Tải bản đầy đủ (.docx) (18 trang)

Giao an tong hop

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.78 MB, 18 trang )

PHÒNG GD & ĐT THANH OAI
TRƯỜNG TIỂU HỌC DÂN HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NĂM HỌC: 2017 - 2018

SƠ YẾU LÝ LỊCH

- Họ và tên
: Nguyễn Thùy Dung
- Ngày tháng năm sinh : 08 / 05 / 1989
- Năm vào ngành
: 2011
- Chức vụ
: Giáo viên – Trường tiểu học Dân Hòa.
Huyện Thanh Oai – TP Hà Nội
- Trình độ chun mơn : Cao đẳng sư phạm.
- Bộ mơn giảng dạy
: Văn hóa
- Trình độ ngoại ngữ
:
- Trình độ chính trị
:
- Khen thưởng
: Lao động tiên tiến.
- Đơn vị cơng tác
: Trường tiểu học Dân Hịa
- Hệ đào tạo


: Chính quy

ĐẶT VẤN ĐỀ


Tên đề tài: " Một vài kinh nghiệm ứng dụng công nghệ thông tin
trong dạy học môn Lịch sử lớp 5 ".
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Mơn lịch sử có vai trị rất quan trọng và có ý nghĩa lớn lao trong việc giáo
dục học sinh tình yêu quê hương đất nước đặc biệt là lịch sử nước nhà. Mỗi học
sinh, sinh viên cần tinh thông sử học, thấm nhuần những tinh hoa lịch sử hào
hùng của dân tộc vì có liên quan chặt chẽ đến vận mệnh của đất nước. Chính vì
vậy mà trên báo “Việt Nam Độc lập” phát hành ngày 1/2/1942 tại chiến khu
Việt Bắc, Bác Hồ viết bài “Nên học sử ta”. Bác đã mở đầu bằng hai câu thơ:
“ Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam ”
Học lịch sử để biết được cội nguồn của dân tộc, quá trình đấu tranh anh
dũng và lao động sáng tạo của ông cha. Học lịch sử để biết quý trọng những gì
mình đang có, biết ơn những người làm ra nó và biết vận dụng vào cuộc sống
hiện tại để làm giàu thêm truyền thống dân tộc. Do vậy, kiến thức lịch sử phải là
một phần hồn cơ bản của dân tộc chứa đựng trong tâm thức của mỗi con người.
Vì thế hệ thanh niên học sinh hiện nay, sau này sẽ là lực lượng nòng cốt xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bởi vậy, mỗi thầy cô cần dạy như thế nào để giúp các
em biết rõ về lịch sử nước nhà, yêu quê hương đất nước.
Nhưng hiện nay, số đông học sinh chưa thực sự chủ động tích cực trong
giờ học lịch sử: các em xem lịch sử là môn phụ nên không chú ý trong giờ học
sử, lười học bài… nên kết quả học sử cũng thường thấp hơn các mơn học khác.
Băn khoăn trước thực trạng đó, là một giáo viên dạy lớp 5, tơi đã tìm tịi, đổi
mới trong dạy học lịch sử và dạy đạt hiệu quả ở phân mơn học này. Đó là lí do
tơi chọn viết sáng kiến kinh nghiệm với đề tài " Một vài kinh nghiệm ứng dụng

công nghệ thông tin trong dạy học mơn Lịch sử lớp 5 ".
II. MỤC ĐÍCH THỰC HIỆN:
Nhằm đánh giá khách quan về thực trạng và chất lượng học phân lịch sử lớp 5
Từ việc hình thành, rèn luyện kỹ năng nghe, nói phát triển các năng lực ngôn
ngữ, năng lực diễn đạt, sáng tạo trong môn học, đến bồi dưỡng kiến thức giáo
dục tư tưởng tình cảm cho các em,..năng lực tư duy, mở rộng tâm hồn, rèn luyện
thói quen hứng thú đọc sách, truyện chú ý quan lược đồ các chiến dịch, chú ý
nghe bạn kể và nhớ lại nội dung bài học sao cho sinh động hấp dẫn, đạt kết quả
cao trong giờ lịch sử.
Khi viết đề tài này tôi mong được sự đóng góp ý kiến của mình về cơng tác
dạy mơn lịch sử lớp 5, qua đó giúp các em có kỹ năng học môn lịch sử tốt
hơn.các em biết thuật lại các chiến dịch và nhớ các sự kiện lịch sử cho ơng, bà,
và bạn bè nghe bằng chính lời nói của mình.
III. ĐỐI TƯỢNG THỰC HIỆN:


Đối tượng nghiên cứu của sáng kiến là phân môn lịch sử trong chương trình
lớp 5.
- 39 học sinh lớp 5C – Trường tiểu học Dân Hòa – TP Hà Nội
IV. ĐÓNG GÓP MỚI TRONG KẾT QUẢ THỰC HIỆN:
- Giúp học sinh nhớ các sự kiện lịch sử đó vào nào.
- Khi thuật lại biết sử dụng ngữ điệu kết hợp các cử chỉ phù hợp với từng
sự kiện
- Biết quan sát lược đồ kể lại nội dung câu chiến dịch bằng lời của mình.
- Giúp học sinh mạnh dạn, tự tin khi học lịch sử. .
V. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN:
- Trong giờ lịch sử với mỗi bài tôi dùng các phương pháp dạy học khác nhau và
nguyên tắc “ Lấy học sinh làm trung tâm” như:
+ Phương pháp gợi mở vấn đáp.
+ Phương pháp trực quan.

