HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN
MÔN LUẬT SƯ VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT SƯ
ĐỀ TÀI
PHÁP LUẬT VỀ LUẬT SƯ VÀ HÀNH NGHỀ
LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ
HƯỚNG HOÀN THIỆN
HỌ VÀ TÊN
:
SỐ BÁO DANH
LỚP
:
:
Tp. Hồ Chí Minh - 2021
MỤC LỤC
BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT SƯ VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT SƯ
MỞ ĐẦU
Xu hướng hội nhập quốc tế đã đem lại sự phát triển mạnh mẽ
của nền kinh tế và xã hội. Những vấn đề trong xã hội như hôn nhân
gia đình, lao động, các giao dịch dân sự, sự giao kết hợp đồng giữa
các doanh nghiệp cũng diễn ra mạnh mẽ. Bên cạnh đó các rủi ro,
mâu thuẫn cũng sẽ phát sinh. Điều đó dẫn đến nhu cầu sử dụng
pháp lý do các luật sư và tổ chức hành nghề luật sư cung cấp để giải
quyết những rủi ro mâu thuẫn trên nhằm đảm bảo quyền và lợi ích
hợp pháp trong đàm phán, giao kết và thực hiện giao dịch. Đồng thời
bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong quá trình giải quyết tranh chấp, thi
hành án. Thực tế cho thấy, nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý đang
tăng lên một cách rõ rệt. Họ tìm đến luật sư thường xuyên hơn, thay
vì tự mình giải quyết các vấn đề pháp lý, như vấn đề về thủ tục hành
chính, những thỏa thuận hay hợp đồng kinh tế được ký kết với sự tư
vấn của luật sư ngày càng tăng. Các tổ chức hành nghề luật sư được
thành lập ngày càng nhiều. Đây là một minh chứng rõ nét rằng, luật
sư, các tổ chức hành nghề luật sư có vai trò cực kỳ quan trọng trong
việc cung cấp dịch vụ pháp lý cho các khách hàng. Nghề luật sư ở
Việt Nam hiện nay ngày càng phát triển và có những đóng góp cho
xã hội.
Ở Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến quá trình
hành nghề luật sư, có thể nói đến các văn bản: Luật Luật sư (2006),
Luật Luật sư (sửa đổi, bổ sung năm 2012), Văn bản hợp nhất Luật
Luật sư (2015), Nghị định số 4529/VBHN-BTP ngày 26 tháng 11 năm
2018 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật
sư, Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam (Ban
hành kèm theo Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ ngày 13/12/2019 của
Hội đồng luật sư toàn quốc)... Những văn bản này đã tạo hành lang
pháp lý tương đối đầy đủ cho việc hành nghề luật sư ở Việt Nam, từ
việc thành lập tổ chức, quá trình hành nghề cho đến việc tạm dừng,
chấm dứt hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư.
Xuất phát từ những ý nghĩa trên, tôi lựa chọn vấn đề "Pháp luật
về luật sư và hành nghề luật sư ở Việt Nam – thực trạng và hướng
hoàn thiện" làm đề tài cho bài tiểu luận của mình.
CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ LUẬT SƯ VÀ
HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ
1.1. Khái niệm về luật sư, nghề luật sư và pháp luật về luật
sư.
3
BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT SƯ VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT SƯ
1.1.1. Khái niệm về luật sư
“Luật sư” – “Lawyer” là thuật ngữ được sử dụng với ý nghĩa
người hành nghề luật sư1. Tại điều 2 Luật Luật sư 2006 sửa đổi bổ
sung 2012 có nêu rõ “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện
hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý
theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là
khách hàng)”. Tiêu chuẩn của luật sư được quy định tại Điều 10 Luật
Luật sư như sau: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân
thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng Cử
nhân Luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự
hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể
trở thành Luật sư”.
Luật sư là người có hoạt động khoa học pháp lý ở vị trí người
hướng dẫn pháp luật, luôn lấy việc bảo vệ công lý, bảo vệ lẽ phải và
công bằng xã hội làm mục tiêu cao quý. Luật sư có sứ mệnh bảo vệ
quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của các cá nhân, tổ chức, cơ quan, bảo vệ sự độc lập của tư pháp,
góp phần bảo vệ công lý, công bằng, phát triển kinh tế - xã hội và
xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa 2.
Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật Luật sư
2006 sửa đổi bổ sung 2012 muốn được hành nghề luật sư phải có
Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư (Điều 11
Luật luật sư Luật Luật sư 2006 sửa đổi bổ sung 2012).
Tóm lại, khái niệm của Luật sư được hiểu như sau: “Luật sư là
người có chứng chỉ hành nghề luật sư do Bộ Tư pháp cấp, gia nhập
Đoàn luật sư tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và được Liên
đoàn Luật sư Việt Nam cấp thẻ Luật sư”.
