Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

Tài liệu Đề án môn học: : Mục tiêu sản lượng và việc làm của Việt Nam pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (224.86 KB, 25 trang )

Đề án môn học
Mục tiêu sản lượng và việc
làm của Việt Nam

1


MỤC LỤC
PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU.............................................................................................2
PHẦN II NỘI DUNG................................................................................................3
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ CÁC MỤC TIÊU KINH TẾ VĨ MÔ CHỦ YẾU...........3

1.1. Giới thiệu mơn học, vị trí của mơn học trong chương trình Đại học.........3
1.1.1 Giới thiệu mơn học...................................................................................3
1.1.2. Vị trí của mơn học trong chương trình học đại học.................................3
1.2. Phân tích các chức năng của chính phủ và các mục tiêu kinh tế vĩ mô chủ yếu.
...........................................................................................................................4
1.2.1. Phân tích các chức năng của chính phủ được thể hiện bằng 3 chức năng.
...........................................................................................................................4
1.2.2. Các mục tiêu kinh tế vĩ mơ chủ yếu........................................................5
1.3. Trình bày một số chỉ tiêu đo lường sản lượng quan trọng và vai trò của
việc xác định các chỉ tiêu đó trong phân tích kinh tế vĩ mô..............................6
1.3.1. Một số chỉ tiêu đo lường sản lượng quan trọng.......................................6
1.3.2. Vai trò của GNP và GDP trong phân tích kinh tế vĩ mơ.........................8
1.4. Trình bày các vấn đề liên quan đến thất nghiệp phân tích các biện pháp hạ
thấp tỷ lệ thất nghiệp.........................................................................................8
1.4.1. Các vấn đề liên quan đến thất nghiệp......................................................8
1.4.2. Các biện pháp hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp.................................................10
1.5. Phân tích mối quan hệ giữa mục tiêu sản lượng và mục tiêu việc làm....11
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN MỤC TIÊU SẢN LƯỢNG VÀ VIỆC
LÀM CỦA VIỆT NAM THỜI KỲ 2005 - 2008.........................................................12



2.1. Nhận xét chung về tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam để đưa ra lý do
phải thực hiện mục tiêu sản lượng và việc làm trong thời kỳ 2005 - 2008.....12
2.2 Trình bày các chính sách mà chính phủ Việt Nam đã sử dụng để thực hiện
hai mục tiêu trên..............................................................................................13
2.3. Thu thập số liệu về GNP (GDP), tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất
nghiệp của Việt Nam thời kỳ 2005 - 2008......................................................15
2.4. Phân tích số liệu thu thập được và trình bày quan điểm của mình về cách
sử dụng chính sách nhằm vào mục tiêu sản lượng và việc làm.......................17
2.4.1. Phân tích số liệu thu thập được.............................................................17
2.4.2. Quan điểm về cách sử dụng chính sách về mục tiêu sản lượng và việc
làm...................................................................................................................19
2


PHẦN III KẾT LUẬN............................................................................................21

Kết luận...............................................................................................................21
Kiến nghị:............................................................................................................22

3


PHẦN I

LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, khi đất nước ta đang bước vào một nền kinh tế mở, một nền kinh
tế tồn cầu hố, địi hỏi mỗi cá nhân khi bước vào nền kinh tế phải có sự hiểu
biết nhất định về nó.
Kinh tế học nghiên cứu sự lựa chọn các nguồn lực khan hiếm của con

người nhằm giải quyết 3 vấn đề kinh tế cơ bản của xã hội là: sản xuất cái gì? sản
xuất như thế nào và sản xuất cho ai?
Trong kinh tế học có kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô. Kinh tế học vi
mô nghiên cứu các hành vi đơn lẻ của các hộ gia đình và các doanh nghiệp. Cịn
kinh tế học vĩ mô, lại nghiên cứu nền kinh tế dưới góc độ tổng thể, nghiên cứu
các vấn đề chủ yếu của một quốc gia như tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp ảnh
hưởng của các chính sách kinh tế, xuất nhập khẩu hàng hoá và sự phân phối
nguồn lực và phân phối thu nhập giữa các thành viên trong xã hội.
Việc tìm hiểu về mục tiêu sản lượng và việc làm của Việt Nam là việc đánh
giá một phần nào đó về nền kinh tế Việt Nam, qua đó thấy được các chính sách
của chính phủ Việt Nam để thực hiện 2 mục tiêu trên có gì là đúng hay cịn có
những phần chưa đúng. Để đánh giá một cách chính xác nhất, đầy đủ và đúng
đắn nhất đòi hỏi mỗi sinh viên khi làm về đề tài này cần phải có sự lựa chọn
đúng đắn và phải có hiểu biết, có sự tìm tịi về các hoạt động kinh tế một cách
đầy đủ và có hệ thống. Việc phân tích mục tiêu sản lượng và việc làm giúp mỗi
sinh viên, những người tri thức trẻ biết cách điều tiết nền kinh tế sao cho có sự
cân đối giữa chúng bằng chính năng lực, sự hiểu biết và lịng nhiệt tình của lớp
trẻ.

4


PHẦN II

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ CÁC MỤC TIÊU
KINH TẾ VĨ MƠ CHỦ YẾU
1.1. Giới thiệu mơn học, vị trí của mơn học trong chương trình Đại học.
1.1.1 Giới thiệu môn học.
Đối tượng nghiên cứu của kinh tế học vĩ mô: Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu

sự vận động và những mối quan hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trên bình
diện tồn bộ nền kinh tế quốc dân hay nói một cách khác kinh tế học vĩ mô
nghiên cứu sự lựa chọn của mỗi quốc gia trước những vấn đề kinh tế xã hội cơ
bản như: tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp, xuất nhập khẩu hàng hoá và tư bản,
sự phân phối nguồn lực và phân phối thu nhập giữa các thành viên trong xã hội.
Trong đó tỷ lệ thất nghiệp, mức tăng trưởng của một quốc gia là bao nhiêu
năm ... gọi là nhận định thực chúng. Các nhận định mang tính chủ quan tuỳ
thuộc vào đạo lý, tôn giáo như tỷ lệ lạm phát ở mức nào là phù hợp... được gọi
là nhận định chuẩn tắc.
Phương pháp nghiên cứu của kinh tế học vĩ mơ: Trong khi phân tích các
hiện tượng và mối quan hệ kinh tế quốc dân, kinh tế học vĩ mơ sử dụng chủ yếu
phương pháp phân tích cân bằng đồng thời của tất cả các thị trường hàng hoá và
các nhân tố, xem xét đồng thời khả năng cung cấp và sản lượng của toàn bộ nền
kinh tế, từ đó xác định đồng thời giá cả và sản lượng cân bằng. Ngồi ra kinh tế
học vĩ mơ cũng sử dụng những phương pháp nghiên cứu phổ biến như: tư duy
trừu tượng, phương pháp phân tích thống kê số lớn, mơ hình hố kinh tế.
1.1.2. Vị trí của mơn học trong chương trình học đại học.
Mơn học kinh tế vĩ mô giúp cho mỗi sinh viên khi được học về nó có thể đánh
giá được tình hình kinh tế của quốc gia. Kinh tế học còn liên quan chặt chẽ với
nhiều môn khoa học xã hội khác như: Triết học, kinh tế chính trị, sử học, xã hội
học... nên khi tìm hiểu về mơn học kinh tế vĩ mơ giúp cho ta hiểu thêm về xã hội.
Một quốc gia có thể có những lựa chọn khác nhau tuỳ thuộc vào ràng buộc
của họ về các nguồn lực kinh tế và hệ thống chính trị, xã hội. Kinh tế học vĩ mô
5


sẽ cung cấp những kiến thức và công cụ phân tích kinh tế.
1.2. Phân tích các chức năng của chính phủ và các mục tiêu kinh tế vĩ
mô chủ yếu.
1.2.1. Phân tích các chức năng của chính phủ được thể hiện bằng 3

chức năng.
* Chức năng hiệu quả.
Khi thất bại của cơ chế thị trường xuất hiện làm giảm hiệu quả của sản xuất
và tiêu dùng, tình trạng này xuất hiện khi có cạnh tranh khơng hồn hảo hay có
nhân tố độc quyền, để khắc phục tình trạng này, chính phủ có thể đề ra các đạo
luật chống độc quyền.
Hạn chế "tác động bên ngoài" là những tác động, những ảnh hưởng diễn ra
bên ngoài thị trường của hoạt động của doanh nghiệp hoặc cá nhân mà doanh
nghiệp hoặc cá nhân này khơng phải trả đúng chi phí hoặc nhận đúng số tiền cần
được trả của những tác động này. Để hạn chế tác động bên ngồi chính phủ đề ra
luật lệ điều tiết nhằm ngăn chặn những tác động tiêu cực như ơ nhiễm nước
khơng khí, chất thải gây nguy hiểm, các chất phóng xạ.... Ví dụ một nhà máy
điện chạy bằng than nhả khói làm ơ nhiễm mơi trường xung quanh mà khơng
phải trả lệ phí cho những người sống xung quanh đó.
* Chức năng cơng bằng.
Trong nền kinh tế thị trường hàng hoá được phân phối cho những người có
nhiều tiền mua nhất. Như vậy ngay cả khi một cơ chế thị trường đang hoạt động
có hiệu quả thì nó cũng có thể dẫn tới sự bất bình đẳng lớn. DO vậy biện pháp
thu thuế và chi tiêu của chính phủ sẽ ảnh hưởng tới việc phân phối trong nền
kinh tế. Biện pháp thu thuế sẽ lấy đi một số hàng hố dịch vụ của một nhóm
người thu hẹp khả năng mua sắm của họ, việc chi tiêu các khoản thuế sẽ tăng
thêm việc tiêu dùng hàng hố và dịch vụ của nhóm dân cư khác.
* Chức năng ổn định.
Ngồi chức năng hiệu quả và cơng bằng chính phủ cịn có chức năng kinh
tế vĩ mơ là duy trì cịn có chức năng kinh tế vĩ mơ là duy trì sự ổn định kinh tế.
Chính phủ có thể sử dụng các chính sách tài khố và tiền tệ và điều chỉnh sản
6


lượng việc làm và giá cả.

1.2.2. Các mục tiêu kinh tế vĩ mô chủ yếu.
Mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản là đạt được sự ổn định trong ngắn hạn, tăng
trưởng nhanh trong dài hạn và phân phối của cải một cách công bằng.
- Sự ổn định kinh tế: Là kết quả của việc giải quyết tốt những vấn đề kinh
tế cấp bách như lạm phát, suy thoái, thất nghiệp trong thời kỳ ngắn hạn.
- Tăng trưởng kinh tế: Đòi hỏi phải giải quyết tốt những vấn đề dài hạn hơn
có liên quan đến việc tăng trưởng kinh tế.
- Công bằng trong phân phối: vừa là vấn đề xã hội vừa là vấn đề kinh tế.
Để có thể đạt được sự ổn định, tăng trưởng và công bằng, các chính sách
kinh tế vĩ mơ phải hướng tới các mục tiêu cụ thể như sau:
* Mục tiêu sản lượng.
- Đạt được sản lượng thực tế cao tương ứng với mức sản lượng tiềm năng.
- Tốc độ tăng trưởng cao và vững chắc.
* Mục tiêu việc làm:
- Tạo được nhiều việc làm tốt.
- Hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp và duy trì ở mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên.
* Mục tiêu ổn định giá cả.
- Hạ thấp và kiểm soát được lạm phát trong điều kiện thị trường tự do.
* Mục tiêu kinh tế đối ngoại.
- Ổn định tỷ giá hối đoái.
- Cân bằng cán cân thanh toán.
* Phân phối cơng bằng.
Trong nền kinh tế thị trường tất yếu có sự phân hố giàu nghèo. Để đảm
bảo cơng bằng thì phải thực hiện phân phối lại, khi phân phối lại làm giảm động
lực cạnh tranh -> phải làm thế nào để đạt được cơng bằng mà vẫn kích thích
phát triển sản xuất.
Chú ý: Khi nghiên cứu những mục tiêu trên chúng ta cần chú ý.

