Tải bản đầy đủ (.pdf) (44 trang)

đề án lý thuyết tài chính tiền tệ Những vấn đề chung về thuế giá trị gia tăng.pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (468.95 KB, 44 trang )

ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THU HỒNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 41-D
1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG.

LỜI MỞ ĐẦU
Thuế là nguồn thu ổn định của Nhà nước, là công cụ phân phối thu nhập quốc
dân, thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế và là công cụ bảo vệ kinh tế trong nước,
cạnh tranh với nước ngoài.
Từ năm 1999 trở về trước, chúng ta đã sử dụng thành công cơ chế thuế cũ, tuy
nhiên trong tình hình mới , do xu hướng toàn cầu hoá chung của thế giới, cơ chế thuế
hiệ
n hành ở Việt Nam đã lộ rõ một số mặt bất cập, dẫn đến khó khăn về quản lý, điều
hành thuế và thất thu Ngân sách quốc gia.
Vì vậy việc áp dụng một số luật thuế mới trong giai đoạn này là hết sức cần
thiết. Trong đó thuế giá trị gia tăng (GTGT) đã có những đóng góp quan trọng cho
tiến trình cải cách chính sách thuế của Nhà nước.
Trên thế giớ
i, thuế GTGT (hay còn gọi là VAT) đã có lịch sử lâu đời (bắt đầu
xuất hiện năm 1917) và qua quá trình kiểm nghiệm ở nhiều nước trên thế giới, nó đã
thể hiện được tính ưu việt của mình so với các loại thuế tương đương. Mặc dù vậy
một số nước cũng đã áp dụng không thành công thuế GTGT do chưa chuẩn bị kỹ cơ
sở hạ tầng cho một có ch
ế thuế mới cũng như do chưa nắm bắt rõ bản chất loại thuế
này.
Chính vì vậy mục đích của đề án này là tìm hiểu bản chất của thuế GTGT, đánh
giá tình hình thực hiện ở Việt Nam trong những năm vừa qua và đề xuất những biện
pháp xử lý thuế trong thời gian tới nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ thống thuế ở Việt
Nam.


ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THU HỒNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 41-D
2

ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THU HỒNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 41-D
3
PHẦN II. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA
TĂNG.
I./ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG (GTGT).
1./ Khái niệm.
Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát
sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
2./ Sự ra đời và phát triền của thuế GTGT.
Năm 1954 thuế GTGT lần đầu tiên ra đời tại Pháp dưới hình thức thuế đánh
vào giai đoạn sản xuất. Đến năm 1968, thuế này được nhập vào thuế lưu thông đánh
vào dịch vụ và thuế
địa phương đánh vào lưu thông bán lẻ thành một loại thuế thống
nhất chung thu ở giai đoạn bán lẻ (viết tắt theo tiếng Pháp là TVA). Từ đó đến nay do
tính ưu viết của mình, thuế GTGT ngày càng được sử dụng rộng khắp ở nhiều nước
trên thế giới. Thuế GTGT được sớm áp dụng ở Châu âu, chỉ hơn hai mươi năm sau
khi ra đời hình thức sơ khai đầu tiên, nó đã
được coi là một trong những điều kiện tiên
quyết để gia nhập khối EC (năm 1977).
Tính đến năm 1995, trên thế giới có tới hơn 100 nước áp dụng thuế GTGT.
Riêng Châu á kể từ năm 80 trở lại đây đã có sự gia tăng vượt bậc về số lượng các
thành viên sử dụng VAT. Đầu tiên là Triều Tiên (1977), tiếp đến là Indonexia (1985),
Đài Loan (1986), Philipine (1988), Mông Cổ (1993), Trung Quốc (1994) và Việt Nam
(1999).
Việc áp dụng một phươ

