về những khó khăn khi tở
chức HĐGDNGLL

58


Bảng 3.1: Tính cần thiết của các biện pháp đã đề xuất

84

Bảng 3.2: Tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất

86


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong tài liệu “Tham luận về HĐGDNGLL” đã trình bày về:
- Tầm quan trọng của HĐGDNGLL như sau:
+ Giáo dục là quá trình kết hợp vai trò chủ đạo của giáo viên với sự tự
giác tích cực, tự rèn luyện của học sinh nhằm hình thành ý thức, tích cách và
chủ yếu là hành vi thói quen đạo đức với các chuẩn mực xã hội quy định.
Nhân cách học sinh được hình thành qua hai con đường cơ bản: Con đường
dạy học trên lớp và con đường hoạt động ngoài giờ lên lớp.
+ HĐGDNGLL là một hoạt động quan trọng, góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện, thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường. Chính
từ những hoạt động như: lao động, sinh hoạt tập thể, hoạt động xã hội đã góp
phần rất lớn trong việc hình thành nhân cách của học sinh. Giúp các em biết
tự giáo dục, tự rèn luyện, tự hồn thiện mình. Có thể nói việc tổ chức các
HĐGDNGLL là xây dựng cho các em các mối quan hệ phong phú, đa dạng
một cách có mục đích, có kế hoạch, có nội dung và phương pháp nhất định,
gắn giáo dục với cộng đồng, tạo sự thân thiện trong mọi tình huống. Biến các
nhu cầu khách quan của xã hội thành những nhu cầu của bản thân học sinh.
+ Nhân cách trẻ được hình thành và phát triển thơng qua các hoạt động
có ý thức. Chính trong q trình sống, học tập, lao động, giao lưu, vui chơi
giải trí,...con người đã tự hình thành và phát triển nhân cách của mình. Vì thế,

HĐGDNGLL có liên quan đến việc mở rộng kiến thức, tư tưởng, tình cảm,
nâng cao năng lực thể chất và tinh thần của học sinh. Do vậy, cần thiết phải
kết hợp việc học tập trên lớp với việc rèn kỹ năng thực hành, giúp học sinh
hiểu sâu hơn và nắm bản chất của sự vật hiện tượng, tạo niềm tin và óc sáng


tạo cho học sinh, giải quyết mối quan hệ giữa học và chơi – chơi và học nhằm
đáp ứng nhu cầu tâm lý lứa tuổi học sinh tiểu học.
+ Hoạt động ngoài giờ lên lớp được quy định cụ thể tại Điều lệ trường
tiểu học ban hành kem theo quyết định 51/2007/QĐ-BGDĐT ngày 31 tháng 8
năm 2007 của Bộ GD – ĐT, tại Điều 26 đã chỉ rõ: “Hoạt động giáo dục bao
gồm hoạt động trên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm rèn luyện đạo
đức, phát triển năng lực, bồi dưỡng năng khiếu, giúp đỡ học sinh yếu kém phù
hợp đặc điểm tâm lý, sinh lý lứa tuổi học sinh tiểu học. Hoạt động giáo dục
trên lớp được tiến hành thông qua việc dạy học các môn học bắt buộc và tự
chọn. HĐGDNGLL bao gồm hoạt động ngoại khóa, hoạt động vui chơi, thể
dục thể thao, tham quan du lịch, giao lưu văn hóa; hoạt động bảo vệ mơi
trường; lao động cơng ích và các hoạt động xã hội khác”.
- Thực trạng việc tổ chức HĐGDNGLL ở các trường tiểu học hiện nay:
+ HĐGDNGLL ở tiểu học trong những năm qua đã có nhiều sự chuyển
biến rõ nét, đã được các cấp quản lý giáo dục, các trường, đội ngũ giáo viên
cũng như cộng đồng quan tâm và có các giải pháp tích cực nhằm nâng cao
chất lượng hoạt động. Đặc biệt là khi Bộ GD – ĐT phát động phong trao thi
đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” thì việc đầu tư cho
HĐGDNGLL đã được chú trọng nhiều hơn.
+ Song bên cạnh đó, với tình hình hiện nay nội dung HĐGDNGLL chưa
thực sự đáp ứng nhu cầu thực tế, chương trình cịn đơn điệu, cứng nhắc.
+ Việc định hướng nội dung, quy trình của HĐGDNGLL vẫn chưa có sự
sáng tạo, hầu như vẫn còn lệ thuộc nhiều vào sự chi phối của công văn
811/CV-SGD ngày 23/8/2004 v/v hướng dẫn HĐGDNGLL ở bậc tiểu học.

