Tải bản đầy đủ (.pdf) (64 trang)

Thực trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.04 MB, 64 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
-----------***------------

BAN ĐIỀU HÀNH
CÁC CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT

NGUYỄN XUÂN LINH

THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI
TỊA ÁN

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Khoa: Luật Thương mại
Niên khóa: 2012 - 2016

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
-----------***------------

BAN ĐIỀU HÀNH
CÁC CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT

NGUYỄN XUÂN LINH

THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH


CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI
TỊA ÁN

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Khoa: Luật Thương mại
Niên khóa: 2012 - 2016

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN VÂN
Người thực hiện: NGUYỄN XUÂN LINH
MSSV: 1253801011653
Lớp: CLC 37A

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NĂM 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đề tài “Thực trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng
tín dụng tại Tịa án” là kết quả quá trình nghiên cứu của riêng tác giả, được thực
hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Vân, đảm bảo tính trung
thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo. Tác giả xin
chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này.

Tác giả khóa luận

Nguyễn Xuân Linh


LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật chuyên ngành Luật Thương

mại với đề tài “Thực trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án”,
tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô, đặc biệt cảm ơn PGS.TS
Nguyễn Văn Vân - người đã góp phần rất lớn, khơng chỉ ở vai trò định hướng mà còn
là người sửa chữa những thiếu sót giúp tác giả hồn thành tốt khóa luận của mình.
Bên cạnh đó, tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến Thẩm phán Tòa án Nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh đã cung cấp cho tác giả những Bản án, Quyết định Giám đốc
thẩm của Tòa án nhân dân tối cao để tác giả có thể hồn thành khóa luận của mình.
Xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Xuân Linh


DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT

NỘI DUNG ĐƯỢC VIẾT TẮT

BLDS

Bộ luật dân sự

BLTTDS

Bộ luật tố tụng dân sự

TCTD

Tổ chức tín dụng


HĐTD

Hợp đồng tín dụng

NHNN

Ngân hàng nhà nước

QSDĐ

Quyền sử dụng đất

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

TMCP

Thương mại cổ phần

TAND

Tòa án nhân dân


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
1.1. Khái niệm tranh chấp hợp đồng tín dụng ........................................................ 4
1.2. Đặc điểm tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Việt Nam .................................. 10

1.3. Phân loại tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng .................................... 16
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ........................................................................................ 17
CHƢƠNG 2. NỘI DUNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN
DỤNG TẠI TỊA ÁN
2.1. Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng ................................................... 18
2.1.1. Lãi suất cho vay ...................................................................................... 18
2.1.2. Phạt vi phạm hợp đồng tín dụng............................................................. 30
2.2. Tranh chấp phát sinh từ giao dịch bảo đảm ................................................... 40
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ........................................................................................ 47
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 49
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, trong những hình thức cấp tín dụng tại ngân hàng thì hình thức cho
vay vốn thơng qua hợp đồng tín dụng (HĐTD) là hình thức phổ biến nhất. Có thể
thấy, HĐTD là một loại hợp đồng phổ biến, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều
nước trên thế giới. Do vậy, tranh chấp phát sinh từ HĐTD cũng nhiều hơn, đặc biệt ở
Việt Nam, theo số liệu thống kê từ ngành Tịa án, số lượng tranh chấp HĐTD có thể
nói là đứng hàng đầu so với các tranh chấp khác.
Tuy nhiên, thực tiễn xét xử tại Tòa án nước ta hiện nay cho thấy việc giải quyết
các tranh chấp phát sinh từ HĐTD thường kéo dài mặc dù nội dung HĐTD không
phải là quá phức tạp và thông thường khách hàng vay theo HĐTD đều có tài sản bảo
đảm. Tình trạng giải quyết tranh chấp HĐTD bị kéo dài ảnh hưởng lớn đến tiến độ và
hiệu quả thu hồi vốn của các TCTD, tác động không tốt đến sự phát triển bình thường
của nền kinh tế.
Thực trạng nói trên địi hỏi phải có sự nghiên cứu về nguyên nhân từ đó đề ra
một số giải pháp thích hợp nhằm khắc phục tình trạng này, đẩy nhanh tiến độ, nâng

cao hiệu quả giải quyết tranh chấp tại Tòa án, đồng thời làm lành mạnh hóa thị trường
tiền tệ trong nước, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Với lý do trên, tác giả đã
chọn đề tài: “Thực trạng giải quyết tranh chấp HĐTD tại Tòa án” làm đề tài nghiên
cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua quá trình khảo sát về tình hình nghiên cứu tại trường Đại học Luật thành
phố Hồ Chí Minh, tác giả nhận thấy vấn đề tranh chấp HĐTD không phải là vấn đề
mới mẻ trong hoạt động nghiên cứu, bằng chứng là đã có cơng trình nghiên cứu có
liên quan như: Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Anh (2013) với đề tài “Giải pháp
pháp lý để hạn chế và khắc phục tranh chấp phát sinh từ HĐTD”.
Điểm nổi bật trong cơng trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Anh có thể kể đến
đó là từng nhóm tranh chấp HĐTD được tác giả khái quát, phân tích cụ thể về nguyên
nhân làm phát sinh tranh chấp cũng như biểu hiện của từng loại tranh chấp HĐTD đó.
Từ việc đi sâu, phân tích bản án cụ thể trong thực tiễn xét xử của Tòa án, tác giả đánh
giá các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật, qua đó nhận diện những
điểm bất cập, khiếm khuyết trong pháp luật liên quan đến HĐTD. Ngoài ra một số
giải pháp pháp lý được tác giả đã xây dựng như giải pháp liên quan đến tư cách chủ
thể ký kết, thực hiện HĐTD; giải pháp liên quan đến lãi suất, quyền và nghĩa vụ của

1


các bên trong HĐTD; giải pháp liên quan đến chấm dứt hợp đồng, thu hồi nợ trước
hạn; giải pháp liên quan đến các biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong HĐTD.
Có thể thấy, các giải pháp này cụ thể và có tính ứng dụng cao, có khả năng áp dụng
vào thực tiễn.
Ngồi ra, cịn có một số cơng trình nghiên cứu khác về tranh chấp lãi suất và
tranh chấp phát sinh từ tài sản đảm bảo tiền vay trong HĐTD như Luận văn cử nhân
của tác giả Nguyễn Thị Bích Hồng (năm 2010) với đề tài “Thực trang giải quyết tranh
chấp HĐTD về lãi suất tại Tòa án”; Luận văn cử nhân của tác giả Phạm Lê Ninh (năm