1.1.2. Khái niệm về nghề luật sư
Nghề luật sư ở Việt Nam trước hết là một nghề luật, trong đó các
luật sư bằng kiến thức pháp luật của mình, độc lập thực hiện các
hoạt động trong phạm vi hành nghề theo quy định của pháp luật và
quy tắc đạo đức ứng xử nghề nghiệp Luật sư, nhằm mục đích bảo vệ
cơng lý, cơng bằng, phát triển kinh tế xã hội, góp phần xây dựng nhà
nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
1 Giáo trình luật sư và đạo đức nghề luật sư – Nxb Tư pháp Hà Nội 2020 trang 29
2 Quy tắc 1 Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam năm 2019
4
BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT SƯ VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT SƯ
Nghề luật sư chịu sự tác động sâu sắc của hệ thống chính trị kinh tế - xã hội của từng quốc gia ở mỗi thời kỳ. Tại Việt Nam, nghề
luật sư xuất hiện từ sau năm 1930 nhưng đến sau năm 1945 nghề
luật sư mới tồn tại độc lập. Trải qua gần 100 năm, nghề luật sư đã
phát triển mạnh mẽ, lớn mạnh về quy mô, chất lượng và vai trị đóng
góp ngày càng quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất
nước. Tạo lập niềm tin của người dân vào công lý, thúc đẩy và tạo
động lực phát triển thị trường dịch vụ pháp lý, đáp ứng nhu cầu xã
hội và hội nhập quốc tế.
Về tính chất, hoạt động nghề nghiệp của luật sư bao gồm: tính
chất hướng dẫn, tính chất phản biện và tính chất trợ giúp.
•
•
•
Tính chất hướng dẫn: là việc hướng dẫn cho khách hàng hiểu
đúng tinh thần và nội dung của pháp luật để biết cách xử sự
tháo gỡ vướng mắc của họ phù hợp với pháp lý và đạo lý,
cũng như để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Tính chất phản biện: Tính chất phản biện trong hoạt động
nghề luật sư là những biện luận nhằm phản bác lại lý lẽ, ý
kiến quan điểm của người khác mà mình cho là khơng phù
hợp với pháp lý và đạo lý. Hoạt động phản biện của luật sư là
lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm chuẩn mực để xem xét
mọi khía cạnh của sự việc nhằm xác định rõ phải trái, đúng
sai…từ đó đề xuất những biện pháp phù hợp bảo vệ lẽ phải,
loại bỏ cái sai, bảo vệ cơng lý.
Tính chất trợ giúp: là sự giúp đỡ, bênh vực không vụ lợi của
luật sư cho những người ở vào vị thế thấp kém. Những người
được trợ giúp thường là người bị ức hiếp, bị đối xử bất công
trái pháp luật trong xã hội hay những người như người nghèo,
người già đơn côi, người chưa thành niên mà khơng có sự
đùm bọc của gia đình. Hoạt động trợ giúp của luật sư đối với
những đối tượng này khơng chỉ là bổn phận mà cịn là thước
đo lòng nhân ái và đạo đức của luật sư.
Từ những tính chất, đặc thù của nghề thì luật sư phải là người có
khối óc thơng minh, dũng cảm, biết lấy pháp luật và đạo đức xã hội
làm cơ sở hoạt động mới xứng đáng với sự tin cậy và tôn vinh của xã
hội.
1.1.3. Pháp luật về luật sư
Luật sư và nghề luật sư ln gắn với sự hình thành và phát triển
của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về luật sư nói riêng.
5
BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT SƯ VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT SƯ
Pháp luật về luật sư là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh
các mối quan hệ xã hội phát sinh trong tổ chức và hoạt động nghề
nghiệp giữa luật sư với khách hàng, các cơ quan tiến hành tố tụng và
cơ quan có thẩm quyền khác, về việc quản lý Nhà nước và sự tự
quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp luật sư do Nhà nước đặt ra,
thừa nhận và bảo đảm thi hành.
Pháp Luật này quy định về nguyên tắc, điều kiện, phạm vi, hình
thức hành nghề, tiêu chuẩn, quyền, nghĩa vụ của luật sư, tổ chức
hành nghề luật sư, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư, quản lý
luật sư và hành nghề luật sư, hành nghề của tổ chức hành nghề luật
sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam. Luật sư là người có
đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực
hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (gọi
chung là khách hàng). Hoạt động nghề nghiệp của luật sư góp phần
bảo vệ cơng lý, các quyền tự do, dân chủ của cơng dân, quyền, lợi
ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế – xã
hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã
hội dân chủ, công bằng, văn minh.
