Tải bản đầy đủ (.docx) (28 trang)

VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (133.85 KB, 28 trang )

TRUNG ƯƠNG ĐỒN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN THANH THIẾU NIÊN
---o0o---

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ
CHỨC PHI CHÍNH PHỦ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

SINH VIÊN THỰC HIỆN :
MÃ SINH VIÊN
CHUYÊN NGÀNH

HÀ NỘI – 2021

1


MỤC LỤC

Tổ chức phi chính phủ Việt Nam và quản lý Tổ chức phi chính phủ Việt Nam là
vấn đề mới, ln mang tính thời sự trong tình hình hiện nay ở nước ta. Để các Tổ
chức phi chính phủ Việt Nam hoạt động có hiệu quả xã hội cao thì việc quản lý về vấn
đề này của Nhà nước là đặc biệt quan trọng. Trong đó cần chú trọng đến vấn đề: Phân
cấp trong quản lý Tổ chức phi chính phủ Việt Nam ở Việt Nam hiện nay.
Tổ chức phi chính phủ là các tổ chức tồn tại bên cạnh các tổ chức của khu vực
nhà nước, khu vực tư nhân và tập thể. Theo Liên hợp quốc, “Tổ chức phi chính phủ là
thuật ngữ dùng để chỉ một tổ chức, hiệp hội, ủy hội từ thiện, tập đoàn phi lợi nhuận
hoặc các pháp nhân khác mà theo pháp luật không thuộc khu vực Nhà nước và không
hoạt động vì lợi nhuận… Tổ chức này khơng bao gồm các nghiệp đồn, đảng phái
chính trị, hợp tác xã phân chia lợi nhuận, hay nhà thờ hoặc chùa”.
Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ rất đa dạng trong các lĩnh vực dịch vụ,


văn hóa, khoa học kỹ thuật, nhân đạo,... đó là các hoạt động phục vụ lợi ích cơng cộng
vì sự phát triển lành mạnh, cơng bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội.
Thời gian qua, thế giới chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của các tổ
chức phi chính phủ. Sự phát triển của các tổ chức phi chính phủ là xu thế khách quan,
được Liên hợp quốc, các tổ chức quốc tế và nhiều quốc gia trên thế giới công nhận.
Cùng với sự phát triển nhanh chóng về số lượng, các tổ chức phi chính phủ trở thành
nhân tố ngày càng quan trọng trong quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia. Vai trò của
các tổ chức phi chính phủ ngày càng được nâng cao trong cộng đồng quốc tế khi hoạt
động của chúng góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững, giảm nghèo, tham gia xây
dựng chính sách, bảo đảm quyền con người, xây dựng quan hệ thương mại bình đẳng
giữa các nước trên thế giới.
Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển từ một nền kinh tế
trình độ phát triển thấp, lạc hậu, lại phải giải quyết những hậu quả to lớn của cuộc
2


chiến tranh kéo dài và khốc liệt. Bên cạnh đó, Việt Nam cịn phải đối mặt với nhiều
khó khăn, thách thức như ứng phó với thiên tai, biến đổi khí hậu, xóa đói, giảm
nghèo... Vì vậy, những đóng góp của các tổ chức phi chính phủ nước ngồi cả về cách
tiếp cận, kinh nghiệm, phương pháp và nguồn lực có vai trị quan trọng, góp phần hỗ
trợ Việt Nam trong q trình bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng
và thực thi các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Thực hiện đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, quan hệ với các tổ
chức phi chính phủ nước ngồi được Đảng, Nhà nước xác định là một phần trong công
tác đối ngoại nhân dân, gắn liền với đường lối, chính sách đối ngoại và tình hình phát
triển qua từng giai đoạn của đất nước.

3



CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ
quản lý nhà nước đối với TỔ CHỨC
PHI CHÍNH PHỦ VIỆT NAM
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG:
1.1.1.Khái niệm:
-Tổ chức phi chính phủ Việt Nam: Là tổ chức tự nguyện của nhân dân Việt Nam,
có tư cách pháp nhân; cùng ngành, nghề, giới, nhu cầu,… hoạt động một cách thường
xuyên để thực hiện mục tiêu chung, khơng vì mục tiêu phân chia lợi nhuận và hoạt
động trong khuôn khổ của pháp luật Việt Nam.
-Quản lý nhà nước: Là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan
trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà
nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất
nước.
-Quản lý nhà nước về tổ chức phi chính phủ: Là quá trình nhà nước sử dụng các
phương thức quản lý để tác động, điều chỉnh các hoạt động của tổ chức phi chính phủ
diễn ra theo quy định của pháp luật.
-Phân cấp trong quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ Việt Nam: Là sự
phân định nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp chính quyền trong việc
thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối việc tổ chức và hoạt động của các tổ chức
phi chính phủ Việt Nam.
1.1.2.Sơ lược về tổ chức phi chính phủ:
a. Cơ sở hình thành tổ chức phi chính phủ:
-Cơ sở lý luận:
+Lý luận về vai trò quyết định của nhân dân trong q trình phát triển của lịch sử
lồi người.
+Con người là trung tâm, mục đích của quản lý và hoạt động xã hội.
4


+Thực hiện chức năng của nhà nước.

-Cơ sở thực tiễn:
+Cơ cấu xã hội.
+Nền kinh tế.
+Điều kiện lịch sử, văn hóa.
+Yêu cầu giải quyết những vấn đề xã hội của các hoạt động từ thiện:
Sự phát triển, phân hóa và phân tầng xã hội.
Ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội.
b.Tổ chức phi chính phủ ở Việt nam hiện nay gồm có:
-Tổ chức phi chính phủ nước ngồi.
-Tổ chức phi chính phủ Việt Nam.
c.Các loại hình tổ chức phi chính phủ Việt Nam ở nước ta hiện nay:
-Hội: là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề,
cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đồn kết hội viên, hoạt động
thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên,
của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước.
-Qũy xã hội, quỹ từ thiện: là tổ chức phi chính phủ có tư cách pháp nhân do một
hoặc nhiều cá nhân, tổ chức tự nguyện dành một khoản tài sản nhất định để thành lập
hoặc thành lập thông qua hợp đồng, hiến tặng, di chúc, nhằm mục đích hỗ trợ văn hóa,
giáo dục, y tế, thể dục thể thao, khoa học, từ thiện, nhân đạo và các hoạt động vì lợi
ích cộng đồng khơng vì mục đích lợi nhuận, quỹ được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cho phép thành lập, công nhận Điều lệ.
-Cơ sở bảo trợ xã hội tư nhân: do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu
tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên
của cơ sở bảo trợ xã hội.
-Các tổ chức khoa học công nghệ: : là tổ chức do một người hoặc một số người
tự thành lập.
đ. Tính chất của tổ chức phi chính phủ:
-Tính xã hội.
-Tính tự nguyện.