2010) về “Tranh chấp về lãi suất cho vay trong HĐTD - Thực trạng và giải pháp”;
Luận văn cử nhân của tác giả Huỳnh Tiểu Phụng (năm 2012) về “Tranh chấp phát
sinh từ việc thế chấp tài sản đảm bảo tiền vay tại các ngân hàng thương mại - Thực
trạng và hướng hoàn thiện”; Luận văn cử nhân của tác giả Đào Thị Huyền Trang
(năm 2014) về “Những tranh chấp có thể phát sinh từ hợp đồng tín dụng và hướng
khắc phục”; Luận văn Thạc sỹ của tác giả La Hồng (năm 2006) với đề tài “Giải quyết
tranh chấp về lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng tại Tịa án”.
Các cơng trình nghiên cứu kể trên đều có đề cập đến thực trạng tranh chấp và
giải quyết một số tranh chấp trong HĐTD, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hạn
chế và khắc phục những tranh chấp phát sinh từ HĐTD. Cơng trình “Giải pháp pháp
lý để hạn chế và khắc phục tranh chấp phát sinh từ HĐTD” của tác giả Nguyễn Anh là
một công trình được nghiên cứu cách đây 3 năm sẽ là một cơ hội thuận lợi để bản thân
tác giả khi nghiên cứu về cùng một vấn đề có thể tham khảo, tác giả xin được kế thừa
một số quan điểm được nêu trong các đề tài nghiên cứu này. Gần đây nhất là cơng
trình “Những tranh chấp có thể phát sinh từ hợp đồng tín dụng và hướng khắc phục”
năm 2014 của tác giả Đào Thị Huyền Trang cũng có những phân tích cụ thể về một số
nhóm tranh chấp phát sinh từ HĐTD.
Tuy nhiên, cách tiếp cận vấn đề của tác giả có phần khác biệt với hai cơng trình
nghiên cứu nói trên. Bên cạnh đó, việc quy định của pháp luật có một số thay đổi
trong thời gian gần đây, đặc biệt là BLDS 2015 sắp có hiệu lực thi hành khiến tác giả
nhận thấy cần nghiên cứu thêm về những khó khăn, vướng mắc thường xảy ra trong
quá trình giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD tại Tòa án, nhằm nâng cao hiệu
quả giải quyết loại tranh chấp này ở Tòa án đồng thời đưa ra một số giải pháp góp
phần hồn thiện quy định pháp luật liên quan đến HĐTD. Do vậy, đề tài “Thực trạng
giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tịa án” mà tác giả lựa chọn vẫn còn là đề
tài cần được nghiên cứu và hoàn thiện.

2



3. Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu, nhận diện những bất cập trong quy
định của pháp luật liên quan đến HĐTD và tranh chấp HĐTD; tìm hiểu ngun nhân
của những khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết tranh chấp HĐTD tại Tòa án
mà chủ yếu là những nguyên nhân từ quy định pháp luật. Từ đó, đưa ra những giải
pháp khắc phục tình trạng nói trên, góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp
tại Tịa án, hồn thiện pháp luật có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp HĐTD ở
Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Khóa luận chủ yếu tập trung nghiên cứu những quy định pháp luật của Việt
Nam liên quan đến quan hệ HĐTD và giao dịch bảo đảm để thực hiện HĐTD; thực
tiễn giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD.
Khóa luận được nghiên cứu ở mức độ cử nhân nên chưa được sâu rộng đến mọi
khía cạnh giải quyết tranh chấp HĐTD trên thực tiễn. Tác giả chỉ đi sâu vào nghiên
cứu những vấn đề nổi cộm và đề xuất một số kiến nghị nhằm khắc phục những bất cập
cịn tồn tại trong q trình giải quyết tranh chấp HĐTD. Phạm vi thực tiễn mà tác giả
tiến hành nghiên cứu là việc giải quyết những tranh chấp phát sinh từ HĐTD của Tịa
án Việt Nam, trong đó chủ yếu là tại Tịa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Phƣơng pháp tiến hành nghiên cứu
Khóa luận được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp phân tích, so sánh, bình
luận. Phương pháp phân tích quy định pháp luật được tác giả sử dụng làm cơ sở cho
lập luận và quan điểm của mình. Phương pháp phân tích án được tác giả sử dụng để
chứng minh cho lập luận, quan điểm cá nhân. Phương pháp so sánh pháp luật được sử
dụng nhằm làm nổi bật những mâu thuẫn, bất cập còn tồn tại trong quy định pháp luật.
Phương pháp bình luận sử dụng nhằm đưa ra qua điểm cá nhân tác giả, đánh giá, lý
giải những vấn đề chưa hợp lý, những vướng mắc trong quá trình giải quyết tranh
chấp HĐTD tại Tòa án.
6. Bố cục tổng quát của khóa luận
Ngồi phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục cụm từ
viết tắt, nột dung khóa luận được chia thành hai chương:

Chương 1: Khái quát về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Chương 2: Nội dung giải quyết các nhóm tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa
án.

3


CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
1.1. Khái niệm tranh chấp hợp đồng tín dụng
Hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng hay tổ chức tín dụng (TCTD) nói chung
được thực hiện dưới các hình thức sau đây: cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính,
bảo lãnh, bao thanh tốn và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác1. Trong đó, hoạt động
cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của TCTD để tạo ra lợi nhuận. Cho vay là
việc bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng
vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với ngun tắc
có hồn trả cả gốc và lãi.2
Dựa trên quy định của pháp luật về hợp đồng dân sự3, và quy định về hoạt
động cho vay của TCTD4, có thể hiểu một cách khái quát về hợp đồng tín dụng
(HĐTD) như sau:“Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa một bên
là tổ chức tín dụng (bên cho vay) với một bên là tổ chức, cá nhân (bên vay) nhằm
xác lập các quyền và nghĩa vụ nhất định của các bên trong q trình vay tiền, sử
dụng và thanh tốn tiền vay”5.
HĐTD có vai trị vơ cùng quan trọng trong hoạt động tín dụng của các TCTD
vì nó là cơ sở xác lập quan hệ vay vốn, ràng buộc quyền và nghĩa vụ của bên cho
vay là các TCTD với bên vay, đồng thời là căn cứ quan trọng để cơ quan có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp phát sinh.
HĐTD có một số đặc trưng cơ bản sau đây so với hợp đồng cho vay tài sản
theo Bộ luật dân sự (BLDS) và các loại hợp đồng khác trong giao dịch dân sự và
kinh doanh thương mại:
Thứ nhất, trong quan hệ HĐTD ln có một bên chủ thể là TCTD.

TCTD thực hiện chức năng trung gian tín dụng của mình thơng qua việc huy
động nguồn vốn tiền tệ nhàn rỗi từ các tổ chức và cá nhân trong xã hội, từ đó hình
thành nên quỹ cho vay để phân phối lại nguồn vốn tiền tệ đã huy động được cho nền
kinh tế. Đây là đặc trưng cơ bản nhất để phân biệt quan hệ HĐTD với các quan hệ
hợp đồng dân sự nói chung, bởi trong quan hệ hợp đồng dân sự nói chung khơng
địi hỏi một bên tham gia phải là TCTD. Ngồi ra, đây cịn là đặc điểm để phân biệt

1

Khoản 4 Điều 14 Luật Các TCTD 2010.
Khoản 16 Điều 4 Luật Các TCTD 2010.
3
Điều 388 BLDS 2005 và Điều 385 BLDS 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017
4
Khoản 16 Điều 4 Luật Các TCTD 2010.
5
Trường đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Luật ngân hàng, Nhà xuất bản Hồng Đức,
tr. 317, 318.
2

4


HĐTD với hợp đồng cho vay tài sản theo BLDS bởi bên cho vay trong hợp đồng
vay tài sản thông thường khơng phải là TCTD.
Đặc biệt để HĐTD có hiệu lực, bên cho vay là TCTD phải đáp ứng được
những điều kiện luật định khi khi xác lập HĐTD. Những điều kiện đối với TCTD
bao gồm thủ tục thành lập, vốn pháp định, có điều lệ được Ngân hàng Nhà nước
(NHNN) chuẩn y và có đại diện hợp pháp khi tham gia ký kết hợp đồng theo quy
định của pháp luật.