ng pháp tính thuế mới ở một quốc gia không phải là vấn
đề đơn giản, hệ thống thuế ảnh hưởng trực tiếp đến ngân sách và vấn đề phát triển
kinh tế của quốc gia đó. Chính vì vậy, không chỉ ở những nước đang phát triển mà ở
một số nước kinh tế phát triển, do những quan điểm khác nhau trong việc nghiên cứu
nên quyết định áp dụng thuế GTGT kéo dài trong nhiều nă
m như:
ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THU HỒNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 41-D
4
Nhật Bản đưa ra đề nghị áp dụng GTGT từ những năm 1955 đến năm 1986
nhưng tháng 4 năm 1989 mới thực hiện.
Newzeland: Phản đối kịch liệt thuế GTGT vào đầu những năm 80 nhưng đã
ban hành GTGT tháng 5 năm 1986.
Hy Lạp đồng ý chuyển sang GTGT khi ra nhập EC năm 1981 với tư cách một
thành viên chính thức, nhưng đến tháng 1 năm 1987 mới ban hành GTGT.
Canada ban đầu cũng rất phản đối việc ban hành GTGT thay thế cho thu
ế bán
lẻ đang được lưu hành ở các bang song đến tháng 1 năm 1991, GTGT đã được ban
hành.
Thuỵ Sỹ đã phản đối đề nghị ban hành GTGT thay thế cho bán lẻ hiện hành.
Song tháng 1 năm 1995, Thuỵ Sỹ đã ban hành GTGT.
3./ Tại sao lại chọn thuế GTGT.
(1) thuế GTGT ra đời là một chu cầu tất yếu đối với nền kinh tế khi cơ cấu
thuế cũ không còn đáp ứng được nhu cầu trong tình hình m
ới. Nói chung các yêu cầu
đó có thế chia thành bốn dạng sau:
Thứ nhất: Thuế doanh thu hiện hành không đáp ứng được yêu cầu thu và quản
lý, có nhiều bất hợp lý (như trùng lặp, quá phức tạp gây tâm lý nặng nề, hiệu quả
không cao).
Thứ hai: Do quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, yêu cầu

mở rộng lưu thông hàng hoá giữa các nước đòi hỏi bãi bỏ, giảm thuế ở cửa khẩu
đối
với xuất nhập khẩu hàng hoá là rất quan trọng, nó giúp kích thích các nghành sản xuất
dịch vụ trong nước, khuyến khích xuất khẩu những tiềm lực quốc gia và góp phần
thúc đẩy những mặt hàng thiết yếu. Trong xu thế hiện nay, không thể tồn tại nền kinh
tế đóng, hoặc gần như đóng do những rào cản thuế quan bất hợp lý. Thuế GTGT ra
đời đã phần nào đáp ứng đượ
c những yêu cầu trên.
ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THU HỒNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 41-D
5
Thứ ba: Tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước và có điều kiện thu hẹp các
loại thuế khác. Đa số các cơ chế thuế hiện hành của các nước khi chưa áp dụng thuế
GTGT đều cồng kềnh, phức tạp và có nhiều sự chồng chéo, điều đó gây khó khăn cho
việc quản lý thuế của Nhà nước (như tính thuế, thu thuế, giải quyết các trường hợp
quá hạn thuế, miễn thu
ế..) cũng như việc kinh doanh của người dân. Tình trạng này dễ
dàng gây ra tâm lý ngại thuế, tránh thuế làm thất thu cho Ngân sách một khoản không
nhỏ. Để giải quyết các vấn đề trên cần phải có một cơ chế thuế mới phù hợp và rõ
ràng đối với tất cả mọi người, và thuế GTGT là một giải pháp.
Thứ tư: Sự phát triển của kinh tế đòi hỏi sửa đổi hệ thố
ng thuế cho phù hợp.
Chúng ta đã biết rằng mỗi một thời kỳ phát triển kinh tế cần phải có một hệ thống
chính sách quản lý cho phù hợp, không có một cơ chế nào dúng cho mọi lúc mọi nơi.
Vấn đề quản lý thuế cũng không nằm ngoài quy luật ấy.
(2) Như vậy thuế GTGT ra đời trước hết để đáp ứng tình hình mới, sau một
thời gian được áp dụng và kiể
m nghiệm, thuế GTGT được đại đa số các nước trên thế
giới thừa nhận về những ưu điểm nổi bật của nó ở các mặt sau:
a. Khắc phục được một số mặt hạn chế của thuế doanh thu hiện hành.

