Tải bản đầy đủ (.docx) (10 trang)

Bài thu hoạch diễn án hồ sơ lao động số 09 bà Thu kiện Công YD sa thải trái pháp luật

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (119.7 KB, 10 trang )

HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
🙣🙣🙣

BÀI THU HOẠCH
VỀ XỬ LÝ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG THEO HÌNH THỨC SA THẢI

HỒ SƠ SỐ: LS.DS.09/B3.TH4-DA4/LĐ
TRANH CHẤP VỀ XỬ LÝ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG THEO HÌNH THỨC SA
THẢI

Nguyên đơn: Trần Thị Thu
Bị đơn: Công ty TNHH YD Việt Nam

Họ và tên

:

SBD

:

Lớp

:

Khóa

:

Hờ Chí Minh


1


I.

TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆC

Bà Thu vào làm việc tại Công ty YD từ ngày 17/7/2006, được ký hợp đồng không xác
định thời với công việc là nhân viên kế tốn văn phịng. Từ ngày 01/01/2014 bà Thu được
hưởng mức lương là 20.393.000 đồng/tháng.
Tháng 6/2015 bà Thu nghỉ thai sản đến ngày 09/12/2015 thì đi làm trở lại. Khi đi làm thì
bà Thu nhận được Thơng báo ngày 05/12/2015 của Công ty yêu cầu bà Thu tạm dừng làm
việc từ ngày 09/12/2015 đến hết ngày 30/12/2015 với lý do để Cơng ty làm rõ một số sai
phạm kế tốn có liên quan đến bà Thu thời gian trước khi nghỉ thai sản.
Ngày 05/01/2016 Công ty mời bà Thu đến để nhận quyết định số 008-14/QĐ ngày
30/12/2015 do Tổng giám đốc ký, chuyển bà Thu từ kế tốn văn phịng sang kế toán phụ trách
quản lý kho rác từ ngày 05/01/2016 với công việc “Theo dõi, thống kế, kiểm đếm và gửi bản
tổng kết hàng ngày cho người phụ trách bán rác về: tình trạng, số lượng rác theo từng loại cụ
thể; Trông coi, sắp xếp, vệ sinh kho rác; Chuẩn bị, cân đo khi bán rác. Lương và các chế độ
theo Điều 31 Bộ luật Lao động”.
Nhận thấy việc điều chuyển công việc, mức lương theo quyết định 008 của Công ty là vi
phạm Điều 158 và Điều 160 Bộ luật Lao động, đồng thời do sức khỏe không đảm bảo nên khi
nhận quyết định 008-14 bà Thu đã nêu rõ ý kiến với Công ty không đồng ý thực hiện.
Trong các ngày 09/01, 28/01, 03/02 năm 2016 người đại diện theo ủy quyền của bà Thu
đã có cơng văn yêu cầu Công ty chấm dứt hợp đồng lao động, trả tiền lương và các chế độ cho
bà Thu. Tại cuộc họp ngày 14/5/2016 giữa hai bên do Ban quản lý khu cơng nghiệp Hải
Phịng chủ trì, bà Thu tiếp tục đề nghị chấm dứt hợp đồng nhưng Công ty không chấp nhận.
Đồng thời tại cuộc họp này Công ty đã gửi cho bà Thu Biên bản xử lý vi phạm kỷ luật ngày
20/3/2016 bằng hình thức sa thải bà Thu với lý do tự ý nghỉ việc quá 5 ngày khơng đến Cơng
ty mà khơng có lý do chính đáng.