+ Phương pháp hỏi đáp.
+ Phương pháp thuyết trình.
+ Phương pháp điều tra.
+ Phương pháp kiểm tra đánh giá.
VI. PHẠM VI VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN:
Áp dụng những biện pháp dạy học tích cực hoá các hoạt động học tập của học
sinh trong giờ lịch sử lớp 5 trường Tiểu học.
Đề tài này được thực hiện từ tháng 9/ 2017 đến tháng 3/ 2018.

2. Số liệu thống kê:
Đầu năm học 2017 - 2018 cụ thể như sau:
Số
học
sinh
39

Giỏi
SL
8

%
24

Kết quả môn Tiếng Việt
Khá
TB
SL
%
SL
%

15
38
10
25

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Yếu
SL
6

%
13


I.

CƠ SỞ LÍ LUẬN
. Đặc trưng nổi bật của nhận thức lịch sử là con người không thể tri giác
trực tiếp những gì thuộc về quá khứ. Mặt khác, lịch sử là những việc đã diễn
ra, là hiện thực trong quá khứ, là tồn tại khách quan không thể phán đốn,
suy luận..... để biết lịch sử. Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên, tất yếu của việc dạy
lịch sử là tái tạo lịch sử, tức là cho học sinh tiếp nhận những thông tin từ sử
liệu, tiếp xúc với những chứng cứ vật chất, những dấu vết của quá khứ, tạo ra
ở học sinh những hình ảnh cụ thể, sinh động, chính xác về các sự kiện, hiện
tượng lịch sử. Những biểu tượng về con người và hành động của họ trong bối
cảnh thời gian, không gian xác định, trong những điều kiện lịch sử cụ thể.
Vậy tái tạo lịch sử bằng những phương thức nào?
Trước hết phải kể đến lời nói sinh động, giàu hình ẩnh của giáo viên. Đó
là tường thuật, miêu tả, kể chuyện, nêu đặc điểm của nhân vật lịch sử ...

II.
THỰC TRẠNG
Trong những năm gần đây, việc đổi mới nội dung, chương trình sách giáo
khoa được thực hiện đồng bộ. Việc đổi mới nội dung, chương trình khi thay
sách địi hỏi giáo viên phải đổi mới phương pháp giảng dạy cho phù hợp. Và
một trong những công cụ hiệu quả cung cấp cho giáo viên phương tiện làm việc
hiện đại đó là cơng nghệ thơng tin (CNTT ).
Hiện nay, việc ứng dụng CNTT vào dạy học đã trở nên đại trà, phổ biến.
Một trong những môn học thích hợp nhất với việc dùng bài giảng điện tử đó
chính là mơn lịch sử. Việc dùng những bản đồ, lược đồ, tranh ảnh, đoạn phim
trình chiếu lên màn hình chính là kênh hình trực quan, sinh động nhất, đánh
mạnh vào sự chú ý của các em học sinh nhất là học sinh tiểu học, giúp học sinh
tiếp thu bài một cách nhanh chóng và thực sự hiệu quả.
Ở trường tiểu học Phước Sang, những năm gần đây, nhà trường đã đầu tư
mua sắm máy chiếu, máy tính xách tay, bố trí cho giáo viên học ứng dụng phần
mềm power point, violet… vào soạn giảng, bản thân giáo viên hầu hết là giáo
viên trẻ nên chủ động tự trang bị cho mình máy tính xách tay. Vì vậy hầu như
thầy cơ giáo nào cũng có thể tự thiết kế cho mình một bài giảng điện tử để đưa
vào giảng dạy. Trong q trình dạy, tơi nhận thấy mỗi khi dùng bài giảng điện tử
thì các em vơ cùng hứng thú, hoạt động sôi nổi, tiếp thu bài tốt, nhất là với môn
Lịch sử vốn là môn học khô khan thì bây giờ các em đã có niềm đam mê với
mơn này. Vì vậy, tơi viết sáng kiến kinh nghiệm này nhằm tập hợp những kinh
nghiệm của bản thân mình trong q trình soạn giảng mơn Lịch sử bằng cơng
nghệ thông tin để chia sẻ với các thầy cô.
Khi dạy bài giảng điện tử, máy tính được sử dụng trong việc cung cấp
thơng tin bằng hình ảnh, âm thanh, truyền thụ kiến thức, phát triển tư duy,
hướng dẫn hoạt động, rèn luyện kĩ năng, kiểm tra, đánh giá..., tạo hứng thú cho
học sinh trong học tập lịch sử nói riêng và trong học tập nói chung.



