Tải bản đầy đủ (.doc) (95 trang)

Một số giải pháp quản lý thư viện trường trung học phổ thông ở thành phố vinh, tỉnh nghệ an luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (566.25 KB, 95 trang )

1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang chuyển sang thời kỳ thực hiện cơng nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập quốc tế. Văn kiện Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ
VIII đã nhấn mạnh: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to
lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cơng cuộc
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”[14].
Thực hiện chủ trương trên, bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang triển khai
đổi mới toàn diện và đồng bộ giáo dục - đào tạo, trong đó có đổi mới phương
pháp dạy học.
Đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả cao hay thấp một phần phụ
thuộc vào cơ sở vật chất và thư viện. Cùng với chương trình kiên cố hóa
trường lớp theo quyết định 159/QĐ-CP của Chính phủ, Ủy Ban nhân dân tỉnh,
sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An đã ưu tiên kinh phí xây dựng trường, lớp
học, trang bị cơ sở vật chất; mua sắm trang thiết bị dạy học, sách giáo khoa,
sách giáo viên, dành những điều kiện tốt nhất để các trường thực hiện nhiệm
vụ đổi mới giáo dục trong những năm học vừa qua. Sở Giáo dục và Đào tạo
Nghệ An đã huy động nhiều nguồn kinh phí từ các chương trình, dự án, xã hội
hóa giáo dục… để mua sắm phương tiện, thiết bị thực hành cho học sinh và
đồ dùng dạy học cho giáo viên.
Ở cấp học trung học phổ thông, học sinh được tiếp xúc nhiều môn học
khác nhau nên việc sử dụng thư viện có hiệu quả sẽ góp phần quan trọng
trong việc nâng cao chất lượng dạy học. Trong đổi mới giáo dục và đào tạo,
vấn đề đổi mới phương pháp dạy học có vị trí đặc biệt quan trọng. Cuộc cách
mạng về phương pháp dạy học sẽ đem lại bộ mặt mới, sức sống mới cho giáo


2



dục trong xã hội hiện đại. Thư viện là thành tố cơ bản của q trình dạy học,
góp phần giúp giáo viên thực hiện quá trình dạy học đạt kết quả cao. Thư viện
là điểm tựa cho học sinh hình thành tri thức lý thuyết và kỹ năng thực hành
đạt hiệu quả cao trong hoạt động học tập. Chúng ta có thể khẳng định rằng,
việc sử dụng có hiệu quả thư viện sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao
chất lượng dạy học và giáo dục.
Các trường THPT sau những năm thay sách vừa qua đã được cung ứng
một lượng sách từ lớp 10 đến lớp 12 của các môn. Nhiệm vụ của các trường
là làm sao sử dụng và phát huy hiệu quả lượng sách đã được cung cấp nhằm
thực hiện tốt hơn việc đổi mới phương pháp dạy học góp phần tích cực thực
hiện mục tiêu là đào tạo con người Việt Nam năng động, sáng tạo, tự chủ.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nhiều trường THPT ở thành phố Vinh vẫn
chưa làm tốt công tác bảo quản và sử dụng hiệu quả thư viện. Vì vậy, đối với
người làm công tác quản lý trường học, việc xây dựng các giải pháp quản lý
hợp lý để phát huy hiệu quả sử dụng thư viện là rất cần thiết. Từ thực tế đó,
tơi chọn đề tài “Một số giải pháp quản lý thư viện trường trung học phổ
thông ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý thư viện và khảo sát thực trạng
quản lý thư viện trường THPT thành phố Vinh, đề tài đề xuất một số giải
pháp quản lý thư viện nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của các
trường THPT tại thành phố Vinh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: công tác quản lý thư viện tại trường THPT thành
phố Vinh.


