Tải bản đầy đủ (.docx) (42 trang)

Báo Cáo Chuyên Đề Thực Tập Giải Quyết Tranh Chấp Hợp Đồng Tín Dụng Tại Toà Án Quận Sơn Trà Đà Nẵng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (279.57 KB, 42 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA LUẬT

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG ,
THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ VÀ MỘT
SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ

Sinh viên thực hiện

:

Lớp

:

Giảng viên hướng dẫn :

Đà Nẵng, tháng 04 năm 2018


LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan chuyên đề này được hoàn thành trên những kiến thức, tài liệu, số liệu
em thu thập được trong quá trình học tập tại trường và thực tập tại tòa án cùng với
những kiến thức dưới sự hướng dẫn của giảng viên hướng dẫn . Các tài liệu, trích dẫn
đều có nguồn gốc cụ thể. Các số liệu phù hợp với số liệu thực tế tại Tòa án nhân dân
quận Sơn Trà nơi em thực tập.
Đà Nẵng, ngày 25 tháng 04 năm 2018


Sinh viên thực hiện


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD:

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể
quý thầy cô giáo trường Đại học kinh tế - Đại học Đà Nẵng đã tận tình giảng dạy truyền
đạt kiến thức trong vòng bốn năm học vừa qua. Đặc biệt, các thầy cô giáo giảng dạy tại
Khoa Luật – Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng, trang bị cho em những kiến thức chuyên
ngành hữu ích cho sau này. Nhờ những bài giảng, những giờ học ngoại khóa, những buổi
thảo của thầy cô đã cung cấp đầy đủ những điều cần thiết cho nghề nghiệp trong tương
lai. Em xin gửi lời cảm ơn đến giảng viên hướng dẫn ThS. , người đã trực tiếp hướng dẫn
và giúp đỡ em trong suốt quá trình hoàn thành chuyên đề. Nhờ sự giúp đỡ tận tình, chỉ
bảo ân cần của thầy đã giúp em thực hiện đề tài tốt hơn. Qua đó, em hiểu được cách chọn
lục tài liệu, kiến thức, cách trình bày một bài nghiên cứu đảm bảo khoa học, những kiến
thức cũng như những định hướng cho nghề nghiệp của em sau này.
Đồng thời, trong quá trình thực hiện đề tài cũng như trong quá trình thực tập của mình,
em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các anh chị cán bộ làm việc tại Tòa án nhân dân
quận Sơn Trà đã giúp đỡ em rất nhiều trong thời gian vừa qua. Nhờ sự tận tình chỉ dạy
của các anh chị, em đã trang bị cho mình những kiến thức thực tế về quy trình tố tụng tại
tòa và áp dụng được những điều đã học được trên trường vào thực tế. Trong quá trình
thực tập tại toà án em đã làm quen được môi trường bên ngoài trường lớp. Em cảm ơn
anh chị đã tạo điều kiện tốt nhất cho em để em có cơ hội học hỏi, tiếp xúc với đương sự,
tham dự những phiên tòa, để em có cơ hội trau dồi những kỹ năng, kiến thức còn thiếu.
Mặc dù đã cố gắng trong việc hoàn thành thật tốt chuyên đề nhưng do kiến thức còn đang
hạn chế cũng như thời gian hoàn thành chuyên đề còn ít nên trong quá trình thực hiện

chuyên đề không thể không có sai sót. Em mong sự góp ý của thầy cô giáo để bài chuyên
đề của em hoàn thiện hơn.
Cuối cùng, em xin gửi lời chúc đến quý thầy cô giáo của trường Đại học kin tế - Đại học
Đà Nẵng luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, công tác tốt. Em xin gửi lời chúc đến anh chị cán
bộ tòa án nhân dân quận Sơn Trà dồi dào sức khỏe, thành công trong cuộc sống.
Sinh viên

3


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD:

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU...............................................................................................................6
1. Tình hình cấp thiết của vấn đề.....................................................................................6
2. Phạm vi nghiên cứu......................................................................................................7
3. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................................7
3.1. Phương pháp luận...............................................................................................7
3.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể.........................................................................7
4. Ý nghĩa của chuyên đề..................................................................................................7
5. Kết cấu của chuyên đề..................................................................................................8
PHẦN NỘI DUNG............................................................................................................9
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
............................................................................................................................................ 9
1.1.

Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng tín dụng.................................................9


1.1.1.

Khái niệm của hợp đồng tín dụng...............................................................9

1.1.2.

