Tải bản đầy đủ (.docx) (13 trang)

Bài thu hoạch diễn án hồ sơ dân sự 07 tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản (hoàng thị hảo, nguyễn văn nguyệt)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (102.21 KB, 13 trang )

HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn
Mã số hồ sơ
Diễn lần
Ngày diễn

: DÂN SỰ
: LS.DS 07/B4.TH4_DA1/HNGĐ
:
:

TRANH CHẤP
LY HÔN, NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN
Nguyên đơn: HOÀNG THỊ HẢO (NGUYỄN THỊ HẢO)
Bị đơn: NGUYỄN VĂN NGUYỆT
Vai trò của luật sư:
LUẬT SƯ ĐẠI DIỆN CHO NGUYÊN ĐƠN
Họ và tên
Ngày sinh
Lớp
SBD

:
:
:
:



MỤC LỤC


I.

TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN VÀ KẾT QUẢ NGUYÊN CỨU HỒ SƠ
1. Đương sự tham gia tố tụng
Nguyên đơn: (Chị) Hồng Thị Hảo.
Bị đơn: (Anh) Nguyễn Văn Nguyệt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
− (Bà) Nguyễn Thị Thoa và (Ông) Nguyễn Văn Cang;
− UBND Thành phố Hải Dương, đại diện.
2. Tóm tắt nội dung
Ngày 26/03/1999, chị Hồng Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt đăng ký kết hôn

tại UBND xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách (nay là Thành phố Hải Dương), tỉnh Hải
Dương. Việc kết hôn này dựa trên sự tự nguyện của 2 người.
Sau khi kết hơn và chung sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, hai
người sống ly thân hơn 01 năm kể từ năm 2014.
Ngày 02/01/2016 chị Hảo khởi kiện vụ án ra Toà án nhân dân Thành phố Hải Dương
và vụ án được thông báo thụ lý ngày 10/01/2016.
Về con chung: 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi (sinh ngày 04/01/2000) và Nguyễn
Đức Anh (sinh ngày 13/06/2007).
− Kể từ khi ly thân, cháu Nhi đang sống cùng chị Hảo. Cháu Nhi có đơn đề nghị
được ở với mẹ (BL 30).
− Kể từ khi ly thân, cháu Đức Anh sống cùng anh Nguyệt. Cháu Đức Anh có đơn dề
nghị ở với mẹ, sau làm đơn đề nghị ở với bố (BL 31-32).
Về tài sản chung:
− Chị Hảo xác định:
+ Nhà đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m 2 tại xã Thượng Đạt,

thành phố Hải Dương. Tài sản gắn liền trên đất bao gồm: 01 ngơi nhà 18m 2 lợp
ngói, 1 gian bếp và nhà vệ sinh khoảng 10m 2, 1 giếng khơi, 1 bể xây gạch xi măng
khoảng 1,6m3;
+ 1965m2 đất ruộng, ao khoán có địa chỉ tại: Bãi Nam, khu 02 Thượng Triệt, xã
Thượng Đạt, Tp. Hải Dương để sử dụng vào mục đích chuyển đổi cơ cấu cây
trồng. Sau, anh Nguyệt và chị Hảo làm đơn đề nghị Tịa án khơng giải quyết về tài
sản này.
− Anh Nguyệt xác định:
+ Khơng có tài sản chung là thửa đất số 496;
3


+ Tài sản chung chỉ bao gồm 01 ngôi nhà 18m2 lợp ngói, 1 gian bếp và nhà vệ
sinh khoảng 10m2, 1 giếng khơi, 1 bể xây gạch xi măng khoảng 1,6m3.
Về nợ chung: Khoản nợ đối với ngân hàng Agribank: nợ gốc 20.000.000 và số tiền
lãi phát sinh cho đến khi tất tốn hợp đồng. Đã hồn thành trả vào 28/06/2016 và ngân
hàng Agribank đã hoàn trả lại GCNQSDĐ đối với thửa đất 496 (BL 148-154).
Sau nhiều phiên hoà giải khơng thành, ngày 03/08/2017 Tồ án nhân dân Thành phố
Hải Dương đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo Quyết định số: 73/2017/QĐST-DS.
3. Luật áp dụng để giải quyết vụ án
− Luật hơn nhân gia đình năm 2014 (Luật HNGĐ 2014) và các văn bản hướng dẫn.
− Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015) và các văn bản hướng dẫn.
4. Quan hệ pháp luật tranh chấp
− u cầu cơng nhận thuận tình ly hơn;
− Tranh chấp nuôi con chung;
− Tranh chấp chia tài sản chung.
5. Đánh giá điều kiện khởi kiện
5.1. Quyền khởi kiện vụ án
Chị Hồng Thị Hảo có quyền khởi kiện vụ án theo quy định tại Điều 186 BLTTDS
2015.