7



- Những mục tiêu trên thể hiện một trạng thái lý tưởng, trong đó sản lượng
đạt ở mức tồn dụng nhân cơng, lạm phát thấp, cán cân thanh tốn cân bằng và
tỷ giá hối đối là khơng đổi.
Trong thực tế, các chính sách kinh tế vĩ mơ cơ bản chỉ có thể tối thiểu hố
các sai lệch thực tế so với trạng thái lý tưởng.
- Trong một thời điểm, không thể đạt được tất cả các mục tiêu kinh tế vĩ
mơ vì giữa các cặp mục tiêu kinh tế vĩ mơ, có những cặp mục tiêu bổ sung cho
nhau, nhưng cũng có những cặp mục tiêu mâu thuẫn nhau như sản lượng và
phân phối công bằng, việc làm và giá cả, sản lượng và giá cả, tức là đạt được
mục tiêu này thì khơng đạt được mục tiêu kia, nên các nhà hoạch định chính
sách cần phải lựa chọn thứ tự ưu tiên và đôi khi phải chấp nhận một sự hy sinh
nào đó trong một thời kỳ ngắn.
- Về mặt dài hạn: Thứ tự ưu tiên của các mục tiêu trên cũng khác nhau. Ở
các nước đang phát triển mục tiêu ưu tiên là sản lượng và việc làm nên.
1.3. Trình bày một số chỉ tiêu đo lường sản lượng quan trọng và vai trò
của việc xác định các chỉ tiêu đó trong phân tích kinh tế vĩ mơ.
1.3.1. Một số chỉ tiêu đo lường sản lượng quan trọng.
Ở đây ta chỉ xem xét về tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) vì nó là thước đo của một nền kinh tế.
* Tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
GNP là một chỉ tiêu đo lường tổng giá trị bằng tiền của các hàng hoá và
dịch vụ cuối cùng mà một quốc gia sản xuất trong 1 thời kỳ (1 năm) bằng các
yếu tố sản xuất của mình.
GNP đánh giá kết quả của hàng triệu giao dịch và hoạt động kinh tế do
công dân của một nước tiến hành trong một thời kỳ nhất định đó chính là con số
đạt được khi dùng thước đo tiền tệ để tính tốn giá trị của các hàng hố khác
nhau mà các hộ gia đình, các hãng kinh doanh. Chính phủ mua sắm và sử dụng
trong một thời gian đã cho. Những hàng hố và dịch vụ đó là:
+ Các hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng của các hộ gia đình.


8


+ Các thiết bị nhà xưởng mua sắm và xây dựng lần đầu của các hãng kinh
doanh.
+ Nhà mới xây dựng.
+ Hàng hoá và dịch vụ mà các cơ quan quản lý Nhà nước mua sắm.
+ Sự chênh lệch giữa hàng xuất khẩu và nhập khẩu.
GNP có cặp khái niệm GNP thực tế và GNP danh nghĩa.
GNP danh nghĩa (GNPn): Đo lường tổng sản phẩm quốc dân sản xuất ra
trong một thời kỳ, theo giá cả ở một thời kỳ lấy làm gốc.
Cầu nối giữa GNPn và GNPr là chỉ số lạm phát (D).
D=

Hay

GNPn
.100%( % )
GNPr

GNPr =

GNPn
D

GNPr: Phân tích tốc độ tăng trưởng kinh tế.
GNPn: Phân tích mối quan hệ tài chính, ngân hàng.
* Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
- GDP là một chỉ tiêu đo lường tổng giá trị bằng tiền của các hàng hoá và

dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, trong một
thời kỳ nhất định (một năm).
GDP là kết quả của hàng triệu giao dịch và hoạt động kinh tế xảy ra bên
trong lãnh thổ đất nước. Những hoạt động này có thể do Cơng ty doanh nghiệp
của cơng dân nước đó hay nước ngồi.
Nhưng DGP khơng bao gồm kết quả hoạt động của công dân nước sở tại
tiến hành ở nước ngồi.
Ta có mối liên hệ giữa GDP và GNP như sau:
GNP = GDP + Thu nhập Nhưng DGP không bao gồm kết quả hoạt động
của công dân nước sở tại tiến hành ở nước ngồi.
Ta có mối liên hệ giữa GDP và GNP như sau:
GNP = GDP + Thu nhập rịng tài sản từ nước ngồi.
Thu nhập rịng tài sản từ nước ngồi = (Khoản thu - khoản chi) từ nước
ngoài.
9


* Khoản thu từ nước ngoài: Do đầu tư ra nước ngồi bao gồm:
- Thu tiền cơng lao động (do xuất khẩu lao động).
- Thu từ lãi cổ phần (do xuất khẩu vốn).
- Từ lợi nhuận (do đặt cơ sở sản xuất ở nước ngoài).
* Khoản chi trả cho nước ngoài do nước ngoài đầu tư vào bao gồm:
- Chi trả tiền công lao động.
- Trả lãi cổ phần.
- Trả lợi nhuận cho những Cơng ty ở nước ngồi đặt cơ sở sản xuất ở trong
nước.
1.3.2. Vai trò của GNP và GDP trong phân tích kinh tế vĩ mơ.
GNP hay GDP là những thước đo tốt nhất về thành tựu kinh tế của một đất
nước.
GNP hay GDP thường được sử dụng để phân tích những biến động về sản

lượng của một đất nước trong thời gian khác nhau. Trường hợp này ta tính tốc
độ tăng trưởng của GNP hay GDP thực tế nhằm loại trừ sự biến động của giá cả.
GNP và GDP cịn được sử dụng để phân tích sự thay đổi về mức sống của
dân cư.
Lúc này ta tính chỉ tiêu GNP và GDP bình qn đầu người.
GDP bình quân đầu người =

GDP
Dân số

GNP bình quân đầu người =

GNP
Dân số

Mức sống của dân cư một nước phụ thuồc vào số lượng hàng hoá và dịch
vụ cuối cùng mà họ sản xuất ra và quy mô dân số của nước đó sự thay đổi về
GNP hay GDP bình qn đầu người phụ thuộc rất nhiều vào tốc độ tăng dân số
và năng suất lao động. Nói cách khác, mức sống dân cư của một nước phụ thuộc
vào đất nước đó giải quyết vấn đề dân số trong mối quan hệ với năng suất lao
động như thế nào.