5


-Tính nghề nghiệp,giới, sở thích và nhân đạo.
-Tính thời đại.
-Tính phi lợi nhuận.
e. Vai trị của tổ chức phi chính phủ:
-Đáp ứng nhu cầu, lợi ích chính đáng và phát huy tính năng động, tích cực xã hội
của các thành viên.
-Tạo nguồn nhân lực góp phần ổn định và phát triển xã hội.
-Mở rộng quan hệ là tham gia hội nhập khu vực và thế giới.
-Tăng cường vai trò quản lý nhà nước.
-Giaos dục, rèn luyện ý thức và năng lực thực hành dân chủ cho công dân, đặc
biệt đối với các thành viên.
-Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường.
-Góp phần ổn định xã hội trên cơ sở pháp luật.
1.2. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ Ở
VIỆT NAM:
1.2.1.Quan điểm của Đảng và Nhà nước về tổ chức phi chính phủ:
-Hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước.
-Mở rộng tăng cường hợp tác với các tổ chức chính phủ.
-Thực hiện dân chủ.
-Tơn trọng và bảo đảm lợi ích chính đáng của các tổ chức nhân dân.
-Đa dạng các hình thức tập hợp nhân dân.
-Hồn thiện thể chế, tăng cường quản lý, kiểm tra của Nhà nước đối với tổ chức
phi chính phủ.
-Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
-Tăng cường cơng tác dân vận của chính quyền.
-Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quần chúng, giữ
vững mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân.

1.2.2.Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ:
-Nhà nước quản lý các tổ chức phi chính phủ theo luật định, quyền lực quản lý
của Nhà nước đến với các tổ chức phi chính phủ là thống nhất, có sự phân công phối
hợp chặt chẽ giữa cơ quan Nhà nước các cấp.
6


-Bảo đảm, bảo vệ tự do, quyền lợi ích hợp pháp của cơng dân; giữ gìn kỷ cương
xã hội và xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật.
-Bảo đảm và phát huy tính tự nguyện, tự quản, tự chủ, tự trang trải, tự chịu trách
nhiệm của tổ chức phi chính phủ trong khn khổ pháp luật.
-Đổi mới tăng cường hoạt động quản lý nhà nước phải tiến hành sông song với
việc phát triển tổ chức và hoạt động của các tổ chức phi chính phủ, phù hợp với lợi ích
quốc gia và thông lệ quốc tế.
1.2.3.Nội dung quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ:
a. Quản lý tổ chức của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt
Nam:
-Quản lý việc xét cấp, gia hạn, sửa đổi, thu hồi các loại giấy phép.
+Quy định cơ quan có thẩm quyền xét cấp. gia hạn, sửa đổi, thu hồi các loại giấy
phép.
+Quy định điều kiện để được xét cấp giấy phép và thủ tục xin cấp, gia hạn, sửa
đổi, bổ sung và thu hồi giấy phép.
+Quy định cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước với tổ chức phi
chính phủ nước ngoài trong việc cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung và thu hồi giấy phép.
-Quản lý viện trợ các tổ chức phi chính phủ nước ngồi.
b.Quản lý về tổ chức của các tổ chức phi chính phủ của Việt Nam:
-Quy định thể thức thành lập tổ chức phi chính phủ.
-Quy định thể thức hoạt động của tổ chức phi chính phủ.
-Quy định cơ quan thường trực của các tổ chức phi chính phủ.
-Quy định việc giải thể của tổ chức phi chính phủ.

c.Quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ:
-Quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tham gia vào sự phát triển
cộng đồng.
-Quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tham gia vào lĩnh vực kinh tế,
thương mại.
-Quản lý hoạt động tham gia tư vấn chính sách, chương trình, dự án của Chính
phủ và các cấp chính quyền địa phương.
-Quản lý các hoạt động gây quỹ của các tổ chức phi chính phủ.
7


-Quản lý các hoạt động cứu trợ của các tổ chức phi chính phủ.
-Quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ mang tính chất nghề nghiệp –
xã hội.
-Quản lý các hoạt động đối ngoại đối với các tổ chức phi chính phủ Việt Nam.
4. Phương thức quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ:
-Nhà nước quản lý theo pháp luật và bằng pháp luật.
-Quản lý các tổ chức phi chính phủ bằng hệ thống chính sách.
-Quản lý tổ chức phi chính phủ bằng hệ thống tổ chức bộ máy.
-Quản lý tổ chức phi chính phủ bằng kiểm tra, giám sát.
-Quản lý tổ chức phi chính phủ bằng tổng kết, đánh giá.
1.3. PHÂN CẤP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC PHI CHÍNH
PHỦ VIỆT NAM Ở NƯỚC TA:
1.Sự quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ Việt Nam ở Trung ương:
-Quốc hội: ban hành các văn bản pháp luật quy định về tổ chức hoạt động và
quản lý tổ chức phi chính phủ; quy ddingj cơng tác quản lý về mawth Nhà nước,…
nhằm tạo hành lang pháp lý cho các tổ chức phi chính phủ.
-Chính phủ:
+Ban hành các văn bản hướng dẫn và quy định chi tiết những văn bản pháp luật
do quốc hội ban hành.