5.2. Thẩm quyền giải quyết của toà án
− Vụ án thuộc trường hợp yêu cầu cơng nhận thuận tình ly hơn, thỏa thuận ni con,
chia tài sản khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại
khoản 2 Điều 29 BLTTDS 2015.
− Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện theo quy định
tại điểm a khoản 1 Điều 37.
− Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nơi bị đơn cư trú theo quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 39.
Từ các căn cứ trên Tồ án có thẩm quyền giải quyết cấp sơ thẩm đối với tranh chấp
này là Toà án nhân dân TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
5.3. Thời hiệu khởi kiện
Vụ án này không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Dân
sự năm 2015.
4


5.4. Thủ tục tiền tố tụng
Theo quy định tại Điều 52 Luật HNGD 2014, khơng bắt buộc phải có thủ tục hoà giải
trước khi nộp đơn khởi kiện ra toà trong vụ án này.
6. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
− Ly hôn với anh Nguyễn Văn Nguyệt;
− Nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh Nguyệt cấp dưỡng;
− Chia đôi tài sản chung là thửa đất 496 bằng hiện vật, khơng u cầu giải quyết các
tài sản cịn lại.
7. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Các chứng cứ ban đầu chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và
hợp pháp bao gồm:
− Bản sao sổ hộ khẩu gia đình số 270056469 (BL 05-07) – xác minh tư cách cá nhân
của chị Hảo
− Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn ngày 26/03/1999 (BL 02) – hôn nhân giữa anh

Nguyệt và chị Hảo là tự nguyện và đúng pháp luật;
− Bản sao Giấy khai sinh cháu Nhi số 73 quyển số 2014 và cháu Nguyễn Đức Anh
số 38 quyển số 2007 (BL 03-04) – chứng minh về con chung;
− Đơn đề nghị của cháu Nhi (BL 30) – chứng minh mong muốn được ở với mẹ của
cháu Nhi;
− Đơn đề nghị của cháu Đức Anh (BL 31) – chứng minh mong muốn được ở với mẹ
của cháu Đức Anh;
− Bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 496 đứng tên anh
Nguyễn Văn Nguyệt và chị Hoàng Thị Hảo (BL 08-11) – chứng minh về tài sản
chung.

5


II. DỰ KIẾN KẾ HOẠCH HỎI
Mục đích: Làm sáng tỏ các sự việc, đồng thời chứng minh yêu cầu của Ngun đơn chị Hồng Thị Hảo là có căn cứ và hợp pháp.
1. Hỏi nguyên đơn – chị Hoàng Thị Hảo
− Chị Hảo cho biết, tại sao chị lại quyết định ly hôn?
− Chị cho biết, hiện tại chị đang làm cơng việc gì? Ở đâu? Mức thu nhập là bao
nhiêu?
− Kể từ khi ly thân, chị sống ở đâu? Cùng với ai?
− Kể từ khi ly thân, chị có gặp cháu Đức Anh không?
− Ai là người kê khai để cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 496?
− Kể từ khi biết anh chị được cấp GCNQSDĐ, có ai có ý kiến gì khơng? Có tranh
chấp gì khơng?
− Trong q trình ở trên diện tích đất, anh chị đã tơn tạo và xây dựng những gì? Có
ai có ý kiến gì khơng?
2. Hỏi bị đơn – anh Nguyễn Văn Nguyệt
− Anh Nguyệt cho biết, anh có thường xuyên chơi bài, uống rượu không?
− Anh cho biết, trong thời gian hơn nhân, anh có từng có hành vi đánh chị Hảo