10


Sự khác nhau giữa GNP bình quân đầu người và GDP bình quân đầu
người.
- GNP bình quân đầu người là thước đo tốt hơn về số lượng hàng hoá và
dịch vụ được sản xuất ra và tính bình qn cho một đầu người.
1.4. Trình bày các vấn đề liên quan đến thất nghiệp phân tích các biện

pháp hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp.
1.4.1. Các vấn đề liên quan đến thất nghiệp .
Để có cơ sở xác định được thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp cần biết được
một vài khái niệm sau:
- Những người trong độ tuổi lao động là những người ở độ tuổi có nghĩa vụ
và quyền lợi lao động theo quy định đã ghi trong hiến pháp.
- Người có việc làm là những người đang làm cho cơ sở kinh tế, văn hoá,
xã hội...
- Người thất nghiệp là những người đang chưa có việc làm nhưng mong
muốn và đang tìm kiếm việc làm.
* Tỷ lệ thất nghiệp.
Tỷ lệ thất nghiệp là % số người thất nghiệp so với tổng số người trong lực
lượng lao động .
Tỷ lệ thất nghiệp là một chỉ tiêu phản ánh khái quát tình trạng thất nghiệp
của một quốc gia.
* Các loại thất nghiệp.
- Theo loại hình thất nghiệp.
+ Thất nghiệp chia theo giới tính (nam, nữ)
+ Thất nghiệp chia theo lứa tuổi (tuổi - nghề)
+ Thất nghiệp chia theo vùng, lãnh thổ (thành thị, nông thôn).
+ Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc
+ Thất nghiệp chia theo ngành nghề (ngành kinh tế, ngành hàng, nghề
nghiệp).
- Theo lý do thất nghiệp.
+ Bỏ việc: Tự ý xin thơi việc vì những lý do khó khăn trong kinh doanh.
11


+ Mới vào: Lần đầu bổ sung vào lực lượng lao động, nhưng chưa tìm được
việc làm (thanh niên đến tuổi lao động đang tìm việc, sinh viên tốt nghiệp đang

chờ công tác).
+ Quay lại: Những người đã rời khỏi lực lượng lao động nay muốn quay lại
làm việc nhưng chưa tìm được việc làm.
- Theo nguồn gốc thất nghiệp.
+ Thất nghiệp tạm thời.
+ Thất nghiệp cơ cấu
+ Thất nghiệp do thiếu cầu
+ Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường.
* Một số nhân tố ảnh hưởng đến thất nghiệp tự nhiên.
- Khoảng thời gian thất nghiệp: Nếu mỗi người phải chờ đợi quá nhiều thời
gian mới tìm được việc thì trong mỗi thời kỳ nào đó số lượng người thất nghiệp
trung bình tăng lên. Thời gian chờ đợi nói trên gọi là "Khoảng thời gian thất
nghiệp", và nó phụ thuộc vào:
+ Cách thức tổ chức thị trường, lao động.
+ Cấu tạo nhân khẩu của người thất nghiệp (Tuổi đời, tuổi nghề, ngành
nghề).
+ Cơ cấu các loại việc làm và khả năng có sẵn việc.
- Tần số thất nghiệp: Là tần số trung bình 1 người lao động bị thất nghiệp
trong một thời kỳ nhất định (ví dụ: trong 1 năm bị thất nghiệp 2 lần). Tần số thất
nghiệp phụ thuộc vào.
+ Sự thay đổi nhu cầu lao động của các doanh nghiệp.
+ Sự gia tăng tỷ lệ tham gia vào lực lượng lao động.
Học thấp tỷ lệ tăng dân số và ổn định kinh tế là hướng đi quan trọng giữ
cho tần số thất nghiệp ở mức thấp.
1.4.2. Các biện pháp hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp.
Muốn giảm bớt thất nghiệp thì xã hội cần phải có thêm nhiều việc làm đa
dạng hơn có mức tiền cơng tốt hơn, đồng thời phải đổi mới thị trường lao động

12



để đáp ứng kịp thời nhanh chóng yêu cầu của cả doanh nghiệp và người lao
động.
Ở những nước đang phát triển lực lượng lao động luôn dồi dào tuy nhiên
thiếu vốn thiếu đầu tư. Vì vậy việc hỗ trợ của Nhà nước hoặc các tổ chức kinh tế
qua các dự án việc làm là rất cần thiết.
Bên cạnh việc đầu tư vào cơ sở vật chất còn phải tăng cường các chương
trình dạy nghề và tổ chức lại thị trường lao động.
Thất nghiệp đồng nghĩa với tình trạng giảm mức sống và tăng sức ép về
mặt tâm lý. Các chính sách mở rộng tài chính và tiền tệ sẽ làm giảm thất nghiệp,
phục hồi kinh tế.
1.5. Phân tích mối quan hệ giữa mục tiêu sản lượng và mục tiêu việc
làm.
Mối quan hệ giữa tăng trưởng và thất nghiệp theo quy luật OKUN như sau:
Trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi, khi sản lượng thực tế của một
năm cao hơn sản lượng tiềm năng của năm đó 2,5% thì tỷ lệ thất nghiệp giảm đi
1% so với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên.
Các nghiên cứu cho thấy giữa tăng trưởng, tổng sản phẩm và thất nghiệp có
mối quan hệ cố hữu với nhau. Tăng trưởng nhanh, thất nghiệp giảm và ngược
lại. Đó là về lao động được sử dụng vào quá trình sản xuất càng nhiều sản lượng
càng tăng nhanh.
Theo OKUN ta gọi:
DU: là tỷ lệ thất nghiệp giảm đi.
a*: là tốc độ tăng thêm của sản lượng tiềm năng.
a: là tốc độ tăng thêm của sản lượng thực tế.
Thì ta có:
- Khi a > a* một lượng 2,5% thì DU = -1%.
Vậy khi a>a* một lượng (a-a*) % thì thất nghiệp thực tế giảm đi một lượng
là: DU = (a-a*)/2,5.
Vì vậy việc đề ra mục tiêu và thực hiện mục tiêu về sản lượng sẽ liên quan

đến mục tiêu việc làm. Khi đạt mục tiêu sản lượng ta xem đến việc đội ngũ lao
13


động ở đó là như thế nào, có nghĩa là: có bao nhiêu người, trình độ lao động
lành nghề ra sao, hay điều kiện làm việc họ có thể làm tăng ca, thêm giờ hay
khơng. Hoặc khi ta có một lực lượng lao động là cho trước thì ta sẽ có thể đặt ra
được mục tiêu sản lượng là bao nhiêu để khơng gây ra tình trạng cơng nhân lao
động khơng có việc để làm.