+Ban hành các văn bản quy định những chính sách ưu đãi và tạo những điều kiện
hỗ trợ đảm bảo sự hoạt động cho các tổ chức phi chính phủ.
+Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về mọi nguồn viện trợ của các tổ chức
phi chính phủ nước ngaoif, điều phối ; giám sát để đảm bảo sử dụng nguồn viện trợ
đúng mục đích và có hiệu quả.
+Chỉ đạo các cơ quan chức năng của chính phủ và các cấp, các ngành thực hiện
tót nhiệm vụ quản lý Nhà nước theo thẩm quyền chính phủ phân công, phân cấp.
-Ban đối ngoại Trung ương hướng dẫn các cấp Uỷ và các tổ chức Đảng về quy
chế quản lý đối với các Hội và kiểm tra việc thực hiện các hoạt động đó.
-Ban cán sự Đảng, Chính phủ chỉ đạo việc dự thảo luật về Hội trình Quốc hội
thông qua.

8


-Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, ngành chuyên môn quản lý theo lĩnh vực, quyền hạn
trách nhiệm, nhiệm vụ của mình.
2. Sự quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ Việt Nam ở địa phương:
-Chủ tịch ủy ban nhân dân, thành phố, tỉnh, đặc khu trực thuộc Trung ương theo
dõi và quản lý về mặt Nhà nước đối với tất cả các tổ chức phi chính phủ.
-Uỷ ban nhân dân các cấp quan tâm, giúp đỡ về mọi mặt đối với các tổ chức phi
chính phủ mới thành lập hoặc cịn gặp nhiều khó khăn.
-Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm xét duyệt các đơn vị xin
lập các tổ chức phi chính phủ có tích chất hoạt động trong phạm vi một xã, phường, thị
trấn.

9


CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC PHI

CHÍNH PHỦ VIỆT NAM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY:
2.1. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC PHI
CHÍNH PHỦ VIỆT NAM Ở TRUNG ƯƠNG HIỆN NAY:
1. Thực trạng quản lý Hội ở Trung ương hiện nay:
-Việc quản lý Hội ở Trung ương hiện nay chủ yếu được thực hiện theo Nghị định
45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010, quy định về việc tổ chức hoạt động và
quản lý Hội; ngồi ra cịn theo Hiến pháp và một số văn bản quy phạm pháp luật liên
quan khác.
-Theo Nghị định 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010, quy định về việc tổ
chức hoạt động và quản lý Hội, có quy định:
+Tại khoản 1 Điều 14: “Bộ trưởng Bộ Nội vụ cho phép thành lập; chia, tách; sáp
nhập; hợp nhất; giải thể; đổi tên và phê duyệt điều lệ đối với hội có phạm vi hoạt động
cả nước hoặc liên tỉnh, trừ trường hợp luật, pháp lệnh có quy định khác.”
+Tại Điều 37:
“1. Tham gia bằng văn bản với cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại Điều 14
CỦA NghỊ định này về việc cho phép thành lập; chia, tách; sáp nhập; hợp nhất; giải
thể; đổi tên và phê duyệt điều lệ hội; quyết định công nhận ban vận động thành lập hội
theo thẩm quyền.
2. Ban hành cơ chế, chính sách để hội tham gia chương trình dự án, đề tài nghiên
cứu, tư vấn, phản biện và giám định xã hội, cung cấp dịch vụ công, đào tạo, cấp chứng
chỉ hành nghề các hoạt động thuộc ngành, lĩnh vực quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ
theo quy định của pháp luật; hướng dẫn, tạo điều kiện để hội tổ chức đại hội nhiệm kỳ;
tổ chức lấy ý kiến của hội để hoàn thiện các quy định quản lý nhà nước về ngành, lĩnh
vực.
3.Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể việc hỗ trợ knh phí từ ngân sách nhà nước cho
hội có hoạt động gắn với nhiệm vụ của Nhà nước; việc quản lý, sử dụng tài sản, tài
chính của hội; quản lý việc tiếp nhận, sử dụng các nguồn tài trợ của ca nhân, tổ chức
nước ngoài cho hội.

10



4. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về
hội thuộc ngành, lĩnh vực quản lý của mình hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có
thẩm quyền xử lý các vi phạm theo quy định của pháp luật; kiến nghị việc giải thể
hội.”
-Thực tiễn: Nhìn chung việc quản lý Hội ở Trung ương hiện nay đã thực hiện
tương đối theo Nghị định 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010, quy định về
việc tổ chức hoạt động và quản lý Hội và Hiến pháp cùng các văn bản khác liên quan;
và có những ưu điểm, hạn chế sau:
+Ưu điểm:
Nhìn chung việc quản lý của nhà nước đối với các Hội trong thời gian qua đã có
những tiến triển đáng kể:văn bản quy phạm pháp luật tăng lên,phương thức quản lý rõ
ràng, bước đầu đã có sự phân cơng, phân cấp đáng chú ý.
+Hạn chế:
Chưa có một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật rõ ràng cụ thể quy định
về việc quản lý các Hội, dẫn đến việc quản lý đó chồng chéo, trùng lắp, thiếu thống
nhất.
Thủ tục cấp phép cịn chưa rõ ràng, quy trình cấp phép cịn lúng túng
Các Bộ, ngành chun mơn có liên quan cịn coi nhẹ trách nhiệm bảo lãnh, bảo
hộ, chưa cương quyết và tích khi xử lý vi phạm của các Hội.
Trách nhiệm quản lý của cơ quan chuyên quản chưa rõ ràng.
Sự phối hợp giữa các Bộ, ngành thiếu tính thống nhất; thiếu đồng bộ; sự phối
hợp giữa các cơ quan Đảng và chính quyền cịn thiếu chặt chẽ.
Việc rút kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với các Hội chưa được coi trọng
thường xuyên và có hệ thống; sự lúng túng trong quản lý của các cấp chính quyền kéo
dài, dẫn đến quản lý nhà nước kém hiệu quả, hoạt động của các Hội gặp nhiều khó
khăn.
Các quy định về trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là các
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đối với hoạt động của các Hội thiếu

cụ thể nên khó thực hiện, chưa phát huy hết trách nhiệm của các Bộ, ngành trong việc
tạo điều kiện để các Hội được tổ chức, hoạt động đúng hướng, có hiệu quả.
2. Thực trạng quản lý Qũy ở Trung ương hiện nay:
11