Cho rằng Biên bản xử lý vi phạm kỷ luật ngày 20/3/2016 là vi phạm Khoản 4 Điều 123
Bộ luật Lao động vì bà Thu nghỉ việc là có lý do chính đáng, Công ty tiến hành họp xử lý vi
phạm nhưng bà Thu không được mời tham dự. Vì vậy, ngày 06/7/2016 bà Thu đã có đơn khởi
kiện gửi đến Tòa án.
Trong khi Tòa án huyện huyện AD thành phố Hải Phòng đang xem xét đơn khởi kiện thì
bà Thu lại tiếp tục nhận được Biên bản xử lý vi phạm kỷ luật ngày 14/8/2016 và quyết định số
02- QĐ/HĐKL ngày 15/8/2016 của Tổng giám đốc xử lý kỷ luật sa thải bà Thu với lý do “đã
không đến Công ty tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động, mặc dù Cơng ty đã có thơng báo”.
2


Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 11/5/2017 và tại phiên tòa, bà Thu yêu cầu Tòa án tuyên
bố việc sa thải của Công ty đối với bà Thu là trái pháp luật. Do không muốn trở lại Công ty
làm việc nên bà Thu đề nghị Tịa án buộc Cơng ty khôi phục các quyền lợi cho bà Thu theo
quy định tại Điều 42 Bộ luật Lao động.
II.

CÁC VẤN ĐỀ TỐ TỤNG:
1. Quan hệ pháp luật tranh chấp

Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải theo Điểm a, khoản 1,
Điều 32 Bộ Luật Tố Tung Dân sự 2015.
2. Đương sự trong vụ án

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu (sinh năm 1985)
Địa chỉ: số 6xx, Phố Đ, Phường Hồng Văn Thụ, Hờng Bàng, TP. Hải Phịng.
Bị đơn : Cơng ty TNHH YD Việt Nam
Địa chỉ: Lơ J12xx, Khu cơng nghiệp NM, Thành Phố Hải Phịng.
3. Điều kiện khởi kiện


Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 32 BLTTDS 2015 và điểm a khoản 1 Điều 201 Bộ
luật lao động 2012, thì tranh chấp giữa bà Thu và Công ty YD Việt Nam là tranh chấp
lao động cá nhân về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải. Tranh chấp này khơng
bắt buộc phải thơng qua thủ tục hịa giải của hịa giải viên lao động.
4. Thời hiệu khởi kiện

Căn cứ khoản 2 Điều 202 Bộ luật Lao động 2012 thì thời hiệu yêu cầu Toà án giải
quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi
bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
Bà Thu bị sa thải theo Biên bản xử lý kỷ luật lao động ngày 20/3/2016. Tuy nhiên,
bà Thu nhận được Biên bản này vào ngày 14/5/2016 tại cuộc họp với Công ty YD có sự
tham gia của Ban Quản lý khu kinh tế và Cơng đồn khu kinh tế Hải Phịng. Vậy thời
hiệu khởi kiện được tính từ ngày 14/5/2016. Bà Thu khởi kiện vào ngày 06/7/2016, vẫn
trong thời hiệu khởi kiện.
5. Thẩm quyền của Toà án

Thẩm quyền chung: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 32 BLTTDS
2015 thì các tranh chấp về xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải là tranh chấp lao
-

3


động thuộc thẩm quyền của Tồ án mà khơng phải thơng qua hồ giải tại cơ sở.
Do đó, Tồ án có thầm quyền giải quyết tranh chấp này.
Thẩm quyền theo cấp: Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35
BLTTDS2015 thì Tồ án nhân dân cấp hụn có thẩm quyền giải quyết các tranh
chấp về lao động quy định tại khoản 1 Điều 32 BLTTDS 2015. Trong khi đó,
tranh chấp về lao động quy định tại khoản 1 Điều 32 BLTTDS 2015 có bao gờm
cả tranh chấp về xử lý vi phạm kỷ luật theo hình thức sa thải. Do đó, tranh chấp

này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện.
-

Thẩm quyền theo lãnh thổ: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39
BLTTDS 2015 thì Tồ án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về lao động
theo Điều 32 của BLTTDS là TAND nơi bị đơn có trụ sở nếu bị đơn là tổ chức.
Do đó, Tồ án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này phải là TAND nơi công
ty YD Việt Nam có trụ sở. Cơng ty YD Việt Nam có trụ sở Km 13 AD, Hải
Phịng. Vì vậy, Tồ án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này phải là TAND
hụn AD, thành phố Hải Phịng.
-

III.