Nhìn chung, HĐGDNGLL vẫn chưa phát huy được hết ý nghĩa thực chất của
nó đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục tồn diện.
Như vậy, có thể thấy việc tổ chức HĐGDNGLL là điều kiện quan trọng


để hình thành thái độ, rèn luyện hành vi, kỹ năng xã hội cho học sinh. Vì thế
nó có vị trí quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục trong các nhà
trường hiện nay. Chính từ những lí do trên tôi chọn đề tài “Một số biện pháp
nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh lớp
5” để góp phần nâng cao chất lượng HĐGDNGLL hiện nay cũng như góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục tồn diện.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng HĐGDNGLL cho
học sinh lớp 5.
3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Khách thể
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh tiểu học.
3.2 Đối tượng
Một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp cho học sinh lớp 5.
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Tại 3 trường tiểu học: Trần Cao Vân, Hoa Lư, Điện Biên Phủ thuộc quận
Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và thực hiện được những biện pháp phù hợp với thực tiễn có
cơ sở khoa học thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng HĐGDNGLL cho học
sinh lớp 5.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài



- Nghiên cứu cơ sở lý luận của HĐGDNGLL cho học sinh lớp 5.
- Nghiên cứu thực trạng việc tổ chức HĐGDNGLL cho học sinh lớp 5.
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng HĐGDNGLL cho học
sinh lớp 5.
- Tổ chức thăm dị về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề
xuất.
6. Các phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, khái qt hóa, hệ thống hóa các tài liệu để xây dựng cơ sở lý
luận của đề tài.
6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng các phương pháp quan sát, điều tra, phỏng vấn để thu thập
thông tin xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài.
6.3 Phương pháp thống kê tốn học
Sử dụng cơng thức thống kê tốn học để xử lí số liệu.
7. Đóng góp mới của luận văn
- Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận về HĐGDNGLL cho học
sinh tiểu học.
- Làm rõ thực trạng việc tổ chức HĐGDNGLL cho học sinh lớp 5.
- Đề xuất được những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
HĐGDNGLL cho học sinh lớp 5.
8. Cấu trúc nội dung của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, mục lục, nội
dung của luận văn được chia làm 3 chương:


Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao chất lượng HĐGDNGLL cho học
sinh lớp 5



CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG GIÁO
DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Tình hình nghiên cứu vấn đề ở nước ngồi
Tìm hiểu lịch sử khoa học giáo dục nhân loại cho thấy rằng, hoạt động
giáo dục được nghiên cứu một cách có hệ thống từ rất sớm và HĐGDNGLL
cũng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học từ rất sớm. Có thể
kể đến một số nghiên cứu trong lĩnh vực này:
- Khổng Tử (551 – 479 TCN), một triết gia, một nhà giáo dục lỗi lạc của
Trung Hoa cổ đại cho rằng: thông qua giáo dục để đào tạo ra lớp người “trị
quốc” muốn vậy học phải đi đôi với hành, ông đánh giá cao vai trò của cá
nhân trong việc tu dưỡng, học thầy, học bạn, học trong cuộc sống. Ông khẳng
định: “Đọc thuộc ba trăm thước kinh thư giỏi, giao cho việc hành chính khơng
làm được, giao cho việc đi sứ khơng có khả năng đối đáp học kiểu như vậy
chẳng có ích gì”. [2; 4, tr14]
- J.A.Komenxki (1592 – 1670) được coi là “ơng tổ của nền sư phạm cận
đại” đã có những đóng góp lớn lao cho nền giáo dục thế giới. Ông đặc biệt
chú trọng đến việc kết hợp hoạt động học tập trên lớp và HĐGDNGLL nhằm
giải phóng hình thức học tập “giam hãm trong bốn bức tường” của các hệ
thống nhà trường trung cổ. Ông đã khẳng định rằng: “Học tập không phải lĩnh
hội kiến thức trong sách vở mà lĩnh hội kiến thức từ bầu trời, mặt đất, cây sồi,
cây dẻ”. [2, tr93]
- Thomas More (1478 – 1535), nhà giáo dục không tưởng đầu thế kỷ 16
đã đánh giá rất cao vai trò của lao động đối với con người và đối với xã hội
nên việc giáo dục con người phải kết hợp giáo dục nhà trường, trong lao động


và hoạt động xã hội. [16]

