Tải bản đầy đủ (.pdf) (65 trang)

Pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng và hƣớng hoàn thiện

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.03 MB, 65 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM
KHOA LUẬT THƢƠNG MẠI

--------

LÊ THỊ ÚT

PHÁP LUẬT VỀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
VÀ HƢỚNG HỒN THIỆN

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành Luật Thương mại

TP HCM- 2011


TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM
KHOA LUẬT THƢƠNG MẠI
-------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

PHÁP LUẬT VỀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
VÀ HƢỚNG HỒN THIỆN

SVTH : LÊ THỊ ÚT
Khóa : 32
MSSV: 3220144
GVHD : THẠC SĨ TRẦN MINH HIỆP


TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2011


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan khóa luận này là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi. Tồn bộ nội
dung trình bày là kết quả do chính tơi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc
sĩ Trần Minh Hiệp, những nội dung tham khảo đều có trích dẫn nguồn theo quy định.
Tơi chịu trách nhiệm hồn tồn với lời cam đoan này.

Lê Thị Út


MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU .............................................................................................................. 01
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................... 01
2. Tình hình nghiên cứu đề tài .................................................................................... 02
3. Mục đích nghiên cứu ................................................................................................ 02
4. Đối tƣợng nghiên cứu ............................................................................................... 03
5. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................................. 03
6. Phƣơng pháp nghiên cứu ......................................................................................... 03
7.Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài .................................................... 04
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ QUY ĐỊNH
PHÁP LUẬT VỀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ........................................... 05
1.1. Những vấn đề lý luận chung về thuế giá trị gia tăng ......................................... 05
1.1.1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng ............................................................................ 05
1.1.2. Ưu điểm và nhược điểm của thuế giá trị gia tăng ............................................... 07
1.2. Khái niệm hoàn thuế giá trị gia tăng và vai trị của pháp luật
về hồn thuế giá trị gia tăng ........................................................................................ 10
1.2.1. Khái niệm hoàn thuế giá trị gia tăng ................................................................... 10

1.2.2. Vai trò của pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ............................................. 12
1.2.2.1. Hoàn thuế giá trị gia tăng tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi
chính đáng của đối tượng nộp thuế ................................................................................ 12
1.2.2.2. Hoàn thuế giá trị gia tăng là cơng cụ để Nhà nước
khuyến khích đầu tư........................................................................................................ 13
1.2.2.3. Pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng là cơng cụ để Nhà nước
khuyến khích hoạt động xuất khẩu ................................................................................. 14
1.2.2.4. Hồn thuế giá trị gia tăng là cơng cụ để Nhà nước kiểm tra
gián tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh của đối tượng nộp thuế ................................ 15
1.3. Những quy định pháp luật hiện hành về hoàn thuế giá trị gia tăng ................ 16
1.3.1. Căn cứ và phương pháp tính thuế giá trị gia tăng ............................................... 16
1.3.1.1. Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng ....................................................................... 16
1.3.1.2. Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng ............................................................. 17
1.3.2. Trường hợp được hoàn thuế giá trị gia tăng ....................................................... 20
1.3.2.1. Hoàn thuế giá trị gia tăng đối với cơ sở kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong ba
tháng liên tục có số thuế đầu vào chưa được khấu trừ thuế .......................................... 21
1.3.2.2. Hoàn thuế giá trị gia tăng đối với cơ sở kinh doanh hàng hóa
dịch vụ xuất khẩu ........................................................................................................... 22


1.3.2.3. Hoàn thuế giá trị gia tăng đối với cơ sở kinh doanh đầu tư mới ...................... 23
1.3.2.4. Những trường hợp khác theo quy định pháp luật ............................................. 24
1.3.3. Quy định pháp luật về hóa đơn, chứng từ ............................................................ 25
1.3.4. Trình tự, thủ tục hồn thuế giá trị giá tăng ......................................................... 27
1.3.4.1. Hồ sơ hoàn thuế giá trị gia tăng ....................................................................... 27
1.2.4.2. Trình tự giải quyết hồn thuế giá trị gia tăng................................................... 28
1.3.5. Chế tài đối với hành vi vi phạm pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ............ 29
1.3.5.1. Xử lý vi phạm hành chính.................................................................................. 29
1.3.5.2. Xử lý hình sự ..................................................................................................... 30
1.3.6. Giải quyết tranh chấp về hoàn thuế giá trị gia tăng ............................................ 31

Kết luận chương 1 .......................................................................................................... 33
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HOÀN THUẾ
GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ HƢỚNG HOÀN THIỆN ................................................. 34
2.1. Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng
hiện nay ......................................................................................................................... 34
2.2. Những vƣớng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện pháp luật
về hoàn thuế giá trị gia tăng ....................................................................................... 38
2.2.1. Quy định pháp luật về đối tượng được hoàn thuế rộng ....................................... 38
2.2.2. Vướng mắc trong việc áp dụng quy định pháp luật về hóa đơn chứng từ ........... 40
2.2.3. Vướng mắc khi áp dụng quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết hoàn thuế
giá trị gia tăng ................................................................................................................ 45
2.3. Hƣớng hoàn thiện quy định pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ............... 46
2.3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng .................. 46
2.3.2. Hướng hoàn thiện những quy định pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ....... 48
2.3.2.1. Thu hẹp đối tượng được hoàn thuế giá trị gia tăng .......................................... 48
2.3.2.2. Hoàn thiện các quy định pháp luật về hóa đơn, chứng từ trong hồ sơ hồn thuế
giá trị gia tăng ................................................................................................................ 49
2.3.2.3. Quy định cụ thể thẩm quyền giải quyết hoàn thuế giá trị gia tăng ................... 51
Kết luận chương 2 .......................................................................................................... 52
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 54


LỜI NĨI ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài.

Thuế là lĩnh vực quan trọng, là nguồn thu chủ yếu vào ngân sách nhà nước và
các quốc gia có chính sách thuế khác nhau. Việc thực thi một số chính sách thuế hiệu
quả sẽ đảm bảo sự ổn định cho nguồn thu này và tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng

sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế đất nước. Trong hệ thống thuế hiện nay, thuế
giá trị gia tăng (GTGT) được xem là loại thuế chủ yếu vì đóng góp lớn vào nguồn thu
ngân sách nhà nước. Theo đánh giá thống kê của Tổng cục thuế thì thuế GTGT chiếm
25%-30% tổng thu ngân sách và chiếm 60%-70% số thuế gián thu1. Trong khi đó, ở
Pháp thuế GTGT chiếm gần 50% tổng thu ngân sách nhà nước2. Điều này chứng minh
thuế GTGT có vai trị góp phần lành mạnh hóa nền kinh tế, tạo sự cạnh tranh bình đẳng
giữa các chủ thể, giúp nhà nước kiểm soát được hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ thơng qua hệ thống hóa đơn, chứng từ.Tuy nhiên, đây cũng là loại thuế
thường xuyên bộc lộ những kẻ hở dễ bị lợi dụng làm thất thoát ngân sách nhà nước.
Một trong những nội dung của Luật thuế GTGT thường xuyên bị lợi dụng để
chiếm đoạt tiền thuế từ ngân sách nhà nước đó là những quy định pháp luật về hồn
thuế GTGT. Hoàn thuế GTGT là một trong những nội dung quan trọng thể hiện tính
hiện đại của thuế GTGT. Cơ chế hoàn thuế đã thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh
trong nước đồng thời khuyến khích xuất khẩu, giải quyết vấn đề về vốn cho doanh
nghiệp trong sản xuất kinh doanh.Vì vậy, để chính sách hồn thuế GTGT có thể phát
huy những ưu điểm của nó thì những quy định pháp luật về hoàn thuế phải hết sức chặt
chẽ, hợp lý, cụ thể và có tính khả thi.
Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng những quy định pháp luật về hoàn thuế
GTGT bên cạnh những tổ chức, cá nhân kinh doanh nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật
thì vẫn có nhiều đối tượng ln tìm cách lách luật, vi phạm pháp luật thuế để chiếm
đoạt tiền thuế… Thực trạng gian lận trong hồn thuế giá trị gia tăng ngày càng nhiều,
hình thức ngày càng tinh vi hơn. Do đó, vấn đề hoàn thiện những quy định của pháp
luật trong lĩnh vực này là hết sức cần thiết. Đây không chỉ là trách nhiệm của những
nhà làm luật mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội, đặc biệt là người tiêu dùng.
Trên cơ sở đó tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng
và hƣớng hồn thiện” để làm khóa luận tốt nghiệp.

1

Trần Lê Hùng(2000), “Những đổi mới cơ bản trong tổ chức quản lý thu thuế”, Tạp chí Tài Chính, (04).

In France, it is the most important source of state finance, accounting for nearly 50% of state revenues.
http://vi.wikipedia.org/wiki/Thu%E1%BA%BF_Vi%E1%BB%87t_Nam
2

1


2.

Tình hình nghiên cứu.