Đặc điểm một bên chủ thể của quan hệ HĐTD là TCTD dẫn đến việc hầu như
mọi tranh chấp HĐTD đều có sự tham gia của TCTD với tư cách là một bên tranh
chấp. Đặc điểm này cịn có ý nghĩa trong việc xác định loại tranh chấp và áp dụng
pháp luật của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Theo đó, khi giải quyết
tranh chấp cơ quan này sẽ áp dụng quy định pháp luật chuyên ngành đối với tranh
chấp HĐTD thay vì quy định của BLDS như đối với hợp đồng vay tài sản thông
thường.
Thứ hai, đối tượng của HĐTD luôn là vốn tiền tệ.
Mỗi loại hợp đồng đều có một đối tượng riêng. Đối với HĐTD, đối tượng của
nó ln là vốn tiền tệ. Vốn tiền tệ trong hoạt động tín dụng có thể là tiền đồng Việt
Nam, vàng hoặc ngoại tệ và những đối tượng này có thể tồn tại dưới dạng vật hiện
hữu là tiền mặt hoặc bút tệ. Đối tượng của HĐTD phải là một khoản tiền xác định
và phải được thỏa thuận, ghi rõ trong hợp đồng.
Đây là đặc điểm rất quan trọng trong quan hệ cho vay của TCTD bởi nó là đặc
điểm để phân biệt hoạt động cho vay với các hoạt động cấp tín dụng khác như cho
thuê tài chính (đối tượng là tài sản) và chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá (đối
tượng là giấy tờ có giá). Bên cạnh đó, đặc điểm này cịn làm cho hoạt động cho vay
trở thành một hình thức cấp tín dụng phổ biến, chiếm ưu thế trong nền kinh tế thị
trường. Vì vậy, đây là đặc điểm khơng thể thiếu của HĐTD.6
Đối tượng của HĐTD luôn là vốn tiền tệ còn là yếu tố khiến tranh chấp phát
sinh từ HĐTD cũng chủ yếu xoay quanh đối tượng vốn tiền tệ và loại tranh chấp
này thường có giá trị lớn so với các tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh doanh
thương mại khác.
Thứ ba, HĐTD phải được ký kết dưới hình thức văn bản.

6

Giáo trình Luật ngân hàng Trường đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, tlđd (5), tr.320
5



“Đi vay để cho vay” luôn là đặc trưng cơ bản nhất trong hoạt động tín dụng
của các TCTD. Do đó, khi cho vay lại, các TCTD phải có trách nhiệm bảo tồn
nguồn vốn tín dụng của mình7. Để phịng ngừa tranh chấp và tạo căn cứ giải quyết
tranh chấp, hạn chế rủi ro cho hoạt động tín dụng, quy định của pháp luật buộc
HĐTD phải được giao kết bằng hình thức văn bản.8
Cả văn bản viết và văn bản điện tử dưới dạng thông điệp dữ liệu đều được
pháp luật chấp nhận là hình thức văn bản khi các bên tham gia giao dịch dân sự nói
chung và ký kết HĐTD nói riêng. Hai hình thức này đều có giá trị pháp lý ngang
nhau và đều là chứng cứ trong quá trình giao dịch9.
Quy định này của pháp luật vừa đảm bảo sự tiện ích vừa đảm bảo an toàn pháp
lý cho các chủ thể tham gia ký kết HĐTD. Khi có tranh chấp phát sinh, HĐTD với
hình thức văn bản sẽ là cơ sở pháp lý cho cơ quan giải quyết tranh chấp.
Thứ tư, trong quan hệ HĐTD một bên (bên cho vay) ln có mục đích sinh lợi
cịn bên kia có thể có hoặc khơng có mục đích sinh lợi.
TCTD cũng là một chủ thể kinh doanh do vậy mục đích sinh lợi là mục tiêu
hàng đầu, luôn được đặt ra trong hoạt động kinh doanh của các TCTD. Trong hoạt
động cho vay, tính chất sinh lợi được biểu hiện qua tỷ số chênh lệch giữa lãi suất
huy động vốn và lãi suất cho vay của TCTD, cụ thể là lãi suất cho vay luôn cao hơn
lãi suất huy động vốn. Tùy thuộc vào quy luật cung cầu trên thị trường vốn vào từng
thời điểm cụ thể mà tỷ lệ chênh lệch này dao động ở mức khác nhau.10
Trong khi đó, khi tham gia vào quan hệ HĐTD, bên vay ln phải thể hiện cụ
thể mục đích sử dụng vốn vay của mình, đó có thể là mục đích sinh lợi hay mục
đích tiêu dùng. Mục đích sinh lợi của bên vay chỉ tồn tại khi bên vay là các doanh
nghiệp hoặc hộ kinh doanh, vay vốn nhằm mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Để có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho TCTD, các doanh nghiệp, hộ kinh
doanh luôn mong muốn hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình hiệu quả và thu
được lợi nhuận. Trước khi cho vay, TCTD luôn phải tiến hành thẩm định hồ sơ xin
vay vốn của các doanh nhiệp và mục đích sinh lợi của bên vay được thể hiện qua
phương án kinh doanh của doanh nghiệp. Để được chấp nhận cho vay, phương án

kinh doanh của doanh nghiệp phải cụ thể, rõ ràng, khả thi và có khả năng thu lợi

7

Giáo trình Luật ngân hàng Trường đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, tlđd (5), tr.319
Điều 17 Quy chế cho vay của TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày
31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
9
Khoản 1 Điều 124 BLDS 2005, khoản 1 Điều 119 BLDS 2015 và Điều 11, 12, 13, 14 Luật Giao
dịch điện tử 2005.
10
Giáo trình Luật ngân hàng Trường đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, tlđd (5), tr.321
8

6


nhuận. Kể cả trong trường hợp bên vay khơng tìm được lợi nhuận như mong muốn
thì mục đích sinh lợi của bên vay vẫn tồn tại bởi mục đích sinh lợi là mong muốn
thu được lợi nhuận mà không phân biệt có thu được hay khơng thu được lợi nhuận
từ hoạt động kinh doanh, thương mại đó.11
Với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) trước đây, việc xác định
mục đích lợi nhuận của các bên trong quan hệ HĐTD (các bên tham gia tranh chấp)
có ý nghĩa nhằm xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tịa án. Khi các
bên tranh chấp đều có mục đích lợi nhuận, thì đây là tranh chấp kinh doanh, thương
mại trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng nên thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh12.
Mặt khác, tranh chấp chỉ có một bên có mục đích lợi nhuận sẽ thuộc loại tranh chấp
dân sự và vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện.13
Tuy nhiên, theo quy định của BLTTDS được sửa đổi, bổ sung năm 2011 và cả
BLTTDS năm 2015 thì mục đích sinh lợi của các bên khơng cịn đóng vai trị quan

trọng trong việc xác định thẩm quyền của Tòa án đối với tranh chấp HĐTD nữa.
Bởi vì, cả hai loại tranh chấp HĐTD mà các bên đều có mục đích lợi nhuận (tranh
chấp kinh doanh, thương mại) và tranh chấp HĐTD chỉ một bên có mục đích lợi
nhuận (tranh chấp dân sự) đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện.14
Thứ năm, nội dung HĐTD phải luôn chứa đựng các điều khoản bắt buộc, đặc
biệt là điều khoản quy định mục đích của bên vay và HĐTD thường là hợp đồng
ưng thuận.
Nội dung HĐTD phải chặt chẽ, rõ ràng, và phải chứa đựng các điều khoản chủ
yếu theo quy định pháp luật bao gồm điều kiện cho vay, mục đích sử dụng vốn vay,
phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức đảm bảo, giá
trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ...và các điều khoản khác phù hợp với quy
chế cho vay của TCTD15. Quy định này của pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi hợp
pháp cho các bên tham gia quan hệ HĐTD bởi HĐTD vừa là chứng cứ cho việc
thực hiện hợp đồng vừa là cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh
chấp phát sinh. Về nguyên tắc, pháp luật luôn tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của