-Việc quản lý Qũy ở Trung ương hiện nay chủ yếu được thwucj hiện theo Nghị
định 148/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2007, về tổ chức, hoạt động của quỹ xã
hội, quỹ từ thiện và Hiến pháp cùng các văn bản quy phạm pháp luật liên quan khác.
-Theo Nghị định 148/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2007, về tổ chức, hoạt
động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện; có quy định:
+Tại khoản 1 Điều 14 thì: Thẩm quyền cho phép thành lập, hợp nhất, sáp nhập,
chia, tách, giải thể quỹ; đình chỉ hoạt động; thu hồi giấy phép thành lập; công nhận
Điều lệ quỹ; đổi tên quỹ và giải quyết khiếu nại, tố cáo về quỹ đối với các quỹ có
phạm vi hoạt động tồn quốc hoặc liên tỉnh; và các Qũy do tổ chức, cá nhân nước
ngoài tham gia thành lập theo nghị định này; là do Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
+Tại Điều 33: “Trách nhiệm của Bộ Nội vụ
1. Xây dựng trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành các văn bản quy
phạm pháp luật về quỹ theo thẩm quyền.
2. Hướng dẫn Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thi hành pháp luật về quỹ.
3. Thực hiện thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định này.
4. Chủ trì hoặc phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ thực hiện quản lý nhà
nước về tổ chức, hoạt động của quỹ.
5. Thanh tra, kiểm tra, giám sát về tổ chức, hoạt động của quỹ.
6. Chủ trì hoặc phối hợp với các cơ quan giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các
vi phạm.
7. Tổng hợp tình hình tổ chức, hoạt động của quỹ báo cáo Thủ tướng Chính phủ.”
+Tại Điều 34: “Trách nhiệm của Bộ Tài chính
1. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan ban hành quy chế mẫu về quản

lý tài chính quỹ và hướng dẫn cơ quan tài chính địa phương thực hiện.
2. Tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động tài chính quỹ; giải quyết khiếu
nại, tố cáo, xử lý các vi phạm về tài chính đối với các quỹ do Bộ Nội vụ cho phép
thành lập.”
+Tại Điều 35: “Trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang Bộ đối với quỹ hoạt động
thuộc lĩnh vực do Bộ quản lý
12


1. Tham gia bằng văn bản với Bộ Nội vụ về việc cho phép thành lập, hợp nhất,
sáp nhập, chia, tách, giải thể quỹ; công nhận Điều lệ quỹ; đổi tên quỹ; đình chỉ hoạt
động; thu hồi giấy phép thành lập quỹ và giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động của
quỹ thuộc lĩnh vực Bộ, ngành quản lý.
2. Hướng dẫn, tạo điều kiện cho quỹ tham gia các hoạt động thuộc ngành, lĩnh
vực quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật.
3. Kiểm tra việc thực hiện các quy định quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực đối
với quỹ, xử lý hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý các vi phạm
theo quy định của pháp luật.”
-Trên thực tiễn việc quản lý nhà nước đối với các quỹ có những ưu điểm và hạn
chế sau:
+Ưu điểm:
Nhìn chung việc quản lý quỹ xã hội, quỹ từ thiện ở cấp trung ương tương đối tốt
theo như văn bản quy phạm pháp luật.
+Hạn chế:
Tuy nhiên việc quản lý này cũng có một số hạn chế nhất định, như chưa thực sự
kiểm tra già soát thường xuyên việc tổ chức cũng như hoạt động và tình hình tài chính
của quỹ, chính vì vậy mà hiệu quả hoạt động của nó chưa thực sự phát huy tối đa.
3.Thực trạng quản lý Cơ sở Bảo trợ xã hội tư nhân ở Trung ương hiện nay:
-Việc quản lý Cơ sở Bảo trợ xã hội tư nhân ở Trung ương hiện nay chủ yếu theo
Nghị định 68/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 05 năm 2008, quy định điều kiện thủ tục

thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội và theo HIến pháp cùng
các văn bản quy phạm pháp luật liên quan khác.
-Theo Nghị định 68/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 05 năm 2008, quy định điều
kiện thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội; có quy định:
+Tại mục a khoản 1 Điều 17 thì: Vụ Tổ chức cán bộ hoặc Ban Tổ chức cán bộ có
quyền thẩm định Hồ sơ thành lập đối với Cơ sở Bảo trợ xã hội mà thẩm quyền quyeets
định thành lập nó là Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.

13


+Tại khoản 1 Điều 19 thì: Thẩm quyền cho phép thành lập, hoạt động của Cơ sở
Bảo trợ xã hội ở cấp Trung ương hay liên tỉnh: Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan
ngang Bộ quyết định đối với Cơ sở Bảo trợ xã hội thuộc quyền quản lý.
+Tại khoản 2 Điều 20: “Người có thẩm quyền giải thể cơ sở bảo trợ xã hội là
người có thẩm quyền ra quyết định thành lập cơ sở bảo trợ xã hội.”
+Tại Điều 21: “Thay đổi tên cơ sở. trụ sở, Giám đốc, quy chế
Cơ sở bảo trợ xã hội cần thay đổi tên gọi, trụ sở, Giám đốc hoặc quy chế hoạt
động phải đề nghị bằng văn bản với cơ quan quản lý trực tiếp và người ra quyết định
thành lập. Trong thời gian 20 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, người ra
quyết định thành lập phải trả lời bằng văn bản về đề nghị của cơ sở; quá thời hạn nêu
trên, nếu không nhận được văn bản trả lời, thì cơ sở bảo trợ xã hội được thực hiện việc
thay đổi.”
+Tại Điều 30: “Trách nhiệm của các Bộ ngành
1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm giúp Chính phủ thực
hiện thống nhất quản lý nhà nước đối với cơ sở bảo trợ xã hội trong phạm vi cả nước
và có trách nhiệm: a) Xây dựng và ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ đối với cán bộ, nhân
viên trong cơ sở bảo trợ xã hội.
b) Hướng dẫn, tổ chức tập huấn nghiệp vụ, kỹ năng chăm sóc đối tượng và quản
lý cơ sở bảo trợ xã hội.

c) Hướng dẫn và hỗ trợ hoạt động Hiệp hội Giám đốc cơ sở bảo trợ xã hội.
d) Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu tố về hoạt động cơ sở bảo trợ xã hội.
đ) Tổng hợp và báo cáo Thủ tướng Chính phủ về hoạt động cơ sở bảo trợ xã hội.
2. Bộ Y tế có trách nhiệm hướng dẫn về chăm sóc y tế, chỉnh hình - phục hồi
chức năng đối với các đối tượng bị tàn tật, tâm thần trong cơ sở bảo trợ xã hội.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm hướng dẫn miễn học phí, các khoản
đóng góp; chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức lớp học hồ nhập cho học sinh là đối tượng
trong cơ sở bảo trợ xã hội.
4. Bộ Tài chính có trách nhiệm bố trí kinh phí hoạt động của các cơ sở bảo trợ xã
hội công lập theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn.