- Các Mác (1818 – 1883) và P.Ăngghen (1820 – 1895) người sáng lập ra
học thuyết cộng sản. Hai ông xác định mục tiêu của nền giáo dục xã hội chủ
nghĩa là đào tạo ra “con người phát triển toàn diện”. Muốn vậy phải theo
phương thức “giáo dục kết hợp với lao động sản xuất”, đây chính là phương
thức giáo dục hiện đại. [4, tr16; 9]
- V.I.Lenin (1870 – 1924), người tiếp tục sự nghiệp của C.Mac và
P.Ăngghen. Ông đề cao vấn đề phát triển tồn diện con người. Việc hình
thành con người phát triển tồn diện khơng chỉ là trách nhiệm của nhà trường
mà cịn là trách nhiệm của tồn xã hội, của gia đình, đồn thể và tự rèn luyện
của thế hệ trẻ. Ông từng phát biểu: “Chỉ có thể trở thành người cộng sản khi
biết lao động và hoạt động xã hội cùng với công nhân với nông dân”. [4, tr16;
9]
- A.X.Macarenco (1888 – 1939), nhà giáo dục Xô Viết vĩ đại, người có
cơng làm một cuộc thực nghiệm giáo dục gần 20 năm ở trại lao động Goocki
va Deczinxki, nhằm cải tạo trẻ em phạm pháp. Thành công ở cuộc thực
nghiệm này chính là ở chỗ ơng khơng chỉ giáo dục trẻ em phạm pháp ở trong
trường học mà ông đã gắn liền giáo dục trong lao động, trong sinh hoạt tập
thể và hoạt động xã hội.
Và gần đây, UNESCO cũng khẳng định:
+ Giáo dục thường xuyên, giáo dục suốt đời.
+ Nhà trường mở, giáo dục mở.
+ Tăng cường giáo dục cộng đồng, giáo dục gia đình.
+ Giáo dục cho mọi người.
+ Giáo dục hướng tới 4 trụ cột: học để biết, học để làm, học để chung
sống, học để tự khẳng định mình.
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước


Ở trong nước cũng đã có nhiều cơng trình nghiên cứu đề cập đến các
khía cạnh khác nhau của HĐGDNGLL như vai trị, hình thức tổ chức, biện

pháp quản lý trong nhà trường và ngoài nhà trường ở nhiều bậc học khác
nhau: giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở, giáo
dục trung học phổ thơng, giáo dục đại học. Và trong đó các nghiên cứu về
HĐGDNGLL cho học sinh tiểu học cũng rất được quan tâm.
- Đỗ Nguyên Hạnh trong nghiên cứu về hoạt động ngồi giờ lên lớp đã
đưa ra một số hình thức hoạt động khác nhau như: bình thơ, trưng bày tranh
ảnh, tham quan... có tác dụng tốt trong việc củng cố, bổ sung kiến thức, giáo
dục tình cảm, ý thức tập thể cho học sinh. [5]
- Nguyễn Hữu Hợp, Nguyễn Dục Quang đã coi trọng vai trò của
HĐGDNGLL cho học sinh tiểu học: “Nhà trường tiểu học muốn đạt được
mục tiêu giáo dục tiểu học là hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát
triển nhân cách hài hòa và tồn diện thì phải tổ chức đúng đắn tồn bộ cơng
tác dạy học – giáo dục. Trong đó, có cơng tác giáo dục ngồi giờ lên lớp”.
[11]
- Điều lệ Trường phổ thơng tháng 6/1976, Điều 7 có nêu: “Việc giảng
dạy và giáo dục được tiến hành thông qua các hoạt động giảng dạy trên lớp,
lao động sản xuất và hoạt động tập thể. Các mặt hoạt động đó phải cùng tiến
hành bổ sung cho nhau theo kế hoạch thống nhất, trong đó phải coi trọng hình
thức giảng dạy trên lớp”. Tại khoản 3, Điều 7 viết về hoạt động tập thể: “Hoạt
động tập thể của học sinh do nhà trường phối hợp với đồn Thanh niên lao
động Hồ Chí Minh và đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh tổ chức, bao
gồm các hoạt động văn hóa, chính trị, xã hội của Đồn, Đội và các hoạt động
ngoại khóa về khoa học kỹ thuật, văn nghệ, thể dục thể thao của nhà trường
và của địa phương”. Thông qua hoạt động tập thể để giáo dục ý thức chính trị,
khả năng cơng tác độc lập của học sinh, góp phần củng cố, mở rộng kiến thức