Với kho tư liệu phong phú sẵn có trên Internet, giáo viên dễ dàng tìm cho
mình nhiều hình ảnh đặc sắc minh họa cho bài học, sinh động hơn nữa là các
đoạn phim tư liệu lịch sử. Những điều này sách giáo khoa khó có thể đáp ứng
được. Bên cạnh đó, trong mơn Lịch sử cần rất nhiều bản đồ, lược đồ mà thư viện
trường không thể cung cấp hết được. Giờ đây, giáo viên chỉ cần một cái nhấp
chuột là loại bản đồ, lược đồ nào cũng có. Việc thiết kế biểu đồ trên Power point
cũng được thực hiện nhanh chóng, dễ dàng.
Trong việc cung cấp thơng tin, những thơng tin hiện lên màn hình với các
hiệu ứng gây chú ý cũng là một cách trực quan rất hiệu quả thu hút sự chú ý tập
trung của các em, làm cho các em dễ nhớ bài hơn. Bên cạnh đó, giáo viên cũng
có thể tóm lược được những ý chính của bài hiện lên màn hình cho các em dễ
nắm bài hơn, tiết kiệm được thời gian, công sức.
Ở phần củng cố bài, chúng ta có thể thiết kế trị chơi ơ chữ hoặc một số
trị chơi trắc nghiệm… sẽ giúp cho giờ học được kết thúc một cách thú vị, hấp
dẫn mà lại khắc sâu vào tâm trí các em.
Đối với giáo viên, việc soạn giảng một bài giảng điện tử là con đường
giúp giáo viên chúng ta tiếp cận với công nghệ thông tin nhanh nhất. Thông qua
việc soạn giảng, những kĩ năng sử dụng phần mềm Word, Excel, Power point…
được nhuần nhuyễn và ngày càng tiến bộ. Đồng thời kiến thức cuộc sống của
mỗi người cũng sẽ được nâng cao, giáo viên thấy yêu nghề hơn, sáng tạo hơn.
Hơn nữa, theo tôi, việc dạy bằng bài giảng điện tử giáo viên đỡ vất vả hơn còn
học sinh thích thú nhất là với mơn Lịch sử.
III. CƠ SỞ THỰC TIỄN.
Đề tài ứng dụng công nghệ thông tin vào soạn giảng môn Lịch sử không
phải là vấn đề mới mẻ. Trước đây đã có một số đề tài viết về vấn đề này. Tuy
nhiên đi chuyên biệt vào mơn Lịch sử lớp 5 thì tơi chưa thấy. Vì vậy đề tài này
là tập hợp một số kinh nghiệm nhỏ của bản thân khi soạn giảng môn Lịch sửtrong phạm vi lớp 5 vào điều kiện của trường đang dạy- với mong muốn được
trao đổi, học tập kinh nghiệm với đồng nghiệp.
Thuận lợi
- Cở vật chất tương đối đầy đủ

- Ban giám hiệu nhà trường nhiệt tình ,quan tâm giúp đỡ có trình độ
chun mơn vững vàng .
- Học sinh đi học đúng độ tuổi 100%. Đa số học sinh ngoan ngỗn , có
nề nếp , ý thức cao trong học tập .
Khó khăn
Đa số học sinh là con em nơng dân, trình độ nhận thức chưa cao . Đặc
biệt một số học sinh cho rằng kể chuyện là một môn học phụ là một môn


học làm thư giãn đầu óc nên chưa chú trọng đầu tư .Khả năng của các bậc
phụ huynh giúp đỡ con em trong giờ lịch sử ở nhà còn hạn chế chưa cao .
Hiện nay đất nước ta đang đi lên cơng nghiệp hóa hiện đại hóa đất
nước ,coi giáo dục là quốc sách hang đầu .
Vì vậy việc dạy học học lịch sử ở bậc Tiểu Học nói chung dạy học lịch
sử ở lớp 5nói riêng nó mang tính chất đặc thù trong thực tế .Bản thân tôi
chọn đề tài này với nhiều nguyên nhân .
Nguyên nhân
- Học sinh đọc viết còn yếu ,kể lại các sự kiện chưa lưu lốt rõ ràng ,nói
chưa được thành câu ,viết cịn sai lỗi chính tả nên khi kể lại một câu chuyện
chưa thâu tóm được nội dung chính của sự kiện .
- Chưa nhớ được các mốc lịch sử.
- Khi kể giọng kể đều đều ,chưa nhấn giọng ở các chiến công hào hùng
của đân tộc.
- Chưa thuật lại được bằng lời của mình cịn phụ thuộc vào sách giáo
khoa .
Chưa mạnh dạn tự tin trong học lịch sử.
IV. CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT
Để hồn thành sáng kiến này tơi đã sử dụng các phương pháp sau:
Biện pháp 1: Chọn bài giảng hoặc phần bài giảng thích hợp soạn điện tử
Giáo viên cần xác định bài giảng đó có thích hợp để dạy điện tử hay