3


- Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp quản lý thư viện trường THPT ở
thành phố Vinh.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các giải pháp quản lý thư viện có cơ sở khoa học, phù
hợp với thực tế sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học trong các trường
THPT ở thành phố Vinh.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về thư viện và công tác quản lý thư viện trong
trường THPT.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý thư viện của hiệu trưởng
trường THPT ở thành phố Vinh.
- Đề xuất một số giải pháp quản lý thư viện tại các trường THPT ở thành
phố Vinh.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa những vấn đề lý luận từ sách,
báo, tài liệu và văn kiện, văn bản có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận
cho vấn đề nghiên cứu.
6.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát, thu thập thông tin qua việc quan sát hoạt động quản lý thư viện
trường THPT.
- Khảo sát thực trạng về thư viện và quản lý thư viện trường THPT ở thành
phố Vinh.


4

6.2.3. Phương pháp thống kê toán học: sử dụng toán thống kê để xử lý số
liệu, phân tích các thơng số cần thiết mang tính chính xác, khoa học.
7. Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu thực trạng thư viện và công tác quản lý thư viện của
hiệu trưởng trên tất cả 11 trường THPT ở thành phố Vinh, trực thuộc sở Giáo
dục và Đào tạo Nghệ An.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng quản lý thư viện các trường trung học phổ thông
ở thành phố Vinh
Chương 3: Một số giải pháp quản lý thư viện trường trung học phổ
thông ở thành phố Vinh


5

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đối với công tác dạy học, thư viện là công cụ lao động sư phạm của GV
và HS, những yếu tố không thể thiếu được trong quá trình dạy học. Với tư
cách là cơng cụ lao động sư phạm của GV và HS, trong những trường hợp sử
dụng đúng qui trình, phù hợp với đặc trưng của từng bộ mơn, thư viện đóng
vai trị cung cấp nguồn thông tin cho HS trong học tập, là phương tiện để GV
trình bày nội dung bài học một cách sâu sắc, thuận lợi, hình thành được ở HS
những phương pháp học tập tích cực, chủ động.
Chính vì vậy, cơng tác quản lý cơ sở vật chất trường học nói chung và
cơng tác quản lý thư viện nói riêng đã được nhiều tổ chức và cá nhân nghiên
cứu.
Trần Văn Long với đề tài: “Thực trạng và giải pháp quản lý cơ sở vật chất

các trường tiểu học ở tỉnh Thanh Hóa”, tác giả đánh giá thực trạng quản lý
CSVC các trường tiểu học để xác định được các giải pháp có tính khoa học và
khả thi trong quản lý CSVC các trường tiểu học, góp phần phát triển dạy-học
2 buổi/ngày, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục tiểu học phù hợp với
tình hình phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Thanh Hóa.
Trần Duy Hân với đề tài: “Biện pháp quản lý phương tiện dạy học của
hiệu trưởng các trường THCS trên địa bàn thành phố Huế đáp ứng yêu cầu
đổi mới chương trình giáo dục phổ thơng hiện nay” [23], tác giả đã nghiên
cứu lý luận và đánh giá thực trạng việc quản lý phương tiện dạy học của Hiệu
trưởng, xác lập các biện pháp quản lý phương tiện dạy học có hiệu quả của


6

Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THCS trên địa
bàn thành phố Huế, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay.
Lê Thanh Giang với đề tài: “Thực trạng và giải pháp quản lý việc sử dụng
thiết bị dạy học của giáo viên trường trung học phổ thông tỉnh Cà Mau”, qua
đề tài tác giả đã khảo sát và phân tích thực trạng quản lý và sử dụng TBDH ở
một số trường THPT tỉnh Cà Mau, từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý
việc sử dụng TBDH của giáo viên nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH ở
các trường THPT tỉnh Cà Mau.
Tơ Xn Giáp với cơng trình: “Phương tiện dạy học-Hướng dẫn chế tạo và
sử dụng”, tác giả đã đưa ra cơ sở phân loại và phân loại phương tiện dạy học,
cách thức lựa chọn, thiết kế, chế tạo, sử dụng phương tiện dạy học và các điều
kiện để đảm bảo sử dụng có hiệu quả phương tiện dạy học. Theo tác giả:
“Phương tiện dạy học được sử dụng đúng, có tác dụng làm tăng hiệu quả sư
phạm của nội dung và phương pháp dạy học lên rất nhiều” [19].
Trong giáo trình: “Lý luận dạy học ở trường THCS” của Nguyễn Ngọc
Bảo và Trần Kiểm đã dành chương 5 để viết về phương tiện dạy học. Theo

