Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

Tài liệu MỘT SỐ KHÁI NIỆM CỦA LÝ THUYẾT KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN ĐANG ĐƯỢC VẬN DỤNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (191.02 KB, 6 trang )

MỘT SỐ KHÁI NIỆM CỦA LÝ THUYẾT KINH
TẾ HỌC PHÁT TRIỂN ĐANG ĐƯỢC VẬN DỤNG
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
TS. TRẦN ANH PHƯƠNG
Trong hơn 20 năm đổi mới của Việt Nam vừa qua đã và đang có khá nhiều
các khái niệm của lý thuyết kinh tế học phát triển được vận dụng vào thực
tiễn nước ta. Tuy nhiên, trên thực tế cũng như trong nhận thức của chúng ta
chưa hẳn đã có sự thống nhất về nội hàm khoa học và cơ sở thực tiễn của các
khái niệm đó. Bài viết này sẽ góp phần trao đổi thêm với bạn đọc những
thông tin cơ bản về một số khái niệm đó và thực tiễn vận dụng vào nước ta.

Đã có rất nhiều khái niệm của lý thuyết kinh tế học phát triển mà cơ sở xuất phát
của nó là từ các khái niệm rất cơ bản của lý thuyết kinh tế học hiện đại đã có trên
thế giới từ hơn nửa thế kỷ qua (chủ yếu là từ các nước phương Tây đã có nền công
nghiệp TBCN phát triển) được du nhập và vận dụng vào công cuộc đổi mới, phát
triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta hơn 20 năm vừa qua.
Dưới đây, chỉ đề cập đến một số khái niệm cơ bản nhất đã được chính thức hoá
trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước ta và nhiều công trình khoa học, các sách,
báo thông tin, phản ánh. Đó là các khái niệm:
tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh
tế, và phát triển bền vững
1. Tăng trưởng kinh tế
Theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế của kinh tế học phát triển,
tăng
trưởng kinh tế
là một phạm trù kinh tế diễn tả động thái biến đổi về mặt lượng của
nền kinh tế của một quốc gia.
Để đo lường kết qủa sản xuất xã hội hàng năm, dùng làm thước đo so sánh quốc tế
về mặt lượng của trình độ phát triển kinh tế giữa các nước, các nước có nền kinh tế
thị trường vẫn thường sử dụng 2 loại chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: Tổng sản phẩm
quốc dân ( Gross National Product, viết tắt là GNP), tổng sản phẩm quốc nội


(Gross Domestic Product, viết tắt là GDP). Hai chỉ tiêu này khi sử dụng có tác
dụng khác nhau: GNP phản ánh quá trình gia tăng giá trị tổng sản lượng hàng hoá
và dịch vụ của quốc gia đối với các nước có nền kinh tế mở đã khá phát triển, còn
GDP phản ánh quá trình gia tăng giá trị tổng sản lượng hàng hoá và dịch vụ của
quốc gia đối với những nước có nền kinh tế khép kín hoặc đã mở nhưng còn chậm
phát triển; và do đó cùng dẫn theo mức tăng tương ứng của các chỉ tiêu đó tính
theo bình quân đầu người dân. Các chỉ tiêu này phản ánh mức tăng trưởng sản
xuất hàng hoá và dịch vụ của mỗi quốc gia sau một giai đoạn nhất định nào đó
được biểu thị bằng chỉ số % (thường là 1 năm).
Theo đó, liên hệ với việc vận dụng vào Việt Nam suốt hơn 20 năm đổi mới vừa
qua, chúng ta vẫn sử dụng chỉ số GDP và tương ứng theo GDP/người là phù hợp
với trình độ phát triển kinh tế hiện tại của nước ta và thông lệ quốc tế.
2. Phát triển kinh tế
Cũng theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế của kinh tế học phát triển:
Phát triển kinh tế là khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn so với khái niệm
tăng trưởng kinh tế. Nếu như tăng trưởng kinh tế về cơ bản chỉ là sự gia tăng
thuần tuý về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: GNP, GNP/đầu người
hay GDP, GDP/đầu người… thì
phát triển kinh tế ngoài việc bao hàm quá trình
gia tăng đó, còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là những
biến đổi về mặt chất của nền kinh tế – xã hội, mà trước hết là sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng CNH,HĐH và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao
mức sống toàn dân, trình độ phát triển văn minh xã hội thể hiện ở hàng loạt tiêu
chí như: thu nhập thực tế, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, trình độ
dân trí, bảo vệ môi trường, và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật
vào phát triển kinh tế – xã hội…
Với nội hàm rộng lớn trên đây, về cơ bản khái niệm
phát triển kinh tế đã đáp ứng
được các nhu cầu đặt ra cho sự phát triển toàn diện nhiều lĩnh vực kinh tế, văn
hoá, xã hội… Tuy nhiên như đã biết, trong khoảng hơn hai thập niên vừa qua, do