Hiện tại, ở Việt Nam, đã có một số khóa luận tốt nghiệp, một luận văn thạc sĩ
nghiên cứu về thuế GTGT ở nhiều góc độ khác nhau như: “Luật thuế GTGT và những
điều kiện cần thiết cho việc áp dụng tại Việt Nam” của Trần Trung Hịa, khóa luận tốt
nghiệp Cử nhân Luật năm 1998; “Luật thuế GTGT những vướng mắc và hướng hoàn
thiện” của Tiền Tú Trinh, khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật năm 1999; “Phương
hướng hoàn thiện Luật thuế GTGT ở Việt Nam” của Mai Thị Hồng Si, khóa luận tốt
nghiệp cử nhân Luật năm 2001; “Pháp luật thuế GTGT những vướng mắc và hướng
hồn thiện” của Đào Thùy Dương, khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật năm 2006. Trong
các khóa luận tốt nghiệp này, các tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu những vấn đề lý
luận chung và thực tiễn áp dụng thuế GTGT. Vì lẽ đó, những vấn đề được giải quyết
cịn mang tính khái qt, chưa nghiên cứu sâu từng khía cạnh của Luật thuế GTGT.
Bên cạnh đó, cũng có một số khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về những lĩnh vực liên
quan đến hoàn thuế GTGT như: “Cơ sơ lý luận và thực tiễn trong quản lý hóa đơn,
chứng từ thuế GTGT” của Vũ Duy Hoàng năm 2002; “Một số biện pháp pháp lý đối
với việc quản lý chế độ hoàn thuế GTGT ở Việt Nam” của Nguyễn Lê Hải năm 2003;
“Một số giải pháp chống thất thu thuế GTGT” của Nguyễn Thị Như Hoài năm 2004;
“Pháp luật về phương pháp khấu trừ thuế GTGT - thực trạng áp dụng và hướng hoàn
thiện” của Đào Hồng Diễm năm 2009 và một luận văn thạc sĩ Luật học năm 2007 của
Nguyễn Thị Kim Dung “Đấu tranh phòng chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản

trong lĩnh vực hoàn thuế GTGT trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn”.
Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã đạt được những giá trị khoa học nhất định
nhưng cũng chỉ tập trung giải quyết những vấn đề mang tính lý luận và khái quát nhất
về thuế GTGT, chưa nghiên cứu một cách toàn diện, mang tính hệ thống những quy
định pháp luật về hồn thuế GTGT. Như vậy, vấn đề nghiên cứu một cách có hệ thống
và toàn diện những quy định pháp luật về hoàn thuế GTGT trên cơ sở kế thừa những
kết quả nghiên cứu của các tác giả đã đề cập là có cơ sở lý luận và thực tiễn cao.
3.

Mục đích nghiên cứu.

Xuất phát từ việc nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản để
làm rõ khái niệm hồn thuế GTGT, vai trị của pháp luật về hồn thuế GTGT hiện
hành, rà sốt những hạn chế, bất cập để đề xuất những giải pháp nhằm hồn thiện pháp
luật về hồn thuế GTGT. Mục đích của việc nghiên cứu này nhằm đảm bảo tính thống
nhất, minh bạch về cơ chế thực hiện quy định pháp luật về hoàn thuế GTGT, tạo thuận
lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, thực hiện chính sách về kinh tế, chính trị.
Đề xuất những giải pháp hồn thiện các quy định về hồn thuế GTGT, trong đó
tập trung đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật về hoàn thuế GTGT đối với hàng
2


hóa xuất khẩu và hàng hóa tiêu dùng trong nước nhằm hạn chế tối đa việc gian lận
trong hoàn thuế GTGT. Mục đích cuối cùng của việc hồn thiện pháp luật về hồn thuế
GTGT nói riêng và thuế GTGT nói chung là tạo mơi trường thuế GTGT bình đẳng
giữa đối tượng nộp thuế, hạn chế đến mức thấp nhất hiện tượng thất thoát ngân sách
nhà nước do gian lận về thuế GTGT.
4.

Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài.


Hoàn thuế giá trị gia tăng là một trong những nội dung quan trọng thể hiện bản
chất của thuế giá trị gia tăng. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật về hoàn thuế
GTGT đã phát sinh những bất cập làm thất thu ngân sách nhà nước. Chính vì vậy, tác
giả tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và quy định pháp luật về hoàn thuế
GTGT trong Luật thuế GTGT năm 2008, các văn bản hướng dẫn thi hành và thực tiễn
áp dụng, bên cạnh đó có sự so sánh, đối chiếu với các quy định tại Luật thuế GTGT
1997 được sửa đổi năm 2003 và 2005.
5.

Phạm vi nghiên cứu.

Khóa luận tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về hồn thuế GTGT đối
với hàng hóa xuất khẩu và hàng hóa tiêu dùng nội địa: về phương diện phân tích các
quy định pháp luật về hồn thuế khóa luận xem xét trong khoảng thời gian từ khi ban
hành Luật thuế GTGT 2008 đến nay, trong đó khóa luận có phân tích những điểm mới
so với quy định pháp luật tại Luật thuế GTGT năm 1997 được sửa đổi 2003và 2005;
thực tiễn áp dụng pháp luật về hoàn thuế GTGT trong khoảng thời gian từ khi ban hành
Luật thuế 2008 đến nay chủ yếu được tìm hiểu tại địa bàn tỉnh Tây Ninh, TP. Hồ Chí
Minh và thực tiễn các vướng mắc tại các địa phương khác.
6.

Phƣơng pháp nghiên cứu.

Tác giả đã sử dụng phép duy vật biện chứng của triết học Mác-Lênin làm cơ sở
phương pháp luận cho việc nghiên cứu. Bên cạnh đó, tác giả cịn sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp phân tích và tổng hợp: phân tích những quy định pháp luật về
hồn thuế GTGT trong Luật thuế GTGT hiện hành và văn bản hướng dẫn thi hành,
phân tích các sự kiện, hiện tượng pháp lý đơn lẻ; nhận xét; rút ra kết luận từng vấn đề

thuộc mảng pháp luật hoàn thuế GTGT; phân tích nguyên nhân gây ra hiện tượng tiêu
cực trong hoàn thuế GTGT. Phương pháp so sánh pháp lý: So sánh những quy định của
pháp luật Việt nam với quy định của một số nước; so sánh quy định của pháp luật hiện
hành với những quy định trước đây để tìm ra những điểm tiến bộ của quy định pháp
luật hiện hành. Bên cạnh đó, tác giả cịn sử dụng phương pháp khảo sát thực tế: Khảo
sát tình hình thực hiện các quy định pháp luật về hoàn thuế trong thực tiễn để xác định
3


những thành tựu trong việc áp dụng pháp luật và tìm ra những vướng mắc; thống kê số
liệu liên quan đến hoàn thuế GTGT để đánh giá thực tiễn thực hiện.
7.

Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài.

Khóa luận phân tích, đánh giá luật thực định và thực tiễn thi hành pháp luật về
hoàn thuế GTGT trong thời gian qua tại một số địa phương, đối chiếu giữa lý luận và
thực tiễn để tìm ra những vướng mắc, lý giải nguyên nhân của những bất cập đó và đưa
ra các kiến nghị hồn thiện pháp luật. Các kết quả nghiên cứu và một số kiến nghị
trong khóa luận có thể có giá trị ứng dụng trong thực tiễn hoàn thiện pháp luật về hoàn
thuế GTGT hiện nay, đồng thời có thể làm tài liệu tham khảo tại các cơ sở đào tạo luật.
Kết cấu khóa luận
Ngồi phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội
dung của khóa luận gồm 2 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung và quy định pháp luật hiện hành về
hoàn thuế gia trị gia tăng
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng và hướng
hoàn thiện

4



Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ QUY ĐỊNH PHÁP
LUẬT VỀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1.

Những vấn đề lý luận chung về thuế giá trị gia tăng.