tác giả, phương tiện dạy học có ý nghĩa quan trọng trong việc vận dụng
phương pháp dạy học. Bên cạnh việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học,
hiện nay các trường THCS đã được trang bị nhiều phương tiện dạy học. Vì
vậy GV cần phải nắm được khái niệm phương tiện dạy học, các loại phương
tiện dạy học, cách sử dụng, bảo quản từng loại phương tiện dạy học, đặc biệt
là phương tiện dạy học kỹ thuật. [2].
Trong cuốn: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng, sử
dụng cơ sở vật chất và thiết bị - thư viện dạy học ở trường phổ thông Việt
Nam”, do Trần Quốc Đắc chủ biên, tác giả đã đưa ra các quan điểm làm cơ sở
cho việc sử dụng thiết bị -thư viện, xác định vị trí, vai trị của CSVC và thiết


7

bị -thư viện ở trường phổ thông. Các tác giả nhận định: “Thư viện phải được
sử dụng, hiệu quả sử dụng là mục tiêu cơ bản nhất và là mục tiêu duy nhất của
tồn bộ cơng tác thư viện trường học. Sử dụng có hiệu quả thư viện là một
nhiệm vụ nặng nề, khó khăn của người giáo viên. Điều này địi hỏi người GV
phải có trình độ chun mơn nghiệp vụ cao với yêu cầu sử dụng thiết bị -thư
viện. Người GV không những cần hiểu biết về thiết bị -thư viện, về kỹ thuật
sử dụng chúng mà còn hiểu sâu về phương pháp dạy học với yêu cầu sử dụng
thiết bị -thư viện: sử dụng thiết bị - thư viện với mục đích gì, lúc nào, số
lượng bao nhiêu, đặc điểm tâm lý HS ra sao; HS cần tham gia hoạt động như
thế nào khi dạy học có sử dụng thiết bị -thư viện, sử dụng thiết bị - thư viện
như thế nào để khơi dậy lòng say mê học tập, phát huy tính tích cực, năng lực
sáng tạo và bồi dưỡng nhân cách cho HS”.
Trong cuốn: “Quản lý giáo dục” do Bùi Minh Hiền chủ biên, tác giả đã đề
cập đến vai trò của thư viện trong sự phát triển hệ thống giáo dục quốc dân,
phân loại các nhóm mà người quản lý thư viện cần bao quát và đưa ra một số
nguyên tắc cùng giải pháp quản lý thư viện ở trường học trong giai đoạn hiện

nay [24].
Giáo trình: “Bồi dưỡng hiệu trưởng trường trung học cơ sở”, do Chu Mạnh
Nguyên chủ biên, tác giả đã nêu những vấn đề chung về CSVC- thiết bị -thư
viện và công tác quản lý về CSVC- thiết bị -thư viện. Đây là những nội dung
giúp người Hiệu trưởng có thể áp dụng trong công tác quản lý CSVC, thư
viện ở trường của mình.
Những cơng trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên đã xây dựng được
một hệ thống lý luận về vai trò, tác dụng của thư viện cùng một số yêu cầu và
nguyên tắc sử dụng nó trong quá trình dạy học. Thư viện được xác định là
một thành tố quan trọng trong quá trình dạy học, nhất là ở cấp THPT, nó đóng