DỰ KIẾN BẢN TRÌNH BÀY YÊU CẦU CỦA NGUYÊN ĐƠN

Yêu cầu Tòa án tuyên bố việc sa thải của Công ty YD đối với bà Thu là trái pháp luật.
Khôi phục các quyền lợi cho bà Thu theo quy định tại Điều 42 Bộ luật Lao động bao gờm:
-

Thanh tốn tiền lương trong những ngày không được làm việc từ ngày
09/12/2015 đến ngày xét xử sơ thẩm là 1 năm 9 tháng 12 ngày làm tròn là 21
tháng cộng với hai tháng tiền lương với mức lương 20.393.000 đồng/ tháng,
số tiền là: 20.393.000 đồng x 23 tháng = 469.039.000 đờng.

-

Cơng ty phải thanh tốn tiền trợ cấp thôi việc cho thời gian bà làm việc từ
tháng 7/2006 đến 30/12/2008 là 2,5 năm với tiền trợ cấp là: 20.393.000 đờng x
2,5 năm x ½ = 25.491.250 đồng.


-

Bồi thường thêm hai tháng tiền lương để chấm dứt hợp đồng lao động là
40.786.000 đồng.
Tổng cộng: 535.316.205 đồng.

-

IV.

Buộc Công ty phải chốt sổ BHXH đến ngày xét xử sơ thẩm và trả sổ BHXH
cho bà.

KẾ HOẠCH HỎI
Hỏi bị đơn:
4


1.

Cơng ty có ký kết phụ lục HĐLĐ nào thay đổi chức danh của bà Thu hay
không?

2.

Sau thời gian bà Thu nghỉ thai sản và trở lại làm việc, phía bị đơn có bố trí để
bà Thu tiếp tục thực hiện công việc cũ hay không?

3.


Bà Thu đã mắc sai phạm gì khi làm việc tại Cơng ty?

4.

Cơng ty có tài liệu gì để chứng minh cho sai phạm của bà Thu hay khơng?

5.

Vì sao Cơng ty khơng nộp những chứng cứ chứng minh sai phạm của bà Thu
cho Tòa án? (nếu có)

6.

Dựa trên những sai phạm này (kế tốn, kiêm nhiệm) để công ty YD đưa ra
thông báo số 05 về tạm đình chỉ cơng việc với bà Thu đúng khơng?

7.

Vậy trước khi ra thơng báo số 05 thì cơng ty có ra bất kỳ một thơng báo nào
khơng? (Nếu có) thì đã gửi đến đâu? Có tiến hành lưu trữ khơng?

8.

Bà Thu có tham gia vào các buổi họp xử lý kỷ luật lao động ngày 15/12/2015
và 25/12/2015 hay không?

9.

Việc điều chuyển bà Thu sang công việc mới bắt đầu từ ngày 05/01/2016? Quy

trình điều chuyển như thế nào?

10. Từ ngày 09/12/2015 đến ngày 05/01/2016, bà Thu hoàn tồn khơng được bố trí

cơng việc đúng khơng?
11. Sau khi có quyết định diều chuyển việc bà Thu Thu khơng đờng ý thì Cơng ty

đã xử lý như thế nào?
12. Quyết định hủy bỏ quyết định S008/14 ngày 30/12 về việc điều chuyển công

việc là quyết định nào? Quyết định ấy đã được gửi cho những ai?
13. Bà Thu có tham gia vào buổi làm việc xử lý kỷ luật ngày 20/30/2016 hay

không?
14. Công ty đã thông báo cho bà Thu và yêu cầu bà Thu đến công ty làm việc hay

khơng? Bằng hình thức nào?
15. Sau ngày 20/03/2016, Cơng ty có thơng báo u cầu bà Thu đến Cơng ty làm

việc hay không?
16. Sau ngày 09/12/2015, bà Thu đã được điều chuyển làm những công việc nào?