1.1.1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng.
Thuế vừa là một phạm trù kinh tế vừa là một phạm trù lịch sử. Do đó, sự ra đời
của thuế là một tất yếu khách quan, gắn với sự hình thành và phát triển của nhà nước.
Thuế có vai trị và chức năng quan trọng đối với mỗi quốc gia vì đây là nguồn thu chủ
yếu vào ngân sách nhà nước. Bản chất của thuế là mang tính bắt buộc, khơng mang
tính đối giá, khơng hồn trả trực tiếp, tạo tiền đề kinh tế đảm bảo sự vận hành các chức
năng của nhà nước3.Tùy thuộc vào từng góc độ tiếp cận, với những nội dung khác
nhau, có nhiều cách hiểu khác nhau về thuế nhưng nhìn chung thuế là khoản thu bắt
buộc mà tổ chức, cá nhân phải nộp vào ngân sách nhà nước.
Trong hệ thống thuế nói chung, thuế GTGT là loại thuế ra đời muộn hơn và
được coi là thuế của thời kỳ hiện đại, thời kỳ sản xuất hàng hóa đến đỉnh cao. Thuế giá
trị gia tăng có tên bằng Tiếng Anh là Value Added Tax (VAT), được các nhà kinh tế
nghiên cứu ở nhiều quốc gia khác nhau4. Thuế giá trị gia tăng có nguồn gốc từ thuế
doanh thu và Pháp là quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế GTGT vào
năm 1954. Cho đến nay, loại thuế này đã được áp dụng trên 120 quốc gia và vùng lãnh
thổ khác nhau trên thế giới.
Ở Việt Nam, tiền thân của thuế GTGT là thuế doanh thu áp dụng đối với các cơ
sở sản xuất kinh doanh thuộc thành phần kinh tế tập thể và cá thể (Điều lệ thuế công
thương nghiệp ban hành theo Nghị quyết số 200/NQ-TVQH ngày 18/1/1966). Năm
1990 Quốc hội ban hành Luật thuế Doanh thu áp dụng thống nhất trong phạm vi cả
nước đối với mọi chủ thể có hoạt động sản xuất, kinh doanh. Căn cứ tính thuế của thuế
doanh thu là doanh thu tính thuế (là tồn bộ doanh thu phát sinh của khâu kinh doanh)

và thuế suất. Vì vậy, hàng hóa càng qua nhiều khâu của q trình lưu thơng, số tiền
thuế doanh thu được tính cho hàng hóa càng tăng lên một cách đột biến (do bao hàm
tiền thuế doanh thu gây nên hiện tượng chồng thuế).
Từ những bất cập trên mà trong thời gian dài, thuế doanh thu khơng phát huy
được vai trị của mình và khơng còn phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường.
Thuế GTGT ra đời là một bước tiến quan trọng của hệ thống thuế thu vào hàng hóa,
dịch vụ ở Việt nam. Do đó, ngày 10/5/1997 Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 11 đã thông
qua Luật thuế GTGT chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/1999. Tiếp đó để phù hợp hơn
3

Trường Đại học Luật Hà Nội(2006), Giáo trình Luật ngân sách nhà nước, NXB Tư Pháp, Hà Nội, tr.74- 75.
Trường Đại học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh, Khoa Luật Thương mại(2009-2010), Tập bài giảng Luật Thuế,
Tài liệu lưu hành nội bộ, tr.134-135.
4

5


với tình hình thực tế, Quốc hội cũng đã thơng qua Luật sửa đổi vào ngày 17/6/2003 và
sau đó ngày 29/11/2005 Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế GTGT. Do vẫn còn nhiều hạn chế cho nên vào
ngày 3/6/2008 tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII đã thơng qua Luật thuế GTGT thay
thế hai Luật trên và chính thức có hiệu lực vào ngày 1/1/2009.
Theo Điều 2 Luật thuế GTGT năm 2008 quy định: “Thuế GTGT là thuế tính
trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong q trình từ sản xuất, lưu
thông đến tiêu dùng”. Như vậy, xét về bản chất thuế GTGT là loại thuế gián thu5. Bản
chất của thuế gián thu là các cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ là
người nộp thuế, nhưng người tiêu dùng mới là người gánh chịu thuế cuối cùng. Có
nghĩa là, người tiêu dùng khơng trực tiếp nộp thuế vào ngân sách nhà nước mà chính
các cơ sở sản xuất, kinh doanh sẽ tiến hành nộp thuế trước, sau đó thu lại từ người tiêu

dùng khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Đồng thời, tiền thuế đã nộp được thể hiện rõ
trên hóa đơn GTGT. Do đó, chủ thể thực sự có nghĩa vụ nộp thuế GTGT là người tiêu
dùng. Cho nên khi doanh nghiệp đã tiến hành nộp thuế GTGT vào ngân sách Nhà
nước, nhưng chưa thu được tiền thuế từ người tiêu dùng thì phải được giải quyết trả lại
phần tiền thuế đã nộp.
Khác với thuế doanh thu, thuế GTGT chỉ đánh vào giá trị tăng thêm của hàng
hóa, dịch vụ trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng. Trường hợp khơng có giá
trị gia tăng thì khơng phải nộp thuế hoặc nếu có giá trị gia tăng âm thì được hoàn thuế.
Đây là điểm ưu việt của thuế GTGT so với thuế doanh thu trước đây nhằm đảm bảo
tính công bằng, hợp lý cho đối tượng nộp thuế. Bởi vì thuế GTGT là thuế đánh vào
phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ cho nên tất cả những hoạt động làm cho
giá trị của hàng hóa, dịch vụ tăng lên có thể coi là tiền đề “sinh ra” thuế GTGT6. Do
đó, những hoạt động được coi là tiền đề sinh ra thuế GTGT là những hoạt động kinh tế
của đối tượng nộp thuế bao gồm những hoạt động chuyển giao tài sản và cung ứng dịch
vụ có thanh toán bằng tiền hoặc quy ra tiền làm phát sinh GTGT.
Từ sự phân tích trên, có thể kết luận bản chất của thuế GTGT là loại thuế gián
thu và chỉ thu trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong q
trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Mặc dù được đánh giá là một trong những

5

Thuế gián thu là thuế thu đối với người tiêu dùng thông qua việc nộp thuế của người sản xuất, kinh doanh (theo
Bộ Tư Pháp- Viện khoa học pháp Lý, Từ điển Luật học, NXB Từ Điển Bách Khoa- NXB Tư Pháp, tr.738).
6
PGS.TS Trần Đình Hảo và TS.Nguyễn Thị Thương Huyền(2003), Pháp luật thuế GTGT-những vấn đề lý luận
và thực tiễn, NXB Tài Chính, tr.52.

6



loại thuế gián thu có phương pháp thu khoa học và tiên tiến nhất hiện nay7 nhưng trong
quá trình áp dụng đã bộc lộ những hạn chế cần được nghiên cứu khắc phục.
1.1.2. Ưu điểm và nhược điểm của thuế giá trị gia tăng.
Xuất phát từ đặc trưng là thuế chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hóa,
dịch vụ trong q trình lưu thơng cho nên thuế GTGT có những ưu điểm sau:
Một là, thuế GTGT có tính trung lập đối với các quy trình sản xuất, kinh doanh
khác nhau thơng qua việc xóa bỏ được vấn đề thuế đánh chồng lên thuế. Thuế GTGT
chỉ đánh lên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ trong các khâu của q trình
từ sản xuất, lưu thơng đến tiêu dùng. Do thuế GTGT chỉ đánh trên phần giá trị tăng
thêm của hàng hóa, dịch vụ nên tránh được hiện tượng đánh chồng thuế, đồng thời,
khuyến khích các chủ thể là đối tượng nộp thuế phải tự kiểm sốt lẫn nhau về giá trị
hàng hóa, dịch vụ nhằm bảo vệ lợi ích của mình. Thuế GTGT đầu ra của doanh nghiệp
này là thuế GTGT đầu vào của doanh nghiệp khác trong quá trình thực hiện hoạt động
sản xuất kinh doanh. Cho nên các chủ thể kinh doanh phải ln u cầu bên bán xuất
hóa đơn đầy đủ và hợp pháp để làm cơ sở cho việc khấu trừ và hồn thuế GTGT. Vì
vậy, việc giải quyết tình trạng thuế trùng thuế qua các khâu của quá trình lưu thơng
hàng hóa, góp phần tạo sự cơng bằng giữa các chủ thể trong hoạt động sản xuất, kinh
doanh, kích thích lưu thơng hàng hóa từ sản xuất đến tiêu dùng.
Hai là, thuế GTGT ít mang lại phản ứng nặng nề từ phía người chịu thuế lẫn đối
tượng nộp thuế, bởi đây là loại thuế gián thu cho nên đối tượng nộp thuế không phải là
người chịu thuế. Do thuế GTGT được cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ và được
nộp qua từng khâu của quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Tuy nhiên, người
phải chịu tiền thuế GTGT phát sinh là người tiêu dùng sản phẩm. Việc đánh thuế theo
phương thức này được đánh giá là một phương thức đánh thuế khôn ngoan và tiện lợi.8
Ba là, Công tác quản lý thu thuế GTGT đơn giản. Chính đối tượng nộp thuế sẽ
tự xác định số tiền thuế phải nộp và nộp trực tiếp cho cơ quan thuế có thẩm quyền theo
quy định pháp luật. Vì vậy, các cơ sở sản xuất, kinh doanh phải tự nguyện sử dụng hóa
đơn, chứng từ để đảm bảo lợi ích của chính mình. Đồng thời, có thể kiểm sốt việc sử
dụng hóa đơn, chứng từ của các cơ sở kinh doanh khác thơng qua việc mua bán có xuất
hóa đơn, chứng từ. Việc tự giác tuân thủ những quy định của pháp luật trong quá trình

nộp thuế vào ngân sách nhà nước của đối tượng nộp thuế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
cơ quan thuế trong quá trình quản lý nguồn thu của Nhà nước.

7

TS. Lê Văn Luyện(2010), “Chính sách thuế giá trị gia tăng ở nước ta trong tiến trình thực hiện các cam kết quốc
tế và khu vực”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (10), tr.37.
8
TS. Phan Hiển Minh, Tô Văn Yên(2007), Pháp luật về thuế, NXB Lao động- Xã hội.