Đặc điểm của hợp đồng tín dụng...............................................................10

1.1.3.

So sánh hợp đồng tín dụng và hợp đồng vay tài sản................................11

1.1.4.

Quy định của pháp luật về hợp đồng tín dụng..........................................11

1.2.

Tranh chấp hợp đồng tín dụng.........................................................................14

1.2.1.

Đặc điểm của tranh chấp hợp đồng tín dụng............................................14

1.2.2.

Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp hợp đồng tín dụng..............................16

1.2.3.


Giải quyết tranh chấp hợp dồng tín dụng.................................................17

1.3.
án

Quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa
19

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
TÍN DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ.........................................21
2.1.

Thực trạng về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng................................21

2.1.1.

Thực trạng về tranh chấp hợp đồng tín dụng...........................................21

2.1.2.

Trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng......................21

2.2. Thực trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng ở tòa án
nhân dân quận Sơn Trà...............................................................................................24
2.2.1.

Giới thiệu về tòa án nhân quận Sơn Trà...................................................24
4



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD:

2.2.2. Thẩm quyền của tòa án nhân dân quận Sơn trà trong việc giải quyết
tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng..............................................................24
2.2.3. Tình hình giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng ngân hàng tại
quận Sơn Trà............................................................................................................25
2.2.4. Đánh giá, nhận xét về thực trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín
dụng ngân hàng tại tòa án nhân dân quận Sơn Trà..............................................25
2.2.5.

Ví dụ về tranh chấp hợp đồng tín dụng tại nhân dân quận Sơn Trà......27

2.2.6. Những thuận lợi, khó khăn khi giải quyết tranh chấp hơp đồng tín dụng
tại tòa án nhân dân quận Sơn Trà...........................................................................27
2.2.6.1. Thuận lợi khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án nhân
dân quận Sơn Trà.....................................................................................................28
2.2.6.2. Những khó khăn khi tiến hành giải quyết tranh chấp hợp đồng tín
dụng tại Tòa án nhân dân quận Sơn Trà................................................................28
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, KHẮC PHỤC HẠN CHẾ
KHI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG....................................33
3.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm hạn chế tranh chấp phát sinh từ hợp
đồng tín dụng..................................................................................................................33
3.1.1. Quy định của pháp luật về lãi suất, hạn chế việc không trả được nợ của
người vay...................................................................................................................33
3.1.2.

Quy định về nghĩa vụ thực hiện và xử lý tài sản đảm bảo khi vay.........34


3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm giải quyết tranh chấp hợp đồng tín
dụng nhanh chóng và hiệu quả...................................................................................35
3.2.1.

Rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp tại tòa......................................35

3.2.2.

Đảm bảo sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật.........................................36

3.2.3. Nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng
tại tòa án...................................................................................................................36
KẾT LUẬN...................................................................................................................... 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................................40

5


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD:
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tình hình cấp thiết của vấn đề
Tiền tệ có chức năng làm vật đo giá trị và có vai trò quan trọng trong lưu thông, vì
thế tiền là thứ không thể thiếu trong cuộc sống đối với các cá nhân cũng như tổ chức. Đặc
biệt đối với doanh nghiệp tiền vốn như là sự sống còn. Tuy nhiên, theo tính chất của tiền
tệ, nên không phải ai cũng có tiền, đáp ứng đầy đủ các nhu cầu trong cuộc sống cũng như
về việc cấp vốn cho doanh nghiệp. Vì thế, quan hệ tín dụng xuất hiện để đáp ứng nhu cầu
này. Tín dụng là một trong những chức năng cơ bản trong hoạt động của ngân hàng và các