khơng?
− Kể từ khi ly thân, cháu Đức Anh có được gặp mẹ không? Cháu được gặp mẹ mấy
lần?
− Việc anh chị được cấp GCNQSDĐ, có ai có ý kiến gì khơng? Có tranh chấp
khơng?
3. Hỏi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị Thoa
− Bà có biết việc anh Nguyệt và chị Hảo được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số
496 không?
− Việc vợ chồng anh chị Nguyệt – Hảo xây nhà trên thửa đất số 496, bà có ý kiến gì
khơng?
− Từ lúc vợ chồng anh chị Nguyệt – Hảo được cấp GCNQSDĐ đến trước khi ly
thân, bà có ý kiến gì khơng?
− Từ năm 1999 đến nay, bà có thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đất đối với thửa đất này
không?
4. Hỏi người làm chứng
6


Hỏi ơng Bích – cơng chức địa chính xã Thượng Đạt
− Sau khi vợ chồng anh chị Nguyệt – Hảo được cấp GCNQSDĐ, UBND xã có nhận
được bất kỳ ý kiến, thư khiếu nại nào khơng?
− Ơng cho biết, có tranh chấp gì đối với thửa đất số 496 khơng?
Hỏi ông Tư – cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt
− Ông cho biết, việc anh Nguyệt đánh và không cho cháu Đức Anh gặp chị Hảo có
được nhiều người biết không?

7


III. DỰ THẢO BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ CHO NGUYÊN ĐƠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BẢN LUẬN CỨ
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ngun đơn chị Hồng Thị Hảo
trong vụ án dân sự sơ thẩm “Tranh chấp ly hơn, ni con, chia tài sản”
Kính gửi:

– HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TAND TP HẢI DƯƠNG
– CHỦ TOẠ - THẨM PHÁN …
– ĐẠI DIỆN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TP HẢI DƯƠNG

Kính thưa Hội đồng xét xử, vị đại diện Viện kiểm sát và các vị Luật sư đồng nghiệp,
Tôi là Luật sư … thuộc Văn phịng Luật sư …, Đồn Luật sư …, hôm nay đến đây
tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Hồng Thị Hảo - là nguyên đơn trong
vụ án dân sự sơ thẩm “Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản” với bị đơn là anh
Nguyễn Văn Nguyệt.
Vụ án hiện đang được TAND TP Hải Dương tỉnh Hải Dương thụ lý và giải quyết
theo thủ tục sơ thẩm theo hồ sơ thụ lý số 02/TB-TLVA ngày 10 tháng 1 năm 2016. Nay
được đem ra xét xử theo Quyết định số 73/2017/QĐST-DS, ký ngày ngày 03 tháng 08
năm 2017.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với các quy
định pháp luật hiện hành và qua diễn biến thực tế của phiên tịa hơm nay, tơi trình bày
quan điểm bảo vệ cho ngun đơn như sau:
Về u cầu ly hơn:
Chị Hồng Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt đăng ký kết hôn hợp pháp với nhau
trên cơ sở tự nguyện theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 26/03/1999. Tuy nhiên,
chỉ sau 02 năm, đời sống hôn nhân của anh Nguyệt và chị Hảo đã nảy sinh nhiều mâu
thuẫn.
Theo như lời trình bày của cả hai bên thì quan hệ hơn nhân của vợ chồng anh Nguyệt

và chị Hảo đã mâu thuẫn đến mức đỉnh điểm, khơng thể hịa giải được. Hai anh chị đã ly
thân từ ngày 14/12/2014. Từ đó đến nay, chị Hảo xác định tình cảm vợ chồng khơng cịn,
hai vợ chồng khơng cịn quan tâm đến nhau nữa. Vì vậy, chị Hảo có mong muốn được ly