8

vai trò to lớn trong việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Lý luận về
thư viện đã được làm sáng tỏ trong nhiều cơng trình nghiên cứu và trong các
giáo trình về lý luận dạy học. Tuy vậy, trong các hướng nghiên cứu trên, lĩnh
vực nghiên cứu quản lý thư viện trong q trình dạy học nói chung và trong
các trường THPT thành phố Vinh nói riêng chưa được nghiên cứu đầy đủ.
1.2. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.2.1. Quản lý
Hoạt động quản lý hình thành từ sự phân công hợp tác lao động, từ sự xuất
hiện của tổ chức, cộng đồng. Với nhu cầu hướng đến hiệu quả tốt hơn, năng
suất cao hơn trong sự hợp tác lao động của cộng đồng đòi hỏi phải có sự chỉ
huy, phối hợp, phân cơng, kiểm tra, điều chỉnh… Do đó xuất hiện vai trị
người quản lý.
Các Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung
nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự
chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng
chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của

những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy
mình, cịn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.
Ngày nay thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến, nhưng chưa có một định
nghĩa thống nhất. Một số tác giả cho quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự
hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác. Một số tác giả
khác cho quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp
những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Tuy nhiên, theo
nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người “Quản lý chính là
các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người
khác nhằm thu được kết quả mong muốn”.


9

Từ những ý chung của các định nghĩa và xét quản lý với tư cách là một
hành động, chúng tôi đồng ý với quan niệm: “Quản lý là sự tác động có tổ
chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục
tiêu đề ra”.
1.2.2. Quản lý giáo dục
1.2.2.1. Khái niệm
Cũng như quản lý xã hội nói chung, quản lý giáo dục là hoạt động có ý
thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình. Chỉ có con
người mới có khả năng khách thể hóa mục đích, nghĩa là thể hiện cái nguyên
mẫu lý tưởng của tương lai được biểu hiện trong mục đích đang ở trạng thái
khả năng sang trạng thái hiện thực. Chúng ta biết, mục đích giáo dục cũng
chính là mục đích của quản lý (tuy nó khơng phải là mục đích duy nhất của
mục đích quản lý giáo dục). Đây là mục đích có tính khách quan. Nhà quản
lý, cùng với đông đảo đội ngũ giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội …
bằng hành động của mình sẽ thực hiện mục đích đó trong hiện thực.
Thực tế, khái niệm “quản lý giáo dục” có nhiều cấp độ. Trong đó có hai

cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô. Cấp quản lý vĩ mơ tương ứng với
việc quản lý một đối tượng có quy mơ lớn nhất, bao qt tồn bộ hệ thống.
Nhưng trong hệ thống này lại có nhiều hệ thống con, tương ứng với hệ thống
con có hoạt động quản lý vi mô.
Quan niệm về quản lý vĩ mô và quản lý vi mơ trong giáo dục, sẽ gồm hai
nhóm khái niệm tương ứng: quản lý một hệ thống giáo dục (quản lý vĩ mô) và
quản lý một nhà trường (quản lý vi mô). Ở đây, ta chỉ xem xét trên khía cạnh
cấp quản lý vi mơ.
Theo tác giả Trần Kiểm, ở cấp độ quản lý vi mơ, có thể định nghĩa khái
niệm về QLGD như sau: “ Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác


10

động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật)
của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh,
cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực
hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.” [27].
Hay cũng có thể định nghĩa “Quản lý giáo dục thực chất là những tác động
của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo
viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình
thành và phát triển tồn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của
nhà trường.” [27].
Thuật ngữ “quản lý trường học” có thể xem là đồng nghĩa với QLGD
thuộc tầm vi mô. Đây là những tác động quản lý diễn ra trong phạm vi nhà
trường.
Từ các khái niệm nêu trên, chúng ta có thể thấy rõ bốn yếu tố của QLGD,
đó là: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản
lý. Ta có thể biểu diễn bốn yếu tố này bằng sơ đồ:
Chủ

thể
QL

Đối
tượng
QL

Mục tiêu
QL

Khách
thể
QL

Sơ đồ khái niệm quản lý
Trong thực tiễn, các yếu tố nêu trên không tách rời nhau mà ngược lại,
chúng có quan hệ tương tác gắn bó với nhau. Chủ thể quản lý tạo ra những tác
nhân tác động lên đối tượng quản lý, nơi tiếp nhận tác động của chủ thể quản
lý và cùng với chủ thể quản lý hoạt động theo một quỹ đạo nhằm cùng thực
hiện mục tiêu của tổ chức. Khách thể quản lý nằm ngồi hệ thống quản lý
giáo dục. Nó là hệ thống khác hoặc các ràng buộc của môi trường… Nó có