11

Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật
Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.
12
Điểm m khoản 1 Điều 29 và điểm a khoản 1 Điều 34 BLTTDS năm 2004
13
Khoản 3 Điều 25 và điểm a khoản 1 Điều 33 BLTTDS năm 2004
14
Điểm a, b khoản 1 Điều 33 BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 và điểm a, b khoản 1
Điều 35 BLTTDS năm 2015
15
Xem Điều 17 Quy chế cho vay của TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN

ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
7


các bên khi tham gia quan hệ HĐTD, do vậy, cơ quan có thẩm quyền sẽ dựa trên
nội dung thỏa thuận của các bên trong HĐTD để giải quyết tranh chấp.
Trong số những điều khoản bắt buộc quy định quyền và nghĩa vụ các bên kể
trên, điều khoản bắt buộc về mục đích của bên vay là đặc trưng nổi bật của HĐTD
so với những loại hợp đồng dân sự khác (hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng
dịch vụ, hợp đồng thi công, hợp đồng vận chuyển,...), kể cả hợp đồng cho vay tài
sản theo BLDS. Để HĐTD có hiệu lực, mục đích sử dụng vốn của bên vay phải hợp
pháp và phải được ghi nhận vào HĐTD. Trong khi đó, các bên trong hợp đồng dân
sự khác và hợp đồng cho vay tài sản theo BLDS thường chỉ thỏa thuận về quyền và
nghĩa vụ của nhau mà không thỏa thuận về mục đích của hợp đồng và ngay cả pháp
luật cũng không bắt buộc các bên phải thỏa thuận và ghi nhận điều khoản về mục
đích của hợp đồng đối với những loại hợp đồng này. Chính điều này đã làm nên sự
khác biệt cơ bản giữa hợp đồng dân sự nói chung kể cả hợp đồng cho vay tài sản
theo BLDS với HĐTD.
Trong thực tiễn, hầu hết HĐTD là hợp đồng mẫu do chính TCTD soạn thảo.
Với dạng hợp đồng này, bên vay chỉ được chấp nhận hoặc từ chối. Vì vậy, dựa trên
quy định của BLDS, hầu hết HĐTD là hợp đồng ưng thuận16. HĐTD do TCTD
soạn thảo sẵn được sử dụng phổ biến vì với nghiệp vụ ngân hàng và kinh nghiệm
thực tiễn trong giao kết HĐTD, HĐTD do TCTD soạn thảo không những đảm bảo
tính chặt chẽ, phù hợp với thực tiễn mà cịn giúp các bên tiết kiệm được thời gian
trong quá trình giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, pháp luật cho phép các bên tham gia
quan hệ cho vay được tự do thỏa thuận nên vẫn có một số trường hợp trong thực tế,
khi có yêu cầu của bên vay, TCTD sẽ thiết kế các điều khoản của HĐTD dựa trên
thỏa thuận của các bên và quy định của pháp luật.
Thứ sáu, HĐTD là hợp đồng song vụ.
Trong HĐTD, các điều khoản về nghĩa vụ của bên vay được quy định rất rõ

ràng, chặt chẽ trong khi nghĩa vụ của bên cho vay lại ít được đề cập. Nguyên nhân
là do HĐTD thường là hợp đồng mẫu được soạn thảo bởi TCTD nên việc chú trọng
nghĩa vụ của bên vay hơn bên cho vay là điều dễ hiểu. Việc quy định chặt chẽ nghĩa
vụ của bên vay giúp cho TCTD giảm rủi ro trong hoạt động cho vay, đảm bảo thu
hồi nợ và bảo tồn nguồn vốn của mình. Thực chất, đây cũng chính là nguyên nhân
khiến cho các tranh chấp HĐTD hầu như không phát sinh từ hành vi vi phạm nghĩa
vụ của bên cho vay mà loại tranh chấp này thường bắt nguồn từ việc bên vay vi
phạm nghĩa vụ của mình.
16

Xem Điều 407 BLDS 2005
8


Nghĩa vụ bên cho vay ít được đề cập và tranh chấp phát sinh từ việc bên cho
vay vi phạm nghĩa vụ cũng rất ít và hầu như khơng có dẫn đến quan điểm cho rằng
HĐTD là hợp đồng đơn vụ do chỉ có bên vay phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên
cho vay. Thật ra, bên cho vay cũng có một nghĩa vụ hết sức quan trọng trong quan
hệ tín dụng mà thường ít ai nhận thấy đó là nghĩa vụ giải ngân. TCTD có nghĩa vụ
giải ngân đúng số tiền và đúng thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng. Nghĩa vụ này là
tiền đề của quan hệ HĐTD, nếu TCTD không thực hiện nghĩa vụ cho vay thì sẽ
khơng phát sinh nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Vì vậy, HĐTD thực chất là hợp đồng
song vụ bởi cả bên vay và bên cho vay đều có quyền và nghĩa vụ đối với nhau.
Tuy nhiên, sau khi giải ngân, nghĩa vụ chính của TCTD đã chấm dứt nên nghĩa
vụ của hợp đồng trong giai đoạn này chỉ cịn thuộc về một phía là bên vay. Vì vậy,
tranh chấp HĐTD phát sinh sau giai đoạn giải ngân sẽ thường bắt nguồn từ hành vi
vi phạm nghĩa vụ của bên vay.
 Khái niệm tranh chấp hợp đồng tín dụng
Mặc dù các điều khoản trong HĐTD luôn được soạn thảo rất chặt chẽ nhưng
việc tranh chấp giữa các bên là điều không thể tránh khỏi trong hoạt động cho vay

tại TCTD.
Tranh chấp là một khái niệm pháp lý có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác
nhau. Theo Từ điển Luật học (Black’s Law Dictionary) do West Pub Co xuất bản
năm 1999, khái niệm “tranh chấp” được hiểu là sự mâu thuẫn hoặc bất đồng về các
yêu cầu hay quyền lợi, sự đòi hỏi về yêu cầu hay quyền lợi từ một bên được đáp lại
bởi một yêu cầu hay lập luận trái ngược từ bên kia. Thuật ngữ “tranh chấp” cịn có
thể được hiểu một cách đơn giản hơn đó là sự bất đồng, mâu thuẫn về quyền lợi và
nghĩa vụ phát sinh giữa các bên liên quan. Tranh chấp HĐTD có thể bắt nguồn từ
nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu các tranh chấp HĐTD phát sinh do
các hành vi vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng. Tuy nhiên, không phải mọi trường
hợp vi phạm hợp đồng đều làm phát sinh tranh chấp HĐTD. Tranh chấp HĐTD chỉ
được coi là phát sinh khi có bằng chứng cụ thể nhằm xác định được sự bất đồng về
quyền và lợi ích các bên đã thể thiện cụ thể ra bên ngoài.17

17

Nguyễn Anh (2013), Giải pháp pháp lý để hạn chế và khắc phục những tranh chấp phát sinh từ
hợp đồng tín dụng, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh, tr.11
9


Nhìn chung, khái niệm tranh chấp HĐTD có thể được khái quát như sau:
“Tranh chấp HĐTD là sự xung đột, bất đồng về các quyền và nghĩa vụ mà các bên
đã thỏa thuận trong các điều khoản của HĐTD”.18
1.2. Đặc điểm tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Việt Nam
Dưới đây tác giả sẽ phân tích một số đặc điểm của tranh chấp HĐTD dựa trên
đặc điểm của HĐTD và thực tiễn tranh chấp HĐTD tại Tòa án Việt Nam.
Thứ nhất, tranh chấp HĐTD ln có sự tham gia của một bên là TCTD và
trong tuyệt đại đa số các tranh chấp HĐTD thì nguyên đơn là các TCTD và bị đơn
là bên vay.