7


Bốn là, thuế GTGT có ưu điểm khuyến khích hoạt động đầu tư và xuất khẩu.
Trong đó, hồn thuế GTGT được đánh giá là một trong những ưu điểm lớn nhất của
thuế GTGT hiện nay. Bởi vì, việc hồn thuế GTGT sẽ khuyến khích các doanh nghiệp
sử dụng hóa đơn, chứng từ, tránh được tình trạng tồn động vốn. Bên cạnh đó, thuế
GTGT cũng khuyến khích hoạt động xuất khẩu do hàng hóa xuất khẩu được hưởng
thuế suất 0%. Việc quy định mức thuế suất 0% đã tạo cơ sở cho đối tượng nộp thuế
đảm bảo điều kiện có thuế đầu ra để được cơ quan thuế thực hiện khấu trừ và hồn thuế
GTGT. Qua đó, Nhà nước cũng kiểm sốt được hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng
hóa của đối tượng nộp thuế thơng qua việc kiểm sốt được hệ thống hóa đơn, chứng từ
và từ đó khắc phục được nhược điểm của thuế doanh thu là trốn thuế.
Năm là, thuế GTGT góp phần lành mạnh hóa nền kinh tế tạo nên sự cạnh tranh
bình đẳng giữa các chủ thể. Trước hết, thuế GTGT góp phần lành mạnh hóa nền kinh tế
thông qua việc giúp xác định giá trị thực tế được thanh toán giữa các chủ thể tham gia
vào quan hệ kinh tế. Giá trị hàng hóa, dịch vụ mà nền kinh tế tạo ra được thể hiện đúng
sẽ là căn cứ quan trọng cho việc hoạch định chính sách, phát triển kinh tế, điều tiết giá
cả, hàng hóa trên thị trường. Cụ thể việc điều tiết chính sách của Nhà nước là đối với
những trường hợp hạn chế tiêu dùng thì Nhà nước sẽ đánh thuế với mức thuế suất cao,

cịn những trường hợp khuyến khích tiêu dùng Nhà nước sẽ không đánh thuế hoặc
đánh thuế với mức thuế suất thấp.
Đồng thời, thuế GTGT cũng tạo ra sự bình đẳng giữa các chủ thể như: những
chủ thể tạo ra giá trị gia tăng như nhau thì có nghĩa vụ nộp thuế như nhau; các chủ thể
phải minh bạch về tài chính do yêu cầu của việc sử dụng hóa đơn, chứng từ giúp các
doanh nghiệp kiểm sốt lẫn nhau và Nhà nước có thể kiểm sốt được q trình sản
xuất, kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Ngồi ra, áp dụng thuế GTGT sẽ khuyến
khích các doanh nghiệp sử dụng hệ thống hóa đơn, chứng từ thống nhất trong cả nước.
Bởi vì, nếu chủ thể kinh doanh khơng sử dụng đầy đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định
của Nhà nước sẽ không được cơ quan thuế thực hiện việc khấu trừ và hoàn thuế GTGT.
Bên cạnh những ưu điểm đã được trình bày, thuế GTGT cũng cịn những nhược
điểm cần phải khắc phục như sau:
Một là, những quy định về hoàn thuế GTGT chưa chặt chẽ. Luật thuế GTGT
hiện hành không định nghĩa như thế nào là hoàn thuế mà chỉ liệt kê những trường hợp
được hoàn thuế cụ thể, do đó, cơ quan thuế gặp rất nhiều khó khăn khi giải quyết hồn
thuế. Bên cạnh đó, việc quy định mang tính liệt kê này khơng phù hợp với sự phát triển
nhanh chóng của nền kinh tế. Trong thực tế, cơ quan thuế phải căn cứ vào những văn
bản hướng dẫn từ Nghị định đến Công văn để xác định trường hợp được hoàn thuế
GTGT trong Luật thuế GTGT. Việc xác định rất phức tạp và lãng phí nhiều thời gian
8


của cả doanh nghiệp và cơ quan thuế. Do đó, các cơ sở kinh doanh đã lợi dụng một
cách dễ dàng quy định của pháp luật để chiếm đoạt tiền từ ngân sách nhà nước thơng
qua việc hồn thuế GTGT.
Hai là, thuế GTGT gây ra hậu quả thiếu công bằng xã hội. Công bằng xã hội
được đặt ra yêu cầu đối với thuế là phân phối thu nhập, huy động nguồn lực vào ngân
sách nhà nước một cách hợp lý tùy theo khả năng đóng góp của từng chủ thể. Tuy
nhiên, thuế GTGT khơng đảm bảo được điều này, vì cùng trên một đơn vị hàng hóa,
dịch vụ cụ thể thì người tiêu dùng dù nghèo hay giàu, khả năng đóng góp khác nhau

đều phải chịu một số thuế giống nhau. Chính vì vậy, tỷ trọng tiền thuế GTGT trên thu
nhập của người nghèo lại cao hơn tỷ trọng tiền thuế GTGT của người giàu.
Ba là, việc quy định ba mức thuế suất (0%, 5%, 10%) là thiếu thống nhất,
không tạo ra những ứng xử linh hoạt của nhà nước. “Thông thường thuế suất là linh
hồn của một sắc thuế và là mối quan tâm hàng đầu của người nộp thuế”9. Việc quy
định nhiều mức thuế suất trong một sắc thuế trên thực tế lại là kẻ hở, và tạo ra sự tuỳ
tiện khi áp dụng, tạo cơ hội cho đối tượng nộp thuế trốn lậu thuế, tăng chi phí thanh tra,
đặc biệt với các doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng với các mức thuế suất khác
nhau. Do đó, việc thực hiện khó đảm bảo cơng bằng, minh bạch, gia tăng sự phiền hà
và không phù hợp với thuế thế giới10. Điểm hạn chế này sẽ thể hiện rõ tại các quốc gia
có nền kinh tế mới chuyển sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế
tham gia11 như Việt Nam.
Bốn là, việc áp dụng mức thuế suất thuế GTGT 5% đối với một số sản phẩm
hàng hóa, dịch vụ là đầu vào của sản xuất nơng nghiệp, trong khi các sản phẩm hàng
hóa, dịch vụ nơng nghiệp “đầu ra” lại khơng có bất cứ chứng từ, hóa đơn tài chính nào,
nên khơng được khấu trừ thuế GTGT. Với quy định này, người nông dân phải chịu
thêm một khoản chi phí cho việc sử dụng các sản phẩm, hàng hóa đầu vào cho sản xuất
nơng nghiệp. Vì vậy, họ sẽ phải chịu chi phí nhiều hơn so với những chủ thể khác khi
tiến hành sản xuất do khơng được khấu trừ và hồn thuế.
Tóm lại, thuế GTGT là một trong những loại thuế gián thu đang được nhiều
nước trên thế giới áp dụng. Tại Việt Nam, trong tương lai sắc thuế này sẽ trở thành sắc
thuế chủ yếu nhằm bù đắp nguồn thu thuế nhập khẩu khi bị cắt giảm theo cam kết quốc

9

ThS.Nguyễn Thị Kim Lý(2006), “Ba yếu tố liên quan đến việc tính thuế GTGT”, Tạp chí Thuế, (14), nguồn:
http://www.gdt.gov.vn/gdtLive/Khoi-chuc-nang/Printpopup?contentId=111047&print=ok&subContentId=111045
10
Lê Văn Luyện (2010), “Chính sách thuế giá trị gia tăng ở nước ta trong tiến trình thực hiện các cam kết quốc tế
và khu vực”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (10), tr.35.

11
Trần Xuân Thắng (Tổng cục trưởng Tổng Cục Thuế, chủ nhiệm đề tài), Mơ hình áp dụng thuế GTGT ở Việt
Nam, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, Bộ Tài Chính, tr.11.

9


tế.Vì vậy, những ưu điểm của loại thuế này phải được phát huy triệt để và những nhược
điểm phải được giảm thiểu đáng kể trong thời gian tới.
1.2.
Khái niệm hoàn thuế giá trị gia tăng và vai trò của pháp luật về
hoàn thuế giá trị gia tăng.
1.2.1. Khái niệm hoàn thuế giá trị gia tăng.
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về hoàn thuế GTGT do Luật thuế
GTGT và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có quy định khái niệm hoàn thuế
GTGT như: Theo từ điển Tiếng Việt thì “hồn” là “trả lại…”12 cịn “ thuế” là “tiền hay
hiện vật…buộc phải nộp cho Nhà Nước theo mức quy định” 13, do vậy “hoàn thuế”
được hiểu là “trả lại khoản tiền thuế đã nộp cho Nhà nước theo quy định”; hồn thuế
GTGT cũng có thể được hiểu là việc cơ quan thuế ra quyết định trả lại số tiền thuế
GTGT đã nộp vượt quá của chủ thể nộp thuế14. Hoàn thuế là việc Nhà nước trả lại cho
đối tượng nộp thuế một phần hoặc toàn bộ số thuế đã nộp do nộp thừa hoặc do được
hưởng ưu đãi, miễn, giảm thuế nên không phải nộp hoặc nộp ít hơn số thuế đã nộp.15
Tuy nhiên, hoàn thuế GTGT được hiểu là việc ngân sách nhà nước trả lại cho cơ sở
kinh doanh số tiền thuế mà cơ sở kinh doanh đã nộp thừa, so với số tiền thuế GTGT mà
cơ sở kinh doanh có nghĩa vụ phải nộp vào ngân sách Nhà nước. Do đó, căn cứ để xét
hoàn thuế GTGT là sự thay đổi giảm giá trị của hàng hóa, dịch vụ hoặc thay đổi về
mức độ điều tiết thuế qua các khâu lưu thông. Căn cứ này là kết quả có được khi so
sánh và xác định sự chênh lệch giữa thuế GTGT đầu vào và đầu ra, nói cách khác là
khi khấu trừ thuế.
Các quan điểm này nhấn mạnh hoàn thuế GTGT là quyền của đối tượng nộp