1.2. Hành nghề luật sư
Hành nghề luật sư là việc luật sư tham gia hoạt động tố tụng,
thực hiện tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để
thực hiện các cơng việc có liên quan đến pháp luật và thực hiện dịch
vụ pháp lý khác theo quy định của Luật Luật sư nhằm bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật.
Hành nghề luật sư có những tính chất đặc thù như:
•
•
•
Phải chun nghiệp, có trình độ chun mơn sâu về kiến thức
pháp lý và kỹ năng hành nghề;
Hành nghề chủ yếu bằng trình độ và kinh nghiệm chun
mơn, chứ không phải là vốn vật chất;
Đối tượng phục vụ là khách hàng. Luật sư cung cấp “dịch vụ
pháp lý” cho khách hàng và nhận thù lao từ khách hàng.
Nghề luật sư là một loại “dịch vụ tư”.
Hoạt động nghề nghiệp của luật sư góp phần bảo vệ cơng lý, các
quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá
nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà
nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công
bằng, văn minh. Hoạt động nghề nghiệp của luật sư phải dựa trên
những nguyên tắc cơ bản là nền tảng chuẩn mực trong ứng xử nghề
6
BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT SƯ VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT SƯ
nghiệp của luật sư. Nguyên tắc hành nghề của luật sư được quy định
tại Điều 5 Luật Luật sư 2006 sửa đổi bổ sung năm 2012 bao gồm:
•
•
•
•
•
Một là nguyên tắc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.
Hai là hành nghề luật sư phải tuân theo Quy tắc đạo đức và
ứng xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam.
Ba là khi hành nghề luật sư phải tuân thủ nguyên tắc độc lập,
trung thực, tôn trọng sự thật khách quan.
Bốn là khi hành nghề luật sư có trách nhiệm phải sử dụng
các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp
pháp của khách hàng.
Năm là luật sư phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt
động nghề nghiệp luật sư.
Các luật sư được tự do lựa chọn hình thức hành nghề là hành
nghề trong tổ chức hành nghề luật sư được thực hiện bằng việc
thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư, làm
việc theo hợp đồng cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề
với tư cách cá nhân. Các luật sư hành nghề theo quy định của pháp
luật.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ LUẬT SƯ VÀ
HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM VÀ HƯỚNG HOÀN
THIỆN
2.1. Thực trạng pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư
2.1.1. Đội ngũ luật sư
Trong những năm gần đây, đội ngũ luật sư có sự phát triển mạnh
mẽ về số lượng và chất lượng. Sự phát triển, thay đổi của đội ngũ
luật sư một phần do những quy định đổi mới của Luật Luật sư về các
tiêu chí như tiêu chuẩn luật sư, điều kiện hành nghề luật sư, quy
trình trở thành luật sư, các quy định về tập sự, gia nhập Đoàn Luật
sư...
•
•
Tiêu chuẩn luật sư (Điều 10): Theo Luật Luật sư, công dân
Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và
pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ đại học luật,
đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành
nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có
thể trở thành luật sư.
Điều kiện hành nghề luật sư (Điều 11) Luật Luật sư quy định
người muốn được hành nghề luật sư phải đủ tiêu chuẩn tại
Điều 10 Luật nay và phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và
7
BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT SƯ VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT SƯ
gia nhập một Đoàn luật sư. Quy định này nhằm bảo đảm tính
chun nghiệp của nghề luật sư, phịng ngừa tình trạng
những người khơng có đủ tiêu chuẩn, điều kiện vẫn thực hiện
dịch vụ pháp lý như luật sư, góp phần bảo vệ lợi ích của cá
nhân, tổ chức và xã hội, tăng cường quản lý về hành nghề
luật sư.
Theo thống kê, từ thời điểm triển khai Chiến lược đề án 123
(tháng 7/2011) đến tháng 5/2020, đội ngũ luật sư nước ta đã tăng từ
6.250 luật sư lên hơn 14.000 luật sư (tăng khoảng 800 luật sư/năm,
cơ bản đáp ứng nhu cầu của xã hội) 3. Đội ngũ luật sư đã trưởng
thành hơn, chất lượng được cải thiện, đội ngũ luật sư đã tham gia
tích cực vào hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý ở các địa
phương, bước đầu cũng đã xây dựng được đội ngũ luật sư có yếu tố
hội nhập. Số lượng luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực thương mại
quốc tế tăng lên nhiều so với thời gian trước, chủ yếu là các luật sư
tự đào tạo hoặc tham gia các khóa đào tạo ở nước ngoài. Số lượng
các tổ chức hành nghề luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực thương mại
quốc tế khoản 30 tổ chức, trong đó có nhiều tổ chức được các tạp chí
luật có uy tín trong khu vực và thế giới xếp hạng. Dịch vụ pháp lý mà
luật sư cung cấp ra thị trường đa dạng, phong phú hơn. Chất lượng
tham gia tố tụng của luật sư cũng có tiến bộ rõ rệt, nhiều ý kiến
tranh luận của luật sư đã được Hội đồng xét xử ghi nhận. Trong quá
trình giải quyết nhiều vụ án, sự tham gia của luật sư đã góp phần
đáng kể vào việc xác định tính chất của vụ án, giảm thiểu oan, sai
của các cơ quan tiến hành tố tụng, nâng cao hiệu quả công tác điều
tra, truy tố, xét xử.