11

thể chịu tác động hoặc tác động trở lại đến hệ thống giáo dục và hệ thống
quản lý giáo dục. Vấn đề đặt ra đối với chủ thể quản lý là làm như thế nào để
những tác động từ phía khách thể quản lý đến giáo dục là tích cực, cùng thực
hiện mục tiêu chung.
1.2.2.2. Các chức năng của quản lý giáo dục

a. Chức năng kế hoạch hóa trong quản lý giáo dục
Một tập thể lao động, trong đó mọi người liên kết với nhau hoạt động thực
hiện nhiệm vụ của tập thể và của bản thân. Nhiệm vụ cốt yếu của người quản
lý là làm thế nào để mọi người biết nhiệm vụ của mình, biết phương pháp
hoạt động nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu của tổ chức. Đấy là chức năng
kế hoạch hóa của nhà quản lý. Kế hoạch hóa bao gồm việc xây dựng mục
tiêu, chương trình hành động, xác định từng định hướng cụ thể, những điều
kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của cả hệ thống quản
lý và bị quản lý. Chức năng này bao gồm: các loại kế hoạch và việc lập kế
hoạch trong giáo dục.
b. Chức năng tổ chức trong quản lý giáo dục
Để giúp cho các cá nhân cùng làm việc với nhau nhằm thực hiện có hiệu
quả mục tiêu cần phải xây dựng và duy trì một cơ cấu nhất định về vai trị,
nhiệm vụ và vị trí cơng tác. Cho nên, có thể nói việc xây dựng các vai trò,
nhiệm vụ là chức năng tổ chức trong quản lý. Vai trò của một bộ phận hay
một cá nhân bao hàm bộ phận hay cá nhân đó hiểu rõ cơng việc mình làm
nằm trong một phạm vi nào, nhằm mục đích hoặc mục tiêu nào, công việc của
họ ăn khớp như thế nào với các cá nhân hoặc bộ phận khác và những thông
tin cần thiết để hồn thành cơng việc.
Vì vậy, ta có thể hiểu rằng, chức năng tổ chức trong quản lý là việc thiết
kế cơ cấu các bộ phận cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức. Song không


12

phải chỉ có vậy, mà việc thực hiện chức năng tổ chức trong quản lý còn phải
chú ý đến phương thức hoạt động, đến quyền hạn của từng bộ phận, tạo điều
kiện cho sự liên kết ngang, dọc và đặc biệt chú ý đến việc bố trí cán bộ là
người vận hành các bộ phận của tổ chức.
c. Chức năng điều khiển (chỉ đạo thực hiện) trong quản lý giáo dục

Đây là chức năng thể hiện năng lực của người quản lý. Sau khi hoạch định
kế hoạch và sắp xếp tổ chức, người cán bộ quản lý phải điều khiển cho hệ
thống hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra. Đây là quá trình sử dụng
quyền lực của người quản lý để tác động đến các đối tượng bị quản lý (con
người, các bộ phận) một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của
họ hướng vào việc đạt mục tiêu chung của hệ thống. Người điều khiển hệ
thống phải là người có tri thức và kỹ năng ra quyết định và tổ chức thực hiện
quyết định.
d. Chức năng kiểm tra trong quản lý giáo dục
Đây là chức năng quan trọng của nhà quản lý, có thể nói, chức năng này
xun suốt q trình quản lý và là chức năng của mọi cấp quản lý. Kiểm tra là
một hoạt động nhằm thẩm định, xác định một hành vi của cá nhân hay một tổ
chức trong quá trình thực hiện quyết định. Ngồi ra, cịn có thể hiểu là hoạt
động quan sát và kiểm nghiệm mức độ phù hợp của quá trình hoạt động của
đối tượng bị quản lý với các quyết định quản lý đã lựa chọn.