Các điều khoản về nghĩa vụ trong HĐTD thường là do chính TCTD soạn thảo
nên quy định rất chặt chẽ về nghĩa vụ của bên vay (nghĩa vụ trả nợ, trả lãi, lãi quá
hạn, phạt chậm trả, thời hạn trả nợ, mục đích sử dụng vốn vay...) nhằm đảm bảo bên
vay sẽ thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy, trách nhiệm của bên vay thường rất
lớn và điều này dễ dẫn đến việc phát sinh tranh chấp do bên vay không thực hiện
đúng nghĩa vụ của mình trong HĐTD. Trong khi đó, thường thì TCTD sẽ khơng vi
phạm nghĩa vụ do chính mình đặt ra.
Điều mà các TCTD quan tâm khi xác lập HĐTD chính là khả năng thu hồi vốn,
vì vậy, các TCTD thường đưa vào hợp đồng điều khoản về tài sản bảo đảm đối với
HĐTD cho vay để kinh doanh và khi bên vay thỏa mãn điều kiện này thì TCTD mới
giải ngân. Trong trường hợp bên vay không thỏa mãn điều kiện về tài sản bảo đảm,
không ký kết hợp đồng bảo đảm thì tất nhiên TCTD sẽ khơng ký kết HĐTD và
không giải ngân, hoặc giả sử TCTD chấp nhận ký kết HĐTD nhưng quy định điều
kiện ràng buộc là khi giao dịch bảo đảm được xác lập thì TCTD mới giải ngân thì
dù TCTD khơng cho vay cũng khơng vi phạm nghĩa vụ.
Đối với hoạt động cho vay để tiêu dùng, TCTD tuy không yêu cầu khách hàng
vay phải có tài sản bảo đảm nhưng lại địi hỏi một số điều kiện như nghề nghiệp ổn
định, thu nhập hàng tháng có xác nhận của nơi cơng tác... Khi khách hàng thỏa mãn
những điều kiện này, TCTD nhận thấy đảm bảo khả năng thu hồi vốn thì mới xác
lập HĐTD với bên vay nên khơng có lý do gì TCTD lại khơng tiến hành giải ngân.
Có thể nói TCTD ln là bên “nắm đằng chuôi” trong quan hệ HĐTD nên các
vi phạm HĐTD thường phát sinh từ khách hàng vay và TCTD hiếm khi vi phạm
nghĩa vụ của mình.

18

Nguyễn Anh,tlđd (17), tr.12
10



Ngồi ra, hoạt động kinh doanh tiền tệ cịn thuộc ngành nghề kinh doanh có
điều kiện19, nên các TCTD được cấp giấy phép thành lập đều là những TCTD có đủ
điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật, trong đó có điều kiện về vốn
pháp định20. Do vậy, các TCTD ln có khả năng thực hiện HĐTD, số tiền mà
TCTD cho vay chỉ là một phần nhỏ đối trong khối tài sản TCTD sở hữu, hầu như
TCTD không gặp khó khăn khi thực hiện nghĩa vụ giải ngân của mình.
Tóm lại, hầu như rất hiếm gặp trường hợp tranh chấp phát sinh từ hành vi vi
phạm HĐTD của bên cho vay, vì vậy mà cũng rất ít trường hợp người khởi kiện là
bên vay. Phần lớn trong các tranh chấp, TCTD là nguyên đơn khởi kiện do quyền
và lợi ích hợp pháp bị xâm hại bởi hành vi vi phạm của bên vay.
Thứ hai, đối tượng tranh chấp HĐTD thường là vốn tiền tệ và giá trị của tranh
chấp HĐTD thường lớn, đặc biệt là các HĐTD vay vốn với mục đích kinh doanh.
Vốn tiền tệ là đối tượng kinh doanh chủ yếu của TCTD. Với chức năng trung
gian tín dụng, TCTD vừa là bên cung ứng vốn cho nền kinh tế vừa là người đi vay
để cho vay lại. Do vậy, để hoàn thành tốt cả hai vai trò này cùng một lúc đòi hỏi
TCTD phải bảo vệ quyền lợi của mình khi có hành vi xâm phạm. Đặc biệt là trong
những trường hợp bên vay gặp khó khăn trong việc tìm kiếm lợi nhuận thì khả năng
bên vay vi phạm HĐTD do không trả được nợ là rất cao và việc này có thể ảnh
hưởng lớn đến hoạt động của TCTD. Để bảo vệ đối tượng kinh doanh chủ yếu là
vốn tiền tệ, tranh chấp sẽ phát sinh giữa TCTD và bên vay khi TCTD phát hiện
mình bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp21. Bên cạnh đó, đối tượng của HĐTD
ln là vốn tiền tệ nên tranh chấp phát sinh từ HĐTD phải là tranh chấp gắn liền với
đối tượng HĐTD là vốn tiền tệ. Vì vậy mà tranh chấp HĐTD thường có đối tượng
tranh chấp là vốn tiền tệ.
Trong hoạt động cho vay của TCTD, tùy vào mục đích sử dụng vốn vay mà
khoản vay cho từng khách hàng sẽ khác nhau. HĐTD cho vay với mục đích kinh
doanh thường có giá trị lớn hoặc rất lớn, có thể lên đến hàng trăm tỷ đồng. Bên vay
với mục đích kinh doanh ln là các doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh đi vay nhằm
bổ sung vốn lưu động hoặc đầu tư tài sản cố định và nhu cầu vốn của họ thường rất
lớn và chỉ có các TCTD mới có khả năng đáp ứng. Điều đáng nói là một khi những

HĐTD có giá trị lớn này phát sinh tranh chấp sẽ gây ảnh hưởng khơng nhỏ đến hoạt
động của TCTD và thậm chí là nền kinh tế.

19
20
21

Phụ lục 4 Luật Đầu tư 2014.
Điều 19, Điều 20 Luật Các TCTD 2010.
Nguyễn Anh, tlđd (17), tr.14
11


Ngồi ra, có thể nhận thấy rằng số tiền TCTD cho vay trong hoạt động cho vay
tiêu dùng tuy nhỏ đối với hoạt động cho vay để kinh doanh tại TCTD nhưng vẫn lớn
hơn nhiều so với hoạt động cho vay trong dân. Tuy với mục đích vay phục vụ cho
nhu cầu tiêu dùng nhưng thơng thường vì bên vay có nhu cầu vay số tiền tương đối
lớn mà các cá nhân, tổ chức bên ngồi khơng thể đáp ứng được, họ phải chấp nhận
vay từ TCTD dù điều kiện vay vốn của TCTD khó khăn hơn, lãi suất có thể cao
hơn.
Thứ ba, tranh chấp thường phát sinh từ những nguyên nhân: mức lãi suất cho
vay, phạt chậm trả lãi, thời hạn thanh toán nợ, xử lý tài sản bảo đảm.
Đa phần HĐTD là hợp đồng mẫu do TCTD soạn thảo nên các điều khoản
trong hợp đồng luôn được quy định chặt chẽ và theo hướng có lợi nhất cho TCTD,
trong đó có điều khoản về phạt chậm trả lãi và mức lãi suất cho vay.
Điều khoản về phạt chậm trả lãi là điều khoản được quy định trong hầu hết
HĐTD và các TCTD luôn cho rằng quy định này là cần thiết nhằm hạn chế vi phạm
của bên vay. Tuy nhiên, có nhiều quan điểm trái ngược nhau về tính hợp pháp của
điều khoản phạt chậm trả lãi. Bên vay cho rằng điều khoản này là trái pháp luật nên
u cầu trả tiền phạt của TCTD là khơng có căn cứ trong khi TCTD lại cho rằng