Có khả năng mang lại nguồn thu lớn cho Ngân sách Nhà nước. Kinh nghiệm của các
nước: Indonexia, Newzeland, Bồ Đào Nha và Tuinidi đã chứng minh rõ điề
u này. Đại
đa số các nước áp dụng thuế GTGT, khoản thu từ số thuế này thường đảm bảo từ 12%
đến 30% tổng số thu của Ngân sách Nhà nước (tương đương khoảng 5% đến 10%
tổng sản phẩm quốc dân).
b. Tính trung lập: Với điều kiện số lượng đối tượng được miễn hạn chế và
sự vận dụng thuế suất 0% chỉ hạn ch
ế đối với hoạt động xuất khẩu, GTGT là một thứ
thuế trung lập và không dẫn đến bất kỳ một sự méo mó nào. Điều này thể hiện tính ưu
việt của thuế GTGT so với các loại thuế được nó thay thế.
c. Tính đơn giản: Tính đơn giản của thuế GTGT bắt nguồn từ cơ chế đánh
ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THU HỒNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 41-D
6
thuế và khấu trừ thuế của nó. Đối tượng nộp thuế GTGT sẽ thu số GTGT khi bán
hàng và khấu trừ số thuế GTGT đã nộp khi mua vật tư, hàng hoá đầu vào, số chênh
lệch còn lại nộp vào Ngân sách Nhà nước. (Việc tính thuế căn cứ vào các hoá đơn bán
hàng và mua hàng).
II. NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA THUẾ GTGT.
1./ Xác định phạm vi áp dụng.
Về đối tượng chịu thuế: GTGT là loại thuế đánh vào sử dụng, có nghĩa là
đánh vào người tiêu dùng, người nộp thuế là người kinh doanh, người chịu thuế là
người tiêu dùng trực tiếp và gián tiếp nộp thuế thông qua người kinh doanh.
Đối tượng nộp thuế: Tất cả các thể nhân và các pháp nhân có cung cấp hoặc
nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Một s
ố nước dùng doanh thu để giới hạn đối tượng nộp thuế. Ví dụ: Không
phải là đối tượng nộp GTGT, đối với các doanh nghiệp có mức doanh thu hàng năm
thấp hơn:

+ 200.000 pê xô (Philipines).
+ 200.000 Sek (Thuỵ Điển).
+ 30.000 Can D (Canada).
+ 100.000 DDK (Đan Mạch).
+ 1.000.000 Sin D (Singapore).
+ 60.000 D (Indonexia).
Có nước áp dụng hình thức thu khoán đối với đối tượng kinh doanh vừa và nhỏ.
Như vậy, việc xác định đối tượng nộp thuế là để nhằm giới h
ạn đối tượng nộp thuế,
loại trừ bớt số lượng lớn về quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ.
ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THU HỒNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 41-D
7
Trong giai đoạn chuyển đổi từ thuế doanh thu sang áp dụng GTGT, thường có
ba hình thức triển khai áp dụng GTGT.
Hình thức thứ nhất
: áp dụng GTGT toàn bộ, có nghĩa là áp dụng đối với các đối
tượng nộp thuế hoạt động ở tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, buôn bán và bán
lẻ. Điển hình áp dụng hình thức này là các nước: Thuỵ Điển, Pháp, Thái Lan,
Hungari.
Hình thức thứ hai:
áp dụng GTGT từng phần, tức là áp dụng đến từng khâu của
quá trình luân chuyển sản phẩm hàng hoá. Ví dụ: Indonexia, Nhà nước ban hành đạo
luật từ năm 1983, nhưng do trình độ quản lý của cán bộ nghành thuế và nhận thức của
người nộp thuế nên đến năm 1985, đạo luật thuế mới được thi hành và thực hiện theo
từng bước như sau:
+ Năm 1985: Đối tượng nộp thuế là những ngườ
i sản xuất.
+ Năm 1989: Mở rộng phạm vi áp dụng đối với các đại lý bán buôn.
+ Năm 1993: Mở rộng phạm vi áp dụng đối với các cửa hàng bán lẻ.

Hình thức thứ ba:
Thực hiện thí điểm GTGT đối với một số nghành. Điển hình
áp dụng hình thức này là Trung Quốc. GTGT được ban hành và thực hiện thí điểm từ
năm 1980 đến 18/9/1994 được ban hành chính thức. Bước thí điểm chỉ áp dụng với
các sản phẩm: xe đạp, quạt điện, kim khí, máy móc thiết bị, phụ tùng, động cơ, thép.
Năm 1986 mở rộng diện đối với các sản phẩm công nghi
ệp nhẹ, vật liệu xây dựng,
khoáng sản kim loại.
Qua tổng kết đánh giá của các nước, trong ba hình thức tiến hành GTGT, hình
thức toàn bộ là hiệu quả nhất. Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏi phải có sự chuẩn bị rất
đầy đủ về luật, các văn bản hướng dẫn luật, trình độ hiểu biết của người nộp thuế,
trình độ quản lý của từng cơ quan thuế
, chứng từ hoá đơn, ý thức chấp hành luật...
Hình thức áp dụng GTGT ở từng khâu kết quả bị hạn chế, còn hình thức áp
ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THU HỒNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 41-D
8
dụng thí điểm ở phạm vi hẹp, ở một số ngành là không đem lại kết quả.
2./ Các hình thức tính thuế GTGT.
ở các nước đã thực hiện GTGT hiện nay áp dụng một trong hai phương pháp
khấu trừ theo hoá đơn và phương pháp tính chênh lệch theo báo cáo kế toán.
a./ Phương pháp khấu trừ theo hoá đơn:
Đây là phương pháp được hầu hết các nước áp dụng do: Tính thuế dựa vào hoá
đơn đảm bảo xác định thuế có cơ
sở để kiểm tra thuế. Có thể áp dụng chính sách thuế
với nhiều thuế suất (nếu thu thuế theo chênh lệch chỉ có thể áp dụng một thuế suất).
Có thể tính GTGT thu thuế theo thời gian ấn định một tháng, hai tháng hay một quí.
b./ Phương pháp thu GTGT trên chênh lệch theo báo cáo kế toán:
Phương pháp này xác định thuế phải dựa trên số liệu báo cáo kế toán của đơn vị
áp dụng phương pháp này sẽ có những vấn đề sau:

Th
ứ nhất: Các xí nghiệp coi GTGT chỉ là thuế bổ xung đánh vào lợi nhuận, còn
các nhân viên của họ thì coi đó là lại thêm một thứ thuế nữa đánh vào quĩ tiền lương.
Thứ hai: Báo cáo chỉ kêt thúc một lần trong năm, vậy là tất cả các khoản thanh
toán GTGT phải dựa vào kết toán năm.
Thứ ba: Khó kiểm tra thuế phải nộp từng kỳ so với phương pháp sử dụng hoá
đơn và không có cơ sở để
tiến hành các cuộc kiểm tra chéo thuế giữa đơn vị mua và
bán.
Mô hình GTGT Nhật Bản được sử dụng theo phương pháp này (1/4/1989): Thu
GTGT trên cơ sở báo cáo kế toán với một thuế suất là 3% và đã quyết định điều chỉnh
lên 5% để thi hành từ tháng 4/1997. Nhật Bản không phát hành hoá đơn áp dụng riêng
đối với thuế GTGT vì các doanh nghiệp phản ứng, theo phương pháp tính thuế hiện
hành các doanh nghiệp tự tính và nộp thuế. Các doanh nghiệp nhỏ không phả
i nộp
ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THU HỒNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 41-D
9
thuế GTGT.
3. Thuế suất.
Thông thường, để đạt được số thu tương đương so với số thu hiện hành của
thuế doanh thu mà nó thay thế, GTGT phải có mức thuế suất cao hơn (thường là gấp
ba lần thuế suất doanh thu). Vì GTGT chỉ đánh vào giá trị tăng thêm của hàng hoá
hay sản phẩm qua mỗi lần luân chuyển hàng hoá (danh mục các nước áp dụng thuế
GTGT và thuế suất GTGT).
Có hai cơ chế thuế suất đượ
c áp dụng:
+ Cơ chế một thuế suất (không kể thuế suất 0% áp dụng với xuất khẩu và một
số mặt hàng thiết yếu (nếu có). Trong số 100 nước thì có 44 nước áp dụng GTGT với
cơ chế một thuế suất, trong đó Đan Mạch là một nước có mức thuế suất cao nhất

(32%). Nhật, Singapore la nước có mức thuế suất thấp nhất (3%).
+ Cơ chế nhiề
u thuế suất (không kể thuế suất 0%).
Trong số các nước còn lại áp dụng GTGT với có chế nhiều thuế suất thì số
lượng thuế suất giao động từ 2 đến 5 (trường hợp Colombia 5 thuế suất). Thuế suất
thấp nhât la 1% (Bỉ, Thổ Nhĩ Kỳ), 2% (Nam Triều Tiên) và thuế suất cao nhất là 50%
(Senegal), 45% (Trung Quốc), 38% (ý) và 36% (Hy Lạp). Phần lớn các nước áp dụng
cơ chế ba thuế suất. Chỉ có mộ
t số nước áp dụng 4 và 5 thuế suất: Bỉ- Colombia.
Mô hình thuế suất của khối EC: Qui định ngoài thuế suất 0% áp dụng cho xuất
khẩu, hệ thống thuế suất chỉ gồm 2 thuế suất: Một mức thuế suất thấp nhưng không
thấp hơn 5%; Một mức thuế suất cao thường hơn 15%.
Qui định về thuế suất 0% và miễn thuế: thuế suất 0% được áp dụng trong
đại đa
số các nước chủ yếu đối với hoạt động xuất khẩu. Đối tượng áp dụng thuế suất 0% tức
là được thoái trả lại số GTGT đã chịu trên hàng đầu vào, biện phấ này được đánh giá
là hữu hiệu nhất đối với việc xuất khẩu.
ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THU HỒNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 41-D
10
Một số nước áp dụng thuế suất 0% đối với các mặt hàng và dịch vụ khác nhau
như Thuỵ Điển (đối với báo chí xuất bản hàng ngày, xang máy bay phản lực), Canada
(đối với lương thực thực phẩm, các dịch vụ tài chính quốc tế.
Đan Mạch và Trung Quốc không sử dụng thuế suất 0%.
Miễn thuế (không áp dụng) GTGT: Các đối tượng được miễn thuế khác với các
đối tượ
ng được hưởng thuế suất 0% ở chỗ họ không có quyền khấu trừ đầu vào thuế
đầu vào đã nộp. Qui định miễn chịu thuế có thể xuất phát từ nhiều lý do: Về kinh tế,
xã hội, về tránh sự đánh thuế chồng chéo, về kỹ thuật: khó xác định giá trị tăng thêm
như: Các dịch vụ về tài chính tín dụng, dịch vụ vận tải quốc tế về hàng không,