13
Kế hoạch

Kiểm tra

Thông tin

Chỉ đạo

Tổ chức

Sơ đồ: Các chức năng cơ bản của quản lý
1.2.3. Quản lý nhà trường

Trên bình diện vi mô, quản lý giáo dục trong phạm vi nhà trường có thể
xem là đồng nghĩa với quản lý nhà trường.
Trường học là một tổ chức giáo dục, là một đơn vị cấu trúc cơ sở của
hệ thống giáo dục quốc dân. Do đó xét về mặt bản chất, trường học là một tổ
chức mang tính Nhà nước – Xã hội – Sư phạm thể hiện bản chất giai cấp, bản
chất xã hội và bản chất sư phạm. Cho nên quản lý nhà trường được hiểu:
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang:
“Quản lý trường học là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong
phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý
giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo
dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”
- Theo GS.TSKH Phạm Minh Hạc:
“Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học.
Có tổ chức được hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà
trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lí được giáo dục, tức
là cụ thể hố đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện
thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước” [ 20 ].


14

Quản lý nhà trường là hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống
này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể
quản lý lên tất cả các mặt của đời sống nhà trường, để đảm bảo sự vận hành
tối ưu xã hội - kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục
thế hệ đang lớn .
Mặt khác, quản lý trường học về bản chất là quản lý con người. Điều
đó tạo cho các chủ thể (người dạy và người học) trong nhà trường một sự liên
kết chặt chẽ không những chỉ bởi cơ chế hoạt động theo những qui luật / tính
qui luật khách quan của một tổ chức xã hội – nhà trường, mà còn bởi hoạt

động chủ quan, hoạt động quản lý của chính bản thân giáo viên và học sinh.
Trong nhà trường, giáo viên và học sinh vừa là đối tượng, vừa là chủ thể quản
lý. Với tư cách là đối tượng quản lý, họ chịu sự tác động của chủ thể quản lý
(Hiệu trưởng); với tư cách là chủ thể quản lý, họ là người tham gia chủ động,
tích cực vào hoạt động quản lý chung và biến nhà trường thành hệ tự quản lý.
Cho nên quản lý nhà trường không chỉ là trách nhiệm riêng của người Hiệu
trưởng, mà là trách nhiệm chung của tất cả các thành viên trong nhà trường.
Như vậy, có thể nói rằng quản lý nhà trường chính là quản lý q trình
giáo dục bao gồm các thành tố: Mục tiêu - Nội dung - Phương pháp - Giáo
viên (Người dạy) - Học sinh (Người học) - Kết quả. Các thành tố này có mối
quan hệ gắn bó mật thiết với nhau dưới sự tác động của Hiệu trưởng - Người
quản lý trường học, chúng vận hành theo một quỹ đạo nhất định nhằm đạt
mục tiêu, kế hoạch đề ra và được thể hiện bởi sơ đồ sau:


15

Mục
tiêu
Giáo
viên

Học
sinh
Quản lí

Phương
pháp

Nội

dung
Kết quả

Sơ đồ: Mối quan hệ giữa các thành tố của qúa trình giáo dục

1.3. Trường trung học phổ thơng
1.3.1. Vị trí, mục tiêu của cấp trung học phổ thông trong hệ thống giáo
dục quốc dân
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục THPT giữ vị trí bản lề, chuẩn
bị tri thức phổ thơng, hình thành nhân cách, để sau khi tốt nghiệp học sinh
phổ thơng có thể tiếp tục học lên hoặc trực tiếp tham gia lao động, có khả
năng góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- THPT tạo vốn học vấn cơ bản cho học sinh và góp phần nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
Theo Luật Giáo dục: “Giáo dục THPT được thực hiện trong ba năm học từ
lớp mười đến lớp mười hai. Học sinh vào học lớp mười phải có bằng tốt
nghiệp THCS, có độ tuổi là mười lăm tuổi” [ 7 ]
Vị trí trường THPT được thể hiện trong Điều lệ trường trung học:


16

“Trường trung học là cơ sở giáo dục của bậc trung học, bậc học nối tiếp
bậc tiểu học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ
thơng. Trường trung học có tư cách pháp nhân và con dấu riêng” [ 4 ].
Tuổi
Tiến sĩ
2- 4 năm)
24