14


CHƯƠNG 2:
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN MỤC TIÊU SẢN LƯỢNG VÀ VIỆC
LÀM CỦA VIỆT NAM THỜI KỲ 2005 - 2008
2.1. Nhận xét chung về tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam để đưa ra
lý do phải thực hiện mục tiêu sản lượng và việc làm trong thời kỳ 2005 2008.
Đất nước ta xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa từ nghèo nàn, vì phải
gánh chịu hậu quả của 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ để lại. Nền
kinh tế của Việt Nam sau hoà bình (1975) bị tụt hậu so với thế giới hàng chục
năm. Sau hơn 30 năm khắc phục hậu quả chiến tranh kinh tế Việt Nam đã từng
bước phát triển, đã có những bước tiến vượt bậc.
Việc mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là việc làm đúng
đắn của chính phủ. Sự phát triển rộng khắp của các vùng kinh tế trọng điểm ở cả
3 miền Bắc, Trung, Nam đã phần nào giải quyết được vấn đề việc làm cho người
lao động với sự chuyên môn hoá và hiện đại hoá cao. Sau bao nỗ lực, cố gắng
Việt Nam đã được trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới voà
tháng 1 năm 2007 là: điều kiện thuận lợi cho kinh tế Việt Nam phát triển theo
nền kinh tế thị trường.

Tốc độ tăng GDP của Việt Nam từ 2001 - 2004 tăng từ 6,79% - 7,69%
được đánh giá là ở mức tăng trưởng cao. Nhờ vậy đời sống của nhân dân ngày
càng được cải thiện. Tuy vấn đề an sinh xã hội ở Việt Nam cịn kém nhưng nó
đang dần được cải thiện. Kinh tế giữa các vùng miền phần nào giảm bớt được sự
chênh lệch. Nhà nước đã có sự quan tâm và đầu tư đến cùng sâu, miền núi, hải
đảo. Trong công nghiệp xuất hiện nhiều khu cơng nghiệp, cịn trong nơng
nghiệp xuất hiện nhiều cùng chuyên canh nuôi trồng và đã cho hiệu quả và năng
suất cao. Các ngành du lịch và dịch vụ đã có sự đầu tư để phát huy tiềm năng.
Đất nước ta tuy đã được hồ bình nhưng bên cạnh đó vẫn cịn những thế
lực thù địch ln nhịm ngó. Tuy nhiên Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam
đã cố gắng và đang xây dựng nước Việt Nam với kinh tế hội nhập và phát triển
và chính trị ổn định, là điều kiện lý tưởng cho các nhà đầu tư vào Việt Nam.
15


Với nền kinh tế đang từng ngày phát triển mạnh mẽ và quyết tâm xây dựng
đất nước Việt Nam vẻ vang sánh vai với các cường quốc năm châu, việc tăng
trưởng GDP của Việt Nam từ 2005 - 2008 tăng là có thể được và thực sự Việt
Nam đã đạt được những thành công nhất định. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với
việc giải quyết khâu việc làm cho người lao động. Đất nước Việt Nam với cơ
cấu dân số trẻ là điều kiện có được lực lượng lao động dồi dào, cần cù lao động.
Tuy nhiên họ lại chưa có tay nghề do vậy mà cần phải có biện pháp đào tạo nghề
cho người lao động.
Bên cạnh đó trật tự về an tồn giao thơng có sự tiến bộ, ý thức tham gia
giao thông của người dân được nâng cao. An ninh quốc phòng được giữ vững
trật tự an tồn xã hội được bảo đảm. Cơng tác kiểm sốt tốc độ tăng dân số và
nâng cao chất lượng dân số, giám sát về vệ sinh an toàn thực phẩm, được tăng
cường nên đã có những bước phát triển mạnh mẽ.
2.2 Trình bày các chính sách mà chính phủ Việt Nam đã sử dụng để
thực hiện hai mục tiêu trên.

Để có được tốc độ tăng trưởng cao như vậy và mục tiêu tăng trưởng ở mức
P trên 8% một năm trong thời kỳ 2006 - 2008 chính phủ Việt Nam đã có những
bước đi đúng đắn, những chính sách kịp thời hợp lý.
Tư tưởng chủ đạo của chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam giai
đoạn 2001 - 2010 là chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế,
nâng cao năng suất lao động, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho
người lao động.
- Tạo việc làm cho khoảng 15 triệu lao động bình quân mỗi năm khoảng 1,5 triệu.
- Giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị xuống dưới 6% vào năm 2005 và dưới 5% vào
2010.
- Mở các trường đào tạo nghề để nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo là 30%.
Nhà nước tạo điều kiện thơng thống, đơn giản về pháp luật cho nước
ngoài đầu tư vào Việt Nam do vậy mà cho đến nay cả nước có khoảng 150 khu
cơng nghiệp, trong đó có hơn 110 khu cơng nghiệp đi vào hoạt động. Ngồi ra
chính phủ Việt Nam cịn khuyến khích phát triển kinh tế vừa và nhỏ nên các
16


thành phần kinh tế tập thể và tư nhân phát triển mạnh. Đây là cơ sở góp phần tạo
cơng ăn việc làm cho người lao động hạn chế các tệ nạn xã hội xảy ra.
Bên cạnh đó, quỹ Quốc gia giải quyết việc làm cũng có vai trị quan trọng
thúc đẩy tạo việc làm. Từ 2001 - 2005 quỹ cho vay gần 100.000 dự án lớn nhỏ
góp phần hỗ trợ cho cơng nhân.
Chính phủ Việt Nam cịn mở rộng ra với thị trường lao động nước ngoài
bằng cách ký các hợp đồng xuất khẩu lao động giúp cho người dân có thêm điều
kiện lao động. Ngồi ra tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người lao động có đủ
điều kiện đi lao động nước ngoài như đào tạo, người lao động, cho người lao
động vay vốn...
Đến nay lao động Việt Nam đã có mặt ở trên 40 nước và vùng lãnh thổ với
hơn 30 nhóm nghề các loại.