thuế, nhưng là quyền có điều kiện, được pháp luật quy định nhằm đảm bảo tính cơng
bằng, bình đẳng trong quan hệ pháp luật thuế với Nhà nước. Hồn thuế GTGT khơng
đơn thuần chỉ là trả lại số tiền thuế đã nộp thừa với mục đích cơng bằng mà nó cịn thể
hiện rõ việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, cụ thể là khuyến khích hoạt động
sản xuất hàng xuất khẩu. Tuy nhiên, các quan điểm trên đều giới hạn trong cách hiểu
điều kiện cần để được hoàn thuế GTGT là: đối tượng nộp thuế đã thực hiện việc nộp
thuế vào ngân sách nhà nước mà khơng giải thích rõ nội hàm của khái niệm hoàn thuế
GTGT. Để xây dựng khái niệm hoàn thuế GTGT, trước hết cần phải xem xét hoàn thuế
GTGT dưới các góc độ khác nhau kết hợp với đối chiếu tổng quát các trường hợp được
hoàn thuế theo quy định của pháp luật để xác định rõ mục đích của việc hồn thuế.
12

Viện ngơn ngữ học(2006), Từ điển Tiếng Việt, Hồng Phê chủ biên, NXB Đà Nẵng, tr.449.
Viện ngơn ngữ học(2006), Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, NXB Đà Nẵng, tr.963.
14
Trường Đại học Luật Hà Nội(2008), Giáo trình Luật thuế Việt Nam, NXB Tư Pháp, Hà Nội, tr.93.
15
Phan Thị Thành Dương(2005), “ Một số vấn đề pháp lý về quyền của đối tượng nộp thuế”, Tạp chí Khoa học
pháp lý, (01).
13

10


Nếu xét dưới góc độ kinh tế, hồn thuế GTGT là việc Nhà nước chấp nhận hoàn
trả một khoản tiền thuế GTGT đã thu vào ngân sách nhà nước cho đối tượng nộp thuế
trong những trường hợp theo quy định của pháp luật. Do đó, mục đích của Nhà nước
khi thực hiện việc hồn thuế nhằm đảm bảo lợi ích chính đáng của người nộp thuế và
để thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội của nhà nước. Tuy nhiên, nếu xét dưới góc độ
pháp luật, hồn thuế GTGT là một nội dung được quy định trong pháp luật thuế GTGT,

gồm các nội dung cơ bản như các trường hợp được hoàn thuế gắn với điều kiện nhất
định và đối tượng nộp thuế phải thực hiện theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định để
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết hồn thuế.
Như vậy, theo quan điểm của tác giả, hoàn thuế GTGT là một nội dung được
quy định trong pháp luật thuế GTGT, trong đó Nhà Nước có nghĩa vụ hồn trả khoản
tiền thuế GTGT đã nộp thừa vào ngân sách Nhà Nước cho đối tượng nộp thuế trong
những trường hợp luật định. Nếu “nộp thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân”16 thì
hồn thuế là quyền luật định của các cơ sở sản xuất, kinh doanh đã thực hiện nghĩa vụ
thuế với Nhà nước. Với quan điểm này, bản chất của hoàn thuế GTGT không chỉ là
việc trả lại số tiền thuế đã nộp thừa vào ngân sách nhà nước mà còn thể hiện mục đích
chính sách thuế của Nhà nước. Như vậy, hồn thuế GTGT có vai trị quan trọng, là một
nội dung không thể thiếu trong pháp luật thuế GTGT, nó khơng chỉ giúp đối tượng nộp
thuế bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, tránh tồn động vốn mà cịn giúp Nhà nước
kiểm sốt hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể.
Vì hồn thuế GTGT là quyền, khơng phải là nghĩa vụ, do đó việc xác định chủ
thể được hưởng quyền này là hết sức quan trọng và cần thiết. Luật thuế GTGT 2008 và
Nghị định 123/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
thuế GTGT năm 2008 (sau đây gọi là Nghị định 123/2008/NĐ-CP), Thông tư
129/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT và hướng dẫn
thi hành Nghị định 123/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật thuế GTGT (sau đây gọi là Thông tư 129/2008/TT-BTC)
quy định người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ chịu thuế GTGT (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập
khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT (sau đây gọi là người nhập khẩu). Tuy nhiên, tại Điều
13 Luật thuế GTGT năm 2008 xác định chỉ có cơ sở kinh doanh nếu thuộc trường hợp
được hồn thuế mới có quyền yêu cầu cơ quan thuế giải quyết hoàn thuế. Điều này có
nghĩa là, các cơ sở kinh doanh này có nghĩa vụ nộp thuế và ngân sách nhà nước và đã
thực hiện việc nộp thuế nhưng chưa thu lại từ người tiêu dùng nên có quyền được hồn
16


Điều 80 Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Vệt Nam năm 1992, Khoản 1 điều 4 Luật Quản lý thuế
năm 2006.

11


thuế. Chính vì vậy, các cơ sở kinh doanh là đối tượng nộp thuế, cho nên chủ thể được
hoàn thuế GTGT là đối tượng nộp thuế, không phải người nộp thuế theo Luật Quản lý
thuế năm 2006.
1.2.2. Vai trò của pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng.
Là một nội dung quan trọng trong pháp luật thuế GTGT của quốc gia, các quy
định pháp luật về hoàn thuế GTGT không chỉ tạo cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ
quyền lợi chính đáng của đối tượng nộp thuế, mà cịn là cơng cụ để Nhà nước điều tiết
nền kinh tế, kiểm tra gián tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh của đối tượng nộp thuế.
1.2.2.1. Hoàn thuế giá trị gia tăng tạo cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ
quyền lợi chính đáng của đối tượng nộp thuế.
Quan hệ pháp luật thuế là các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động thu, nộp
thuế giữa các cá nhân, tổ chức (chủ thể nộp thuế) và Nhà nước (chủ thể thu thuế) được
điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật thuế17. Về cơ bản, chủ thể của quan hệ pháp
luật thuế gồm hai loại chủ thể: Nhà nước mà đại diện là các cơ quan thu thuế và đối
tượng nộp thuế là các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải nộp thuế cho Nhà nước. Theo
đó, nghĩa vụ nộp thuế của đối tượng nộp thuế là nghĩa vụ do pháp luật quy định (nghĩa
vụ hành chính) khơng phải là nghĩa vụ hình thành trên cơ sở hợp đồng (nghĩa vụ dân
sự)18. Trong quan hệ pháp luật thuế, các chủ thể là đối tượng nộp thuế buộc phải
chuyển giao một phần lợi ích của mình vào ngân sách nhà nước. Chẳng hạn, tại Điều
80 Hiến pháp Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992 ghi nhận : “Nộp thuế là
nghĩa vụ của công dân”. Nghĩa vụ nộp thuế này phát sinh đối với đối tượng nộp thuế
khi thỏa mãn hai điều kiện: có hành vi trực tiếp tác động lên đối tượng chịu thuế và
phải có nghĩa vụ nộp thuế trực tiếp theo quy định pháp luật 19. Do họ khơng có hoặc
khơng xác định rõ quyền cho nên nhận thấy mình bị cưỡng bức, bị tước bỏ một phần

lợi ích vật chất và sẽ tìm cách để gian lận tiền thuế. Vì vậy, khi tham gia quan hệ pháp
luật thuế, đối tượng nộp thuế cần phải có một số quyền nhất định20
Như vậy, để đảm bảo công bằng trong quan hệ pháp luật thuế, Nhà nước đã ghi
nhận hoàn thuế là quyền của đối tượng nộp thuế cụ thể tại Điều 13 Luật thuế GTGT
2008 và Điều 10 Nghị định 123/2008/NĐ-CP. Đây vừa là quyền trực tiếp21, vừa là

17

Trường Đại học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh, Khoa Luật Thương mại(2009-2010), Tập bài giảng Luật Thuế,
Tài liệu lưu hành nội bộ, tr.41.
18
Xem thêm: Tô Thị Ngọc Khuyên(2009), Tranh chấp thuế- Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt
nghiệp cử nhân Luật, Đại học Luật Hà nội.
19
Xem thêm: Trường Đại học Luật Hà Nội(2005), Giáo trình Luật thuế, NXB Cơng an nhân dân, tr.33-34.
20
http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&view=article&id=415:msvplvqctnt&cat
id=99:ctc20051&Itemid=108.
21
Quyền trực tiếp là quyền mà ĐTNT có được trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế.