không, hoặc phần bài giảng nào cần sử dụng CNTT để chuyển tải nội dung bài
dạy và mang lại hiệu quả giáo dục cao. Nếu bài dạy nào sử dụng phấn trắng
bảng đen vẫn tốt thì khơng nên lạm dụng bài dạy điện tử.
Tóm lại: Sau khi tham khảo các tài liệu trên cùng sự trao đổi với các đồng
nghiệp, dự giờ thăm lớp tôi thấy bên cạnh những giáo viên và học sinh rất yêu
thích giờ lịch sử thì vẫn cịn một số giáo viên còn chưa chú trọng trong tới
giờ lịch sử và trong các giờ học còn ngại chuẩn bị đồ dùng, học sinh chưa
được học một giờ kể chuyện một cách trình tự. vì vậy tơi đã tiến Chọn bài giảng
hoặc phần bài giảng thích hợp soạn điện tử thực hiện quá trình dạy học ở lớp
như sau:
Biện pháp 2: Lập dàn ý cho bài dạy và chuẩn bị tư liệu
Cần xác định bài dạy có mấy phần (mấy hoạt động). Mỗi phần cần chuyển
tải những nội dung gì trọng tâm. Sử dụng âm thanh, hiệu ứng , hình ảnh, đoạn
phim, trị chơi… gì cho phù hợp và hiệu quả. Một bài dạy không nên chỉ sơ sài
vài slide hoặc cũng không nên có quá nhiều (40-50 slide). Mặt khác, giáo viên


cần chú ý mối quan hệ giữa các slide. Nếu không, bài dạy sẽ rời rạc, là một tập
hợp chữ và hình ảnh hơn là một bài soạn.
Chắc chắn giáo viên nào khi soạn bài giảng điện tử cũng đều cần tư liệu
minh họa, dẫn dắt hoặc làm phong phú bài giảng. Tư liệu thì giáo viên có thể
tìm từ nhiều nguồn: sách báo, tạp chí rồi đưa vào bài dạy bằng cách scan, dùng
máy ảnh kĩ thuật số chụp rồi copy vào máy, dùng phần mềm để cắt đoạn phim,
ráp hình ảnh, chuyển đổi đi cho đoạn phim như phần mềm Total Video
Converter….Một nguồn tư liệu phong phú khác đó là tìm trên Internet.
Một điều quan trọng là giáo viên phải xác định mục đích sử dụng của mỗi
tư liệu đưa vào bài giảng có cần thiết khơng. Nếu không đúng lúc đúng chỗ sẽ
rơi vào trường hợp phô diễn không cần thiết hoặc tệ hơn là làm “nhiễu” việc tiếp
nhận thông tin của học sinh.
Biện pháp 3: Những bài có sử dụng hình ảnh minh họa và

Những chú ý khi lên lớp
A, Những bài có sử dụng hình ảnh minh họa
Giáo viên cần nắm chắc nội dung giáo án, chú ý ghi nhớ tiến trình, những
lời dẫn dắt để chuyển từ hoạt động này qua hoạt động khác, kết hợp lời giảng
với thao tác máy cần uyển chuyển cho tiết dạy sinh động. Cần tính tốn sao cho
thời gian của tiến trình dự định phải gần như trùng khớp với thời gian thực dạy
trên lớp, để tránh “cháy” hoặc “ướt” giáo án đã soạn.
Tranh ảnh minh họa là một phần không thể thiếu đối với tất cả các môn
học. Nhất là môn Lịch sử những hỉnh ảnh minh họa là rất quan trọng trong q
trình dạy học, nó giúp cho học sinh khắc sâu bài học và hình dung được các sự
kiện lịch sử đã diễn ra trong quá khứ. Trong mỗi bài lịch sử, giáo viên cần sử
dụng nhiều tranh nhưng đồ dùng dạy học hiện có khơng đáp ứng đủ. Cịn nếu
sưu tầm rồi in ra giấy thì cũng rất tốn kém về thời gian và tiền bạc. Đối với trình
độ CNTT phát triển như hiện nay thì tất cả các bài lịch sử chúng ta đều có thể
sưu tầm được các tranh minh họa cho bài dạy của mình và lồng vào bài giảng
một cách dễ dàng mà khơng tồn thời gian và kinh phí.
Ví dụ: Bài 7: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.
Học xong bài này, học sinh biết:
+ Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là người chủ trì Hội nghị thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam.
+ Đảng ra đời là một sự kiện lịch sử trong đại, đánh dấu thời kì cách mạng
nước ta có sự lãnh đạo đúng đắn, giành nhiều thắng lợi to lớn.
Do vậy giáo viên cần cung cấp cho học sinh về hình ảnh của Lãnh tụ
Nguyễn ái Quốc ( năm 1930) và cuộc hành trình đi tìm con đường cứu nước
suốt 30 năm của Người. Các hình ảnh, tư liệu lịch sử về bối cảnh ra đời của
Đảng Cộng sản Việt Nam


Và những hình ảnh liên quan đến Hội nghị thành lập Đảng.