14


5. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi chức
năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động của các cơ sở bảo trợ xã hội.
-Thực tiễn: Nhìn chung việc quản lý nhà nước đối với các Cơ sở Bảo trợ xã hội
có những ưu điểm, hạn chế sau:
+Ưu điểm:
Ở cấp trung ương hầu như đã thực hiện tối đa sự quản lý tốt vè Cơ sở bảo trợ xã
hội có quy mơ cả nước hay liên tỉnh.
+Hạn chế:
Tuy nhiên vẫn còn tồn tại những cơ sở Bảo trợ xã hội chưa thực sự đảm bảo đúng
theo quy định của pháp luật; như: môi trường, cơ sở vật chất hay chăm sóc, ni
dưỡng chưa đạt yêu cầu.
4. Thực trạng quản lý các Tổ chức Khoa học Công nghệ ở Trung ương hiện nay:
-Về việc quản lý các Tổ chức Khoa học Công nghệ ở Trung ương hiện nay chủ
yếu được thực hiện theo Nghị định 35/HĐBT ngày 28 tháng 01 năm 1992; về công tác
quản lý khoa học và công nghệ của Hội đồng Bộ trưởng và theo Hiến pháp cùng các

văn bản quy phạm pháp luật liên quan khác.
- Theo Thông tư 02/2010/TT-BKHCN, ngày 18 tháng 3 năm 2010; hướng dẫn
thành lập và đăng ký hoạt động của tổ chức khoa học công nghệ; thì:
“Trách nhiệm của Bộ Khoa học và Cơng nghệ:
a) Tổ chức thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận cho các tổ chức khoa học và
công nghệ theo thẩm quyền.
b) Hướng dẫn nghiệp vụ công tác cấp Giấy chứng nhận cho các Sở Khoa học và
Công nghệ.
c) Theo dõi, kiểm tra hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ theo các
nội dung đã ghi trong Giấy chứng nhận do Bộ cấp, xử lý và kiến nghị các cơ quan có
thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.
d) Tổ chức thực hiện việc công bố trên trang thông tin điện tử của Bộ Khoa học
và Công nghệ danh mục các tổ chức khoa học và cơng nghệ có Giấy chứng nhận cịn
hiệu lực, xoá tên khỏi danh mục các tổ chức khoa học và công nghệ bị thu hồi hoặc
huỷ bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận.”
15


-Thực tiễn: Việc quản lý các Tổ chức Khoa học Cơng nghệ ở Trung ương hiện
nay; có những ưu, hạn chế sau:
+Ưu điểm:
Trung ương gần như đã quản lý bao qt được tồn bộ các Tổ chức Khoa học –
Cơng nghệ, có quy mơ lớn, vừa ở cấp Trung ương hay liên tỉnh.
+Hạn chế:
Tuy nhiên việc quản lý ở cấp Trung ương chưa thực sự sâu sát đối với các Tổ
chức này, cho nên hiệu quả quản lý chưa thực sự cao. Dẫn đến việc tràn lan không tập
trung trọng điểm hay tận dụng hết được các thành tựu Khoa học – Công nghệ trong xã
hội để ứng dựng vào trong cơng cuộc Cơng nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
2.2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC PHI
CHÍNH PHỦ VIỆT NAM Ở ĐỊA PHƯƠNG HIỆN NAY:

1. Thực trạng quản lý Hội ở địa phương hiện nay:
-Việc quản lý Hội ở địa phương hiện nay chủ yếu được thực hiện theo Nghị định
45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010, quy định về việc tổ chức hoạt động và
quản lý Hội; ngồi ra cịn theo Hiến pháp và một số văn bản quy phạm pháp luật liên
quan khác.
-Theo Nghị định 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010, quy định về việc tổ
chức hoạt động và quản lý Hội, có quy định:
+Tại khoản 2 Điều 14: “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho phép thành lập;
chia, tách; sáp nhập; hợp nhất; giải thể; đổi tên và phê duyệt điều lệ đối với hội có
phạm vi hoạt động trong tỉnh. Căn cứ tình hình thực tế ở địa phương, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh ủy quyền để Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cho phép thành
lập; chia, tách; sáp nhập; hợp nhất; giải thể; đổi tên và phê duyệt điều lệ đối với hội có
phạm vi hoạt động trong xã.”
+Tại Điều 38: “Nhiệm vụ quản lý nhà nước của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đối với
hoạt động trong phạm vi tỉnh
1. Thực hiện thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 14 của Nghị định này và
quản lý nhà nước về tổ chức, hoạt động của hội.
2. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về hội.
3. Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hội.
16