Đồng hành cùng với việc tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người đơng thì
chính phủ phải hồn thiện kịp thời hệ thống pháp luật về lao động, bổ sung sửa đổi
luật lao động cho phù hợp với tình hình mới cịn luật dạy nghề, luật bảo hiểm xã
hội.
Tạo điều kiện cho việc khơi phục và phát triển các làng nghề có lợi thế.
Việc phát triển các làng nghề một phần giải quyết được khâu lao động lúc nông
dân ở vùng nông thôn.
Cung cấp kịp thời và đầy đủ thông tin về việc đào tạo nghề, tuyển dụng lao
động giúp cho người lao động có đầy đủ thơng tin tìm kiếm việc làm, có hình
thức giáo dục pháp luật giúp người lao động hiểu rõ hơn về quyền hạn và trách
nhiệm của mình đồng thời có ý thức hơn trong q trình lao động.
Trong lĩnh vực chính sách chính phủ đã hoạch định một chiến lược cải
cách ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chuyển đổi thành ngân hàng
trung ương tiên tiến với năng lực quản lý các chính sách tiền tệ và giám sát các
tổ chức tài chính.
Đã có những động thái nhằm cải thiện các công tác quản lý kinh doanh và
điều tiết thị trường. Luật chứng khoán và thị trường chứng khốn đã được thơng
qua. Chứng khốn là một ngành mới ở Việt Nam nên chính phủ Việt Nam phải
17


có những bước tiến vượt bậc để có thể phát triển kịp thời vùng với thế giới.
Kiểm sốt và có biện pháp xử lý kịp thời giữ ổn định hệ thống tài chính, tín
dụng bảo đảm được khả năng thanh tốn của các tổ chức tín dụng.
Cơng tác tun truyền cho người dân sống và làm việc theo pháp luật được
mở rộng. Chính phủ đã chỉ đạo cho các bộ, ngành, địa phương thực hiện các chính
sách an sinh xã hội, hỗ trợ đời sống người nghèo, người có thu nhập thấp, đặc biệt
là đồng bào ở những vùng bị thiên tai, tín dụng cho học sinh, sinh viên nghèo.
Bên cạnh những hướng đi đúng, những chính sách tích cực chính phủ vẫn
cịn, bộc lộ những yếu kém như cơng tác thanh tra kiểm tra chưa tốt xử lý chưa

nghiêm nên trong xã hội cịn có hiện tượng tham nhũng. Đầu tư hỗ trợ của Nhà
nước chưa đến người dân hoặc có đến được thì cịn chậm. Cơng tác rà sốt, giảm
đầu tư cơng, tiết kiệm chi ngân sách Nhà nước còn chậm trễ và hiệu quả chưa cao.
Các thủ tục pháp lý tuy đã được cải cách nhưng vẫn còn rườm rà nhiều khâu.
2.3. Thu thập số liệu về GNP (GDP), tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ
thất nghiệp của Việt Nam thời kỳ 2005 - 2008.
Năm

Tổng thu nhập
quốc gia

2005
822.432
2006
953.232
2007
1.112.892
* Tỷ lệ tăng trưởng.
Năm
Tỷ lệ

Chia ra
Tổng sản sản
Thu nhập
phẩm trong
thuần tuý từ
nước
nước ngoài
(tỷ đồng)
(tỷ đồng)

839.211
-16.779
974.266
-21.034
1.144.014
-31.123
2005
8,4

Tỷ lệ tổng thu
nhập, quốc gia

98,0
97,8
97,3

2006
8,2

18

2007
8,5

Năm


* Tỷ lệ thất nghiệp theo vùng.
Các vùng:
Năm

Các vùng
Cả nước
Đồng bằng sông Hồng
Đông Bắc
Tây Bắc
Bắc Trung Bộ
Duyên hải Nam Trung Bộ
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ
Đồng Bằng sông Cửu Long

2005

2006

2007

5,31
5,61
5,12
4,91
4,98
5,52
4,23
5,62
4,87

4,82
6,42
4,32

3,89
5,50
5,36
2,38
5,47
4,52

4,64
5,74
3,97
3,42
4,92
4,99
2,11
4,83
4,03

19


2.4. Phân tích số liệu thu thập được và trình bày quan điểm của mình về
cách sử dụng chính sách nhằm vào mục tiêu sản lượng và việc làm.
2.4.1. Phân tích số liệu thu thập được.
* Về thu nhập.
Nhìn chung tổng thu nhập của Việt Nam thời kỳ 2005-2007 tăng lên. Đó là
kết quả tất yếu của một nền kinh tế đang phát triển. Tổng sản phẩm trong nước
tăng là do kinh tế Việt Nam phát triển về mọi mặt công nghiệp nông nghiệp,
dịch vụ nên kéo theo thu nhập tăng lên. Chính phủ Việt Nam đã có những bước
đi đúng đắn trong việc chuyển dịch cơ cấu của các lĩnh vực nên tổng sản phẩm
trong nước ngày càng tăng. Tuy nhiên thu nhập thuần tuý từ nước ngoài mang

dấu âm thể hiện Việt Nam vẫn là nước nhập siêu. Kinh tế càng phát triển đòi hỏi
về các trang thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu, điều kiện sản xuất càng cao
nhưng hàng hoá của Việt Nam đạt tiêu chuẩn để xuất khẩu ra nước ngồi cịn
hạn chế. Hoặc là điều kiện trong nước chưa có đủ để sản xuất những mặt hàng
mang tính trí tuệ trong khi đó ta lại phải mua vào với giá thành cao còn sản
phẩm bán ra lại giá thành rẻ do vậy chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu còn
cao.
* Tỷ lệ tăng trưởng.
Tỷ lệ tăng trưởng của nước ta trong những năm qua không chênh nhau là
mấy nguyên nhân là do đất nước ta đã qua thời kỳ mới lạ bước vào hội nhập
kinh tế thế giới.
Trong những năm đó Việt Nam đã có tiền đề từ trước cứ như vậy mà phát
triển kinh tế. Đây được coi là tốc độ tăng trưởng vào hàng cao của khu vực cũng
như trên thế giới. Mức độ tăng trưởng cao là dấu hiệu đáng mừng về một nền
kinh tế Việt Nam phát triển nhanh. Tuy nhiên tăng trưởng của nước ta vào năm
2008 chỉ ở khoảng tiếng 7% (sơ bộ). Có sự giảm sút như vậy là do điều kiện
khách quan của cuộc khủng hoảng của kinh tế thế giới mà đứng đầu là nền kinh
tế Mỹ. Tuy vậy tình hình lạm phát đã phần nào được phục hồi, kinh tế thế giới
nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng đang dần tăng trưởng trở lại. Chúng ta
tin tưởng vào một nền kinh tế Việt Nam có mức tăng trưởng cao hơn nữa. Qua
20