( Đồng chí Trần Phú )

b/ Một số bài có sử dụng phim tư liệu.
Bài 10: Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập ( phim tư liệu Bác Hồ đọc tuyên
ngôn Độc lập 2/9/1945)


Bài 13: “ Thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước” ( đoạn
phim tư liệu )
Bài 14: Thu –đông 1947, Việt Bắc “ Mồ chôn giặc Pháp” ( đoạn phim
Bom trong chiến dịch Miền Bắc)
Bài 16: Hậu phương những năm sau chiến dịch biên giới.( đoạn phim tư
liệu )
Bài 17: Chiến thắng Điện Biên Phủ ( đoạn phim tư liệu TW đang họp bàn
chiến dịch, đoạn phim tư liệu cuộc tiến công đợt 3)
Bài 26: Tiến vào dinh độc lập (đoạn phim cắm cờ trên Dinh Độc lập)
c/ Những bài có sử dụng lược đồ, bản đồ minh họa.
Nhằm giúp cho học sinh hiểu, tiếp thu nhanh về mơn Lịch sử.
Ngồi những dụng cụ trực quan: bản đồ, lược đồ … yêu cầu người giáo viên dạy
giáo án điện tử, cần phải biết vận dụng hiệu ứng vào trong bài giảng khi sử
dụng lược đồ, bản đồ.
Đối với học sinh tiểu học, phần đông các em đang ở độ tuổi hiếu
động, tị mị, thích sự mới lạ. Chính từ tâm lý đó, khi các em học phần lược đồ,
bản đồ bắt gặp phần hiệu ứng sẽ thu hút sự tập trung chú ý, ham thích học tập
của các em. Từ đó các em sẽ khắc sâu kiến thức và nhớ bài rất lâu.

Lịch sử lớp 5 : Gồm có 3 bài thể hiện được tốt nhất
Bài 14 : Thu - đông 1947,
Việt Bắc “Mồ chôn giặc Pháp”


Bài 15 : Chiến thắng Biên giới thu – đông 1950
lịch sử Điện Biên Phủ

Bài 17 : Chiến thắng


d/ Những bài có sử dụng trị chơi học tập.
Khả năng nhớ các sự kiện lịch sử của học sinh lớp 5 ở một số vùng nơng
thơn nói chung và ở địa bàn xã Phước Sang nói riêng đang cịn hạn chế, vì
vậy cần có những trị chơi để kích thích lịng ham mê học tập của học sinh, giúp
các em nhớ tốt các sự kiện lịch sử.
Trị chơi “Ơ chữ kì diệu” và “ Rung chng vàng” tổng hợp kiến thức cơ
bản trong mỗi kì học, qua các câu hỏi để giải ô chữ, học sinh phải hệ thống được
toàn bộ kiến thức về lịch sử mà các em đã được học. Trị chơi “Ơ chữ kì diệu”
và “ Rung chuông vàng”gây hứng thú trong học tập cho học sinh, giúp các em
dễ nhớ các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử. Từ đó giáo viên cũng đánh giá
chính xác, khách quan về kết quả học tập của các em, động viên khích lệ các em
học tập tốt hơn.
Trên cơ sở đó, sau mỗi kì có bài ơn tập, tôi đã lập ra một số ô chữ để kiểm
tra kiến thức cơ bản về lịch sử và tổ chức cho học sinh giải ơ chữ. Đối với mỗi
trị chơi, giáo viên đưa ra các từ hàng ngang, gợi ý các câu hỏi ở từ hàng ngang,
yêu cầu học sinh trả lời, sau đó các em tìm từ khố hàng dọc nói về các sự kiện
lịch sử hoặc nhân vật lịch sử mà các em đã được học.
Một số ô chữ tôi đã sử dụng trong dạy tiết ôn tập như sau:
* Nhân vật lịch sử:
Trò chơi : Giải ơ chữ và tìm ra từ khố gồm 9 từ hàng ngang:


Ơ chữ


Giải đáp ơ chữ

Chú thích từ hàng ngang:
1. 7 chữ cái: Cơ quan dân cử có quyền lực cao nhất trong nước, làm ra
Pháp luật.
2. 8 chữ cái: Lý Công Uẩn sau khi lên ngôi vua lấy tên là gì?
3. 6 chữ cái: Bài hát chính thức của một nước dùng khi có lễ nghi trọng
thể.
4. 6 chữ cái: Nhân dân tỉnh nào cắm chông chống quân Pháp nhảy dù
trong trận Việt Bắc?
5. 8 chữ cái: Người nữ anh hùng bị Pháp xử bắn năm 16 tuổi là ai?
6. 7 chữ cái: Người đội trưởng đầu tiên của Đội nhi đồng cứu quốc là ai?
7. 10 chữ cái: Anh hùng đánh xe tăng thời chống Pháp là ai?
8. 6 chữ cái: Quê hương của cụ Phan Bội Châu.
9. 11 chữ cái: Tên căn cứ chống giặc nằm sâu dưới lịng đất.
Giải đáp ơ chữ:
( Từ khố: Hồ Chí Minh )
* Sự kiện lịch sử:
Đối với bài ôn về sự kiện lịch sử, bằng trị chơi này, tơi u cầu học sinh
tìm các chữ cái cho các ơ trống để khi ghép lại được câu trả lời đúng cho từng
câu hỏi.
Trị chơi : Giải ơ chữ, tìm từ khố theo hàng dọc:

Ơ chữ

Giải đáp ơ chữ

Gợi ý:
1. Thành phố nằm bên sông Hàn (gồm 6 chữ cái, bắt đầu bằng chữ Đ).
2. Địa danh nghĩa quân Lam Sơn đánh tan quân Minh năm 1428 (gồm 9

chư cái, bắt đầu bằng chữ A).
3. Vị vua nào đã lãnh đạo khởi nghĩa Lam Sơn dành thắng lợi (gồm 5 chữ
cái, bắt đầu bằng chữ L).