12


quyền có điều kiện22 của đối tượng nộp thuế. Bên cạnh đó, với bản chất của thuế gián
thu thì người tiêu dùng là người chịu thuế, đối tượng nộp thuế chỉ phải nộp thuế cho
Nhà nước đúng bằng số tiền mà họ thu được từ người tiêu dùng. Do đối tượng nộp thuế
khi sản xuất, kinh doanh đã nộp thuế trước cho nhà nước, nhưng chưa thu được hoặc
chưa thu đủ từ người tiêu dùng cho nên phải được hoàn thuế. Tuy nhiên, xét về bản
chất thì đối tượng nộp thuế chỉ là người nộp thuế thay cho người tiêu dùng và khơng

nhận được lợi ích gì từ việc nộp thuế hay hồn thuế, có khi cịn phải chịu những chi phí
phát sinh bất hợp lý. Do quan hệ pháp luật thuế không phải là quan hệ phát sinh từ hợp
đồng, cho nên quyền của đối tượng nộp thuế là nghĩa vụ của cơ quan thuế. Mục đích
của việc thừa nhận hoàn thuế GTGT là quyền của đối tượng nộp thuế là nhằm bảo vệ
lợi ích chính đáng của họ.
Chẳng hạn, đối với trường hợp đối tượng nộp thuế đã nộp thuế theo phương
pháp khấu trừ thuế và nếu sau thời gian 3 tháng liên tục trở lên có số thuế đầu vào chưa
được khấu trừ hết thì được hồn thuế GTGT. Trong trường hợp này thì đối tượng nộp
thuế đã nộp đầy đủ thuế GTGT đầu vào, nhưng chưa thu đủ số thuế đầu ra từ người
tiêu dùng. Vì lẽ đó, việc họ được u cầu hồn lại số tiền thuế đã nộp chưa được khấu
trừ hết là chính đáng, do đó, cơ quan thuế phải có nghĩa vụ giải quyết đúng quy định.
Như đã phân tích trên, quy định về hồn thuế GTGT có thể có tác động kích cầu tiêu
dùng, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Bên cạnh đó, việc ngăn chặn trốn thuế
hiệu quả không những tăng nguồn thu ngân sách hợp lý mà cịn góp phần tạo ra mơi
trường kinh doanh bình đẳng, lành mạnh giữa các chủ thể trong nền kinh tế,23 đồng
thời, tạo cơ sở pháp lý bảo vệ quyền lợi chính đáng của đối tượng nộp thuế.
1.2.2.2. Hồn thuế giá trị gia tăng là công cụ để Nhà nước khuyến khích đầu tư.
Hồn thuế GTGT khơng chỉ tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi chính đáng
của đối tượng nộp thuế, mà cịn có ý nghĩa hết sức tích cực trong việc khuyến khích
đầu tư. Điều kiện cần để đối tượng nộp thuế được hoàn thuế GTGT là họ đã nộp số tiền
thuế có nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước. Thông thường, khoản tiền thuế GTGT
đầu vào đối tượng nộp thuế đã nộp được trích từ nguồn vốn đầu tư. Vì lẽ đó, khi chưa
thu được hoặc thu chưa đủ số tiền thuế đã nộp từ người tiêu dùng, cơ quan thuế phải có
nghĩa vụ hồn lại số tiền đã thu.Vì vậy, hồn thuế có ý nghĩa trong việc giải quyết vấn
đề về vốn, tránh ứ động vốn và tăng khả năng đầu tư của đối tượng nộp thuế.
Bên cạnh đó, các cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký
kinh doanh, đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, hoặc dự án tìm kiếm
22

Quyền có điều kiện là quyền được thừa nhận và đảm bảo thực hiện bằng những quy định pháp luật.

TS. Lê Xuân Trường(2009), “Sử dụng thuế ngăn chặn đà suy giảm kinh tế: làm gì để kịch bản mong đợi?”, Tạp
chí Tài Chính, (06), tr.41.
23

13


thăm dị và phát triển mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động,
nếu thời gian đầu tư từ một năm trở lên thì được hồn thuế GTGT của hàng hóa, dịch
vụ sử dụng cho đầu tư theo từng năm. Trường hợp số thuế GTGT lũy kế của hàng hóa,
dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư từ 200 triệu đồng trở lên thì được hồn thuế
GTGT.24 Việc hồn thuế đầu vào sẽ có tác dụng đáng kể cho hoạt động sản xuất, kinh
doanh như có nguồn vốn để tiếp tục đầu tư. Mục đích cuối cùng của việc hồn thuế là
góp phần khuyến khích các cơ sở kinh doanh tiếp tục đầu tư vào hoạt động sản xuất,
kinh doanh. Mặt khác, chính sách này cũng nhằm thu hút đầu tư và tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh.
Vì vậy, khi nhà đầu tư nhận thấy không phải chịu gánh nặng về thuế đầu vào,
tác động trực tiếp đến lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hoạt động đầu tư. Do đó,
hồn thuế GTGT là điều kiện giúp giải quyết những khó khăn tạm thời về vốn của nhà
đầu tư, khuyến khích các nhà đầu tư tăng khả năng đầu tư vào sản xuất, kinh doanh.
1.2.2.3. Pháp luật về hồn thuế giá trị gia tăng là cơng cụ để Nhà nước khuyến
khích hoạt động xuất khẩu.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật thuế GTGT năm 2008, thuế GTGT đối
với mặt hàng xuất khẩu được áp dụng mức thuế suất là 0%. Do đó, số thuế GTGT đầu
ra tính cho hoạt động xuất khẩu ln bằng 0, cơ sở kinh doanh xuất khẩu không những
không phải nộp tiền thuế đầu ra mà cịn được hồn thuế đầu vào. Với mức thuế suất
này, đối tượng nộp thuế vừa không phải nộp tiền thuế, vừa được khấu trừ và hoàn lại
toàn bộ số thuế GTGT đã nộp vào ngân sách nhà nước. Trên cơ sở đảm bảo yêu cầu
thu chính xác của thuế GTGT, chính sách thuế này sẽ hỗ trợ cho các cơ sở kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu như:

Một là, hoàn thuế tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh
trên thị trường thế giới thông qua việc hạ giá thành hàng hóa, cung ứng dịch vụ xuất
khẩu, góp phần tăng khả năng đầu tư vào kiểu dáng, chất lượng sản phẩm. Do hàng
hóa, dịch vụ khơng được tiêu dùng, sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam nên không ảnh
hưởng đến việc cạnh tranh với hàng hóa trong nước. Trong khi đó, xuất khẩu là hoạt
động mọi quốc gia đều khuyến khích nhằm phát triển sản xuất, kinh doanh và phát
triển kinh tế hàng hóa, thu ngoại tệ cho quốc gia25…việc hạ giá thành sản phẩm xuất
khẩu được thực hiện trên cơ sở mức giá hàng hóa dịch vụ chỉ bao gồm chi phí trong
q trình sản xuất, lưu thơng mà khơng bao gồm thuế GTGT đầu vào.
24

Khoản 2 Điều 10 Nghị định 123/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của thuế
GTGT năm 2008.
25
Trường Đại học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh, Khoa Luật Thương mại(2009-2010), Tập bài giảng Luật Thuế,
Tài liệu lưu hành nội bộ, tr.150.

14


Hai là, hồn thuế GTGT có tác động hỗ trợ về vốn kinh doanh của doanh
nghiệp như khi hàng hóa thực xuất khẩu doanh nghiệp mới được hoàn thuế GTGT. Do
đó, số tiền thuế mà doanh nghiệp phải ứng trước để nộp thuế GTGT trong các khâu
trước có giá trị tương đối lớn và các doanh nghiệp xuất khẩu phải có nguồn vốn lớn để
vừa huy động nguồn hàng, vừa phải ứng trước tiền thuế đầu vào. Việc hoàn lại số tiền
thuế GTGT đã nộp cho đối tượng nộp thuế là một trong những điều kiện thuận lợi giúp
họ có thêm vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh và tiến hành đầu tư mới,
đồng thời, đây cũng là một ưu đãi mà Nhà nước dành cho doanh nghiệp kinh doanh
xuất khẩu so với các doanh nghiệp không xuất khẩu. Vì lẽ đó, các doanh nghiệp kinh
doanh xuất khẩu ln tìm cách xúc tiến nhanh việc xuất khẩu để được hoàn thuế GTGT