Tuy nhiên, vấn đề về đội ngũ luật sư nước ta còn một số hạn chế
cần được khắc phục sau đây:
Thứ nhất, số lượng luật sư phát triển chưa cân đối giữa khu vực
thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, trung du. Ở
nhiều địa phương, đặc biệt ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa,
số lượng luật sư không đủ để đáp ứng nhu cầu về dịch vụ pháp lý
của người dân và ngay cả trong việc thực hiện bào chữa trong các vụ
án bắt buộc có sự tham gia của luật sư (án chỉ định). Do điều kiện
phát triển kinh tế tại Việt Nam chưa được cân đối về mặt địa lý, vì
vậy lực lượng luật sư trên toàn quốc hầu hết đều chỉ tập trung tại hai
3 Phan Chí Hiếu – Thứ trưởng Bộ Tư Pháp (2020) - Kết quả triển khai Chiến lược phát triển nghề Luật
sư ở Việt Nam đến năm 2020
8
BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT SƯ VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT SƯ
thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đến sự cạnh
tranh gay gắt trong nội bộ những người hành nghề luật.
Thứ hai, chất lượng luật sư cũng còn hạn chế. Hơn 2000 luật sư
theo Pháp lệnh tổ chức luật sư 1987 không được đào tạo một cách
bài bản về kỹ năng hành nghề, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của
luật sư. Nhiều luật sư trẻ được đào tạo bài bản nhưng còn thiếu kinh
nghiệm và kỹ năng hành nghề. Một số luật sư cịn có thái độ ứng xử
nghề nghiệp chưa đúng mực trong quan hệ với các cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và luật sư đồng nghiệp, làm
ảnh hưởng đến uy tín của đội ngũ luật sư. Luật sư chưa quen thuộc
với hoạt động tham gia tố tụng trọng tài. Trong tố tụng trọng tài,
ngôn ngữ sử dụng có thể là ngơn ngữ khác tiếng Việt, mà thông
thường là tiếng Anh, đối với trường hợp quan hệ tranh chấp có yếu tố
nước ngồi hoặc tranh chấp với một bên có vốn đầu tư nước ngồi.
Do trình độ ngoại ngữ của luật sư Việt Nam còn hạn chế nên nhiều
trường hợp luật sư cần có phiên dịch trong các phiên xử trọng tài,
dẫn đến tốn kém chi phí và kéo dài thời gian tố tụng.
Thứ ba, về mức độ chun mơn hố trong hành nghề, đa số luật
sư ở nước ta hành nghề trong tất cả các lĩnh vực tham gia tố tụng, tư
vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng và các dịch vụ pháp lý khác.
Tuy số lượng luật sư ở nước ta trong những năm gần đây tăng lên
đáng kể, song vẫn chưa hình thành được đội ngũ các luật sư chuyên
sâu về những lĩnh vực khác nhau. Các luật sư chủ yếu hành nghề
trong hai lĩnh vực dân sự và hình sự. Trong các lĩnh vực pháp luật
khác như hành chính, lao động, kinh tế…tỷ lệ vụ việc mà các luật sư
tham gia tương đối thấp. Số lượng luật sư có đủ kinh nghiệm, kỹ
năng tư vấn pháp luật trong lĩnh vực thương mại quốc tế, đàm phán
giải quyết tranh chấp quốc tế tương đối thấp.
2.1.2. Hoạt động hành nghề của luật sư
Hoạt động hành nghề của luật sư được Luật Luật sư quy định rõ
cơ chế pháp lý bảo đảm cho luật sư thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa
vụ, đồng thời đề cao trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm nghề
nghiệp của luật sư trong quá trình hành nghề.