và phát triển mọi năng khiếu của họ theo chương trình và kế hoạch thống
nhất. Như vậy, hoạt động tập thể được xác định là một trong những hoạt động
giáo dục cơ bản thực hiện trong trường phổ thông nhằm hình thành và phát

triển tồn diện nhân cách thế hệ trẻ. [1, tr15]
- Theo GS. Đặng Vũ Hoạt: “Nhân cách học sinh được hình thành qua hai
con đường cơ bản: con đường dạy học và con đường HĐGDNGLL”. Ông
nhận định, HĐGDNGLL có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động tự giáo dục,
tự rèn luyện của học sinh, vì nó có nội dung phong phú hơn, hấp dẫn hơn,
phạm vi tiến hành rộng rãi hơn, khả năng liên kết các lực lượng giáo dục tốt
hơn. Từ đó, ơng đã biên soạn hàng loạt cuốn sách viết về HĐGDNGLL. [11;
14, tr 15]
Như vậy, hầu hết nghiên cứu mới chỉ nêu vai trị, hình thức, mục tiêu,...
của HĐGDNGLL mà chưa nêu biện pháp để nâng cao chất lượng
HĐGDNGLL cho học sinh tiểu học. Vì vậy, đề tài này được nghiên cứu nhằm
đề xuất các biện pháp để nâng cao chất lượng HĐGDNGLL cho học sinh lớp
5 ở tiểu học.
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Trường tiểu học
1.2.1.1 Vị trí giáo dục tiểu học
Điều lệ của trường tiểu học đã xác định: “Trường tiểu học là cơ sở giáo
dục của bậc tiểu học, bậc học nền tảng của giáo dục quốc dân” (điều 2)
Bậc tiểu học chính là nền móng của ngơi nhà giáo dục, là bậc học nền
tảng, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành, phát triển tồn diện nhân cách
con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thơng và cho tồn bộ hệ
thống giáo dục quốc dân. [12, tr1]
1.2.1.2 Mục tiêu giáo dục tiểu học


a) Mục tiêu chung
Luật Giáo dục 2005 đã chỉ rõ: “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh
hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học
trung học cơ sở”.

b) Mục tiêu cụ thể
Học xong bậc tiểu học, học sinh phải đạt các yêu cầu sau đây:
- Có lịng nhân ái mang bản sắc con người Việt Nam: u q hương,
đất nước, hịa bình và cơng bằng, bác ái, kính trên, nhường dưới, đồn kết và
sẵn sàng hợp tác với mọi người; có ý thức về bổn phận của mình đối với
người thân, đối với bạn bè, đối với cộng đồng và môi trường sống, tôn trọng
và thực hiện đúng pháp luật và các quy định của nhà trường, khu dân cư, nơi
cộng đồng, sống hồn nhiên, mạnh dạn, tự tin, trung thực.
- Có kiến thức cơ bản về tự nhiên – xã hội – con người và thẩm mỹ; có
kỹ năng cơ bản về nghe, đọc, nói viết và tính tốn; có thói quen rèn luyện thân
thể, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ sức khỏe.
- Biết cách học tập, biết tự phục vụ, biết tự sử dụng một số đồ dùng trong
gia đình và cơng cụ lao động thơng thường, vận dụng và làm một số việc như
chăn nuôi, trồng trọt và giúp việc trong gia đình.
Nói tóm tại, chúng ta đang hướng tới việc xây dựng bậc giáo dục tiểu
học thành một bậc học lành mạnh, phát triển bền vững và cơ bản đạt trình độ
tiên tiến. [12, tr 11, 12]
1.2.1.3 Nội dung giáo dục tiểu học
Nội dung giáo dục tiểu học thống nhất trong phạm vi cả nước và phù hợp
với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng miền, phù hợp với tâm
lý phát triển của lứa tuổi học sinh.
Nội dung giáo dục tiểu học bao gồm: Nội dung dạy học các môn học và


nội dung hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Nội dung dạy học được thể hiện qua các môn học bắt buộc và tự chọn.
Cịn nội dung hoạt động ngồi giờ lên lớp bao gồm các hoạt động: Vui chơi
giải trí, văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao, lao động cơng ích, hoạt động từ
thiện...
Nội dung giáo dục tiểu học được phân thành 4 lĩnh vực: khoa học, công