tổ chức tín dụng, đáp ứng hiệu quả nhu cầu cung cấp vốn cho nền kinh tế. Với vai trò
quan trọng là trung gian trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng, tổ chức tín dụng góp
phần dịch chuyển nguồn vốn từ khách hàng thừa vốn sang khách hàng thiếu vốn. Từ đó
hình thành nên quan hệ hợp đồng tín dụng giữa bên đi vay và bên cho vay, với tính chất
ngày càng phức tạp, đa dạng, sự xuất hiện nhiều tổ chức tín dụng. Các vấn đề liên quan
đến quá trình tố tụng khi giải quyết tranh chấp, quy định về lãi suất, các quy định về phạt
vi phạm hợp đồng tín dụng đang có nhiều điều cần làm rõ. Với tình hình thực tế việc
tranh chấp giữa các bên trong hợp đồng là điều không thể tránh nên các nhà làm luật đang
cố gắng hoàn thiện khung pháp lý nhằm hỗ trợ sự phát triển của các tổ chức tín dụng cũng
như quản lý nó một cách thật hiệu quả, nhằm hạn chế xảy ra tranh chấp hợp đồng tín dụng
giữa các bên. Hợp đồng tín dụng là mối quan tâm của nhiều chuyên gia cũng như nhà làm
luật, bởi nó có mối quan hệ mật thiết với đời sống xã hội cũng như nó gắn liền với nền
kinh tế.
Vì vậy, việc chọn đề tài “ Giải quết tranh chấp hợp đồng tín dụng, thực tiễn tại tòa
án nhân dân quận Sơn Trà và một số giải pháp, kiến nghị” là có tính chất cấp thiết, ý
nghĩa lý luận và thực tiễn. Việc nghiên cứu đề tài pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp
đồng tín dụng luôn có tính thời sự, bởi lẽ các qui định pháp luật về vấn đề này vẫn còn
nhiều bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn. Bởi lẽ các quy định pháp luật về vấn đề này
vẫn còn nhiều bất cập chưa phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế trong lĩnh vực tín
dụng. Đề tài đi từ thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân
quận Sơn Trà, những trình tự thủ tục để giải quyết tranh chấp tại tòa án, thực tiễn áp dụng
pháp luật vào giải quyết tranh chấp tại tòa. Từ đó, nêu lên những khó khăn bất cập khi
giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng khi có tranh chấp xảy ra và đề xuất những giải
pháp để hoàn thiện pháp luật. Điều này nhằm hạn chế xảy ra tranh chấp đến mức tối thiểu
cũng như giúp việc giải quyết khi có tranh chấp một cách nhanh chóng thuận lợi, đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Giúp cho hoạt động tín dụng ngày càng phát triển
góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của quận Sơn Trà nói riêng và thành phố Đà
Nẵng nói chung.
6



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD:

2. Phạm vi nghiên cứu
Chuyên đề này với nhiệm vụ chính là làm rõ các khái niệm cơ bản liên quan đến
hợp đồng tín dụng, đặc điểm của hợp đồng tín dụng và trình tự thủ tục giải quyết tranh
chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án. Bên cạnh đó, đề tài đưa ra nguyên nhân xảy ra tranh
chấp, những yếu tố tác động đến việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, chỉ ra thực
tiễn áp dụng pháp luật vào giải quyết tranh chấp. Phân tích pháp luật hiện hành quy định
về hợp đồng tín dụng và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng. Cuối cùng, từ những
khó khăn bất cập khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng đưa ra những giải pháp
hoàn thiện nhằm khắc phục hạn chế những rủi ro ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các
bên tham gia cũng như những người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp luận
Chuyên đề nghiên cứu dựa trên cơ sở dựa trên quan điểm của Đảng phát triển kinh
tế nhiều thành phần, kinh tế tư nhân được coi trọng là cơ sở hình thành các giao dịch,
trong đó có hợp đồng tín dụng gồm các chủ thể, một bên là chủ thể kinh doanh, cá nhân
và một bên là ngân hàng, tổ chức tín dụng . Bên cạnh đó còn sử dụng phương pháp luận
triết học của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận chung về nhà nước
và pháp luật.
3.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để thực hiện các mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, chuyên đề này dựa trên cơ sở
các nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng trong chuyên đề để làm rõ các
quy định của pháp luật, thực tiễn và các vụ việc đưa ra trong chuyên đề.
- Phương pháp diễn giải, quy nạp được sử dụng trong chuyên đề để diễn giải các
nội dung của quy định pháp luật và các trường hợp điển hình khi đưa vào phân tích đề tài

- Phương pháp so sánh: đối chiếu sử dụng so sánh các quy định pháp luật, so sánh
giữa thực tiễn giải quyết tranh chấp và quy định tìm ra điểm mới tiến bộ, những bất cập
của các quy định này.
- Phương pháp thống kê được sử dụng để thống kê các hợp đồng tín dụng được
thực hiện và các tranh chấp xảy ra được sử dụng chủ yếu trong chương 2.
4. Ý nghĩa của chuyên đề
Hoạt động tín dụng đang trên đà phát triển mạnh mẽ và là vấn đề được quan tâm
trong nền kinh tế ngày nay. Những đổi mới của Luật Dân sự 2015 và Luật Tố tụng dân sự
2015 đã giúp cho những doanh nghiệp, cá nhân dễ dàng hơn trong việc đảm bảo quyền và
lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng. Tuy
7