bên vay đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên phải trả tiền phạt vi phạm. Tính hợp pháp
của điều khoản phạt chậm trả lãi vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi.
Về vấn đề lãi suất, phần lớn các TCTD sử dụng mức lãi suất thả nổi khi cho
vay trong thời điểm hiện nay. Việc các bên thỏa thuận lãi suất thay đổi phụ thuộc
vào diễn biến thị trường thường dẫn đến trường hợp khi ký kết HĐTD lãi suất ở
mức thấp, bên vay chấp nhận với mức lãi suất đó, đến khi lãi suất lên cao do diễn
biến thị trường thay đổi, bên vay khơng có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh tốn
nợ lãi. Cũng có trường hợp TCTD đưa ra mức lãi suất cao khơng thay đổi, bên vay
vì cần tiền phải chấp nhận mức lãi suất đó nhưng trong q trình sản xuất kinh
doanh gặp khó khăn, thua lỗ, dẫn đến không trả được nợ. Khi bên vay khơng có khả
năng thanh tốn nợ, họ thường muốn kéo dài thời hạn trả nợ để có thể xoay sở, giải
quyết khó khăn và để tìm nguồn vốn để trả nợ. Hành vi vi phạm nghĩa vụ trả lãi và
thời hạn trả nợ của bên vay làm phát sinh tranh chấp HĐTD.
Ngoài ra, tranh chấp phát sinh từ việc xử lý tài sản bảo đảm đa phần bắt nguồn
từ tâm lý không muốn tài sản thuộc quyền sở hữu của mình bị phát mãi để thực hiện
nghĩa vụ trả nợ.
Thứ tư, hầu hết bên vay và bên cho vay đều thống nhất xác nhận nợ vốn.

12


Nợ vốn là khoản tiền vay xác định và cố định mà bên vay có yêu cầu vay và
TCTD chấp nhận cho vay. Đây là khoản tiền mà các bên thỏa thuận ban đầu và có
bằng chứng cụ thể biểu hiện thông qua HĐTD. Cả bên cho vay và bên vay đều tự
nguyện tham gia quan hệ HĐTD và một khi TCTD chấp nhận cho vay thì các bên
đều đạt được mục đích của mình khi tham gia quan hệ HĐTD nên hầu như các bên
đều khơng có bất đồng về nợ vốn.
Thứ năm, tranh chấp HĐTD thường gắn liền với một tranh chấp khác là tranh
chấp phát sinh từ giao dịch bảo đảm và cả hai tranh chấp phải được giải quyết
đồng thời.

Giao dịch bảo đảm tiền vay luôn đóng vai trị hết sức quan trọng trong quan hệ
cho vay bởi vì khơng những tạo cơ sở pháp lý mà còn tạo cơ sở kinh tế để đảm bảo
nghĩa vụ hoàn trả lãi và vốn vay được thực hiện. Vì vậy, để hạn chế rủi ro trong
kinh doanh và đảm bảo thu hồi nợ vay, TCTD thường áp dụng biện pháp bảo đảm
thơng qua hình thức hợp đồng bảo đảm tiền vay. Hợp đồng bảo đảm tồn tại với tư
cách là hợp đồng phụ của HĐTD.
Có thể thấy quan hệ cho vay và quan hệ bảo đảm tồn tại song hành và gắn liền
với nhau trong hoạt động cho vay của TCTD. Do đó, tranh chấp phát sinh từ HĐTD
cũng thường gắn liền với tranh chấp phát sinh từ giao dịch bảo đảm. Đặc điểm này
biểu hiện rõ nét nhất trong trường hợp TCTD phải xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi
nợ khi bên vay vi phạm nghĩa vụ trong HĐTD nhưng bên vay lại không đồng ý cho
TCTD phát mãi tài sản bảo đảm. Việc này làm phát sinh cả tranh chấp HĐTD và
tranh chấp từ giao dịch bảo đảm.
Cả hai tranh chấp gắn liền với nhau là nguyên nhân dẫn đến việc giải quyết hai
tranh chấp này cũng khơng thể tách rời. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh
chấp không thể tách tranh chấp phát sinh từ giao dịch bảo đảm thành một vụ án
riêng bởi nó ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp HĐTD và việc tách vụ án sẽ
gây khó khăn và làm kéo dài thời gian thu hồi vốn cho các TCTD một cách không
cần thiết, ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của TCTD.
Thứ bảy, khả năng phát sinh tranh chấp đối với HĐTD có tài sản bảo đảm
thuộc sở hữu của người thứ ba thường cao hơn so với trường hợp tài sản bảo đảm
thuộc sở hữu của chính bên vay.
Tài sản bảo đảm tiền vay có thể là tài sản thuộc sở hữu của chính bên vay hoặc
thuộc sở hữu của bên thứ ba. Đối với trường hợp tài sản bảo đảm thuộc sở hữu của
bên thứ ba, thường người bảo lãnh luôn nhận được một số lợi ích nhất định khi

13


đứng ra bảo lãnh cho bên vay, trừ trường hợp người bảo lãnh là người thân trong

gia đình. Tuy người bảo lãnh thường nhận được lợi ích từ bên vay nhưng lại luôn
mang tâm lý là họ không phải là người vay tiền và cũng không được sử dụng số tiền
vay đó nên thường khơng chấp nhận việc TCTD buộc họ phải thực hiện thay nghĩa
vụ trả nợ cho bên vay bằng tài sản của mình.
Vì vậy, người bảo lãnh thường không đồng ý cho TCTD phát mãi tài sản bảo
đảm của mình và thậm chí cịn tìm cách kéo dài, gây khó khăn cho việc xử lý tài sản
bảo đảm. Đặc biệt trong trường hợp tài sản bảo đảm là căn nhà duy nhất mà người
bảo lãnh đang ở thì tranh chấp lại càng gay gắt vì nếu bị xử lý tài sản bảo đảm thì
người bảo lãnh sẽ lâm vào tình cảnh rất khó khăn.
Thứ tám, nội dung tranh chấp HĐTD tuy không phức tạp nhưng khả năng hòa
giải thành thấp trong những nằm gần đây.
Từ thực tiễn xét xử tại Tịa án có thể thấy tranh chấp HĐTD chủ yếu phát sinh
do bên vay vi phạm những điều khoản của HĐTD. Nội dung những tranh chấp này
thường chỉ xoay quanh những vấn đề như lãi suất, phạt chậm trả, thời hạn thanh
toán nợ, xử lý tài sản bảo đảm nên thường không quá phức tạp. Việc bị đơn (bên
vay) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người bảo lãnh) không hợp tác hoặc
không tham gia phiên hòa giải khi Tòa án triệu tập mới là ngun nhân chính khiến
hịa giải khơng thành và làm cho tỷ lệ hòa giải thành ngày càng thấp trong vài năm
trở lại đây.
Trước đây, tài sản bảo đảm thường thuộc sở hữu của chính bên vay, của người
thân trong gia đình hay của thành viên cơng ty TNHH. Những người này thường
sẵn sàng tham gia phiên hòa giải khi được Tòa án triệu tập hợp lệ và dễ dàng thỏa
thuận với các đương sự khác về việc giải quyết tranh chấp liên quan đến xử lý tài
sản bảo đảm vì dù sao họ cũng có nghĩa vụ trả nợ, việc xử lý tài sản bảo đảm để
thực hiện nghĩa vụ cũng là điều hợp lý. Khi hòa giải thành, Tòa án sẽ ra quyết định
công nhận sự thỏa thuận của của các đương sự và quyết định này sẽ có hiệu lực thi
hành ngay và vụ án sẽ kết thúc nhanh chóng.
Sau này, quan hệ cho vay mở rộng, tài sản bảo đảm hầu như khơng cịn của
chính bên vay mà là chủ yếu của bên thứ ba trong đó có cả những người khơng có
quan hệ huyết thống. Như đã phân tích ở trên, bên thứ ba thường có tâm lý khơng

muốn trả nợ thay vì vậy họ thường tìm cách làm cho hịa giải khơng thành để kéo
dài thời gian và để không phải thực hiện nghĩa vụ hoặc không phải phát mãi tài sản
bảo đảm. Để khiến cho hịa giải khơng thành, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