nghệ, đạo đức lối sống, sức khỏe.
Tuy nhiên, do trình độ nhận thức của học sinh tiểu học còn hạn chế, kinh
nghiệm sống của các em còn nghèo nàn nên cần phải duy trì và hồn thiện
quan điểm tổng hợp khi xây dựng và nhất là khi thực hiện nội dung giáo dục
tiểu học. Nhiều nước trên thế giới rất quan tâm đến việc xây dựng ở bậc tiểu
học những mơn học có tính tổng hợp. Trong chương trình dạy học tiểu học ở
nước ta, một số môn học cũng đã được biên soạn theo hướng này.
Chẳng hạn, môn Tự nhiên và Xã hội bao gồm kiến thức của nhiều môn
độc lập khác như: Sinh học, Địa lý, Lịch sử, Vật lý, Hóa học... Hoặc mơn
Tốn bao gồm kiến thức của mơn Số học, Đại số, Hình học...
Trong từng mơn học, cần đảm bảo sự cân đối giữa tri thức cụ thể và tri
thức trừu tượng. Các biểu tượng mang đến cho học sinh phải khoa học, chính
xác và nâng dần tới trình độ khái niệm. Tăng cường tính khái quát của tri
thức, cung cấp cơ sở lý luận để trẻ hiểu rõ bản chất của sự vật, hiện tượng và
mối quan hệ có tính quy luật của chúng.
Bên cạnh việc hình thành các kỹ năng, kỹ xão cơng cụ (như nghe, nói,
đọc, viết, tính tốn) cần phải dạy cho trẻ cách học, cách nhận thức nhiệm vụ
học tập, xây dựng các hành động học tập (hành động phân tích, hành động mơ
hình hóa, hành động cụ thể hóa, hành động kiểm tra đánh giá). Đồng thời nội
dung giáo dục tiểu học cần mang tính gợi cảm, tác động mạnh mẽ đến tình
cảm của trẻ, vừa gấy hứng thú học tập, vừa tạo điều kiện để các em tự thể


nghiệm những cảm xúc đạo đức thẩm mỹ.
Thông thường, nội dung giáo dục tiểu học được xây dựng theo nguyên
tắc đồng tâm, có nghĩa là tri thức và kỹ năng được học theo nhiều vòng, mỗi
vòng được mở rộng và đào sâu thêm.
Do đó trong q trình dạy học, người giáo viên cần chú ý đến tính chất
này để tránh dạy quá yêu cầu, vi phạm tính hệ thống, gấy khó khăn cho sự
tiếp thu của trẻ.

Tóm lại, nội dung giáo dục tiểu học phải “bảo đảm cho học sinh có hiểu
biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản
về nghe, nói, đọc, viết và tính tốn, có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ
sinh; có hiểu viết ban đầu về múa, hát, âm nhạc, mỹ thuật” (luật Giáo dục,
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2006, trang 22). [12, tr. 3,4,5]
1.2.1.4 Phương pháp giáo dục tiểu học
Phương pháp giáo dục là tổng hợp các cách thức hoạt động giữa nhà giáo
dục và người được giáo dục nhằm chuyển tải các nội dung giáo dục, thực hiện
mục tiêu giáo dục.
Lứa tuổi học sinh tiểu học tư duy còn mang tính trực quan nên các
phương pháp được sử dụng cũng cần mang tính trực quan, kích thích được
tính tự giác, sự tích cực, sáng tạo của học sinh. Cần hạn chế các phương pháp
diễn thuyết, trình bày dài, khó hiểu. Đặc biệt học sinh tiểu học rất thích thú
với các hoạt động mang tính khám phá, quan sát, trị chơi...
Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Tiểu học cần giáo dục cho các cháu
thiếu nhi: yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của
công. Cách dạy phải nhẹ nhàng, vui vẻ, chớ gị bó thiếu nhi vào trong khuôn
khổ của người lớn”.
Những lời dạy của Hồ Chủ tịch là nền tảng về phương pháp dạy học nói
chung và phương pháp dạy học ở tiểu học nói riêng, đồng thời gợi mở nhiều