sự kiện kinh tế Mỹ khủng hoảng làm mức độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
cũng giảm rút ra cho Chính phủ một bài học là nước ta chưa có chủ động trong
việc sản xuất, cịn phụ thuộc q nhiều từ bên ngồi, từ đó chính phủ Việt Nam
cần có sự chru động hơn nữa trong các chính sách kinh tế.
* Tỷ lệ thất nghiệp.
Nhìn vào bảng cho ta thấy được rằng tỷ lệ thất nghiệp của các vùng miền
cũng như của cả nước giảm 5,31% xuống 4,64% từ 2005 - 2007. Tỷ lệ này giảm

là do: nhu cầu lao động trong nước ngày càng tăng. Đầu tư nước ngồi vào Việt
Nam ngày càng tăng do cơ chế thơng thống của chính phủ Việt Nam -> tạo ra
được nhiều khu công nghiệp, đây là nơi thu hút một lượng lớn số lao động.
Khơng có sự chênh lệch nhiều về tỷ lệ thất nghiệp của các vùng miền là do sự
phân bố lại dân cư, có sự chun mơn hố hợp lý. Ví dụ ở nước ta, Đơng Nam
Bộ là vùng phát triển công nghiệp mạnh nhất, giá trị công nghiệp chiếm tới
55,6% cả nước (năm 2005). Trong khi đó Đồng Bằng sông Cửu Long là vùng
trọng điểm sản xuất lương thực chiếm 40,7% cả nước.
Tỷ lệ thất nghiệp giảm cịn do mơ hình kinh tế sản xuất vừa và nhỏ như sản
xuất theo mơ hình làng nghề, tư nhân thu hút mộ lượng lớn lao động. Mà các mơ
hình này khơng địi hỏi người lao động phải được đào tạo căn bản, lâu dài điều
kiện này phù hợp với trình độ của người lao động Việt Nam. Đời sống của
người lao động được nâng cao, họ ngày càng được quan tâm đầy đủ hơn, các
chế độ tiền lương, tiền thưởng khuyến khích cho hăng hái lao động khơng có ý
định bỏ nghề vì thấy chán nản hay quyền lợi của họ được nâng cao hơn. Tuy
nhiên tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm vẫn còn gay gắt.
Thu nhập của Việt Nam ngày càng tăng do ở nước ta đã hình thành các
vùng động lực kinh tế, vùng chuyên canh và các khu cơng nghiệp tập trung, khu
chế xuất có quy mơ lớn. Nhiều loại hình dịch vụ mới ra đời như viễn thông, tư
vấn, đầu tư, chuyển giao công nghệ... đã góp phần khơng nhỏ vào sản lượng
quốc gia.
Nền nông nghiệp đã áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại. Cơ cấu
mùa vụ có sự thay đổi, các giống cây, giống con đã có sự chuyển đổi cho sản
21


lượng cao. Có sự liên kết giữa cơng nghiệp và nông nghiệp đặc biệt nông nghiệp
với công nghiệp chế biến.
2.4.2. Quan điểm về cách sử dụng chính sách về mục tiêu sản lượng và
việc làm.

Để đạt mục tiêu sản lượng ngày càng tăng kinh tế Việt Nam, đặc biệt là
ngành công nghiệp cần phát triển theo hướng sau đây: Xây dnựg cơ cấu ngành
cơng nghiệp tương đối linh hoạt, thích nghi với cơ chế thị trường, phù hợp với
tình hình phát triển thực tế của đất nước. Đầu tư theo chiều sâu, đổi mới trang
thiết bị và công nghệ nhằm nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.
Do vậy chính phủ cần khuyến khích hơn nữa đầu tư của nước ngồi vào
Việt Nam vì họ có vốn, có kỹ thuật tiên tiến để có thể tăng năng suất lao động đi
đơi với việc tăng sản lượng.
Bên cạnh đó sản xuất nơng nghiệp phải có sự thay đổi, tăng cường chun
mơn hố sản xuất, phát triển các vùng chun canh có quy mơ lớn. Đa dạng hố
trong nơng nghiệp tức là đa dạng hố cả về chăn ni và trồng trọt để nâng cao
số lượng cây trồng và tăng sản lượng vật nuôi.
Việc đẩy mạnh đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đang tạo ra những thay đổi
lớn trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Mạng lưới giao thông được cải thiện,
nhiều con đường quốc lộ giữa các vùng kinh tế được hình thành tạo điều kiện
thơng thương kinh tế.
Ngành cơng nghiệp khơng khói tuy khơng trực tiếp sản xuất ra sản phẩm
nhưng nó cũng góp phần không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế. Du lịch, dịch vụ là
ngành có tiềm năng. Có sự đầu tư vào du lịch, có cơ chế thơng thống tạo điều
kiện cho du khách nước ngoài vào Việt Nam. Ngoài ra phải có được chế độ xã
hội và tình hình trật tự an ninh được đảm bảo và giữ vững để du khách có cảm
giác an tồn khi đến Việt Nam. Cơng tác quảng bá tun truyền hình ảnh đất
nước Việt Nam giàu đẹp, an ninh, con người Việt Nam thân thiện, giàu lòng
mến khách sẽ thu hút được du khách đến với Việt Nam. Ngành dịch vụ khách
như ngân hàng, tài chính tạo điều kiện thuận lợi, y tế, giáo dục - đào tạo cũng
phát triển mạnh nhằm đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
22