4. Nhân vật lịch sử dẹp loạn 12 sứ quân (gồm 10 chữ cái, bắt đầu bằng
chữ Đ).
5. Chiến thắng của quân ta chống quân Nam Hán năm 938 (gồm 8 chữ
cái, bắt đầu bằng chữ B).
6. Lê Lợi lên ngơi vua lấy tên nước là gì? (Gồm 7 chữ cái, bắt đầu bằng
chữ Đ).
7. Người viết 4 câu thơ nổi tiếng được xem là Tuyên ngôn độc lập đầu
tiên của nước ta ở thế kỉ X là ai? (Gồm 12 chữ cái, bắt đầu bằng chữ L).
8. Ai là người viết “Đại cáo bình ngơ”? (Gồm 10 chữ cái).
9. Tổng bí thư Đảng đầu tiên của nước ta là ai? (Gồm 7 chữ cái).
10. Người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa diễn ra năm 40 là ai? (Gồm 10 chữ
cái).
11. Vị tướng lãnh đạo quân Tây Sơn là ai? (Gồm 9 chữ cái).
Giải đáp ơ chữ:
( Từ khố: Điện Biên Phủ )
3. Ví dụ - bài giảng minh họa
Bài 5: PHAN BỘI CHÂU VÀ PHONG TRÀO ĐÔNG DU
I.
MỤC TIÊU
Học xong bài này, học sinh biết:
- Biết Phan Bội Châu là một trong những nhà yêu nước tiêu biểu ở Việt
Nam đầu thế kỷ XX .
- Phong trào Đông du là một phong trào yêu nước, nhằm mục đích chống
thực dân Pháp.
II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC

- Giáo án điện tử.
- Máy tính, máy chiếu …
III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC CHỦ YẾU
1. Kiểm tra bài cũ
- Cho học sinh chơi trị chơi “ Ai
nhanh hơn”.
+ Câu 1: GV chiếu hình chân dung
của một nhà yêu nước và hỏi “ Người trong
ảnh là ai ”. HS giơ tay trả lời. HS khác nhận
xét. GV nhận xét và đưa ra dáp án.( Nguyễn
Trường Tộ)


+ Câu 2; câu 3 làm tương tự câu 1.

Giáo viên nhận xét chung cả lớp và ghi điểm.
2. Bài mới
* Giới thiệu bài:
GV u cầu hs đốn xem ơng là ai.
và lần lượt trình chiếu các dữ kiện 1; 2; 3;
ảnh chân dung. Hs giơ tay trả lời ( Phan
Bội Châu). GV nhận xét  đưa ra đáp án.
Và giới thiệu: Đầu thế kỉ XX, ở nước ta
có hai phong trào chống Pháp tiêu biểu do
hai chí sĩ yêu nước là Phan Bội Châu và
Phan Chu Trinh lãnh đạo. Trong bài học hơm nay chúng ta cùng tìm hiểu về
phong trào yêu nước Đông du do Phan Bội Châu lãnh đạo.
Và để các em hiểu rõ hơn về Phan Bội Châu chúng ta cùng nhau đi vào
hoạt động thứ nhất.
* Hoạt động 1: Tiểu sử Phan Bội Châu

- GV tổ chức cho HS làm việc theo nhóm để giải quyết yêu cầu:
+ Chia sẻ với các bạn trong nhóm thơng tin, tư liệu tìm hiểu được về
Phan Bội Châu. ( Lần lượt từng học sinh trình bày thơng tin sưu tầm được của
mình trước nhóm, cả nhóm cùng theo dõi )
+ Cả nhóm cùng thảo luận, chọn lọc thơng tin để viết thành tiểu sử của
Phan Bội Châu. ( Các thành viên trong nhóm thảo luận để lựa chọn thơng tin và
ghi vào phiếu học tập của nhóm mình )
- GV tổ chức cho HS báo cáo kết quả tìm hiểu trước lớp. ( Đại diện 1
nhóm trình bày ý kiến, các nhóm khác bổ sung ý kiến )
- GV nêu nhận xét phần tìm hiểu của HS, qua đó nêu những nét chính về tiểu
sử Phan Bội Châu: Ông sinh năm 1867 trong một gia đình nhà nho nghèo, giàu
truyền thống yêu nước thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Khi cịn rất trẻ, ơng
đã có nhiệt huyết cứu nước. Năm 17 tuổi Ơng viết hịch “ Bình Tây thu Bắc”- đánh