điều bổ ích về đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy học hiện
nay.
Đối với học sinh tiểu học, việc lĩnh hội tri thức và hình thành kỹ năng có
vai trị quan trọng như nhau. Vì thế cần chú ý đúng mức đến phương pháp
thực hành, từ thực hành mà hiểu thêm lý thuyết.
Nhận thức của học sinh tiểu học chủ yếu là nhận thức cảm tính: từ cụ thể
(trực quan sinh động) đến trừu tượng vì vậy phương pháp dạy học trực quan
được sử dụng nhiều trong nhà trường tiểu học. Khi dạy điều gì, giáo viên làm

mẫu rồi tổ chức cho học sinh làm để có điều đó. Muốn hình thành ở học sinh
một hành vi, giáo viên phải làm mẫu cách làm để có được hành vi đó. Khác
với phương pháp nêu gương, phương pháp làm mẫu cho học sinh thấy mẫu
sản phẩm của nhà trường và cách làm để tạo ra sản phẩm đó theo cơ chế “thầy
tổ chức, trò hoạt động; thầy thiết kế, trị thi cơng” (Nguyễn Kế Hào, Giáo viên
tiểu học. Tạp chí nghiên cứu giáo dục, số 1 – 1992).
Có thể nói, trong nhà trường tiểu học, đặc trưng lao động sư phạm của
người giáo viên tiểu học nằm ở phương pháp làm mẫu này.
Các phương pháp dạy học ở tiểu học rất đa dạng và phong phú. Vì thế
khi lựa chọn phương pháp dạy học cần chú ý đến:
- Lứa tuổi, giai đoạn phát triển của học sinh tiểu học.
- Lĩnh vực và mức độ mục tiêu cần thực hiện (nhất là các lĩnh vực và
mục tiêu về tình cảm và thái độ).
- Coi trọng việc tổ chức hoạt động tự giác, có hệ thống, độc lập của học
sinh.
- Những điều kiện vật chất hỗ trợ cho việc dạy và học.
- Năng lực và thói quen, kinh nghiệm của bản thân giáo viên về các mặt
giao tiếp, tổ chức, hướng dẫn....[12, tr. 5.6]
1.2.2 Học sinh tiểu học


1.2.2.1 Định nghĩa
Học sinh tiểu học là những trẻ em học ở bậc đầu tiên trong giáo dục phổ
thông, từ lớp một đến lớp năm.
1.2.2.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học
- Tri giác:
Đặc điểm tri giác của học sinh tiểu học là tri giác trực tiếp, mang tính
cảm xúc, cụ thể, ít đi sâu vào bản chất sự vật hiện tượng. Ở các lớp đầu cấp,
tri giác của các em thường gắn với hành động, sử dụng các giác quan để tri
giác.

Ở các lớp cuối cấp, tri giác của các em mang tính mục đích và rõ ràng
hơn. Lúc này, tri giác trở thành hoạt động có phân tích, có văn hóa, mang tính
chất của sự quan sát có tổ chức. Trong sự phát triển tri giác, vai trò của người
giáo viên là rất lớn. Giáo viên hàng ngày khơng chỉ dạy các khái niệm mà cịn
dạy cho học sinh các kỹ năng hoạt động, phối hợp các giác quan, liên hệ
những gì đã học được để ngày càng nâng cao khả năng hiểu biết, các kỹ năng
hoạt động một cách thành thạo.
- Chú ý:
Chú ý của học sinh thiên về chú ý không chủ định, học sinh thường chú
ý đến những cái mới lạ hấp dẫn, trực quan sinh động. Sự chú ý của học sinh
thường hướng ra bên ngồi vào hành động, chưa có khả năng hướng vào bên
trong và tư duy.
Ở lớp 4, 5 chú ý có chủ định đã xuất hiện và ngày càng hồn thiện trong
q trình nhận thức của học sinh. Khả năng phát triển chú ý có chủ định, phát
triển tính bền vững, sự tập trung chú ý ở học sinh cuối cấp là rất cao. Bản thân
quá trình học tập đòi hỏi các em phải rèn luyện thường xuyên sự chú ý có chủ
định, ý chí. Chú ý có chủ định được phát triển cùng với động cơ học tập mang
tính xã hội cao, với sự trưởng thành về ý thức trách nhiệm đối với kết quả


trong học tập.
- Trí nhớ:
Trí nhớ của học sinh tiểu học gắn với các biểu tượng cụ thể, trí nhớ máy
móc phát triển hơn trí nhớ từ ngữ logic, biểu tượng hình ảnh giúp các em dễ
nhớ hơn là dùng ngơn ngữ, câu chữ trừu tượng khó hiểu. Việc dạy học có sử
dụng các hình ảnh trực quan giúp các em ghi nhớ sâu sắc hơn, nắm được sự
vật hiện tượng.
Tuy nhiên, ở cuối cấp học, trí nhớ của các em đã dần dần thoát khỏi các
biểu tượng cụ thể mà được thay bằng các khái niệm. Ở các lớp dưới, học sinh
đã được chuẩn bị đầy đủ về nội dung và các biểu hiện của khái niệm. Đến lớp