đường
sắt.
Ví dụ : Thuỵ Điển qui định 29 mặt hàng và dịch vụ được miễn chịu thuế.
Đan Mạch qui định 14 mặt hàng và dịch vụ được miễn chịu thuế.
Đức qui định 5 mặt hàng và dịch vụ được miễn chịu thuế.
4./ Quản lý GTGT.
Đăng ký thuế: Các đối tượng nộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ đầu tiên là đăng
ký thu
ế tại cơ quan thuế địa phưong nơi đặt cơ quan điều hành thường trú của mình
theo mẫu thống nhất do cơ quan thuế cung cấp. Một số nước sử dụng mã số đăng ký
thuế cũ (thuế doanh thu) và thêm vào đuôi của dãy số đăng ký một số bổ xung để chỉ
rõ là số đăng ký GTGT. Riêng Nhật Bản không sử dụng hệ thống mã hoá số đăng ký
trong công tác quả
n lý GTGT.
Nộp thuế: Đa số các nước áp dụng GTGT thực hiện nộp thuế theo cơ chế tự kê
khai tính và nộp thuế theo mẫu in sẵn do cơ quan thực hiện cung cấp. Nộp tờ khai và
thanh toán thuế theo định kỳ hàng tháng, quí (tuỳ theo chế độ nộp thuế qui định cho
từng loại đối tượng).
Việc thoái thuế: Phần lớn được giao cho cơ quan thu thuế, trong trường hợp số
ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THU HỒNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 41-D
11
thuế được khấu trừ lớn (xuất khẩu hàng hoá hoặc mua sắm tài sản giá trị lớn, đối
tượng kinh doanh có quyền kê khai đề nghị cơ quan thuế thoái trả số tiền đã trả khâu
trước. Cơ quan thuế kiểm tra và thoái trả tiền thuế đã trả ngay một lần hoặc thoái trả
dần trong một thời gian tuỳ theo qui định của từng nước và khả năng ngân sách mỗi
n
ước. Theo cách này cơ quan thuế thường có một tài khoản thu GTGT và sử dụng
nguồn thu để thoái thuế, khoản còn lại nộp vào Ngân sách Nhà nước.
Việc khấu trừ thuế GTGT: Các nước áp dụng khấu trừ theo hoá đơn đầu vào và

cho khấu trừ toàn bộ số phát sinh từng kỳ, khi tính thuế GTGT phải nộp. Hầu hết các
nước cho áp dụng khấu trừ thuế đầu vào của tài sản cố định nhằm khuyến khích đầ
u
tư, cũng có nước không cho áp dụng như Trung Quốc.







PHẦN III. TÌNH HÌNH ÁP DỤNG THUẾ GTGT TRÊN THẾ
GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ NHỮNG NƯỚC ĐÃ ÁP
DỤNG.
I./ TÌNH HÌNH ÁP DỤNG THUẾ GTGT Ở MỘT SỐ NƯỚC.
1./ Thuỵ Điển: Là một nước đi đầu trong việc áp dụng thuế GTGT (1969).
Trước khi thực hiện GTGT, Thuỵ Điển đã thực hiện cơ chế thuế doanh thu với một
ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THU HỒNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 41-D
12
thuế suất 10% áp dụng chủ yếu đối với hàng hoá, dịch vụ chịu thuế. Mục tiêu của sự
chuyển đổi là khuyến khích hàng xuất khẩu và thực hiện hoàn thuế đối với hoạt động
xuất khẩu.
Quá trình chuyển đổi thuế ở Thuỵ Điển được tiến hành qua hai giai đoạn:
- Mùa xuân năm 1968 Bộ Tài Chính giải trình trước Quốc hội và các
doanh nghiệp về
kế hoạch, nội dung chuyển đổi cơ chế nộp thuế.
- Mùa thu năm 1968 được Quốc hội thông qua và ban hành năm 1969 với
những nội dung cơ bản:
Thứ nhất: Các đối tượng nộp thuế doanh thu đều chuyển sang nộp GTGT. Thời