14


quan (bên thứ ba) thường có thái độ bất hợp tác trong q trình hịa giải hoặc thậm
chí là cố tình khơng tham gia phiên hịa giải khi được Tịa án triệu tập hợp lệ.
Trong thực tiễn hiện nay, nhiều người bảo lãnh là cá nhân khi bị các TCTD
khởi kiện ra Tòa án đã bỏ đi khỏi nơi cư trú gây rất nhiều khó khăn cho việc giải
quyết vụ án của Tịa án.
Tương tự như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vì khơng muốn vụ án
kết thúc nhanh chóng, bị đơn (bên vay) cũng thường cố tình vắng mặt trong phiên
hịa giải khiến hịa giải khơng thể tiến hành được22. Mục đích của bên vay khi khơng
tham gia hòa giải thường là kéo dài thời gian trả nợ, nhằm tìm cách xoay sở vượt
qua giai đoạn khó khăn trong kinh doanh hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.
Hiện nay, rất nhiều trường hợp khi khơng có khả năng thanh tốn nợ cho
TCTD, các doanh nghiệp đóng cửa, ngưng hoạt động còn người đại diện theo pháp
luật của doanh nghiệp thì bỏ đi nơi khác làm cho việc triệu tập đương sự của Tịa án
hết sức khó khăn và gần như không thể thực hiện được.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nói trên là do quy định của Luật doanh nghiệp
ngày càng thoáng, việc thành lập doanh nghiệp hiện nay rất dễ dàng bởi nhà nước
không kiểm soát vốn đầu tư của doanh nghiệp, ngoại trừ những ngành nghề đặc biệt
mà pháp luật yêu cầu phải đáp ứng điều kiện kinh doanh và vốn pháp định. Vì vậy,
nhiều doanh nghiệp không đủ khả năng kinh doanh, thậm chí khơng có vốn để kinh
doanh mà vẫn được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Để có thể hoạt
động, những doanh nghiệp này thường phải đi vay một khoản tiền đủ lớn từ các
TCTD. Việc này tiềm ẩn rủi ro cao bởi một khi kinh doanh không hiệu quả, thậm
chí thua lỗ thì tất nhiên những doanh nghiệp này sẽ không trả được nợ. Và cách giải

quyết của các doanh nghiệp kiểu này thường là đóng của, ngưng hoạt động và thậm
chí cũng khơng u cầu Tịa án làm thủ tục giải thể hoặc mở thủ tục phá sản nhằm
trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.
Nhìn chung, Tịa án thường gặp nhiều khó khăn trong việc triệu tập bị đơn và
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bởi tình trạng người đại diện theo pháp luật
của bên vay và người bảo lãnh bỏ đi khỏi nơi cứ trú ngày càng phổ biến. Việc vắng
mặt các đương sự này tại phiên hòa giải làm ảnh hưởng đến khả năng hịa giải thành
đối với tranh chấp HĐTD.
Thứ chín, khi bên cho vay khởi kiện ra Tịa án thì khả năng trả nợ của bên vay
rất xấu, TCTD hầu như chỉ trông chờ vào việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
22

Xem khoản 1 Điều 182 BLTTDS năm 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011.
15


Việc TCTD mọc lên rất nhiều trong thời gian gần đây dẫn đến sự cạnh tranh
giữa các TCTD ngày càng quyết liệt. Để mở rộng hoạt động tín dụng và thu hút
nhiều khách hàng vay, các TCTD nới lỏng điều kiện vay vốn và quá trình thẩm định
hồ sơ vay vốn dẫn đến sự dễ dãi trong hoạt động cho vay. Nhiều trường hợp bên
vay khơng đủ tín nhiệm, phương án kinh doanh khơng đủ tính khả thi nhưng TCTD
vẫn cho vay. Hậu quả tất yếu xảy ra là khi bên vay mất khả năng thanh tốn nợ,
TCTD chỉ cịn cách duy nhất là xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Tuy nhiên, như
đã phân tích, việc xử lý tài sản bảo đảm ln gặp nhiều khó khăn đặc biệt đối với tài
sản bảo đảm thuộc sở hữu của bên bảo lãnh. Trong nhiều trường hợp, TCTD không
thể xử lý được tài sản bảo đảm do đã buông lỏng công tác kiểm tra và thẩm định tài
sản bảo đảm dẫn đến nhiều tài sản không đủ điều kiện pháp lý để tiến hành phát
mãi.
Thực tế thời gian qua đã có những vụ việc cùng một tài sản đã được doanh
nghiệp đem thế chấp để vay vốn tại nhiều ngân hàng khác nhau. Đến khi doanh

nghiệp thua lỗ, mất khả năng trả nợ thì các ngân hàng tranh giành nhau quyền xử lý
tài sản thế chấp. Điển hình như trường hợp của Công ty TNHH Trường Ngân thế
chấp kho cà phê xuất khẩu khoảng 4.500 tấn (tổng giá trị khoảng 200 tỉ đồng) để
vay vốn của 7 ngân hàng thương mại gồm: ngân hàng Quân đội MB, ngân hàng
Quốc tế, ngân hàng Phương Đông, Agirbank, Maritime Bank, Vietinbank và
Techcombank với số tiền lên đến gần 1.000 tỉ đồng. Đây chỉ là một trong số những
vụ thu hồi nợ mà các TCTD không thể xử lý tài sản bảo đảm. Khi xảy ra nhiều vụ
việc tương tự trong thời gian gần đây, mới thấy được công tác thẩm định và quản lý
tài sản thế chấp của nhiều TCTD có vấn đề nghiêm trọng, trong đó có nhiều khả
năng cán bộ của TCTD và doanh nghiệp đã thông đồng với nhau để hợp thức hóa
giá trị và tài sản thế chấp.23
1.3. Phân loại tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng
Căn cứ vào tiêu chí bên vay có đăng ký kinh doanh hoặc có nhằm mục đích lợi
nhuận hay không mà chia thành hai loại: tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh
doanh thương mại.
Căn cứ vào vấn đề tranh chấp, có thể chia tranh chấp HĐTD thành hai loại sau
đây:
 Tranh chấp phát sinh từ HĐTD, gồm tranh chấp liên quan đến nội dung
HĐTD, các điều khoản trong hợp đồng về tư cách người đại diện ký kết
23

Thành Trung , “Xưa dễ dãi cho vay, nay khó khăn đòi nợ”, http://dantri.com.vn/kinh-doanh/xua-de
-dai-cho-vay-nay-kho-khan-doi-no-1385569663.htm, truy cập ngày 02/6/2016.
16