4, 5 cùng với sự phát triển chức năng sinh lý của bộ não, chúng được khái
quát thành các khái niệm, từ đó hình thành nên kỹ năng kỹ xảo hoạt động.
- Trí tưởng tượng:
Trí tưởng tượng của các em rất phong phú, tuy nhiên nó cịn phụ thuộc
vào kinh nghiệm sống, mẫu vật đã biết và cảm hứng, hứng thú của học sinh.
Tưởng tượng mang tính đơn giản, ít có tổ chức và thường thay đổi.
Ở các lớp cuối cấp, tưởng tượng của các em trở nên gần hiện thực, phản
ánh thực tế đầy đủ và chính xác hơn. Các em có khả năng gọt dũa, nhào nặn
những biểu tượng cũ để sáng tạo ra những biểu tượng mới. Điều này có được
nhờ các em đã biết dùng ngơn ngữ để xây dựng hình ảnh có tính khái qt và
trừu tượng hơn. Biểu tượng của tưởng tượng dẫn trở nên hiện thực hơn, phản
ánh đúng đắn hơn môn học, nội dung đã học, biểu tượng khơng cịn đứt đoạn
và thống nhất thành một hệ thống. Điều này cũng chi phối việc hình thành các
mức độ kỹ năng của học sinh dựa trên những kỹ năng đơn giản đã có.
Như vậy, tưởng tượng của học sinh cuối cấp dần thoát khỏi ảnh hưởng
của những ấn tượng trực tiếp, gắn liền với tư duy ngơn ngữ, các kí hiệu, tín
hiệu.


- Tư duy:
Tư duy của học sinh tiểu học đầu cấp là tư duy cụ thể, mang tính hình
thức dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng, hiện tượng cụ thể.
Trong quá trình học tập học sinh dần dần chuyển từ nhận thức các mặt bên
ngoài sự vật hiện tượng đến nhận thức các thuộc tính bên trong của chúng.
Điều này tạo ra những so sánh, thao tác phân tích tổng hợp và suy luận đầu
tiên. Hành động này còn sơ đẳng với học sinh đầu cấp, tri giác đối tượng bằng
hành động phân tích trực quan trực tiếp. Học sinh cuối cấp có thể phân tích
đối tượng mà không cần hành động trực tiếp với đối tượng.
- Nhu cầu nhận thức:
Trong những năm đầu của bậc tiểu học, nhu cầu nhận thức của học sinh

phát triển rõ nét. Đầu tiên xuất hiện nhu cầu tìm hiểu sự việc riêng lẻ, những
hiện tượng riêng biệt (lớp 1, 2), sau đó xuất hiện nhu cầu gắn liền với sự phát
hiện các nguyên nhân, quy luật, các mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc giữa
các sự kiện, hiện tượng (lớp 3, 4 đặc biệt là lớp 5). Nếu như học sinh đầu cấp
có nhu cầu tìm hiểu các câu hỏi “Cái đó là cái gì?” thì ở các lớp cuối cấp lại
có nhu cầu giải quyết các câu hỏi: “Tại sao?” và “Như thế nào?”.
Nhu cầu nhận thức là nhu cầu tinh thần có ảnh hưởng quan trọng đến sự
phát triển trí tuệ. Nếu học sinh khơng có nhu cầu nhận thức thì cũng khơng có
tính tích cực trí tuệ. Mà tính tích cực trí tuệ rất cần thiết cho kỹ năng. Nếu học
sinh chỉ học để đối phó thì khi một kỹ năng nào đó đã được hình thành, học
sinh sẽ không rèn luyện và dần dần kỹ năng đó sẽ mất đi.
Khi có nhu cầu nhận thức, học sinh sẽ huy động toàn bộ kiến thức, kỹ
năng đã có để giải quyết một vấn đề nào đó. Khi nhu cầu đó khơng thỏa mãn
thì học sinh sẽ bứt rứt, khó chịu. Nhu cầu nhận thức khi đã được thỏa mãn với
đối tượng này thì nó lại hướng đến một đối tượng mới phức tạp hơn, đòi hỏi
người học phải có sự sáng tạo cao hơn, làm cho trí tuệ của học sinh được phát