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD:

nhiên, dù đã đổi mới nhưng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, xã hội nên có
nhiều quy định đã không còn hợp lý nữa nên còn có nhiều vướng mắc và khó khăn trong
quá trình giải quyết tranh chấp hợp động đồng tín dụng. Vì vậy, chuyên đề từ những
nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và pháp luật về hợp đồng tín dụng và
nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật. Trên cơ sở
đó đánh giá về thực trạng pháp luật, đưa ra những khó khăn, vướng mắc trong việc áp
dụng pháp luận về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại toà án. Từ đó đưa ra cho
những giải pháp cho các khách hàng, các cơ quan giải quyết tranh chấp hợp đồng tín
dụng. Theo đó có thể trang bị cho mình kiến thức cần thiết để có thể mở rộng, hoàn thiện
những kĩ năng cơ bản của bản thân.
5. Kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu, kết luận, lời cảm ơn, danh mục các tài liệu tham khảo thì nội
dung của chuyên đề này bao gồm ba phần:

Chương 1. Lý luận về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
Chương 2. Thực trạng về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án nhân
dân quận Sơn Trà
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật, khắc phục hạn chế khi giải quyết tranh chấp
hợp đồng tín dụng

8


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD:
PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
1.1.
Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng tín dụng
1.1.1. Khái niệm của hợp đồng tín dụng
Theo nghiên cứu của các nhà sử học và nhà kinh tế học thì hoạt động cho vay lấy lãi
đã xuất hiện từ rất lâu vào khoảng 2000 năm trước công nguyên. Kinh tế hàng hóa phát
triển, tiền tệ hình thành nên trong cùng một khoảng thời gian luôn có người dư thừa vốn,
có người thiếu hụt vốn, từ đó nhu cầu cho vay và đi vay hình thành Trong xã hội loài
nguời từ khi xuất hiện nền sản xuất hàng hoá thì nhu cầu về vốn của các chủ thể là nhu
cầu mang tính khách quan. Tuy nhiên, xét tại cùng một thời điểm thì có những người thừa
vốn tạm thời lại có những người thiếu vốn tạm thời. Nếu không có sự luân chuyển vốn từ
nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn thì nền sản xuất sẽ bị ngưng trệ. Ðể giải quyết mâu thuẫn
nội tại giữa người thừa vốn và người thiếu vốn tạm thời tín dụng đã ra đời. Thực chất tín
dụng là sự vay mượn vốn lẫn nhau giữa các chủ thể dựa trên cơ sở tín nhiệm. Trên cơ sở
đó hình thành nên quan hệ tín dụng. Thuật ngữ “tín dụng” xuất phát từ chữ latinh
“Creditium” có nghĩa là sự tin tưởng, sự tín nhiệm, nó được thiết lập và tồn tại khi các

bên tạo lập được niềm tin, theo từ điển Tiếng Việt thì “tín dụng” là sự vay, mượn có hoàn
trả1. Như vậy, quan hệ tín dụng được xây dựng trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau từ đó bên cho
vay chuyển giao một lượng vốn tiền tệ ( tài sản) để bên vay sử dụng trong một thời hạn.
Khái niệm hợp đồng, trong khoa học pháp lý, hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về
việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự 2. Là sự thỏa thuận giữa các
bên có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực pháp luật nhằm xác lập, chấm dứt,thay đổi
quyền và nghĩa vụ pháp lý của mỗi bên. Bản chất của quan hệ tín dụng là một quan hệ
dân sự nhằm trao đổi qua lại các nguồn vốn giữa các cá nhân, tổ chức với nhau theo
nguyên tắc có hoàn trả, nên hợp đồng tín dụng cũng là dạng cụ thể của hợp đồng dân sự.
Hiện nay, pháp luật chuyên ngành chưa có quy định cụ thể liên quan đến hợp đồng tín
dụng. Vì vậy, từ khái niệm hợp đồng quy định tại điều 385 Bộ Luật Dân sự 2015 chúng ta
có thể định nghĩa được hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận giữa các
bên về việc xác lập, thay đổi chấm dứt quyền, nghĩa vụ trong quá trình chuyển giao, sử
dụng tiền và quá trình trả lại tiền gốc và tiền lãi vay.
Hợp đồng tín dụng giữ một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, các tranh chấp
phát sinh từ hợp đồng tín dụng diễn ra ngày càng nhiều và đã gây ra thiệt hại không nhỏ
cho các chủ thể nhưng đến nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào trong hệ thống pháp
luật nước ta đưa ra một khái niệm chính thức về hợp đồng tín dụng mà chỉ liệt kê những
1 Đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật ngân hàng, NXB Công an nhân dân, 2006, tr47
2 Điều 385 Bộ Luật Dân sự 2015