thắng Pháp lấy lại xứ Bắc- để cổ động nhân dân chống Pháp. Năm 19 tuổi lập đội “
Thí sinh quân” để ứng nghĩa khi kinh thành Huế thất thủ nhưng sự việc không
thành. Năm 1904 ông bắt đầu hoạt động đấu tranh giải phóng dân tộc bằng việc
khởi xướng và lập Hội Duy Tân một tổ chức yêu nước chống Pháp chủ trương theo
cái mới tiến bộ. Ông là người khởi xướng, tổ chức và giữ vai trò trọng yếu trong
phong trào Đông du. Từ năm 1905 đến 1908, phong trào này đã đưa được nhiều
thanh niên ra nước ngoài học để trở về cứu nước.
Sau khi phong trào Đông du tan rã. Phan Bội Châu tiếp tục hoạt động tại
Trung Quốc, Thái Lan. Năm 1925, Ông bị Pháp bắt ở Trung Quốc đưa về Việt
Nam, giam ở Hỏa Lị và định bí mật thủ tiêu ơng. Song do phong trào đấu tranh
mạnh mẽ ở Việt Nam đòi thả Phan Bội Châu nên Pháp đưa ông về giam lỏng ở
Huế.
Ơng mất ngày 29-10-1940 tại Huế.
Vậy phong trào Đơng du là gì, nó diễn ra như thế nào, chúng ta cùng nhau
đi vào hoạt động thứ hai.

* Hoạt động 2: Sơ lược về phong trào Đông du
GV chiếu bản đồ ( có hiệu ứng)
thể hiện phương hướng từ Việt Nam đến
Nhật Bản. Cho học sinh tìm hiểu về
phong trào Đơng du. ( hoạt động tiêu
biểu của Phan Bội Châu là tổ chức đưa
thanh niên Việt Nam sang học ở Nhật
Bản ( một nước phương Đông nên gọi là
phong trào Đông du.))
Tại sao Phan Bội Châu lại chủ
trương dựa vào Nhật Bản để dánh Pháp?
( Nhật Bản trước đây là một nước phong kiến lạc hậu như Việt Nam. Trước âm
mưu xâm lược của các nước tư bản phương Tây và nguy cơ mất nước, Nhật Bản
đã tiến hành cải cách, trở nên cường thịnh. Phan Bội Châu cho rằng: Nhật Bản
cũng là một nước châu Á “ đồng văn, đồng chủng” ( tức là cùng chung nền văn
hóa Á Đơng, cùng chủng tộc da vàng) nên hy vọng vào sự giúp đỡ của Nhật để
đánh Pháp )
Yêu cầu HS hoạt động theo nhóm, cùng đọc SGK và tìm hiểu những nét
chính về phong trào Đơng du dựa theo các câu hỏi gợi ý sau:
+ Phong trào Đông du diễn ra vào thời gian nào? Ai là người lãnh đạo?
Mục đích của phong trào là gì?
( Phong trào Đơng du được khởi xướng từ năm 1905, do Phan Bội Châu lãnh
đạo. Mục đích của phong trào này là đào tạo những người yêu nước có kiến thức
về khoa học ki thuật được học ở nước Nhật tiên tiến, sau đó đưa họ về nước để
hoạt động cứu nước.)


+ Nhân dân trong nước, đặc biệt là các thanh niên yêu nước đã hưởng ứng
phong trào Đông du như thế nào?
( Càng ngày phong trào càng vận động được nhiều người sang Nhật học. Để có

tiền ăn học, họ đã phải làm nhiều nghề kể cả việc đánh giày, rửa bát trong các
quán ăn. Cuộc sống của họ hết sức kham khổ, nhà cửa chật chội, thiếu thốn đủ
thứ. Mặc dù vậy họ vẫn hăng say học tập. Nhân dân trong nước cũng nơ nức
đóng góp tiền của cho phong trào Đông du.
+ Kết quả của phong trào Đông du và ý nghĩa của phong trào này là gì?
( Phong trào Đông du phát triển làm cho thực dân Pháp hết sức lo ngại, năm
1908 thực dân Pháp cấu kết với Nhật chống phá phong trào Đơng du. Ít lâu sau
chính phủ Nhật ra lệnh trục xuất những người yêu nước Việt Nam và Phan Bội
Châu ra khỏi Nhật Bản. Phong trào Đông du tan dã.
Tuy thất bại nhưng phong trào Đông du đã đào tạo được nhiều nhân tài
cho đất nước, đồng thời cổ vũ, khơi dậy lòng yêu nước của nhân dân ta )
* Hoạt động 3: Tổ chức cho hs trình bày kết quả trước lớp.
- GV nhận xét về kết qủa thảo luận của học sinh, sau đó hỏi cả lớp:
+ Tại sao trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn, nhóm thanh niên Việt Nam
vẫn hăng say học tập?
( vì họ có lịng u nước nên quyết tâm học tập để về cứu nước )
+ Tại sao chính phủ Nhật trục xuất Phan Bội Châu và những người du
học?
( Vì thực dân Pháp cấu kết với Nhật chống phá phong trào Đông du )
- GV hỏi HS khá , giỏi: Vì sao phong trào Đơng du thất bại?
- GV giảng thêm: Phong trào Đông du thất bại là vì thực dân Pháp câu kết
với Nhật, đồng ý cho Nhật vào buôn bán ở Việt Nam, cịn Nhật thì cam kết
khơng để cho nhà u nước Việt Nam trú ngụ và hoạt động trên đất Nhật. Sự
thất bại của phong trào Đông du cho chúng ta thấy rằng đã là đế quốc thì khơng
phân biệt màu da, chúng sẵn sàng cấu kết với nhau để áp bức dân tộc ta.
* Hoạt động 4: Củng cố , dặn dị.
Tổ chức cho hs chơi trị chơi “ Ơ chữ kì diệu”
GV đưa ra 5 từ hàng ngang, cho học sinh lựa chọn, học sinh chọn hàng
nào thì sẽ có gợi ý tương ứng, học sinh trả lời đúng sẽ cho ô chữ hiện lên. Lần
lượt hết 5 câu hàng ngang cho học sinh đoán câu chủ đề. ( giáo viên gợi ý, động