kỳ đó có 160.000 đối tượng nộp thuế doanh thu. Các dịch vụ không phải nộp thuế,
200.000 hộ nông dân năm ngoài cơ chế GTGT.
Thứ hai: áp dụng tính thu
ế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nộp khâu
trước.
Thứ ba: Thuế suất lúc đầu áp dụng một mức thuế là 10% như thuế doanh thu
nhưng do cơ chế khấu trừ nên làm giảm số thuế GTGT. Để bù đắp nguồn thu, Thuỵ
Điển đã tăng phí bảo hiểm 1% trên tổng quĩ lương. Trong quá trình thực hiện Thuỵ
Điển cũng đã điều chỉnh thuế su
ất và bổ sung thêm mức thuế vào.
Thứ tư: Đối với những đầu tư trang thiết bị, máy móc khi thực hiện GTGT
cung được khấu trừ.
Thứ năm: Không qui định cho miễn giảm GTGT vì không thể dùng chính sách
thuế GTGT để trợ cấp.
2./ Philipines: Khi Chính phủ mới ra đời (tháng 12 năm 1986) việc cải cách
sửa đổi hệ thống thuế là việc làm trước tiên của nước này. Chương trình thuế năm
1986 bao gồ
m 29 khâu cải cách phải tiến hành và đã được soạn thảo. Một trong
những cải cách về cơ cấu đưa ra trong chương trình là ban hành thuế GTGT. Được thể
ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THU HỒNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 41-D
13
chế hoábăng Lệnh số 273, có hiệu lực thi hành từ 1/1/1988. Như vậy, để ban hành
thuế GTGT, Philipines đã trải qua quá trình nghiên cứu và chuẩn bị.
Ngày 1/1/1988, Philipines bắt đầu thực hiện GTGT. Có thể tóm tắt ở mấy điểm
sau:
- Thuế GTGT được xây dựng dể hợp lý hoá hệ thống đánh thuế hàng hoá
và dịch vụ chịu thuế, để đơn giản hoá việc quản lý thuế và làm cho hệ thố
ng thuế
Philipines công băng hơn.

- Thuế GTGT được áp dụng trên diện rộng hàng hoá và một số dịch vụ,
trên từng hoạt động bán hay nhập khẩu những hàng hoá dịch vụ đó.
- Thuế suất qui định một mức là 10% đánh trên tổng giá bán hay tổng số
tiền nhận được từ bán hàng hoá hay dịch vụ, thay cho thuế doanh thu đối với người
sản xuất gồm 4 thuế suất: 0%, 10%, 20%, 30%, thu
ế trên dịch vụ: 15 thuế suất từ 0%
đến 30%. Tuy nhiên, có miễn thuế đối với một số hoạt động kinh doanh được áp dụng
để khuyến khích một số hoạt động như sản xuất nông sản, giảm bớt ảnh hưởng đến
giá cả một số mặt hàng như dầu lửa, và để đơn giản việc quản lý thuế đối với doanh
nghiệp nhẹ và các dị
ch vụ tài chính.
- Thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu.
- áp dụng tính thuế theo phương pháp khấu trừ và cho khấu trừ đối với tài
sản dùng trong thương mại hoặc kinh doanh.
Kết quả thu thuế GTGT của Philipines được biểu hiện qua ba năm (bảng kèm
theo) đã cho thấy tỉ lệ về số thu VAT so với số thu CP, GDP, GNP đều tăng sau 10 và
20 năm áp dụng cơ chế thuế m
ới.
Năm
Số thu
từ
VAT
Số thu
từ
thuế
Số thu
của
CP
GDP GNP
% số