Đại học
(4- 6 năm)

21

Thạc sĩ (1 – 2
năm)

Giáo

Cao đẳng (3 năm)

dục

THPT (3 năm)

Trung
Dạy nghề(dài hạn 1-3
cấpCN
năm, ngắn hạn 1 năm)
(3- 4 năm)

THCS (4 năm)

chính

Tiểu học (5 năm)

18


Mẫu giáo
15
3 tháng
11

khơng

quy

Nhà trẻ
Sơ đồ: Vị trí trường THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân

6
3
Như vậy THPT là một bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân. THPT là
bậc học cuối cùng của giáo dục phổ thông, là cầu nối giữa giáo dục phổ thông
với giáo dục đại học, sau đại học và giáo dục nghề nghiệp.
Ngày nay, giáo dục THPT càng thể hiện rõ các xu hướng sau đây:
Giáo dục THPT không phải dành riêng cho các học sinh giỏi, xuất sắc mà
là một nền giáo dục đại chúng.


17

Giáo dục THPT khơng chỉ có mục tiêu chuẩn bị nguồn cho giáo dục đại
học mà chủ yếu là chuẩn bị cho học sinh – con người đang trưởng thành bước
vào đời.
Giáo dục THPT cần trở thành một nguồn rộng lớn để lựa chọn những
nguồn lực có kỹ năng tốt cho sự phát triển quốc gia.
- Giáo dục THPT là giai đoạn người học khẳng định được, định hướng

được cái họ cần, mẫu hình mà họ phải vươn tới.
Theo Luật giáo dục: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh
phát triển tồn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ
bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động sáng tạo, hình thành nhân
cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm
công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao
động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [ 7 ]
Mục tiêu của giáo dục THPT: “Nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển
những kết quả giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thơng và có những
hiểu biết thơng thường về kỷ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy
năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng,
trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [4].
Với mục tiêu như thế, giáo dục THPT có chức năng trang bị cho thế hệ trẻ
khả năng thích ứng và đáp ứng yêu cầu của cuộc sống, làm việc một cách
khoa học. Nhà trường THPT có nhiệm vụ chuẩn bị cho thế hệ trẻ tầm nhìn
rộng rãi, khả năng sống và làm việc độc lập, tự chủ, được phát triển đầy đủ về
trí tuệ. Giáo dục THPT địi hỏi sự tích hợp giữa tư duy và hành động, lý trí và
tình cảm, học ở trường và sinh hoạt trong xã hội.
Từ mục tiêu chung đã được xác định ở trên, mục tiêu cụ thể của giáo dục
THPT nói riêng và giáo dục trung học nói chung là:


18

Hình thành cho học sinh trung học những kỹ năng học tập và sống cụ thể
là:
+ Phát triển kỹ năng giao lưu;
+ Khuyến khích hứng thú tìm tịi;
+ Tạo được hứng thú khi cố gắng học tập và đạt được kết quả trong học
tập;

+ Đánh giá được giá trị các phương pháp giải quyết vấn đề;
+ Lĩnh hội hệ thống những kiến thức cần thiết để sống và để tiếp tục học;
+ Quan tâm và có trách nhiệm đối với những yếu tố của mơi trường xung
quanh;
+ Có hiểu biết về xã hội và về tự nhiên cần thiết và phù hợp với cộng
đồng;
+ Đánh giá đúng đắn sự cống hiến của khoa học và nghệ thuật đối với
cuộc sống của con người;
+ Hiểu biết đất nước mình về lịch sử, địa lý, văn hóa, lối sống;
+ “Hiểu biết về sự phụ thuộc của con người đối với môi trường tự nhiên và
mơi trường do con người tạo nên, có trách nhiệm về những hành động sử
dụng các tài nguyên” [4].
1.3.2. Vai trò, nhiệm vụ của giáo dục trung học phổ thơng
THPT là một cấp học quan trọng nhằm hình thành cho người học những
điều kiện cần thiết ban đầu, mang tính nền tảng, để từ đó họ có thể tiếp tục
học lên cao hơn hoặc đi vào cuộc sống và tự rèn luyện, tu dưỡng nhằm làm tốt
vai trò của mình trong xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang
thực hiện đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, thực hiện phổ cập