Cho biết cụ thể thời gian chuyển bà Thu sang kế toán thống kê?
5


17. Tại Biên bản xử lý kỷ luật lao động ngày 14/8/2016, Công ty vẫn viện dẫn

quyết định công việc đưa ra đối với bà Thu ngày 05/01/2016. Vậy tại sao Cơng
ty lại nói rằng đã chuyển bà Thu sang làm kế tốn thống kê?

18. Cơng ty đã chốt sổ bảo hiểm cho bà Thu vào thời gian nào?
19. Vì sao công ty lại chốt sổ bảo hiểm khi bà Thu vẫn là nhân viên của Công ty?

Hỏi nguyên đơn:
1.

Bà cho biết Bà bắt đầu làm việc tại Công ty YD Việt Nam từ khi nào? Vị trí
công việc là gì?

2.

Bà có bất cứ sai phạm về kiêm nhiệm vị trí kế toán, thủ kho, sai phạm kế toán
gây thiệt hại cho Công ty YD hay không?

3.

Tại cuộc họp Công ty ngày 15/12/2015 và 25/12/2015 cơng ty YD có đưa ra
sai phạm và bằng chứng chứng minh sai phạm của bà hay khơng? Kết luận của
buổi họp là gì

4.

Bà bị đình chỉ cơng việc trong thời gian bao lâu (tính từ thời điểm đi làm lại
sau khi nghỉ thai sản)?

5.

Nội dung công việc làm việc tại kho rác của bà là gì? Mức lương như thế nào?

6.


Khi nhận Quyết định điều chuyển công việc trên (số S008 -14/QĐ ngày
30/12/2015) con bà được mấy tháng tuổi?

7.

Tại sao khi Công ty YD ra quyết định thuyên chuyển công tác, Bà không tiếp
tục làm việc với vị trí công việc mới mà Công ty YD đã sắp xếp?

8.

Bà có nhận được quyết định hủy bỏ quyết định điều chuyển đến làm việc tại
kho rác số S008 -14/QĐ hay khơng?

9.

Bà có nhận được thơng báo vào các ngày 10,13,17/3/2016 của Công ty YD yêu
cầu bà đến làm việc hay không?

10. Biên bản xử lý kỷ luật ngày 20/3/2016 bà bị áp dụng hình thức kỷ luật nào?
11. Hiện tại, Bà có mong muốn quay trở lại làm việc tại Công ty YD không?
V.

LUẬN CỨ BẢO VỆ NGUYÊN ĐƠN

Kính thưa Hội đồng xét xử, thưa đại diện Viện Kiểm sát và tất cả những người tham
gia tố tụng tại phiên tịa hơm nay!
6



Tôi là Luật sư …, hiện đang công tác tại Cơng ty Luật TNHH … thuộc Đồn Luật
sư …. Tơi tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Trần Thị Thu, là
nguyên đơn trong vụ án dân sự Tranh chấp về xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải với bị
đơn là Cơng ty YD Việt Nam, vụ án được Tòa án nhân dân huyện AD, TP. Hải Phòng thụ
lý số 04/2016/TLST-LĐ ngày 14/10/2016.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và theo dõi diễn biến phiên tịa, tơi khẳng định u
cầu khởi kiện của bà Thu là hồn tồn có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật,
bởi lẽ:
1.

Giữa bà Thu với Công ty YD tồn tại quan hệ lao động hợp pháp.

Cả bà Thu và Công ty YD đều thống nhất rằng bà Thu bắt đầu làm việc tại Công ty
YD từ ngày 17/7/2006, đến ngày 17/10/2008, hai bên thỏa thuận ký kết Hợp đồng lao
động không xác định thời hạn, vị trí là nhân viên, làm việc tại Văn phịng. Cơng việc cụ
thể của bà Thu trước khi nghỉ thai sản là Kế toán trưởng, mức lương là 20.393.000
đồng/tháng.
2.