8


hôn với anh Nguyệt. Anh Nguyệt cũng xác nhận không cịn tình cảm vợ chồng và cũng
đồng ý với u cầu ly hơn của chị Hảo.
Do vậy, có thể khẳng định rằng hôn nhân của hai bên đã lâm vào tình trạng trầm
trọng, đời sống chung khơng thể kéo dài, mục đích của hơn nhân khơng đạt được. Do
vậy, tơi kính đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ 2014 và
các chứng cứ tại hồ sơ cũng như ý chí của hai bên tại phiên tịa hơm nay, chấp nhận u
cầu ly hơn của anh Nguyệt và chị Hảo.
Về việc nuôi con chung:
− Đối với cháu Nguyễn Thị Nhi
Cháu Nguyễn Thị Nhi sinh ngày 04/01/2000, là con chung của anh Nguyệt và chị
Hảo trong thời kỳ hơn nhân.
Trong q trình giải quyết vụ án, anh Nguyệt và chị Hảo đã đạt được thỏa thuận về
việc chị Hảo sẽ tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nhi, thể hiện tại các biên bản hòa giải (BL 115120, 138-142, 175-177).
Đồng thời, cháu Nhi cũng có đề nghị được ở với mẹ thông qua Đơn đề nghị (BL 30)
và xét khả năng kinh tế cũng như các yếu tố khác của chị Hảo thì có thể đáp ứng tốt việc
nuôi dạy cháu Nhi.
− Đối với cháu Nguyễn Đức Anh
Cháu Nguyễn Đức Anh sinh ngày 13/06/2007, là con chung của anh Nguyệt và chị
Hảo trong thời kỳ hôn nhân, tính đến thời điểm hiện tại cháu Đức Anh đã trên 07 tuổi.
Thứ nhất, theo đơn đề nghị (BL 31) và Biên bản lấy lời khai (BL 166), có thể thấy
được nguyện vọng của cháu Đức Anh, “nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu xin được ở với mẹ
cháu”. Hiện nay cháu Đức Anh đang trong độ tuổi phát triển nhận thức của trẻ nhỏ là độ
tuổi khá nhạy cảm về dễ bị ảnh hưởng về tâm lý và tính cách. Trong bối cảnh cha mẹ ly

hôn, việc cháu được ở cùng với mẹ và chị gái sẽ tốt hơn cho cháu và bản thân cháu cũng
đã thể hiện nguyện vọng được ở với mẹ tại biên bản lấy lời khai của Q tịa ngày
05/07/2016 (BL 166) có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Thoa là bà nội của cháu.
Thứ hai, về vấn đề kinh tế và khả năng nuôi dưỡng, hiện nay, chị Hảo đang sống ở
nhà mẹ đẻ và có cơng việc với mức lương khá và nơi ở ổn định, cùng với đó là sự giúp
đỡ của mẹ ruột chị trong việc trông nom, nuôi dạy các cháu. Điều này thể hiện ở phần xét
hỏi tại phiên tịa ngày hơm nay, biên bản lấy lời khai của chị Hảo (BL 108-109). Nói cách
khác, chị Hảo hồn tồn có đủ điều kiện để ni dưỡng cháu Đức Anh.
Ngoài ra, trong thời gian qua khi cháu Đức Anh ở với bố, anh Nguyệt đã không cho
chị Hảo gặp cháu, nếu chị Hảo gặp thì anh Nguyệt sẽ đánh, hành hạ cháu bé. Điều này
chính quyền và bà con hàng xóm láng giềng đều biết và ơng Đỗ Văn Tư - cán bộ tư pháp
9


xã Thượng Đạt cũng đã xác nhận thực tế này thông qua biên bản xác minh ngày
09/03/2016 (BL 73-74). Như vậy, nếu như anh Nguyệt được giao nuôi cháu Đức Anh thì
sau khi ly hơn, quyền được thăm nom, chăm sóc, ni dưỡng, giáo dục cháu Đức Anh
của chị Hảo theo khoản 2 Điều 83 Luật HNGĐ 2014 không được bảo đảm.
Như vậy, việc chị Hảo yêu cầu nuôi cả 2 con chung là cháu Nhi và cháu Đức Anh và
khơng cần cấp dưỡng là hồn tồn phù hợp với các quy định pháp luật cũng như thực tế
hiện tại và mong muốn của cháu Đức Anh và cháu Nhi. Tơi kính đề nghị Hội đồng xét xử
căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật HNGĐ 2014 chấp nhận yêu cầu của chị Hảo.
Về việc yêu cầu chia đôi tài sản chung:
Tài sản chung yêu cầu phân chia sau khi ly hơn của anh Nguyệt và chị Hảo chỉ có
ngơi nhà và các cơng trình phụ nằm trên thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích
216m2, có địa chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
Thứ nhất, vợ chồng anh chị Nguyệt – Hảo được ông bà Cang – Thoa cho thửa đất số
496 để xây nhà và sinh sống.
Chị Hảo và anh Nguyệt đều thống nhất rằng anh chị đã được bố mẹ chồng là bà
Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Cang cho vợ chồng xây dựng nhà và cơng trình