4. Xem xét hỗ trợ đối với các hội có phạm vi hoạt động tại địa phương.
5. Xem xét và cho phép hội có phạm vi hoạt động tại địa phương nhận tài trợ của
các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
6. Chỉ đạo các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã trong việc
quản lý hội.
7. Hàng năm, tổng hợp, báo cáo Bộ Nội vụ về tình hình tổ chức, hoạt động và
quản lý hội ở địa phương.”
-Trên thực tế việc quản lý này của các cơ quan nhà nước có những ưu điểm và

hạn chế sau:
+Ưu điểm:
Nhìn chung việc quản lý Hội có những mặt đạt được nhất định, nên đã phần nào
thúc đẩy được mặt xã hội đáng kể của các Hội đạt hiệu quả tương đối.
+Hạn chế:
Chính quyền các cấp từ cấp tỉnh đến cấp huyện hoặc bng lỏng quản lý, hoặc
kìm chế thái q đối với các Hội.Điều này thể hiện ở chỗ chính quyền có nơi cho phép
lập Hội vượt thẩm quyền, khơng kiểm tra, kiểm sốt hoặc có nơi lại can thiệp q cụ
thể vào các cơng việc nội bộ của Hội: cịn can thiệp quá sâu vào hoạt động của Hội,
còn bao cấp về tiền lương và quản lý sắp xếp nhân sự ở một số Hội.
Các Hội ở địa phương thiếu sự kiểm tra thường xuyên; hay nếu có kiểm tra thì
nội dung kiểm tra chưa cụ thể, chưa đi sâu vào việc kiểm tra thực hiện điều lệ Hội, các
quy định của pháp luật về hoạt động của Hội, chưa đi sâu vào kiểm tra tư cách pháp
nhân của Hội, các lĩnh vực về tổ chức và tài chính.
Nhìn chung việc kiểm tra cịn mang nặng tính hình thức, khi kiểm tra phát hiện vi
phạm pháp luật nhưng khơng đình chỉ, không xử lý nghiêm minh, khiến cho một số
hội đã vi phạm lại càng có đà dấn sâu vào vi phạm.
2. Thực trạng quản lý Qũy ở địa phương hiện nay:
-Việc quản lý Qũy ở địa phương hiện nay chủ yếu được thwucj hiện theo Nghị
định 148/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2007, về tổ chức, hoạt động của quỹ xã
hội, quỹ từ thiện và Hiến pháp cùng các văn bản quy phạm pháp luật liên quan khác.
-Theo Nghị định 148/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2007, về tổ chức, hoạt
động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện; có quy định:
17


+Tại khoản 2 Điều 14: “. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quy
định tại Điều này đối với quỹ có phạm vi hoạt động tại tỉnh hoặc liên huyện. Căn cứ
điều kiện cụ thể, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể ủy quyền cho Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp huyện quyết định cho phép thành lập, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách,

giải thể quỹ; đình chỉ hoạt động; thu hồi giấy phép thành lập; công nhận Điều lệ quỹ;
đổi tên quỹ và giải quyết khiếu nại, tố cáo về quỹ có phạm vi hoạt động tại huyện, xã.”
+Tại Điều 36:
“Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
1. Đối với quỹ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho phép thành lập:
a) Thực hiện thẩm quyền quản lý nhà nước về tổ chức, hoạt động của quỹ quy
định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định này;
b) Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về quỹ;
c) Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về quỹ;
d) Xem xét hỗ trợ đối với các quỹ có phạm vi hoạt động tại địa phương;
đ) Xem xét và cho phép quỹ có phạm vi hoạt động tại địa phương nhận tài trợ
của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật;
e) Chỉ đạo các Sở, Ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân
xã, phường, thị trấn trong việc quản lý quỹ;
g) Hàng năm tổng hợp, báo cáo Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính về tình hình tổ chức,
hoạt động và quản lý quỹ ở địa phương.
2. Đối với các quỹ do Bộ Nội vụ cho phép thành lập hoạt động tại địa phương:
a) Ra văn bản chấp thuận hoạt động của quỹ tại địa bàn theo quy định của Nghị
định này và pháp luật khác liên quan;
b) Thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về thanh tra, kiểm tra, kiến nghị xử lý vi
phạm, tổng hợp báo cáo Bộ Nội vụ về hoạt động của quỹ theo quy định của pháp luật.
-Trên thực tiễn quản lý nhà nước đối với các quỹ ở địa phương có những ưu điểm
và hạn chế sau:
+Ưu điểm:
Nhìn chung đã quản lý bao quát được một số mặt nhất định.
+Hạn chế:

18



Quản lý của các cơ quan địa phương chưa thực sự sâu sát, rõ ràng cụ thể, trong
việc quyền hạn và trách nhiệm. Do vậy mà chưa khuyến khích được các lọa hình quỹ
hoạt động có hiệu quả cao.

19


3. Thực trạng quản lý Cơ sở Bảo trợ xã hội tư nhân ở địa phương hiện nay:
-Việc quản lý Cơ sở Bảo trợ xã hội tư nhân ở địa phương hiện nay chủ yếu theo
Nghị định 68/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 05 năm 2008, quy định điều kiện thủ tục
thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội và theo HIến pháp cùng
các văn bản quy phạm pháp luật liên quan khác.
-Theo Nghị định 68/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 05 năm 2008, quy định điều
kiện thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội; có quy định:
+Tại mục b và c khoản 1 Điều 17:
“b) Đối với cơ sở bảo trợ xã hội thuộc thẩm quyền quyết định thành lập của Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh thì cơ quan thẩm định là Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.
c) Đối với cơ sở bảo trợ xã hội thuộc thẩm quyền quyết định thành lập của Uỷ
ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì cơ quan thẩm định là Phịng
Nội vụ - Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc Phòng Lao động - Thương binh và
Xã hội.”
+Tại khoản 2 và 3 Điều 19:
“2. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định
hoặc phân cấp quyết định thành lập cơ sở bảo trợ xã hội hoạt động trên phạm vi tỉnh,
thành phố và cơ sở bảo trợ xã hội công lập hoạt động trên phạm vi cấp huyện.
3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh quyết
định thành lập cơ sở bảo trợ xã hội ngồi cơng lập hoạt động trên phạm vi cấp huyện.”
+Tại khoản 2 Điều 20: “. Người có thẩm quyền giải thể cơ sở bảo trợ xã hội là
người có thẩm quyền ra quyết định thành lập cơ sở bảo trợ xã hội.”
+Tại Điều 21: “Thay đổi tên cơ sở, trụ sở, Giams đốc, quy chế:

Cơ sở bảo trợ xã hội cần thay đổi tên gọi, trụ sở, Giám đốc hoặc quy chế hoạt
động phải đề nghị bằng văn bản với cơ quan quản lý trực tiếp và người ra quyết định
thành lập. Trong thời gian 20 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, người ra
quyết định thành lập phải trả lời bằng văn bản về đề nghị của cơ sở; quá thời hạn nêu
trên, nếu không nhận được văn bản trả lời, thì cơ sở bảo trợ xã hội được thực hiện việc
thay đổi.”
-Thực tế: Nhìn chung quản lý nhà nước đối với các Cơ sở Bảo trợ xã hội có
những ưu điểm và hạn chế sau:
+Ưu điểm:
Đang tiếp tục được hoàn thiện từng bước.
20


+Hạn chế:
Quản lý rất kém, dẫn đến tình trạng phản hiệu quả tác dụng của các Cơ sở Bảo
trợ xã hội. 4. Thực trạng quản lý các Tổ chức Khoa học Công nghệ ở địa phương hiện
nay:
-Về việcquản lý các Tổ chức Khoa học Công nghệ ở địa phương hiện nay chủ
yếu được thực hiện theo Nghị định 35/HĐBT ngày 28 tháng 01 năm 1992; về công tác
quản lý khoa học và công nghệ của Hội đồng Bộ trưởng và Thông tư 02/2010/TTBKHCN, ngày 18 tháng 3 năm 2010; hướng dẫn thành lập và đăng ký hoạt động của
tổ chức khoa học công nghệ và theo Hiến pháp cùng các văn bản quy phạm pháp luật
liên quan khác.
-Theo Thông tư 02/2010/TT-BKHCN, ngày 18 tháng 3 năm 2010; hướng dẫn
thành lập và đăng ký hoạt động của tổ chức khoa học cơng nghệ; thì:
“1. Trách nhiệm của Sở Khoa học và Công nghệ:
a) Cấp Giấy chứng nhận cho các tổ chức khoa học và công nghệ, Giấy chứng
nhận hoạt động cho văn phòng đại diện, chi nhánh theo thẩm quyền.
b) Theo dõi, kiểm tra hoạt động của các tổ chức khoa học và cơng nghệ, văn
phịng đại diện, chi nhánh theo các nội dung đã ghi trong Giấy chứng nhận hoặc Giấy
chứng nhận hoạt động do Sở Khoa học và Công nghệ cấp, xử lý và kiến nghị các cơ

quan có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.
c) Báo cáo Bộ Khoa học và Công nghệ kết quả công tác cấp Giấy chứng nhận
cho tổ chức khoa học và công nghệ, Giấy chứng nhận hoạt động cho văn phòng đại
diện, chi nhánh theo định kỳ (vào tháng 11 hàng năm) hoặc báo cáo đột xuất khi có
yêu cầu.
d) Tổ chức thực hiện việc công bố trên trang thông tin điện tử của Sở Khoa học
và Công nghệ các danh mục sau:
- Danh mục các tổ chức khoa học và cơng nghệ có Giấy chứng nhận cịn hiệu
lực, xố tên khỏi danh mục các tổ chức khoa học và công nghệ bị thu hồi hoặc huỷ bỏ
hiệu lực Giấy chứng nhận.
- Danh mục các văn phịng đại diện, chi nhánh có Giấy chứng nhận hoạt động
cịn hiệu lực, xố tên khỏi danh mục các các văn phòng đại diện, chi nhánh bị thu hồi
hoặc huỷ bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận hoạt động.
+ Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức chủ quản của tổ chức khoa học và công
nghệ:
21


a) Ban hành hoặc phê duyệt điều lệ tổ chức và hoạt động của tổ chức khoa học và
công nghệ theo quy định tại Thông tư này.
b) Quản lý tổ chức khoa học và công nghệ theo thẩm quyền.
c) Phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý, giải thể tổ chức khoa học và cơng
nghệ khi có vi phạm trong hoạt động theo quy định của pháp luật.
2.Trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ:
a) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký
hoạt động.
b) Đăng bố cáo thành lập và đăng ký hoạt động trên các báo hàng ngày của Trung
ương hoặc địa phương nơi đặt trụ sở chính ít nhất 03 số liên tiếp; gửi giấy biên nhận đã
đăng bố cáo này cho cơ quan cấp Giấy chứng nhận trong thời hạn 15 ngày làm việc kể
từ ngày được cấp Giấy chứng nhận.

c) Treo biển hiệu của tổ chức khoa học và công nghệ (hoặc của văn phịng đại
diện, chi nhánh) tại trụ sở chính (hoặc trụ sở văn phòng đại diện, chi nhánh) chậm nhất
là 15 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận (hoặc Giấy chứng nhận hoạt động).
Biển hiệu phải có kích thước tối thiểu là 30cm x 50cm.
d) Thực hiện đúng chế độ báo cáo tình hình hoạt động hàng năm hoặc báo cáo
đột xuất khi có yêu cầu cho cơ quan cấp Giấy chứng nhận; Trường hợp tổ chức khoa
học và cơng nghệ có văn phịng đại diện, chi nhánh, phải đồng thời gửi báo cáo tới Sở
Khoa học và Công nghệ nơi đã cấp Giấy chứng nhận hoạt động cho văn phòng đại
diện, chi nhánh. Mẫu báo cáo quy định tại Phụ lục XII kèm theo Thông tư này.
đ) Hoạt động đúng lĩnh vực khoa học và công nghệ theo Giấy chứng nhận đã
được cấp; Thực hiện đăng ký thay đổi, bổ sung, cấp lại Giấy chứng nhận theo quy
định.
e) Đối với các hoạt động trong ngành, nghề, lĩnh vực có điều kiện, trước khi tiến
hành phải được sự cho phép bằng văn bản của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền đối với ngành, nghề, lĩnh vực đó.
g) Đối với một số loại tổ chức khoa học và công nghệ hoạt động trong các lĩnh
vực mà điều kiện thành lập đã được quy định tại văn bản do cơ quan có thẩm quyền
cao hơn ban hành (Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ) thì áp dụng quy định
tại các văn bản đó.”
- Thực tiễn: Việc quản lý các Tổ chức Khoa học Công nghệ ở địa phương hiện
nay; có những ưu, hạn chế sau:
22