viên, khích lệ các em đặc biệt là những em có học lực trung bình để các em hăng
hái tham gia )
* GV nhận xét tiết học, dặn dị học sinh về nhà tìm hiểu q hương và
thời niên thiếu của Nguyễn Tất Thành.


Qua một năm thực hiện đề tài này, tôi nhận thấy một biểu hiện chung là
các em ngày càng thích học môn lịch sử, kết quả kiểm tra tiến bộ rõ rệt. Khơng
có học sinh trung bình và yếu mơn này.
Cụ thể:
Kết quả kiểm tra cuối kì mơn lịch sử các năm học gần đây đạt kết quả như
sau:
KẾT QUẢ:
Sau khi kiểm tra ở lớp tôi dạy thực nghiệm, tôi thu được kết quả như sau:

Số
học sinh
39

Giỏi

Đầu năm

SL
8

%
24

Cuối năm


15

51

Kết quả môn Tiếng Việt
Khá
TB
SL
%
SL
%
15
38
10
25
5

28

3

15

Yếu
SL
4

%
13


1

6

V. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
Trên đây là đề tài ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học môn lịch sử
lớp 5 mà tôi đã thực hiện và đạt được một số kết quả nhất định trong phạm vi
giảng dạy của mình. Đề tài gồm một số cách thức giúp giáo viên nắm được qui
trình thiết kế một bài giảng điện tử và một số bài dạy hoặc phần bài dạy ở mơn
lịch sử thích hợp dùng công nghệ thông tin để khai thác nội dung bài một cách
hiệu quả. Đặc điểm học sinh tiểu học hiện nay là năng động, sáng tạo, ưa thích
cái mới nên việc ứng dụng công nghệ thông tin vào soạn giảng môn Lịch sử đã
mang lại hứng thú cho học sinh, giúp các em chủ động, tích cực khai thác và
nắm vững kiến thức. Kết quả thể hiện bằng điểm số đã minh chứng điều này.
2. NHỮNG KHUYẾN NGHỊ:
Qua thực hiện đề tài này, tơi có một số đề nghị như sau:
- Giáo viên chúng ta cần tích cực tự bồi dưỡng nâng cao trình độ tin học
cho mình.
- Nếu những gì mà bảng đen phấn trắng thể hiện được thì khơng nên lạm
dụng cơng nghệ thơng tin.
- Máy móc chỉ là phương tiện hỗ trợ cịn chủ đạo vẫn là người thầy.
Người thầy cần nghiên cứu phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với đặc
điểm lớp, với từng nhóm đối tượng học sinh để dẫn dắt học sinh tích cực lĩnh
hội kiến thức.


- Các cấp lãnh đạo cần tập trung đầu tư hơn nữa về mặt trang bị máy móc
đến từng lớp học để việc sử dụng CNTT của giáo viên trong tiết dạy có hiệu

quả, tránh việc mất thời gian lắp đặt không cần thiết.
- Đề tài này giới hạn ở mơn lịch sử. Bên cạnh đó ở tiểu học có rất nhiều
mơn cũng rất thích hợp ứng dụng cơng nghệ thơng tin vào dạy học như khoa
học, địa lí…Bản thân rất mong các thầy cô đồng nghiệp cùng tham gia nghiên
cứu để đóng góp thêm những kinh nghiệm cho mơn lịch sử cũng như tất cả các
môn học ở tiểu học.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
6.

Sách giáo khoa lịch sử lớp 5.
Tác giả: Nguyễn Anh Dũng ( chủ biên )
Sách giáo viên lịch sử lớp 5.
Tác giả: Nguyễn Anh Dũng ( chủ biên )
Thiết kế bài giảng Lịch sử 5.
Tác giả: Nguyễn Trại ( chủ biên )
Lịch sử Việt Nam
Nhà xuất bản Giáo dục
Danh nhân Đất Việt
Nhà xuất bản Giáo dục
Internet
Dân Hòa, ngày 17 tháng 3 năm 2018.
Người viết

Nguyễn Thùy Dung


Xác nhận của thủ trưởng đơn vị
……………………………………….
……………………………………….
………………………………………
………………………………………

Dân hòa, ngày 20 tháng 3 năm 2017
Tơi xin cam đoan đây là SKKN
của mình viết, không sao chép nội
dung của người khác.


……………………………………….
……………………………………….
Nguyễn Thùy Dung
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TRƯỜNG
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Chủ tịch hội đồng
( Kí tên, đóng dấu )

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NGÀNH GIÁO DỤC HUYỆN
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Chủ tịch hội đồng
( Kí tên, đóng dấu )



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×