phụ để ra ở riêng từ năm 1999 sau khi kết hôn. Điều này cũng đã được thể hiện qua Biên
bản lấy lời khai của ơng Ơng Đỗ Văn Tỏ (BL 69-70), là anh em trong họ với anh Nguyệt
xác nhận cùng với Biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Văn Giới (BL 67-68) và một số
thợ khác đã xây nhà và cơng trình phụ cho hai vợ chồng năm 1999.
Thứ hai, thửa đất này đã được cấp GCNQSDĐ cho hai vợ chồng chị Hảo và anh
Nguyệt từ năm 2005 một cách hợp pháp và trong suốt thời gian đó đến này không hề phát
sinh bất kỳ tranh chấp nào.
− Ngày 31/12/2005, UBND huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương đã cấp cho anh
Nguyễn Văn Nguyệt và chị Hoàng Thị Hảo GCNQSDĐ đối với thửa đất số 496,
tờ bản đồ số 1, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt. Cơng văn ngày 10/6/2016 của
Phịng Tài ngun và Mơi trường UBND TP. Hải Dương (BL 133-134) đã xác
nhận với Quý tòa về việc cấp GCNQSDĐ cho thửa số 496 nói trên cho anh
Nguyệt và chị Hảo trong khuôn khổ cấp đồng loạt cho cả 30 hộ dân trong xã
Thượng Đạt bảo đảm đúng quy định của pháp luật và không chấp nhận yêu cầu
hủy GCNQSDĐ này của anh Nguyệt, bà Thoa và ông Cang.
− Tại buổi hòa giải ngày 19/5/2016 do Quý tòa thực hiện (BL 115-120) , bà Thoa
nêu rằng đã biết việc anh Nguyệt và chị Hảo được cấp GCNQSĐ và bà Thoa và
mọi người trong gia đình khơng ai có ý kiến phản đối hay thắc mắc gì, khơng ai
tranh chấp gì. Bên cạnh đó, tại biên bản xác minh ngày 23/6/2016 (BL 163-164)
10


ông Bích cán bộ địa chính xã Thượng Đạt xác nhận kể từ khi được cấp
GCNQSDĐ đến nay anh Nguyệt và chị Hảo sử dụng đất ổn định khơng có tranh
chấp với các hộ giáp ranh cũng như với ông Cang, bà Thoa và các thành viên khác
trong gia đình anh Nguyệt khơng có bất kỳ ý kiến nào.
− Cơng văn ngày 10/6/2016 (BL 133-134) nói trên của Phịng Tài nguyên và Môi
trường cũng nêu rõ ông Cang, bà Thoa đã biết việc anh Nguyệt chị Hảo được cấp
GCNQSDĐ nhưng tất cả đều khơng có ý kiến về việc cấp GCNQSDĐ nêu trên và
các thành viên trong gia đình ơng Cang, bà Thoa khơng ai có tranh chấp hay ý