triển khơng ngừng.
1.2.3 Hoạt động giáo dục ngồi giờ lên lớp
HĐGDNGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các bộ
mơn văn hóa. HĐGDNGLL giúp các em học sinh có cơ hội tham gia các hoạt
động thực tiễn. Học sinh khi được hịa mình vào đời sống xã hội sẽ có thêm
những hiểu biết, học thêm được kinh nghiệm giao tiếp… để làm tăng thêm
vốn sống của mình, để rèn luyện trở thành những người có nhân cách.
Về khái niệm HĐGDNGLL, các tác giả đã đưa ra nhiều ý kiến khác
nhau:
Theo Giáo sư Đặng Vũ Hoạt: HĐGDNGLL là việc tổ chức giáo dục theo
hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học kỹ thuật, lao động công ích,
hoạt động xã hội, hoạt động nhân văn, văn hóa nghệ thuật thẫm mỹ, hoạt

động thể duch thể thao, hoạt động vui chơi giải trí…để giúp các hình thành và
phát triển nhân cách. [14, tr23; 6; 10]
Theo tác giả Nguyễn Hữu Hợp và Nguyễn Dục Quang: HĐGDNGLL là
một môn học nằm trong hệ thống các môn học về giáo dục tiểu học. Nó
nghiên cứu q trình giáo dục trẻ em diễn ra vào thời gian ngoài giờ lên lớp
do giáo viên tiểu học tổ chức và lãnh đạo có sự kết hợp với các lực lượng giáo
dục khác trong nhà trường và ngoài nhà trường.
Tác giả Hà Nhật Thăng đã nêu: HĐGDNGLL là một chương trình mới,
được thực hiện một cách hệ thống theo một số chủ điểm nhằm giúp học sinh
mở rộng sự hiểu biết, hình thành tình cảm, niềm tin với những giá trị tốt đẹp
của con người Việt Nam trong giai đoạn mới.
Trong chương trình Tiểu học: HĐGDNGLL là hoạt động được tổ chức
ngoài giờ của các môn học. HĐGDNGLL là sự tiếp nối thống nhất hữu cơ với
hoạt động dạy học, tạo điều kiện gắn lý thuyết với thực hành, góp phần quan
trọng vào việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của học sinh.


Trong điều lệ trường tiểu học: HĐGDNGLL bao gồm các hoạt động
ngoại khóa về khoa học, văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao… nhằm phát
triển năng lực toàn diện của học sinh và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu.
Như vậy, theo ý kiến của chúng tôi: HĐGDNGLL là một hoạt động có
mục đích, có kế hoạch, có tổ chức được thực hiện ngoài thời gian học trên lớp,
là sự tiếp nối và thống nhất với hoạt động dạy và học trên lớp tạo điều kiện
gắn lý thuyết với thực hành. HĐGDNGLL góp phần thực hiện q trình hình
thành nhân cách học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục.
Hiện nay, HĐGDNGLL đã trở thành chương trình bắt buộc, và là một bộ
phận trong q trình giáo dục tồn diện học sinh trong chính khóa.
1.2.4 Chất lượng
Về bản chất, khái niệm chất lượng là một khái niệm mang tính tương
đối. Với mỗi người, quan niệm về chất lượng khác nhau.

Trong thực tế, có rất nhiều cách định nghĩa chất lượng, theo chúng tôi:
“Chất lượng là sự vượt trội, là sự hoàn hảo và phù hợp với mục tiêu đặt ra”.
Chất lượng giáo dục luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của nhiều đối
tượng.
Chất lượng HĐGDNGLL được phản ánh thông qua sự phát triển về nhân
cách của học sinh, thông qua những hiệu quả giáo dục mà HĐGDNGLL
mang lại chứ không phải bằng điểm số.
1.2.5 Biện pháp
Biện pháp: theo từ điển Tiếng Việt thì “Biện pháp là cách làm, cách giải
quyết một vấn đề cụ thể”.
Biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là
cách thức tiến hành các nội dung trong chương trình HĐGDNGLL theo một
quy trình nhằm đạt được mục tiêu của hoạt động giáo dục một cách hiệu quả
nhất.


×