- Về phạm vi hành nghề
+ Tham gia tố tụng: với tư cách là người bào chữa cho người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị
hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trong vụ án hình sự; và với tư cách là người đại diện hoặc
9
BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT SƯ VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT SƯ
là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp
dân sự, hơn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động,
hành chính, việc về u cầu dân sự, hơn nhân và gia đình, kinh
doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của
pháp luật4, đây là lĩnh vực hành nghề chủ yếu của các luật sư hiện
nay. Trong thời gian qua, các luật sư đã tham gia giải quyết hàng
trăm nghìn vụ án. Vai trị của luật sư trong q trình tham gia tố tụng
đã có những bước phát triển về chất lượng. Xuất phát từ việc pháp
luật tố tụng đang từng bước được hoàn thiện, các cơ quan tiến hành
tố tụng đã quan tâm hơn đến việc tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư
tham gia bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị can,
bị cáo, đương sự. Ý kiến của luật sư tại phiên tồ đã được cơ quan
cơng tố quan tâm và coi trọng. Việc tham gia tố tụng của các luật sư
không những bảo đảm tốt hơn quyền bào chữa của bị can, bị cáo,
các đương sự khác, mà còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng phát
hiện, sửa chữa những thiếu sót, làm rõ sự thật khách quan, xét xử
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ
nghĩa.
+ Tư vấn pháp luật là lĩnh vực hành nghề quan trọng của luật
sư, đặc biệt trong điều kiện nhu cầu về tư vấn pháp luật trong xã hội
ngày càng tăng nhanh. Các luật sư đã mở rộng và phát triển tư vấn
trong các lĩnh vực kinh tế, đầu tư, thương mại. Trong lĩnh vực tư vấn
về pháp luật dân sự thì tư vấn về đất đai, hơn nhân gia đình đang là
mảng tư vấn phổ biến và sôi động nhất. Trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế, tồn cầu hố, các luật sư hoạt động trong lĩnh vực tư
vấn pháp luật đang phát huy vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ
các doanh nghiệp đàm phán, ký kết hợp đồng, giải quyết các tranh
chấp phát sinh đặc biệt trong các lĩnh vực mới mẻ như đầu tư nước
ngồi, sở hữu trí tuệ, quan hệ thương mại hàng hố có yếu tố nước
ngoài.
+ Đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các cơng
việc có liên quan đến pháp luật mà luật sư đã nhận theo phạm vi, nội
dung được ghi trong hợp đồng dịch vụ pháp lý hoặc theo sự phân
công của cơ quan, tổ chức nơi luật sư hành nghề với tư cách cá nhân
làm việc theo hợp đồng lao động.
+ Dịch vụ pháp lý khác của luật sư: Bao gồm giúp đỡ khách
hàng thực hiện công việc có liên quan đến thủ tục hành chính như:
4 Khoản 1, khoản 2 Điều 22 Luật Luật sư 2006 sửa đổi bổ sung 2012
10
BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT SƯ VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT SƯ
hợp thức hoá nhà đất, sang tên đăng bộ nhà đất, xin phép xây dựng,
hồn cơng cơng trình xây dựng, khai nhận di sản thừa kế; giúp đỡ về
pháp luật trong trường hợp giải quyết khiếu nại, dịch thuật, xác nhận
giấy tờ, các giao dịch và giúp đỡ khách hàng thực hiện công việc
khác theo quy định của pháp luật.
Có thể nói, mặc dù cịn những hạn chế, nhưng hoạt động của
luật sư thời gian qua đã đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu giúp
đỡ pháp lý của cơng dân và tổ chức, đóng góp đáng kể trong việc
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và các đương sự
khác, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
- Về hình thức hành nghề của luật sư
Luật sư được lựa chọn một trong hai hình thức hành nghề sau
đây: Hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư được thực hiện bằng
việc thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư;
làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư; và
hành nghề với tư cách cá nhân theo quy định tại Điều 49 Luật Luật
sư 2006 sửa đổi bổ sung 20125. Luật sư hành nghề với tư cách cá
nhân là luật sư làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ
chức không phải là tổ chức hành nghề luật sư. Trường hợp hợp đồng
lao động có thỏa thuận thì luật sư hành nghề với tư cách cá nhân
phải mua bảo hiểm trách nhiệm cho hoạt động hành nghề của mình
theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm. Luật sư hành
nghề với tư cách cá nhân không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho
cá nhân, cơ quan, tổ chức khác ngồi cơ quan, tổ chức mình đã ký
hợp đồng lao động, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước yêu cầu
hoặc tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan
tiến hành tố tụng và thực hiện trợ giúp pháp lý theo sự phân công
của Đoàn luật sư mà luật sư là thành viên 6.
- Về hình thức tổ chức hành nghề luật sư
Điều 32 Luật luật sư hiện hành quy định tổ chức hành nghề luật
sư bao gồm: Văn phịng Luật sư và cơng ty luật. Một luật sư chỉ được
phép thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề Luật sư
khi có ít nhất 2 năm hành nghề liên tục làm việc theo hợp đồng lao
động cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá
nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức theo quy định của
Luật này. Một điều kiện khác là, tổ chức hành nghề luật sư phải có
5 Điều 23 Luật Luật sư 2006 sửa đổi bổ sung 2012
6 Điều 49 Luật Luật sư 2006 sửa đổi bổ sung 2012
11
BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT SƯ VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT SƯ
trụ sở làm việc. Trong trường hợp luật sư ở các Đoàn luật sư khác
nhau cùng tham gia thành lập một cơng ty luật thì có thể lựa chọn
thành lập và đăng ký hoạt động tại địa phương nơi có Đồn Luật sư
mà một trong các luật sư đó là thành viên.