kiến phản đối gì.
Như vậy, các tài liệu và chứng cứ nêu trên cho thấy rõ ràng rằng bà Thoa và ông
Cang đã giao lại toàn bộ thửa đất số 496 cho vợ chồng chị Hảo và anh Nguyệt sau khi hai
người kết hôn năm 1999. Hai vợ chồng đã xây dựng một nhà 18m 2 lợp ngói kiên cố, 1
gian bếp và nhà vệ sinh, 1 giếng khơi và 1 bể xây gạch xi măng trên thửa đất này. Bà
Thoa, ông Cang và các thành viên trong gia đình anh Nguyệt đều biết việc xây dựng này
và khơng ai có ý kiến gì.
Thứ ba, trong thời gian sống trên thửa đất số 496, chị Hảo góp cơng tơn tạo cho thửa
đất cùng anh Nguyệt.
Lúc ban đầu thửa đất này là đất thùng vũng sâu (đất ao) mới chỉ được san lấp được
một phần để xây nhà và cơng trình phụ. Hai vợ chồng chị Hảo và anh Nguyệt hàng năm
đã bỏ công sức và tiền ra tôn tạo mảnh đất mới được như hiện nay. Tại bản xác minh của
Quý tịa ngày 9/3/2016 (BL 75-76), ơng Nguyễn Văn Bích, cán bộ địa chính xã Thượng
Đạt đã xác nhận rằng thửa đất này trước đây là thùng vũng.
Và tại biên bản lấy lời khai của Quý tòa ngày 9/3/2016 (BL 71-72), ông Đỗ Văn Tạo
là hàng xóm của hai vợ chồng đã nêu rõ tại thời điểm năm 2002 chị Nguyệt và anh Hảo
đã ở trên thửa đất được một thời gian và khi đó diện tích thùng vũng chiếm khoảng ¾
thửa đất, ông Tạo đã giúp phun bùn bồi lắp và đến năm 2004 có thấy hai vợ chồng tiếp
tục đắp thêm cho thửa đất thùng vũng này.
Trong quá trình ở từ năm 1999, chị Hảo và anh Nguyệt đã có nhiều cơng tơn tạo để
biến thửa đất thùng vũng này thành đất ở như hiện nay. Kể từ khi được cấp GCNQSDĐ
năm 2005 đến khi có việc ly hơn của chị Hảo và anh Nguyệt đã hơn 10 năm, vợ chồng
chị Hảo và anh Nguyệt đã sử dụng nhà, đất liên tục, cơng khai, ổn định, gia đình bà Thoa,
ơng Cang cũng khơng ai có khiếu nại gì về việc cấp đất, xây nhà này. Điều đó thể hiện ý
chí của gia đình bà Thoa, ơng Cang là đã cho vợ chồng chị Hảo anh Nguyệt diện tích đất
nêu trên.
Dựa trên những tài liệu trên tóm lại có thể thấy,
11



Một, từ năm 1999, vợ chồng anh chị Nguyệt – Hảo được bố mẹ là ông bà Cang –
Thao cho diện tích đất – cụ thể là thửa đất số 496, anh chị Nguyệt – Hảo đã xây nhà và
sinh sống lâu dài trên thửa đất này.
Hai, trong suốt quá trình sinh sống, cũng như thời điểm anh chị Nguyệt – Hảo được
cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 496, khơng có bất kỳ ai có ý kiến hay tranh chấp gì,
đồng thời UBND xã Thượng Đạt cũng khơng nhận được bất kỳ khiếu nại nào về việc cấp
GCNQSDĐ cho anh chị Nguyệt – Hảo. GCNQSDĐ nói trên được cấp hợp pháp và đúng
thủ tục pháp luật.
Ba, trong thời gian sinh sống, anh chị Nguyệt – Hảo là người đứng ra thực hiện các
nghĩa vụ đóng thuế đối với thửa đất số 496. Đồng thời hai anh chị cũng thực hiện việc tơn
tạo cho thửa đất.
Do đó, tơi kính đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 33; khoản 2,
khoản 3 Điều 59 Luật HNGĐ chấp nhận yêu cầu của chị Hảo.
Từ những phân tích nêu trên, toàn bộ yêu cầu của chị Hảo, cụ thể là:
1. Ly hôn anh Nguyễn Văn Nguyệt;
2. Nuôi 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi và cháu Nguyễn Đức Anh, không yêu
cầu anh Nguyệt cấp dưỡng;
3. Chia đôi tài sản chung là thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, có địa
chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương bằng hiện vật.
Là hồn tồn hợp lý và hợp pháp.
Vì vậy, tơi kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết và chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn – chị Hồng Thị Hảo.
Trên đây là phần trình bày quan điểm của tơi đối với vụ án, kính mong Hội đồng xét
xử xem xét, giải quyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngun đơn.
Tơi xin cảm ơn Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng và tham gia phiên tòa
đã chú ý lắng nghe ý kiến của tôi.

12



IV. NHẬN XÉT VỀ VIỆC ĐÓNG VAI TẠI PHIÊN DIỄN ÁN
1. Nhận xét chung về buổi diễn án
2. Chủ toạ phiên toà
3. Hội thẩm nhân dân
4. Thư ký phiên toà
5. Kiểm sát viên
6. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Hảo
7. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Nguyệt
8. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
9. Luật sư của nguyên đơn
10. Luật sư của bị đơn

13



×