19

để phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển nhân lực cho sự nghiệp cơng nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước thì vai trị, nhiệm vụ cấp THPT càng trở nên quan
trọng và nặng nề. Điều đó địi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ phương pháp giảng
dạy, đổi mới các hoạt động để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới trong giai đoạn
hiện nay.
Xét một cách hệ thống, cấp học THPT là một khâu trung chuyển rất quan
trọng trong vấn đề đào tạo nguồn nhân lực. Tại đó, người hồn thành cấp học
phải có đủ điều kiện để học tiếp hoặc là bước vào cuộc sống, phục vụ trực

tiếp cho kinh tế - xã hội. Vì vậy, chất lượng đào tạo của cấp học có ảnh hưởng
rất lớn đến kinh tế - xã hội.
Theo yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, sự phân luồng giáo dục sau
THPT đòi hỏi giáo dục THPT cần hướng đến những sản phẩm mà thị trường
lao động đang đặt ra trước mắt. Nhưng mặt quan trọng hơn là cần tạo ra được
tiềm năng để lao động tự phát triển và thích ứng đồng thời cần phải đảm bảo
sự phù hợp giữa giáo dục - kinh tế và giáo dục - xã hội.
1.4. Lý luận về thư viện
1.4.1. Vị trí, vai trị và ý nghĩa của thư viện
Thư viện là một bộ phận cấu thành về phương diện tổ chức của giáo dục.
Là thành tố cơ bản không thể thiếu được của q trình giáo dục, góp phần
quan trọng vào việc nâng cao chất lượng GD&ĐT.
Thư viện có ý nghĩa nhất định trong tồn bộ q trình dạy học, tuy nhiên
khơng phải tự thân nó có tồn bộ ý nghĩa đó. Nói cách khác là không phải cứ
sử dụng thư viện là có tác dụng dạy học - giáo dục, mà cịn phụ thuộc rất
nhiều vào việc người GV sử dụng nó như thế nào vào cách nghiên cứu, chế
biến tài liệu dạy học mà họ sẽ tiến hành.


20

Nói đến vai trị của thư viện, V.P.Golov (nhà giáo dục người Nga) đã nêu
rõ: “Phương tiện dạy học là một trong những điều quan trọng nhất để thực
hiện nội dung giáo dưỡng, giáo dục và phát triển học sinh trong quá trình dạyhọc”.
Thư viện là phương tiện quan trọng góp phần nâng cao khả năng sư phạm
trong q trình dạy học.
- Thư viện là đối tượng và là tiền đề của quá trình nhận thức của học sinh.
- Thư viện là cơ sở cho việc đổi mới phương pháp dạy học.
- Giúp giáo viên và học sinh nâng cao khả năng thu nhận thơng tin một
cách đầy đủ, chính xác, mở rộng và đào sâu tri thức nhằm rút ra những kết

luận có độ tin cậy.
Tóm lại, nếu sử dụng đúng thư viện sẽ góp phần tích cực nâng cao hiệu
suất lao động của thầy và trò.
1.4.2. Đặc trưng và yêu cầu của thư viện
1.4.2.1. Đặc trưng của thư viện
- Thư viện ở trường phổ thông là kho tàng rất đa dạng phong phú là sự kết
hợp các tính chất khoa học, sư phạm và kinh tế :
+ Tính khoa học: Là mức độ chuẩn xác trong việc phản ánh hiện thực.
+ Tính sư phạm: Là sự phù hợp với các yêu cầu về mặt sư phạm như dễ sử
dụng phù hợp tâm sinh lý học sinh...
+ Tính kinh tế: Là giá thành tương xứng với hiệu quả giáo dục - đào tạo.
CSVC của thư viện cũng được đánh giá theo một số tiêu chuẩn trên.
1.4.2.2. Yêu cầu đối với thư viện



×