HĐTD, nghĩa vụ cung cấp thơng tin, mục đích sử dụng vốn vay, nghĩa
vụ trả vốn gốc hoặc lãi, mức lãi suất cho vay, phạt chậm trả lãi, thời hạn
thanh toán nợ.
 Tranh chấp phát sinh từ giao dịch bảo đảm, gồm tranh chấp liên quan đến

nội dung hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh.
Căn cứ vào chủ thể tranh chấp, có thể chia tranh chấp HĐTD thành hai loại
sau đây:
 Tranh chấp chỉ có 2 bên tham gia, bao gồm tranh chấp HĐTD giữa
TCTD và bên vay là các doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh tế khác và tranh
chấp HĐTD giữa TCTD và bên vay không phải là các doanh nghiệp và
tổ chức kinh tế (cho vay tiêu dùng).
 Tranh chấp có 3 bên tham gia, bao gồm tranh chấp phát sinh từ HĐTD
có bên thứ 3 bảo lãnh có tài sản thế chấp và tranh chấp phát sinh từ
HĐTD có bên thứ 3 bảo lãnh khơng có tài sản thế chấp.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Chương 1 đã trình bày khái quát những vấn đề về khái niệm, đặc điểm cơ bản
của HĐTD và tranh chấp HĐTD và đồng thời phân loại tranh chấp phát sinh từ
HĐTD cũng như trình bày quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện đối với
loại tranh chấp này. Qua những nội dung đã được trình bày, có thể thấy được rằng
tranh chấp HĐTD là loại tranh chấp phổ biến và thường phát sinh từ hành vi vi
phạm HĐTD của một bên, đặc biệt là bên vay. Ngoài ra, mối quan hệ giữa tranh
chấp HĐTD và tranh chấp hợp đồng bảo đảm tiền vay là quan hệ khơng thể tách rời
và vì vậy cả hai tranh chấp này luôn được giải quyết đồng thời. Tranh chấp phát
sinh từ HĐTD tuy không phải là loại tranh chấp quá phức tạp nhưng thường thì thời
gian giải quyết tranh chấp HĐTD bị kéo dài, mà đặc biệt đối với những tranh chấp
HĐTD có tài sản bảo đảm thuộc sở hữu của bên thứ ba, làm ảnh hưởng đến quyền
lợi của các bên tham gia tranh chấp.
Những nội dung này sẽ được sử dụng làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài
trong chương tiếp theo về thực tiễn cũng như những khó khăn, vướng mắc trong
quá trình giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD tại Tịa án, từ đó đưa ra một số
giải pháp nhằm khắc phục tình trạng này.

17



CHƢƠNG 2. NỘI DUNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN
DỤNG TẠI TỊA ÁN
Trong số các dạng tranh chấp HĐTD được phân loại dựa trên vấn đề tranh
chấp ở chương một, tác giả sẽ phân tích một số loại tranh chấp phổ biến và những
khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng
tín dụng và tranh chấp phát sinh từ giao dịch bảo đảm tại Tòa án.
Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng

2.1.

2.1.1. Lãi suất cho vay
Quy định của pháp luật hiện hành về lãi suất trong hoạt động cho vay của
TCTD
Thông thường lãi suất được hiểu là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tiền
vay trong một khoảng thời gian nhất định. Lãi suất trong hoạt động cho vay của
TCTD, bao gồm lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn. Khi đến kỳ hạn trả nợ, nếu
khách hàng vay không trả đúng hạn và không được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc
không được gia hạn nợ thì TCTD chuyển tồn bộ số nợ cịn lại sang nợ quá hạn và
áp dụng lãi suất quá hạn để xử lý.24
Về lãi suất đối với khoản vay trong hạn, theo quy định của Luật Các TCTD
năm 2010, TCTD và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng
trong hoạt động ngân hàng của TCTD theo quy định của pháp luật25. Tuy nhiên,
mức trần lãi suất mà TCTD được phép áp dụng khi tiến hành hoạt động cho vay
không hề được đề cập. Chỉ trong trường hợp hoạt động ngân hàng có diễn biến bất
thường NHNN mới phải can thiệp để đảm bảo an toàn của hệ thống TCTD26. Trừ
một số trường hợp cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam để đáp ứng nhu cầu vốn
phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế mà Ngân hàng nhà nước (NHNN) quy định
TCTD phải áp dụng lãi suất cho vay không vượt quá mức lãi suất tối đa do Thống
đốc NHNN Việt Nam quyết định như cho vay phục vụ lĩnh vực phát triển nông

nghiệp, nông thôn; cho vay để thực hiện phương án, dự án sản xuất-kinh doanh
hàng xuất khẩu....27
Bên cạnh đó, các văn bản hướng dẫn của NHNN bao gồm Quy chế cho vay
của TCTD đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số
1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 (sau đây gọi tắt là Quy chế cho vay của
24

Lương Khả Ân (2013), “Vận dụng đúng quy định của pháp luật về lãi suất, giải quyết tranh chấp
tín dụng ngân hàng tại Tịa án”, Tạp chí Tịa án nhân dân, số 23 Kỳ I tháng 12-2013, tr.23.
25
Xem khoản 2 Điều 91 Luật Các TCTD năm 2010.
26
Xem Điều 91 Luật Các TCTD năm 2010.
27
Xem Điều 1 Thông tư số 08/2014/TT-NHNN của Thống đốc NHNN Việt Nam ngày 17/03/2014.
18


NHNN)28 và Thông tư 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/201029 cũng quy định cho
phép TCTD tiến hành hoạt động cho vay theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng
mà không đề cập đến mức lãi suất tối đa mà TCTD được phép áp dụng. Riêng đối
với mức lãi suất áp dụng với nợ gốc quá hạn, NHNN cũng cho phép TCTD được sử
dụng lãi suất thỏa thuận với khách hàng nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho
vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong HĐTD30.
Mặt khác, theo Điều 12 Luật NHNN Việt Nam thì lãi suất trong lĩnh vực tín
dụng ngân hàng được NHNN sử dụng như công cụ để ấn định lãi suất cơ bản, lãi
suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
Như vậy, quy định của pháp luật hiện hành cho áp dụng cơ chế lãi suất thỏa
thuận trong HĐTD, bao gồm cả lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn. Và việc
NHNN công bố mức lãi suất cơ bản chỉ nhằm mục đích điều hành chính sách tiền tệ

mà khơng bắt buộc TCTD phải áp dụng mức lãi suất đó khi tiến hành hoạt động cho
vay.
Tuy nhiên, Luật Các TCTD không quy định cụ thể mức trần lãi suất không có
nghĩa là các bên có quyền tự do thỏa thuận về mức lãi suất cho vay. Điều 91 Luật
Các TCTD 2010 buộc các bên phải thỏa thuận “theo quy định của pháp luật”. Có
thể thấy là vì ý đồ của nhà làm luật không muốn quy định cụ thể, trực tiếp vấn đề
này trong Luật Các TCTD mà muốn giao cho văn bản pháp luật khác quy định. Vậy
thì văn bản pháp luật nào điều chỉnh lãi suất cho vay trong quan hệ HĐTD.
Một là quy định của BLDS. Về lãi suất trong hạn, Điều 476 của BLDS 2005
quy định mức trần lãi suất đối với khoản vay trong hạn là 150% lãi suất cơ bản do
NHNN công bố đối với loại cho vay tương ứng. Về lãi suất quá hạn, khoản 5 Điều
474 BLDS 2005 không quy định cho phép thỏa thuận mà mức lãi quá hạn được tính
theo lãi suất cơ bản do NHNN công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả
nợ.
Hai là các Quy chế cho vay và các thông tư hướng dẫn của NHNN có quy định
về mức lãi suất cụ thể. Các văn bản này khơng có quy định về mức lãi suất đối với

28

Khoản 1 Điều 11 Quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày
31/12/2001: “Mức lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận phù hợp với quy định của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.”
29
Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Thống đốc NHNN Việt Nam: “Tổ
chức tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng nhằm đáp
ứng nhu cầu vốn của dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống có hiệu
quả.”
30
Xem khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN
ngày 31/12/2001.

19


×