Một luật sư có thể tự mình hoặc cùng Luật sư khác thành lập tổ
chức hành nghề Luật sư theo một trong các hình thức sau đây: Văn
phịng luật sư: do một luật sư thành lập tổ chức hoạt động theo hình
thức doanh nghiệp tư nhân; Cơng ty hợp danh: do ít nhất hai luật sư
thành lập và khơng có thành viên góp vốn; Cơng ty trách nhiệm hữu
hạn một thành viên: do một luật sư thành lập và làm chủ sở hữu;
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: Do ít ít hai luật
sư thành lập.
Tổ chức hành nghề luật sư đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp ở
địa phương nơi có Đồn luật sư mà Trưởng văn phòng luật sư hoặc
Giám đốc công ty luật là thành viên. Công ty luật do luật sư ở các
Đoàn luật sư khác nhau cùng tham gia thành lập thì đăng ký hoạt
động tại Sở Tư pháp ở địa phương nơi có trụ sở của cơng ty. Tổ chức
hành nghề luật sư phải có hồ sơ đăng ký hoạt động gửi Sở Tư pháp.
Hồ sơ đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư gồm có:
Giấy đề nghị đăng ký hoạt động theo mẫu thống nhất; Dự thảo Điều
lệ của công ty luật; Bản sao Chứng chỉ hành nghề luật sư, bản sao
Thẻ luật sư của luật sư thành lập văn phòng luật sư, thành lập hoặc
tham gia thành lập công ty luật; Giấy tờ chứng minh về trụ sở của tổ
chức hành nghề luật sư7.
2.1.3. Tổ chức luật sư và quản lý luật sư, hành nghề luật sư
Luật Luật sư quy định hoàn chỉnh hệ thống tổ chức xã hội - nghề
nghiệp của luật sư từ trung ương đến địa phương, đó là Liên đoàn
luật sư Việt Nam và Đoàn luật sư ở các tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương.
Đoàn luật sư là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư ở tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương, tổ chức và hoạt động theo Luật
này và Điều lệ của Liên đoàn luật sư Việt Nam. Đồn luật sư có tư
cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo
nguyên tắc tự trang trải bằng nguồn thu từ phí thành viên, các khoản
đóng góp của thành viên và các nguồn thu hợp pháp khác. Tại mỗi
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có từ ba người có Chứng chỉ
hành nghề luật sư trở lên thì được thành lập Đồn luật sư. Ủy ban
7 Điều 35 Luật Luật sư 2006 sửa đổi bổ sung 2012
12
BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT SƯ VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT SƯ
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho phép thành lập
Đồn luật sư sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Theo đó Đoàn luật sư là tổ chức xã hội - nghề nghiệp đại diện, bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của luật sư trong hành nghề, thực hiện rà
soát, đánh giá hàng năm chất lượng đội ngũ luật sư; giám sát, tuân
thủ pháp luật, tuân theo Điều lệ của Liên đoàn luật sư Việt Nam và
Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam; xử lý kỷ
luật đối với luật sư, thực hiện bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn,
nghiệp vụ, bồi dưỡng kỹ năng quản trị, điều hành tổ chức hành nghề
luật sư8.
Liên đoàn luật sư Việt Nam là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của
luật sư trong phạm vi cả nước, đại diện cho luật sư, các Đồn luật sư,
có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản, hoạt động theo
nguyên tắc tự trang trải bằng nguồn thu từ phí thành viên, các khoản
đóng góp của thành viên và nguồn thu hợp pháp khác. Thành viên
của Liên đoàn luật sư Việt Nam là các Đoàn luật sư và các luật sư.
Các luật sư tham gia Liên đồn luật sư Việt Nam thơng qua Đồn luật
sư nơi mình gia nhập. Liên đồn luật sư Việt Nam có chức năng đại
diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các Đồn luật sư, các luật
sư trong phạm vi cả nước; tổ chức đào tạo nghề luật sư; xây dựng
chương trình và hướng dẫn các Đoàn luật sư thực hiện bồi dưỡng bắt
buộc về chuyên môn, nghiệp vụ; bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ,
kỹ năng quản trị, điều hành tổ chức hành nghề luật sư; tổ chức kiểm
tra và chịu trách nhiệm về kết quả kiểm tra tập sự hành nghề luật sư
theo quy định của Luật này và hướng dẫn của Bộ Tư pháp 9.