theo quy định của pháp luật.
Mục đích cuối cùng của việc quy định mức thuế suất 0%: là tạo điều kiện để
doanh nghiệp tăng cường khả năng đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả
năng cạnh trên thị trường thế giới. Như vậy, hoàn thuế GTGT có vai trị khá lớn đối với
nền kinh tế như: kích thích hoạt động xuất khẩu và phát triển nền sản xuất trong nước.
1.2.2.4. Hoàn thuế GTGT là công cụ để Nhà nước kiểm tra gián tiếp hoạt động
sản xuất, kinh doanh của đối tượng nộp thuế.
Đối tượng nộp thuế chỉ được khấu trừ thuế GTGT khi chứng minh được mình
đã nộp thuế đầu vào và có phát sinh thuế đầu ra bằng việc kê khai đầy đủ hóa đơn hợp
pháp26. Quy định này tạo ra dây chuyền kiểm soát giữa các doanh nghiệp trong việc
mua bán hàng hóa và các cơ sở kinh doanh sẽ tự nguyện sử dụng hóa đơn chứng từ để
được hồn thuế. Đặc biệt, hàng hóa xuất khẩu thì được áp dụng mức thuế suất thuế
GTGT 0%. Với mức thuế suất này, các cơ sở kinh doanh có hành vi xuất khẩu phải nộp
thuế GTGT với số tiền luôn bằng 0, nhưng vẫn phải đăng ký, kê khai, quyết tốn thuế.
Vì được hồn thuế nên sẽ khuyến khích các chủ thể tích cực, chủ động kê khai hàng
hóa, dịch vụ xuất khẩu và sử dụng đầy đủ hệ thống hóa đơn, chứng từ. Do đó, thơng
qua việc quản lý hóa đơn, chứng từ Nhà nước đã kiểm soát một cách gián tiếp hoạt
động sản xuất kinh doanh của các chủ thể. Hiện nay, theo thống kê cả nước có khoảng
hơn 178.000 doanh nghiệp (trong đó Hà Nội có hơn 73.000 doanh nghiệp và TP.HCM
gần 105.000 doanh nghiệp)27. Các doanh nghiệp có sự đóng góp đáng kể vào sự phát
triển của nền kinh tế, do đó, việc kiểm sốt chặt chẽ hoạt động sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp sẽ là cơ sở quan trọng để ổn định và phát triển kinh tế.

26

Hóa đơn hợp pháp là hóa đơn đảm bảo đúng, đầy đủ về hình thức và nội dung theo quy định tại Nghị định
51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
27
Lê Ngun Hợp(2011), Sử dụng hóa đơn tự in; Lợi ích 6 trong 1, Tạp chí Thuế nhà nước, (12), tr.7.


15


Vì thuế GTGT ngày càng chiểm tỷ trọng cao trong hệ thống chính sách thuế của
nước ta (chiếm khoảng 30% tổng thu ngân sách)28. Trong đó, hồn thuế là một trong
những chế định có vai trị quan trọng, cho nên những quy định pháp luật về hoàn thuế
phải chặt chẽ để thực thi hiệu quả trong thực tế nhằm hạn chế tối đa tình trạng gian lận
tiền thuế từ ngân sách nhà nước của các chủ thể kinh doanh.
1.3.

Những quy định của pháp luật hiện hành về hoàn thuế giá trị gia

tăng.
1.3.1. Căn cứ và phương pháp tính thuế giá trị gia tăng.
1.3.1.1. Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng.
Theo quy định tại Điều 6 Luật thuế GTGT năm 2008 thì căn cứ tình thuế GTGT
là giá tính thuế và thuế suất. Giá tính thuế GTGT được quy định cụ thể tại Điều 7 Luật
thuế GTGT, Điều 4 Nghị định 123/2008/NĐ-CP và Thơng tư 129/2008/TT-BTC như
sau:
Một là, giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra
là giá bán chưa có thuế GTGT; đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là
giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế GTGT. Đặc biệt, giá tính thuế
đối với các loại hàng hóa, dịch vụ bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm ngồi giá
hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh đang được hưởng, trừ các khoản phụ thu mà cơ
sở kinh doanh phải nộp vào ngân sách nhà nước. Trường hợp cơ sở kinh doanh áp
dụng hình thức giảm giá bán, chiết khấu thương mại dành cho khách hàng (nếu có) thì
giá tính thuế GTGT là giá đã giảm, đã chiết khấu thương mại dành cho khách hàng ghi
trên hóa đơn GTGT.
Hai là, đối với hàng hóa nhập khẩu thì giá tính thuế là giá nhập tại cửa khẩu29
cộng với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có). Trong

trường hợp hàng hóa nhập khẩu được miễn, giảm thuế nhập khẩu thì giá tính thuế
GTGT là giá nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu xác định theo mức thuế phải nộp sau
khi được miễn, giảm.
Ba là, giá tính thuế đối với các trường hợp cịn lại được hướng dẫn cụ thể tại
Điều 4 NĐ 123/2008/NĐ-CP và mục I phần B Thơng tư 129/2008/TT-BTC. Giá tính
thuế được xác định bằng đồng Việt Nam. Trường hợp đối tượng nộp thuế có doanh thu
bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên

28
29

Lê Văn Luyện, tlđd, tr.37.
Giá nhập tại của khẩu được xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu.

16


thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời
điểm phát sinh doanh thu để xác định giá tính thuế.30
Về thuế suất: “Thuế suất thuế GTGT có thể xem là mức thuế phải thu vô Nhà
nước theo quy định”31. Do thuế suất thuế GTGT là một khoản độc lập với chi phí sản
xuất cấu thành nên giá cả của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT. Trong hai căn cứ
tính thuế thì thuế suất là căn cứ mà qua đó Nhà nước thực hiện được quyền chủ động
điều chỉnh mức thuế suất thuế GTGT phải nộp. Quy định này có ý nghĩa đối với Nhà
Nước trong việc thực hiện chính sách kinh tế - xã hội của đất nước, giúp nhà nước thực
hiện tốt vai trị quản lý của mình.
Hơn nữa, thuế suất thuế GTGT thường có phạm vi tác động rộng, ảnh hưởng rất
lớn đến giá cả hàng hóa, dịch vụ32, cho nên thuế suất thuế GTGT thường thấp. Theo
quy định tại Điều 8 Luật thuế GTGT năm 2008 thì có ba mức thuế suất cụ thể: thuế
suất 0% chủ yếu áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu; thuế suất 5% được áp

dụng đối với hàng hóa, dịch vụ là đầu vào của sản xuất nông nghiệp và các mặt hàng
thiết yếu; còn thuế suất 10% được xác định theo phương pháp loại trừ, áp dụng đối với
các hàng hóa, dịch vụ khơng thuộc diện áp dụng các mức thuế suất 0%, 5% (những
hàng hóa, dịch vụ khơng thuộc nhóm hàng hóa, dịch vụ khơng thiết yếu, ít ảnh hưởng
tới mặt bằng giá chung).
1.3.1.2.

Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng.

Theo quy định tại Điều 9 Luật thuế GTGT năm 2008 thì có hai phương pháp
tính thuế GTGT: phương pháp khấu trừ thuế GTGT và phương pháp tính trực tiếp trên
giá trị gia tăng.


Phương pháp khấu trừ thuế

Phương pháp khấu trừ thuế GTGT là phương pháp tối ưu khi tính thuế GTGT,
có cách tính tương đối chính xác, dễ hiểu và rõ ràng 33. Theo phương pháp này, số thuế
GTGT phải nộp bằng số thuế GTGT đầu ra trừ số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ.
Trong đó, thuế GTGT đầu ra bằng giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế bán ra
nhân với thuế suất thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ đó.Trường hợp sử dụng chứng từ
ghi giá thanh tốn là giá đã có thuế GTGT thì thuế GTGT đầu ra được xác định bằng
giá thanh tốn trừ giá tính thuế xác định theo quy định tại điểm k khoản 1 Điều 7 Luật
thuế GTGT. Thuế GTGT đầu vào bằng tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT
30

Xem khoản 2, 3 Điều 7 Luật thuế GTGT năm 2008.
Bộ tư pháp- Viện khoa học pháp lý(2006), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách Khoa_NXB Tư pháp.
32
Trường đại học Luật TP.Hồ Chí Minh, Khoa Luật Thương mại(2009-2010), tlđd, tr.149.