xu hứớng hội nhập, khu vực hoá, toàn cầu hoá phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn
nên đã nảy sinh nhiều vấn đề dù là ở phạm vi từng quốc gia, lãnh thổ riêng biệt,
song lại có ảnh hưởng chung đến sự phát triển của cả khu vực và toàn thế giới,
trong đó có những vấn đề cực kỳ phức tạp, nan giải đòi hỏi phải có sự chung sức
của cả cộng đồng nhân loại, ví dụ như: môi trường sống, thiên tai, dịch bệnh, chiến
tranh, khủng bố… Từ đó đòi hỏi sự phát triển của mỗi quốc gia, lãnh thổ và cả thế
giới phải được nâng lên tầm cao mới cả về chiều rộng và chiều sâu của sự hợp tác,
phát triển. Thực tiễn đó đã thúc đẩy sự ra đời một khái niệm mới về phát triển
mang nội hàm phản ánh tổng hợp hơn, toàn diện hơn tất cả các khái niệm về tăng
trưởng kinh tế, phát triển kinh tế…, đó là khái niệm
phát triển bền vững mà sau
đây ta sẽ xem xét kỹ hơn.
3. Phát triển bền vững
Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ
những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20. Năm 1987, trong Báo cáo “Tương
lai chung của chúng ta” của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển
(WCED) của Liên hợp quốc, “phát triển bền vững” được định nghĩa “là sự phát
triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc
đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”.
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de
Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền
vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định “phát
triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà
giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm:
phát triển kinh tế (nền tảng là tăng trưởng kinh
tế),
phát triển xã hội (mục tiêu là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói
giảm nghèo và giải quyết việc làm) và
bảo vệ môi trường (mục tiêu là xử lý, khắc
phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và

chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên). Tiêu
chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện
tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên
thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống.
Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát
triển của xã hội loài người, vì vậy đã được các quốc gia trên thế giới đồng thuận
xây dựng thành Chương trình nghị sự cho từng thời kỳ phát triển của lịch sử. Tại
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển được tổ chức năm
1992 ở Rio de Janeiro (Braxin), 179 nước tham gia Hội nghị đã thông qua Tuyên
bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển bao gồm 27 nguyên tắc cơ bản và
Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) về các giải pháp phát triển bền vững chung
cho toàn thế giới trong thế kỷ 21. Hội nghị khuyến nghị từng nước căn cứ vào điều
kiện và đặc điểm cụ thể để xây dựng Chương trình nghị sự 21 ở cấp quốc gia, cấp
ngành và địa phương. Mười năm sau, tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát
triển bền vững tổ chức năm 2002 ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi), 166 nước
tham gia Hội nghị đã thông qua Bản Tuyên bố Johannesburg và Bản Kế hoạch
thực hiện về phát triển bền vững. Hội nghị đã khẳng định lại các nguyên tắc đã đề
ra trước đây và tiếp tục cam kết thực hiện đầy đủ Chương trình nghị sự 21 về phát
triển bền vững.
Từ sau Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển được tổ chức
tại Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 đến nay đã có 113 nước trên thế giới xây
dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững cấp quốc gia và
6.416 Chương trình nghị sự 21 cấp địa phương, đồng thời tại các nước này đều đã
thành lập các cơ quan độc lập để triển khai thực hiện chương trình này. Các nước
trong khu vực như Trung Quốc, Việt Nam Thái Lan, Singapore, Malaysia…đều đã
xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững.
Về phía Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta từ nhiều năm qua đã luôn nhận thức sâu
sắc về tầm quan trọng của sự phát triển bền vững không chỉ riêng với Việt Nam
mà còn có liên đới trách nhiệm với sự phát triển bền vững chung của toàn cầu.
Chính phủ ta đã cử nhiều đoàn cấp cao tham gia các Hội nghị nói trên và cam kết

thực hiện phát triển bền vững; đã ban hành và tích cực thực hiện “Kế hoạch quốc
gia về Môi trường và Phát triển bền vững giai đoạn 1991-2000″ (Quyết định số
187-CT ngày 12 tháng 6 năm 1991), tạo tiền đề cho quá trình phát triển bền vững
ở Việt Nam. Quan điểm phát triển bền vững đã được khẳng định trong Chỉ thị số
36-CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác
bảo vệ môi trường trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, trong đó nhấn mạnh: “Bảo
vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ
trương và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ
sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH,
HĐH”. Quan điểm phát triển bền vững đã được tái khẳng định trong các văn kiện
của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) của Đảng Cộng sản Việt Nam và
trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001-2010 là: “Phát triển nhanh, hiệu
quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã
hội và bảo vệ môi trường” và “Phát triển kinh tế – xã hội gắn chặt với bảo vệ và
cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường
thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”. Gần đây, Đại hội X (2006) của Đảng cũng
đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm lớn từ thực tiễn phát triển hơn 20 năm đổi mới vừa
qua và đó cũng là tư tưỏng chỉ đạo về phát triển kinh tế – xã hội nước ta giai đoạn
5 năm 2006-2010 và kể cả nhiều năm tiếp theo. Trong đó, bài học đầu tiên đã
được Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh là “Bài học về phát triển nhanh và bền vững”.
Phát triển bền vững rõ ràng đã và đang trở thành đường lối, quan điểm của Đảng
và định hướng chính sách phát triển của Nhà nước. Để thực hiện mục tiêu phát
triển bền vững, những năm vừa qua đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết khác của Đảng,
nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước đã được ban hành và triển khai
thực hiện; nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này đã được tiến hành
và thu được những kết quả bước đầu. Nhờ đó, nhiều nội dung cơ bản về phát triển
bền vững đã đi vào cuộc sống và dần dần trở thành xu thế tất yếu trong sự phát
triển của đất nước.
Như vậy là theo từng thang bậc tiến trình phát triển của lý thuyết kinh tế học phát
triển hiện đại mà các khái niệm cơ bản nhất của lý thuyết này như đã đề cập ở

×