Nguyên tắc quản lý luật sư và hành nghề luật sư được quy định
tại Điều 6 Luật Luật sư 2006 sửa đổi bổ sung 2012 cụ thể như sau:
“Quản lý luật sư và hành nghề luật sư được thực hiện theo nguyên
tắc kết hợp quản lý nhà nước với chế độ tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư. Tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư thực hiện quản
lý luật sư và hành nghề luật sư của tổ chức mình theo quy định của
Luật này, Điều lệ của Liên đoàn luật sư Việt Nam và Quy tắc đạo đức
và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam. Nhà nước thống nhất quản
lý về luật sư và hành nghề luật sư theo quy định của Luật này”. Như
vậy, quản lý luật sư và hành nghề luật sư gồm hoạt động quản lý
nhà nước, hoạt động này là thống nhất và do Nhà nước thực hiện và
8 Điều 60, Điều 61 Luật Luật sư 2006 sửa đổi bổ sung 2012
9 Điều 64, Điều 65 Luật Luật sư 2006 sửa đổi bổ sung 2012
13
BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT SƯ VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT SƯ
hoạt động quản lý của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư, tổ
chức hành nghề luật sư. Do đặc thù nghề nghiệp luật sư, nhà nước
quy định nguyên tắc kết hợp quản lý nhà nước với chế độ tự quản
của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư, tổ chức hành nghề luật
sư. Hai hoạt động quản lý này thống nhất với nhau đảm bảo sự tuân
thủ của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư đối với Hiến pháp và pháp
luật, đồng thời đảm bảo luật sư, tổ chức hành nghề luật sư tuân theo
quy tắc đạo đức nghề nghiệp.
2.2. Hướng hoàn thiện pháp luật về luật sư và hành nghề
luật sư
Trong giai đoạn mới, cần tiếp tục quan tâm đến luật sư và hành
nghề luật sư theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả; tăng cường sự
quan tâm, phối hợp, chỉ đạo cũng như trách nhiệm của các Bộ,
ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư để thực hiện có hiệu quả các
giải pháp được nêu trong Đề án 123; tăng cường kỷ luật, kỷ cương
trong việc thi hành pháp luật nói chung và pháp luật về luật sư nói
riêng; tạo môi trường hoạt động luật sư lành mạnh. Muốn được như
vậy, cần phải phải có một hệ thống pháp luật và quy chế pháp lý
hoàn chỉnh để điều chỉnh các hoạt động nghề nghiệp Luật sư trên cơ
sở tạo thiết lập một môi trường pháp lý rộng rãi cho tổ chức và hoạt
động luật sư phát triển, đáp ứng ngày càng tăng nhu cầu tư vấn
pháp luật của nền kinh tế thị trường, phát huy dân chủ, bảo vệ công
lý và công bằng xã hội và phải xây dựng được phạm vi và lộ trình
hồn thiện pháp luật về luật sư phù hợp. Dưới đây là một số đề xuất
phương hướng hoàn thiện như sau:
Đối với vấn đề số lượng luật sư hiện có so với dân số cịn rất
thấp và có sự phát triển mất cân đối lớn giữa các vùng, miền. Nâng
cao chất lượng đào tạo của các trường luật, chương trình đào tạo
nghề luật sư để đảm bảo chất lượng, uy tín đội ngũ luật sư khi tham
gia hành nghề. Bộ Tư pháp và Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có nghiên
cứu đồng bộ, thống nhất về yêu cầu của Nhà nước, của xã hội, của
nghề nghiệp đối với công tác đào tạo cử nhân luật và đào tạo các
chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp mà trong đó có luật sư. Nhằm
đảm bảo việc đào tạo cử nhân luật gắn liền với nghề nghiệp, hướng
nghiệp; còn đào tạo nghề nghiệp luật sư gắn liền với chuyên môn,
nghiệp vụ chuyên sâu, kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu. Tăng cường
sự phối hợp, tham vấn giữa đoàn luật sư với các cơ quan nhà nước
địa phương nhằm đảm bảo nhu cầu luật sư cũng như bảo đảm việc
14
BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT SƯ VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT SƯ
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơng dân, pháp chế xã hội chủ
nghĩa.
Để đảm bảo luật sư cạnh tranh bình đẳng trong quá trình hành
nghề, đặc biệt là những thành phố có số lượng luật sư lớn như Hà Nội
và Thành phố Hồ Chí Minh, một yêu cầu đặt ra là phải nâng hiệu lực
quy phạm pháp luật quy định về vấn đề cạnh tranh của luật sư. Hiện
tại, vấn đề cạnh tranh của luật sư được quy định tại Quy tắc 18 cạnh
tranh nghề nghiệp (Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư
Việt Nam, 2019), quy định này cần thiết phải nâng lên thành luật, có
như vậy mới đảm bảo tính pháp lý và cạnh tranh công bằng. Tương
tự như vậy, các hành vi cạnh tranh khơng lành mạnh để nhằm mục
đích giành giật khách hàng được quy định trong Quy tắc 20.5 (Quy
tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam, 2019) cũng cần
thiết phải nâng lên thành luật.