33
Đào Hồng Diễm(2009), Pháp luật về phương pháp khấu trừ thuế GTGT- Thực trạng áp dụng và hướng hồn
thiện, Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Luật, Đại học Luật Thành phố Hồ chí Minh.
31

17


mua hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất, kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT, số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp thuế của hàng
hóa nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngồi theo hướng
dẫn của Bộ Tài Chính áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngồi có hoạt động kinh
doanh tại Việt Nam nhưng không thành lập pháp nhân tại Việt Nam.(tổng tiền thuế
GTGT đã trả ở những khâu trước đó).
Vì vậy, các cơ sở kinh doanh phải đáp ứng hai điều kiện sau mới được nộp thuế
GTGT theo phương pháp khấu trừ: cơ sở kinh doanh phải thực hiện đầy đủ chế độ kế
tốn, hóa đơn, chứng từ theo quy định pháp luật về kế tốn, hóa đơn, chứng từ và phải
đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế.34 Việc nộp thuế theo phương pháp
này sẽ góp phần lành mạnh hóa hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp nhà nước kiểm
sốt được giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ đang lưu thông trên thị trường thông
qua việc quản lý hóa đơn, chứng từ.
Bên cạnh đó, khi nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, đối tượng nộp
thuế sẽ rơi vào một trong ba trường hợp sau: thứ nhất, nếu số thuế GTGT đầu vào nhỏ
hơn số thuế GTGT đầu ra thì ĐTNT sẽ được khấu trừ thuế đầu vào, có nghĩa là họ chỉ
phải nộp tiền thuế cho phần chênh lệch giữa số thuế đầu ra trừ đi số thuế đầu vào đã
nộp; thứ hai, nếu số thuế GTGT đầu vào đã nộp bằng số thuế GTGT đầu ra phát sinh
thì họ khơng phải nộp thuế GTGT vì số thuế phải nộp bằng 0; thứ ba, nếu số thuế
GTGT đầu vào đã nộp lớn hơn số thuế GTGT đầu ra thì ĐTNT sẽ được hồn lại phần
thuế GTGT chênh lệch giữa đầu vào và đầu ra. Việc khấu trừ thuế GTGT đầu vào được
quy định cụ thể tại Điều 12 Luật thuế GTGT năm 2008, được hướng dẫn cụ thể tại

Điều 9 Nghị định 123/2008/NĐ-CP đã thể hiện những điểm tiến bộ nhất định so với
quy định trong Luật thuế GTGT năm 1997 được sửa đổi năm 2003.
Đồng thời, để cơ sở kinh doanh được khấu trừ thuế GTGT đầu vào thì cơ sở
kinh doanh phải có đầy đủ hóa đơn GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc chứng
từ nộp thuế GTGT hàng hóa ở khâu nhập khẩu, chứng từ nộp thuế GTGT đối với
trường hợp mua dịch vụ và có chứng từ thanh tốn qua ngân hàng trừ trường hợp hàng
hóa, dịch vụ mua vào từng lần có giá trị dưới 20 triệu đồng35. Việc quy định thêm điều
kiện phải có chứng từ thanh tốn qua ngân hàng nhằm hạn chế tình trạng gian lận
chiếm đoạt tiền thuế, gây khó khăn cho cơ quan thuế trong kiểm tra giám sát thu thuế.
Vì vậy, điều kiện cần để được khấu trừ và hoàn thuế GTGT là đối tượng nộp
thuế phải nộp thuế GTGT đầu vào và phải phát sinh thuế GTGT đầu ra. Nếu trong
trường hợp đối tượng nộp thuế không nộp thuế GTGT đầu vào (có nghĩa là hàng hóa,
34
35

Khoản 2 Điều 10 Luật thuế GTGT năm 2008.
Khoản 2 Điều 12 Luật thuế GTGT năm 2008.

18


dịch vụ đầu vào rơi vào trường hợp không chịu thuế GTGT) nhưng có phát sinh thuế
đầu ra sẽ khơng được khấu trừ thuế, hoặc đã nộp thuế GTGT đầu vào nhưng khơng
phát sinh thuế GTGT đầu ra (có nghĩa là hàng hóa, dịch vụ bán ra là những hàng hóa,
dịch vụ khơng chịu thuế GTGT) thì đối tượng nộp thuế khơng được hồn thuế. Xét về
khía cạnh pháp lý, phương pháp khấu trừ thuế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan
thuế, cho nên pháp luật các nước đang áp dụng thuế GTGT đều quy định phương pháp
khấu trừ thuế là phương pháp tính thuế chủ yếu của loại thuế này. Phương pháp khấu
trừ còn thúc đẩy các tổ chức kinh tế hoạch toán theo chuẩn mực pháp luật36.



Phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp trên giá trị gia tăng

Nộp thuế GTGT bằng phương pháp khấu trừ thể hiện tính ưu việt: vừa có lợi
cho người nộp thuế, vừa đáp ứng yêu cầu về hành thu và quản lý nhà nước37.Thế
nhưng, không phải đối tượng nộp thuế nào cũng đáp ứng được điều kiện nộp thuế
GTGT bằng phương pháp khấu trừ. Vì vậy, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc nộp
thuế của những chủ thể không đủ điều kiện nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
và hạn chế tình trạng thất thu thuế, pháp luật thuế GTGT cịn quy định phương pháp
tính trực tiếp trên GTGT.
Phương pháp trừ trực tiếp là phương pháp tính thuế mà theo đó “số thuế GTGT
phải nộp bằng giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra nhân với thuế suất thuế
GTGT”38. Trong đó phần giá trị gia tăng được xác định bằng giá thanh tốn 39 của hàng
hóa, dịch vụ bán ra trừ giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ mua vào40. Phương pháp
này áp dụng đối với các đối tượng sau: cá nhân sản xuất, kinh doanh là người Việt
Nam chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp
luật; tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật đầu tư và
các tổ chức khác không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế tốn, hóa
đơn, chứng từ theo quy định pháp luật; cơ sở kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý,
ngoại tệ41. Phần lớn các cơ sở kinh doanh này đều khơng thực hiện tốt chế độ hóa đơn,
chứng từ. Do vậy, trong thực tiễn các cơ quan thuế thường xác định GTGT thông qua
việc ấn định tỷ lệ GTGT hoặc ấn định tỷ lệ doanh thu.
Đặc biệt, mọi trường hợp (không phân biệt chủ thể, không phân biệt có hay
khơng sử dụng đầy đủ hệ thống hóa đơn chứng từ) cơ sở kinh doanh mua, bán vàng,
36

Trường đại học Luật Hà Nội(2008), Giáo trình Luật thuế Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.83.
Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh(2008), tlđd, tr.154.
38
Xem điểm a khoản 1 Điều 11 Luật thuế GTGT năm 2008.

39
Giá thanh tốn của hàng hóa, dịch vụ bán ra là giá thực tế bán ghi trên hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ bao gồm
cả thuế GTGT và các khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên bán được hưởng.
40
Giá thanh tốn của hàng hóa, dịch vụ mua vào được xác định bằng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào bao gồm
cả thuế GTGT đã dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT bán ra.
41
Khoản 2 Điều 11 Luật thuế GTGT năm 2008.
37

19


bạc, đá quý, ngoại tệ đều phải nộp thuế GTGT bằng phương pháp trực tiếp trên GTGT.
Bởi vì, bản thân vàng bạc, đá quý, ngoại tệ được xem là vật ngang giá chung hơn là
hàng hóa, do bản thân nó khơng có sự gia tăng giá trị trong q trình lưu thơng. Giá trị
gia tăng (nếu có) thực chất là biểu hiện thông qua sự gia tăng giá trị của một loại hàng
hóa, dịch vụ khác. Trong trường hợp cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo
phương pháp khấu trừ thuế có hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá q thì
được tính và kê khai thuế phải nộp riêng đối với hoạt động kinh doanh mua, bán vàng,
bạc, đá quý theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng.
Với cách tính thuế trên, phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT sẽ làm nảy
sinh những điểm hạn chế như: nếu cơ sở kinh doanh có số thuế phát sinh trong kỳ tính
thuế là một số âm thì cơ sở kinh doanh vẫn khơng được khấu trừ và hồn thuế do
khơng có hóa đơn, chứng từ; hiện tượng trùng thuế xảy ra do khơng có sự tách bạch giá
trị gia tăng qua các khâu, tiền thuế GTGT đã nộp ở khâu trước đó lại cấu thành trong
giá hàng hóa ở khâu tính thuế. Đây là điều bất hợp lý, vì xét về bản chất nộp thuế theo
phương pháp nào thì cũng đều thơng qua hoạt động mua bán hàng hóa, cũng tạm nộp
thuế GTGT đầu vào, mà chỉ có trường hợp có hóa đơn GTGT mới được khấu trừ và
hoàn thuế. Như vậy, quy định này là hồn tồn khơng hợp lý, khơng đảm bảo được lợi

ích chính đáng của các thành phần kinh tế.
Thực tế quản lý thuế cho thấy, các chủ thể nộp thuế GTGT theo phương pháp
khấu trừ thuế chiếm tỷ lệ không lớn so với tổng các chủ thể nộp thuế GTGT, nhưng số
thuế được thu nộp lại chiếm đa số. Ngược lại, chủ thể nộp thuế theo phương pháp trừ
trực tiếp chiếm tỷ lệ lớn, nhưng tổng thu thuế GTGT của các đối tượng này khơng cao,
chi phí quản lý lớn so với chủ thể nộp thuế theo phương pháp khấu trừ. Với xu hướng
đổi mới công tác quản lý thuế, bảo đảm bình đẳng nghĩa vụ giữa các chủ thể nộp thuế,
đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ ngày càng nhiều và tiến tới áp dụng một
phương pháp tính thuế GTGT cho tất cả các chủ thể thuộc diện nộp thuế GTGT.
1.3.2. Trường hợp được hoàn thuế giá trị gia tăng.
Những trường hợp được hoàn thuế GTGT được quy định cụ thể tại Điều 13 Luật
thuế GTGT năm 2008, được hướng dẫn chi tiết tại Điều 10 Nghị định 123/2008/NĐCP và tại mục A Thông tư 129/2008/TT-BTC. Qua nghiên cứu những quy định pháp
luật về hoàn thuế GTGT thì đối tượng nộp thuế GTGT được hồn thuế trong những
trường hợp sau:

20


×