thu
VAT/số
thu thuế
% số
thu
VAT/số
thu CP
Số thu
VAT/
GDP
Số thu
VAT/
GNP
ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THU HỒNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 41-D
14
1 2 3 4 5 1/2 1/3 1/4 1/5
1988 13 90 113 826 823 14,5 11,8 1,6 1,6
1989 20 122 154 964 961 16,7 13,3 2,1 2,1
1990 12 69 79 527 527 17,1 14,8 2,2 2,2
3./ Trung Quốc: Là nước có chủ trương nghiên cứu ban hành thuế GTGT từ
năm 1980, sau 4 năm nghiên cứu, ngày 18/9/1984 chính thức ban hành. Trung Quốc
đã tiến hành theo phương pháp thí điểm. Sau đây đề cập một số nhận xét của chuyên
gia thuế Trung Quốc từ 28/6 đến 12/7/1993 do đồng chí Trần Xuân Thắng - Tổng cục
trưởng Tổng cục thống kê dẫn đầu).
Chương trình thí điểm về thuế GTGT ở Trung Quốc đã gặ
p nhiều vướng mắc
do các nguyên nhân chủ yếu:
a. Chưa chuẩn bị kỹ về chế độ hướng dẫn thực hiện và xử lý các trường hợp
vướng mắc thực tế.

b. GTGT chỉ thực hiện cho một số sản phẩm ở khâu sản xuất, chưa thực
hiện ở khâu lưu thông, dịch vụ, vì vậy, trong quá trình thực hiện gặp nhiều khó khă
n
vướng mắc, không xử lý triệt để, chính xác, chưa đạt được mục đích của GTGT là
khắc phục triệt để thu thuế trùng lặp.
Bên cạnh đó, GTGT của Trung Quốc có quá nhiều thuế suất, mức chênh lệch
giữa các thuế suất cao từ 43% đến 12%. Vì vậy, khi thực hiện khấu trừ thuế phức tạp,
căn cứ không chính xác, gây ra vận dụng tuỳ tiện, không kiểm soát được chặ
t chẽ việc
khấu trừ tiền thuế ở cơ quan cấp dưới.
Để khắc phục tình trạng này, đảm bảo thẹc hiện đơn giản, dễ kiểm soát, hiện
nay Trung Quốc thực hiện khoán mức khấu trừ thuế cho các sản phẩm đầu vào, bước
đầu có nhiều mức, nay thực hiện thống nhất một mức 7%.
Do thu theo phương pháp khấu trừ chung cho một mức thoát ly hoá đơ
n, nên
phạm vi khấu trừ thuế rộng thực tế có khi thuế thu thấp vì trong số thuế được khấu trừ
ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THU HỒNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 41-D
15
có phần thuế chưa được tính nộp Ngân sách.
Một trong những điều kiện tiên đề để thực hiện thành công GTGT là thực hiện
cơ chế giá thị trường. Nhưng hiện nay Nhà nước Trung Quốc vẫn quản lý giá hơn 100
mặt hàng, vì vậy, quá trình thực hiện GTGT của Trung Quốc gặp khó khăn.
Thực hiện GTGT ở khâu sản xuất của Trung Quốc gặp nhiều khó khăn, phức
tạp. Để
việc quản lý, thực hiện GTGT có hiệu quả, Trung Quốc phân ra từng đối
tượng để có biện pháp thu thuế: Xí nghiệp qui mô nhỏ thu khoán, Xí nghiệp có qui
mô lớn và vừa thu căn cứ vào sổ sách kế toán. Thực tế hiện nay GTGT chỉ áp dụng
trong các xí nghiệp quốc doanh.
II./ MỘT SỐ NƯỚC KINH TẾ PHÁT TRIỂN VẪN CHƯA ÁP DỤNG

THUẾ GTGT.
Cho dù GTGT là một loại thuế có nhiều ưu điểm nhưng cho đến nay có m
ột sô
nước kinh tế phát triển chưa áp dụng. Chúng ta sẽ nghiên cứu những nguyên nhân của
vấn đề trên thông qua phân tích tình hình hai nước đại biểu là Mỹ và Austraylia