Để nâng cao chất lượng đội ngủ người hành nghề luật sư, xây
dựng và phát triển đội ngủ này thành nguồn nhân lực chất lượng cao
giỏi về chuyên môn và kỹ năng hành nghề, có bản lĩnh chính trị vững
vàng và phẩm chất đạo đức tốt, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và
hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển kinh tế - xã hội. Pháp luật về
người hành nghề luật sư cần được hoàn thiện và thống nhất, chú
trong cả yêu cầu phẩm chất đạo đức và trình độ năng lực, gắn chất
lượng dịch vụ và giá dịch vụ pháp lý.
Hoàn thiện các quy định pháp lý về chế độ bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp luật sư. Hành nghề luật sư là hoạt động địi hỏi
tính trách nhiệm cao, gây thiệt hại là phải bồi thường, do vậy luật sư
tham gia bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp là một nghĩa vụ cần
thiết. Những trường hợp gây tổn hại đến danh dự, tính mạng, sức
khỏe của luật sư cần được quy định mang tính đặc thù. Tuy nhiên,
vấn đề trách nhiệm nghề nghiệp cũng như bảo hiểm trách nhiệm
nghề nghiệp luật sư ở Việt Nam chưa thực sự rõ ràng. Do đó, cần có
những quy định và những biện pháp cụ thể để sớm áp dụng trong
thực tiễn hoạt động nghề nghiệp của luật sư nhằm đem lại sự hiệu
quả cao nhất cho hoạt động đặc thù này.
KẾT LUẬN
Vai trị quan trọng của luật sư trong xã hội khơng thể phủ nhận.
Với vai trò bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
con người, nghề luật sư thực sự là người bảo vệ tuyệt vời của cơng
lý, của lẽ phải. Cùng với đó pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư
15
BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT SƯ VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT SƯ
từng bước hoàn thiện tạo cơ sở pháp lý cho luật sư hành nghề. Tuy
nhiên, xã hội không ngừng phát triển, các quan hệ không ngừng biến
đổi, nên pháp luật cần thay đổi linh hoạt để phù hợp với tình hình
kinh tế xã hội. Pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư ở Việt Nam
đã có những đóng góp tích cực cho sự phát triển của nghề luật sư nói
riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung.
Việc Nhà nước ban hành Luật số 20/2012/QH13 ngày 20 tháng
11 năm 2012 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
luật sư 2006, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013; và Quy
tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam 2019 đã tạo cơ
sở pháp lý thơng thống, lành mạnh thuận lợi hơn cho hoạt động
hành nghề của các luật sư. Điều này góp phần trong sự nghiệp bảo
vệ công lý, hội nhập và phát triển kinh tế, xây dựng xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh. Luật Luật sư khơng chỉ nâng cao vị thế, vai
trị của người luật sư trong xã hội, mà còn đưa họ từng bước lên
ngang tầm với luật sư của các nước trên thế giới và trong khu vực.
Tuy nhiên pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư ở Việt Nam vẫn
còn nhiều vấn đề cần quan tâm, cần tiếp tục hoàn thiện cho phù hợp
với sự thay đổi của xã hội, của nhu cầu hội nhập và toàn cầu hố
hiện nay. Những vấn đề đó, một phần đã được thể hiện trong tiểu
luận này./.
16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Văn phòng Quốc hội (2015). Luật số 03/VBHN-VPQH: Luật Luật
2.
3.
4.
5.
6.
7.
sư, ngày 31/12/2015.
Bộ Tư pháp (2018) Nghị định số 4529/VBHN-BTP ngày 26 tháng
11 năm 2018 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi
hành Luật Luật sư
Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam số
201/QĐ-HĐLSTQ, ngày 13/12/2019.
Học viện Tư pháp Giáo trình luật sư và đạo đức nghề luật sư –
nhà xuất bản Tư pháp Hà Nội.
Bùi Mến (2019), “Liên đoàn Luật sư Việt Nam: 10 năm một
chặng đường”, />Phan Chí Hiếu - Thứ trưởng Bộ Tư pháp (2020) “Kết quả triển
khai Chiến lược phát triển nghề Luật sư ở Việt Nam đến năm
2020”, />ThS. Nguyễn Quang Anh - Cơng ty Luật TNHH Sao Việt (Tạp chí
Dân chủ và pháp luật): />