9


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD:

nội dung chủ yếu của hợp đồng tín dụng ngân hàng như: Cho vay là hình thức cấp tín dụng,
theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào

mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả
gốc và lãi 3 . Theo quyết định số 1672 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về
việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khác hàng thì: Việc cho vay
của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải lập thành hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín
dụng phải có nội dung về điều kiện, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số
vốn vay, hình thức đảm bảo, giá trị tài sản đảm bảo, phương thức trả nợ và những cam
kết khác được các bên thỏa thuận4 .
Từ phân tích trên, hợp đồng tín dụng có thể định nghĩa như sau: “Hợp đồng tín dụng
là sự thoả thuận bằng văn bản giữa một bên là tổ chức tín dụng (bên cho vay) với một
bên là tổ chức, cá nhân thoả mãn điều kiện pháp luật quy định (bên đi vay), theo đó bên
cho vay cấp cho bên đi vay một khoản tiền trong thời hạn nhất định”.
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng cũng là một loại hợp đồng dân sự, nó cũng sẽ có những đặc
điểm mà hợp đồng dân sự khác thường có, bên cạnh đó nó có những đặc điểm khác biệt
so với những hợp đồng dân sự bình thường.
Một là, chủ thể của hợp đồng tín dụng một bên luôn là tổ chức tín dụng được thành lập
theo quy định của pháp luật, còn gọi là bên cho vay. Bên đi vay là cá nhân có đủ năng lực
hành vi và năng lực pháp luật, còn tổ chức thì phải được thành lập theo đúng quy định.
Hai là, về hình thức hợp đồng tín dụng phải được lập thành văn bản vì đây là loại hình
hợp đồng mang lại nhiều rủi ro cho bên cho vay hơn các loại hợp đồng khác bởi nghĩa vụ
của bên đi vay chỉ hình thành khi bên cho vay giải ngân, tức là chuyển tiền cho bên đi
vay. Theo quy định tại Điều 17 Quyết định 1672 của Thống đốc ngân hàng nhà nước Việt
Nam thì hợp đồng tín dụng phải lập thành văn bản, trong đó, nội dung hợp đồng tín dụng
sẽ là sự thỏa thuận về lãi suất, hình thức trả nợ, thời hạn vay, phí phạt liên quan đến việc
thực hiện hợp đồng.
Ba là, đối tượng của hợp đồng tín dụng đặc biệt hơn các loại hợp đồng thông dụng, đó là
hình thức vốn, cụ thể là tiền tệ. Và rủi ro giành cho bên cho vay rất lớn nên bên cạnh hợp
đồng luôn xuất hiện các loại giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, hay các giấy tờ liên
quan đến việc chứng minh khả năng trả nợ của bên đi vay như bảng kê khai lương. Việc
áp dụng các biện pháp bảo đảm bằng tài sản trong hợp đồng tín dụng thường được áp

dụng để xử lý nợ xấu trong trường hợp bên đi vay không có khả năng trả nợ, nhằm đảm
bảo hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng.
Bốn là, về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên. Trong hợp đồng tín dụng, bên
cho vay thực hiện nghĩa vụ của mình, trước đó là chuyển tiền cho bên bên vay rồi mới
được hưởng những quyền lợi liên quan của mình. Khác với hợp đồng dân sự thông
3 Khoản 16 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010
4 Điều 17 Quyết định số 1627/2001/QĐ - NHNN