Hiện nay hàng hoá các cửa khẩu mở ra tăng cường giao thương với các

nước láng giềng. Phát triển cơ sở năng lượng là một ưu tiên trong phát triển kinh
tế. Nhiều nhà máy thuỷ điện đang được xây dựng giải quyết phần nào tình trạng
thiếu điện cho sản xuất cũng như cho tiêu dùng.
Việc làm là một vấn đề kinh tế - xã hội lớn của nước ta hiện nay. Sự đa
dạng hoá các thành phần kinh tế, các ngành sản xuất, dịch vụ đã tạo ra mỗi năm
gần 1 triệu việc làm mới. Trong những năm qua nước ta đã tập trung giải quyết
việc làm cho người lao động theo các hướng:
- Phân bố lại dân cư và nguồn lao động.
- Thực hiện đa dạng hoá các hoạt động sản xuất.
- Tăng cường hợp tác liên kết để thu hút vốn đầu tư nước ngoài mở rộng
sản xuất hàng xuất khẩu.
- Mở rộng, đa dạng hoá các loại hình đào tạo các cấp, các ngành nghề nâng
cao chất lượng đội ngũ, lao động để họ có thể tự tạo ra được những công việc
hoặc tham gia vào các đơn vị sản xuất dễ dàng, thuận lợi.
- Đẩy mạnh xuất khẩu lao động.

23


PHẦN III

KẾT LUẬN
Kết luận
Việt Nam xây dựng một nền kinh tế thị trường ngày nay bắt đầu từ một nền
kinh tế nông nghiệp lạc hậu lại chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh. Sau chiến
tranh nền kinh tế nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng kéo dài, lạm phát ở
mức 3 con số. Trải qua chặng đường dài đổi mới nước ta thốt khỏi tình trạng
khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao GDP từ 0,2% vào giai đoạn 1975 - 1980
tăng lên 6% vào năm 1988 và 8,4% vào năm 2005. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch

theo hướng công nghiệp hố, hiện đại hố tồn cầu hố là một xu thế lớn một
mặt cho phép nước tranh thủ được các nguồn lực bề ngồi (về vốn, cơng nghệ và
thị trường), mặt khác đặt nền kinh tế nước ta vào thế bị cạnh tranh quyết liệt bởi
các nền kinh tế phát triển hơn trong khu vực và trên thế giới.
Nhờ có những điều kiện thuận lợi của chính phủ nước ta đã thu hút mạnh
các nguồn vốn đầu tư từ nước ngồi, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA),
đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), đầu tư gián tiếp của nước ngoài (FPI)
cũng bắt đầu tăng lên cùng với việc mở rộng thị trường chứng khoán. Các nguồn
vốn này đã và đang có tác động tích cực đến việc đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế,
nâng cao sản lượng hàng năm.
Nhờ có hướng đi đúng đắn, các chính sách đầy đủ và kịp thời mà tổng sản
lượng quốc gia tăng cao, thu nhập được cải thiện. Bên cạnh đó tỷ lệ thất nghiệp
tuy còn ở mức cao nhưng đang dần được giảm xuống. Bên cạnh sự quan tâm
đầu tư của chính phủ thì chính bản thân mỗi người dân cũng đã có ý thức hơn
trong lao động sản xuất để nâng cao năng suất lao động, nâng cao sản lượng
cũng như chất lượng cuộc sống.
Người lao động có ý thức học hỏi để có đủ điều kiện đáp ứng được nhu cầu
ngày càng cao của thị trường lao động, hoặc tự có cũng biết cạnh tranh tạo cơng
ăn việc làm cho bản thân và nhiều người khác. Nên tỷ lệ thất nghiệp giảm từ
5,31% năm 2005 xuống 4,64% năm 2007 cá biệt có vùng tỷ lệ thất nghiệp ở con
số thấp 2,11 vào năm 2007 là Tây Nguyên.
24


Kiến nghị:
Từ một số phân tích và kết luận trên ta rút ra một vài kiến nghị sau:
Tuy rằng kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển nhanh nhưng vẫn coi là
chưa tương xứng với tiềm năng. Việt Nam có vị trí địa lý đặc biệt năm giữa ngã
tư đường hàng hải và hàng không quốc tế nên việc chú trọng và phát triển ngành
hàng hải, đóng tàu cần được đầu tư hơn nữa.

Để giảm tỷ lệ thất nghiệp Nhà nước ta cần phải có sự quan tâm hơn nữa
đến người lao động để họ yêu nghề, hăng say lao động kéo theo năng suất lao
động tăng thu nhập quốc dân tăng. Một trong những vấn đề chủ chốt là công tác
lao động - tiền lương cho người lao động. Tiền lương là số tiền mà người lao
động được nhận do họ bán sức lao động của mình vì thế mà có chế độ tiền lương
và tiền thưởng hợp lý để họ đủ điều kiện tái tạo lại sức lao động, yêu lao động,
có vậy mới thúc đẩy người lao động trong việc hoàn thành, và hoàn thành vượt
mức các chỉ tiêu kế hoạch đề ra.
Công tác quản lý của Nhà nước phải được hồn thiện dần. Các Cơng ty
Nhà nước hoạt động kém hiệu quả, cần được sửa đổi và thay thế bằng mơ hình
hoạt động khác. Phát triển kinh tế bằng việc đầu tư theo chiều sâu, đổi mới các
trang thiết bị và công nghệ nhằm nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.
Tài nguyên của Việt Nam là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích
cách mạng vì vậy Nhà nước Việt Nam cần có cơng tác tốt hơn trong việc bảo
tồn, duy tu những cảnh quan thiên nhiên, góp phần nâng cao thu nhập quốc gia
qua ngành cơng nghiệp khơng khói này.
Đi đơi với việc phát triển kinh tế chính phủ cần quan tâm đến vấn đề môi
trường. Ngày nay cả thế giới đang chịu hậu quả của việc nóng lên của trái đất,
hạn hán, lũ lụt, sóng thần xảy ra một cách thường xuyên, nguy hiểm, gây thiệt
hại lớn. Do vậy vấn đề môi trường là vấn đề bức thiết và cấp bách. Cơng tác
tun truyền cho người dân có ý thức hơn trong việc bảo vệ môi trường sống.
Các dự án kinh tế phải được song hành với các dự án bảo vệ môi trường để tạo
ra bầu không khí trong lành con người Việt Nam có sức khoẻ tốt hơn để phục vụ
cho xã hội được nhiều hơn.
25


×