+Ưu điểm:
Đang tiếp tục hồn thiện và nâng cao cơng tác quản lý.
+Hạn chế:
Các cơ quan quản lý còn rất lúng túng, bị động trong vấn đề quản lý các Tổ chức
Khoa học – Cơng nghệ của địa phương mình.
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI

VỚI TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ VIỆT NAM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
Như vậy phân cấp trong quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ Việt
Nam ở Việt Nam hiện nay đã đạt được những thành tựu đáng kể.Tuy nhiên cũng có
những hạn chế nhất định như đã nêu ở trên; đề hoàn thiện phân cấp trong quản lý nhà
nước đối với tổ chức phi chính phủ Việt Nam ở Việt Nam hiện nay; thì cần khắc phục
được những hạn chế đó và nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động này của Nhà nước;
sau đây là một số giải pháp nhắm hoàn thiện vấn đề này:
I.XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ VIỆT NAM:
-Cần cải cách, củng cố, đổi mới, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật hiện
hành về các tổ chức phi chính phủ Việt Nam và quản lý nhà nước về tổ chức phi chính
phủ Việt Nam; cần thiết có thể nâng các văn bản quy phạm pháp luật đó lên thành các
Luật, để đạt hiệu quả kinh tế - chính trị - xã hội,…
-Trong các văn bản quy phạm pháp luật hay Luật đó cần quy định cụ thể, rõ ràng:
+Khái niệm về các tổ chức phi chính phủ Việt Nam cụ thể; xác định rõ đối tượng
điều chỉnh.
+Phải thể hiện rõ nguyên tắc tổ chức, hoạt động, tài chính của các Tổ chức phi
chính phủ Việt Nam.
+Bảo đảm quyền lập các tổ chức xã hội của công dân Việt Nam.
+Quy định rõ điều kiện để thành lập.
+Đơn giản hóa thủ tục hồ sơ cũng như thủ tục đăng ký.
+Phân tích rõ quyền hạn và trách nhiệm của tổ chức.
+Xác định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp bao gồm:
23


Cơ quan thẩm quyền được Nhà nước giao nhiệm vụ quản lý tổ chức.
Cơ quan thẩm quyền của Chính phủ quản lý nhà nước trên các lĩnh vực.
Uỷ ban nhân dân các cấp.
+Quy định rõ việc xử lý vi phạm.

+Quy định cụ thể việc quản lý tài chính của tổ chức.
+Quy định các điều kiện chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thê.
+Đối với các bộ, ngành, địa phương cần phải xem xét sự cần thiết về việc thành
lập các tổ chức phi chính phủ Việt Nam có phạm vi hoạt đọng tồn quốc và liên tỉnh;
có ý kiến vơí cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ra quyết định thành lập.
II.ĐẢM BẢO THỐNG NHẤT SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG VỚI QUẢN LÝ
CỦA NHÀ NƯỚC:
-Có thể nói, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước nói chung, trong đó
có chính sách và pháp luật về tổ chức phi chính phủ Việt Nam nói riêng, đều có mối
quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau; bởi vì; chính sách về tổ chức phi chính phủ Việt
Nam của Đảng và Nàh nước chỉ được thực hiện và phát huy đầy đủ nhất, có hiệu quả
nhất khi chính sách đó được xác lập, quy định dưới hình thức pháp luật nhất định. Việc
xác lập dưới một hình thức pháp luật nhất định của chính sách chỉ được bảo đảm và
thực hiện trên thực tế bởi một có chế pháp luật thích hợp.
Tức là cần đảm bảo thống nhất sự lãnh đạo của Đảng với quản lý của Nhà nước
để hoàn thiện nội dung quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ Việt Nam.
-Muốn vậy cần có sự đổi mới sau:
+Thường xuyên khảo sát, tổng kết, đánh giá hiệu lực và hiệu quả của các chính
sách đã có, từ đó, xưm xét tổng thể tác dụng của các chính sách đó đối với việc thúc
đẩy sự nghiệp phát triển của đát nước trong thực tế.
+Huy động sự tham gia của bản thân các tổ chức, các chuyên gia hoạt động xã
hội, đặc biệt là những người nghiên cứu sâu về tổ chức phi chính phủ, các cấp chính
quyền, đặc biệt là chính quyền cơ sở.
+Xác định rõ thẩm quyền soạn thảo và ban hành chính sách.
III. TIẾP TỤC XÂY DỰNG VÀ HỒN THIỆN CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH
QUẢN LÝ ĐỐI VỚI TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ VIỆT NAM:
-Cơ sở của cơ chế, chính sách:
24



+Cơ chế chính sách phải xuất phát từ quan điểm của Đảng, Nàh nước ta về công
tác vận động quần chúng, đặc biệt là quan điểm phát huy nội lực, phát huy sức mạnh
đoàn kết dân tộc, phát huy dân chủ, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, cách mạng
là sự nghiệp của quần chúng.
+Phải xuất phát từ quan điểm của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì
dân.
+Hệ thống cơ chế, chính sách quản lý các tổ chức phi chính phủ Việt Nam phải
đảm bảo phạm vi hoạt động, nội dung hoạt động và quyền lợi gắn liền với trách nhiệm.
+Hệ thống cơ chế, chính sách phải đảm bảo công bằng giữa cống hiến và hưởng
thụ, giữa các hội với các tổ chức khác.
+Hệ thống cơ chế chính sách quản ký tổ chức phi chính phủ phải đảm bảo kích
thích, khuến khích tài năng, sáng tạo, có sức lơi cuốn hấp dẫn để mọi cơng dân phấn
đấu vươn lên.Đồng thời lại có tác dụng ngăn chặn, răn đe, điều tiết các hành vi sai trái,
tiêu cực.
-Cần phải xử lý tốt các mối quan hệ trong cơ chế chính sách:
+Quan hệ giữa quản lý các tổ chức phi chính phủ Việt Nam với quản lý nhà nước
ở các lĩnh vực khác.
+Mối quan hệ giữa các tổ chức phi chính phủ với nhau hay với các tổ chứ chính
trị xã hội.
+Quan hệ giữa Trung ương và địa phương.
+Quan hệ giữa các tổ chức phi chính phủ với các điều kiện môi trường xung
quanh.

25


×