Công ty YD đã sa thải bà Thu từ ngày 20/03/2016

Tại Điều 123 Bộ luật Lao động, Điều 30 Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày
12/01/2015 của Chính phủ và Thông tư số 19/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003
của Bộ LĐTB và XH đã quy định về trình tự, thủ tục tiến hành xử lý vi phạm kỷ luật lao
động. Trong đó có quy định bắt buộc khi tiến hành xử lý kỷ luật lao động phải lập thành
biên bản, trên cơ sở đó người sử dụng lao động ký quyết định kỷ luật lao động.
Đối với việc khởi kiện bị sa thải của bà Thu, mặc dù Công ty chưa ra quyết định kỷ
luật sa thải nhưng Cơng ty đã thực hiện trình tự thủ tục xử lý vi phạm, đã có biên bản
ngày 20/3/2015 họp xử lý vi phạm của bà Thu và kết luận bằng hình thức sa thải. Biên
bản được Tổng giám đốc và Chủ tịch cơng đồn Cơng ty cùng ký và gửi cho bà Thu. Do

đó, bà Thu khởi kiện bị Công ty xử lý kỷ luật sa thải theo Biên bản xử lý vi phạm kỷ luật
lao động ngày 20/3/2015 là có căn cứ.
Trong khi Tịa án sơ thẩm đang xem xét đơn khởi kiện của bà Thu thì ngày
14/8/2016 Cơng ty lại tiếp tục tiến hành họp xử lý vi phạm lao động đối với bà Thu và
ngày 15/8/2016 Tổng giám đốc ra quyết định kỷ luật sa thải. Như vậy khi Tòa án thụ lý vụ
án thì Cơng ty khơng chỉ tiến hành họp xử lý vi phạm kỷ luật lao động đối với bà Thu
ngày 20/3/2016 mà còn tiếp tục họp xử lý ngày 14/8/2016 và ban hành quyết định kỷ luật
sa thải ngày 15/8/2016. Việc sa thải của Công ty đối với bà Thu cần được xem xét trên cơ

7


sở Biên bản xử lý vi phạm ngày 20/3/2015 đồng thời cùng với Biên bản ngày 14/8/2015
và Quyết định xử lý kỷ luật sa thải ngày 15/8/2015 của Công ty YD.
Xét việc xử lý kỷ luật lao động của Công ty, thấy rằng:
Về căn cứ sa thải: Việc bà Thu không thực hiện quyết định 008-14 ngày 31/12/2015
điều chuyển công việc, tiền lương khác với hợp đồng (85% lương) là đúng bởi lẽ: Việc
điều chuyển này Công ty không báo trước và khơng có thỏa thuận với bà Thu là vi phạm
Điều 31, Điều 158 Bộ luật Lao động; Công việc theo quyết định 008-14 là cơng việc có
tính chất độc hại mà lại giao cho người lao động đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi là
Công ty đã vi phạm Điều 160 Bộ luật Lao động. Công ty cho rằng đã thay đổi quyết định
sô 008-14 bằng quyết định số 008-15 ngày 06/01/2015 nhưng khơng có chứng cứ chứng
minh đã giao quyết định này cho bà Thu. Vì vậy bà Thu từ chối thực hiện quyết định số
008-14 và nghỉ làm là có lý do chính đáng.
Cơng ty nêu đã gửi bằng bưu điện ba lần thông báo cho bà Thu đến tiếp tục hợp
đồng lao động nhưng các vận đơn mà Công ty cung cấp không thể hiện nội dung các
thông báo của Công ty, bà Thu cũng không được nhận các thông báo này.
Tại Biên bản ngày 20/3/2016 Công ty xác định lỗi của bà Thu là tự ý nghỉ việc theo
công việc tại quyết định số 008-14, trong khi quyết định này đối với bà Thu là trái quy
định của Bộ luật lao động. Vì vậy bà Thu nghỉ việc là có lý do chính đáng, không vi phạm