Hoa Kỳ (Mỹ): Là một nước có nền kinh tế phát triển bậc nhất thế giới. Một
cường quốc có ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều lĩnh vực trên thế giới, tuy nhiên, cho đến
nay Mỹ vẫn chưa chấp nhận GTGT. Vì vậy đ
au là những lý do ngăn cản con đường
GTGT xâm nhập vào Mỹ?
Về cơ bản Mỹ thoả mãn với hệ thống thuế doanh thu khâu bán lẻ cấp bang và
liên bang hiện hành. Thuế suất doanh thu bán lẻ cấp bang tương đối thấp, trung bình
khoảng 4,6%, diện đánh thuế cũng tương đối hạn chế. Ví dụ: ở Mỹ có 29 bang không
đánh thuế lương thực thực phẩm, 25 bang miễn thuế cho hầu hết các dịch v
ụ. Cơ chế
thuế hiện hành của Mỹ không gây trở ngại lắm cho hoạt động sản xuất dịch vụ trong
ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THU HỒNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 41-D
16
nước. Chính vì vậy, nước Mỹ chưa thực sự có nhu cầu về một cơ chế thuế mới.
Tuy nhiên, Mỹ cũng đã quan tâm đến GTGT trong thời gian tương đối dài (20
năm qua), và trong cuộc tranh luận gần đây, các chuyên gia đã nêu ra một số lý do để
Mỹ ban hanh GTGT là:
- GTGT sẽ thay thế 1 phần thuế đánh trên quĩ lương (bảo hiễm xã hội) (52
tỷ USD).
- GTGT se thay thế 1 phần thuế thu nh
ập công ty (28 tỷ USD).
- Một lý do nữa được đưa ra năm 1983 là GTGT còn có thể tài trợ cho

quốc phòng (thực tế là để tăng số thu cho Ngân sách).
Năm 1984, một sự thảo nữa được đưa ra với ý đồ dùng GTGT để thay thế cho
thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập công ty và thuế thừa kế, thuế suất GTGT là
15%. GTGT sẽ là động lực tạo nguồn thu chủ yếu cho Ngân sách. Năm 1985, Mỹ đưa
ra một dự
thảo về mô hình GTGT nữa, áp dụng theo phương án trực tiếp.
Nói chung, các phương án đưa ra nhằmban hành GTGT cuối cùng cũng chỉ là
để tăng số thu cho Ngân sách. Dù vậy các Nghị sĩ đã bác bỏ việc ban hành GTGT với
nhứng lý do chủ yếu sau:
a. Lo sợ về tính luỹ thoái của GTGT.
b. Lo lắng về việc GTGT gây lạm phát.
c. Cán bộ thuế bang và quận (địa phương) lo sợ về việc ban hành GTGT sẽ
xâm phạm
đến nguồn thu của họ.
d. Cả cơ quan thuế bang và liên bang đều lo ngại việc áp dụng GTGT sẽ tác
động về phương diện quản lý.
Autralia: Autralia cũng là một trong những nước OECD đến nay chưa chấp
nhận GTGT vì một số lý do như sau:
ĐỀ ÁN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THU HỒNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 41-D
17
a. Lo sợ về chi phí quản lý cao.
b. Lo sợ về khả năng trốn thuế tăng.
c. Những yêu cầu về hoàn thuế khai tăng thêm có thể là một lỗ hổng cũng
nghiêm trọng tương đương như lập hoá đơn sai.
d. Chi phí cho việc cưỡng chế thuế tăng. Lo sợ về tính luỹ thoái.
Như vậy, những lý do chủ yếu của việc chưa ban hành thuế GTGT ở
Mỹ và
Autralia là các lý do mang màu sắc chính trị chứ không phải về kinh tế, do đặc thù
của các nước đó (quan hệ liên bang và bang đang ổn định, họ không muốn có sự xáo

trộn đễ dàng gây nên tình hình mất ổn định chung).
III./ BÀI HOC KINH NGHIỂMUT RA TỪ CÁC NƯỚC ĐÃ TÍNH THUẾ
GTGT.
Qua nghiên cứu kinh nghiệm của các nước áp dụng GTGT cà hội thoả, trao đổi
kinh nghiệm với các chuyên gia thuế GTGT của các tổ chức quốc tế và một số nướ
c
có thể rut ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
1. Thuế GTGT là một loại thuế có nhiều ưu điểm cần nghiên cứu áp dụng
nhằm góp phần thúc dẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển theo cơ chế thị
trường, mở rộng kinh tế đối ngoại, tạo nguồn thu ổn định và phát triển cho Ngân sách
quốc gia. Nhưng không thể và không nên áp dụng thí điểm thuế GTGT trong phạ
m vi
hẹp ở một số nghành và một số đơn vị.
2. Nội dung chính sách thuế GTGT ban hành phải được nghiên cứu kỹ, qui
định cụ thể làm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện được rõ ràng, thống nhất. Phải tuân
thủ các nguyên tắc cơ bản của thuế GTGT với sự vận dụng và qui định phù hợp với
từng nước.
- Củng cố chế độ hoá đơ
n, chứng từ, hạch toán, kế toán, nhưng không thể
đợi đến lúc thực hiện đầy đủ hoá đơn chứng từ mới áp dụng GTGT, vì việc áp dụng

×