Khoản 3 Điều 126 Bộ luật Lao động.
Về trình tự xử lý kỷ luật sa thải bà Thu: Công ty không gửi thông báo bằng văn bản
về việc tham dự cuộc họp xử lý kỷ luật lao động cho bà Thu nên bà Thu không được tham
dự cuộc họp là Công ty vi phạm điểm c Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Lao động. Ngày
20/3/2016 Công ty tiến hành xử lý kỷ luật lao động đối với bà Thu là người lao động đang
trong thời gian nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi là vi phạm quy định điểm d Khoản 4 Điều
123 Bộ luật Lao động. Như vậy việc Công ty tiến hành xử lý kỷ luật vi phạm lao động,
lập biên bản xử lý vi phạm bằng hình thức sa thải ngày 20/3/2015 đối với bà Thu là khơng
có căn cứ và vi phạm các quy định tại Điều 123 Bộ luật Lao động.
Bên cạnh đó, xét Biên bản ngày 14/8/2015 và quyết định số 02 ngày 15/8/2015, thấy
rằng: Về căn cứ sa thải cũng như trình tự thủ tục xử lý vi phạm kỷ luật bà Thu của Công
ty là không khác so biên bản ngày 20/3/2015. Công ty vẫn không mời bà Thu tham dự
họp xử lý kỷ luật là vi phạm điểm c Khoản 1 Điều 123 BLLĐ. Quyết định xử lý kỷ luật sa
thải số 02 của Công ty đối với bà Thu vì lý do “khơng đến Cơng ty tiếp tục thực hiện hợp
đồng lao động”, không thuộc trường hợp bị sa thải quy định tại Điều 126 Bộ luật Lao
8


động và không phù với lý do sa thải như biên bản ngày 14/8/2015. Vì vậy Quyết định sa
thải số 02 ngày 15/8/2015 của Công ty đối với bà Thu cũng là không đúng pháp luật.
Từ những luận cứ nêu trên thể hiện việc sa thải của Công ty đối với bà Thu là trái
pháp luật, tôi kính đề nghị HĐXX xem xét áp dụng Điều 129, Điều 160, Điều 31, Điều
158, Điều 123, Điều 7, Điều 42, 48 Bộ luật lao động 2012; Điều 30 Nghị định
05/2015/NĐ-CP; Thông tư 26/2013/TT-BLĐTBXH và Nội quy lao động công ty TNHH
YD, chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị Thu:
1. Tuyên bố việc kỷ luật lao động sa thải của Công ty YD đối với bà Thu là trái

pháp luật
2. Buộc Cơng ty YD:
-


Thanh tốn tiền lương trong những ngày bà Thu không được làm việc từ
ngày 09/12/2015 đến ngày xét xử sơ thẩm là 1 năm 9 tháng 12 ngày làm
tròn là 21 tháng cộng với hai tháng tiền lương với mức lương 20.393.000
đồng/ tháng, số tiền là: 20.393.000 đờng x 23 tháng = 469.039.000 đồng.

-

Thanh tốn tiền trợ cấp thôi việc cho thời gian bà Thy làm việc từ tháng
7/2006 đến 30/12/2008 là 2,5 năm với tiền trợ cấp là: 20.393.000 đờng x
2,5 năm x ½ = 25.491.250 đồng.

-

Bồi thường thêm hai tháng tiền lương để chấm dứt hợp đồng lao động là
40.786.000 đồng.
Tổng cộng: 535.316.205 đồng.

-

Buộc Công ty phải chốt sổ BHXH đến ngày xét xử sơ thẩm, trích nộp tiền
bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và trả sổ BHXH cho bà Thu.

Tôi xin cảm ơn.

9


VI.


NHẬN XÉT CÁC VAI DIỄN
VI.1

Chủ toạ phiên toà

VI.2

Hội thẩm Nhân dân

VI.3 Thư ký phiên toà
VI.4

Kiểm sát viên

VI.5

Nguyên đơn

VI.6

Bị đơn

VI.7

Luật sư Nguyên đơn

VI.8 Luật sư Bị đơn

10




×