10


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD:

thường, quyền và nghĩa vụ của các bên gần như thực hiện cùng một lúc và tương đương
nhau thì trong hợp đồng tín dụng việc thực hiện nghĩa vụ của hai bên không cùng nhau
về mặt thời gian, bên cho vay thực hiện nghĩa vụ chuyển giao tiền vay (gọi là giải ngân)
cho bên đi vay trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên đi
vay. Do đó, chỉ khi nào bên cho vay chứng minh được rằng họ đã chuyển giao tiền vay
theo đúng hợp đồng tín dụng cho bên vay thì khi đó họ với có quyền yêu cầu bên vay phải
thực hiện các nghĩa vụ đối với mình, bao gồm các nghĩa vụ chính như sử dụng tiền vay
đúng mục đích; nghĩa vụ hoàn trả tiền vay đúng hạn cả gốc và lãi.
1.1.3. So sánh hợp đồng tín dụng và hợp đồng vay tài sản
Hợp đồng tín dụng và hợp đồng vay tài sản đều giống nhau về cơ chế thực hiện nghĩa
vụ của các bên, bên cho vay sẽ thực hiện nghĩa vụ chuyển tiền, tài sản của mình cho bên
vay trước, nghĩa vụ của bên cho vay đã hết sau khi chuyển tiền, tài sản cho bên đi vay. Và
hợp đồng tín dụng giống hợp đồng vay tài sản ở chỗ đều là hợp đồng dân sự, đều hình
thành dựa trên sự thỏa thuận của hai bên.
Về khác nhau, hai loại hợp đồng này khác nhau về chủ thể, đối tượng, về một số đặc

điểm, về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên và về cơ sở pháp lý. Về chủ thể,
hợp đồng tín dụng sẽ luôn bắt buộc một bên là tổ chức tín dụng được thành lập theo quy
định của pháp luật còn hợp đồng vay tài sản, các bên có thể là cá nhân, tổ chức, nhưng
phải đầy đủ năng lực hành vi, năng lực pháp luật. Tuy là hợp đồng nhưng hợp đồng tín
dụng thường thì bên tổ chức tín dụng sẽ có sự ưu tiên hơn về quyền lợi, bởi họ soạn thảo
hợp đồng, còn bên vay chỉ có việc ký vào hợp đồng nếu ưng thuận, còn hợp đồng vay tài
sản thì cả hai bên sẽ thỏa thuận về hợp đồng đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Sự
tham gia của tổ chức tín dụng là dấu hiệu đặc trưng nhằm phân biệt giữa tranh chấp hợp
đồng tín dụng và tranh chấp hợp đồng vay tài sản thông thường giữa các tổ chức, cá nhân
khác.Về đối tượng, tiền là đối tượng của hợp đồng tín dụng, còn hợp đồng tài sản thì
ngoài tiền ra còn có các tài sản như xe, nhà, quyền sử dụng đất cũng là đối tượng của loại
hợp đồng này. Về cơ sở pháp lý, hợp đồng vay tài sản được quy định tại điều 463 Bộ Luật
Dân sự 2015, còn hợp đồng tín dụng chưa có bộ luật nào quy định cụ thể về hợp đồng tín
dụng.
1.1.4. Quy định của pháp luật về hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng cũng là một phạm trù kinh tế nó vừa có thể là dân sự, nên cần
được sự điều chỉnh của luật nhằm có tính thống nhất khi hoạt động trong lĩnh vực này.
Pháp luật Việt Nam có những quy định chung về một số điều liên quan đến hợp đồng tín
dụng như chủ thể, lãi suất, nội dung của hợp đồng tín dụng trong các bộ luật như: Luật
Các tổ chức tín dụng, một số điều trong Bộ Luật Dân sự và một số văn bản hướng dẫn
như: Các Nghị định của Chính Phủ, Quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam.
11


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD:

Về chủ thể của hợp đồng tín dụng bao gồm bên cho vay và bên đi vay. Bên cho vaycó thể

là các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tín dụng được hình thành và hoạt động theo
quy định của luật các tổ chức tín dụng và các bộ luật liên quan. Bên đi vay (gọi là khách
hàng bao gồm khách hàng có tư cách pháp nhân và không có tư cách pháp nhân là các
nhân, doanh nghiệp tư nhân.
Còn về nội dung của hợp đồng có nói đến điều kiện vay vốn, chủ thể bên vay phải có mục
đích sử dụng vốn vay hợp pháp, không được sự dụng để làm những gì pháp luật nghiêm
cấm. Đây là điều kiện bắt buộc được điều chỉnh thể hiện cụ thể ở phương án vay: sử dụng
vốn vay vào nhiều lĩnh vực mà pháp luật không cấm, sử dụng vốn vay vào kinh doanh thì
phải có đăng ký kinh doanh, lĩnh vực ngành nghề đăng ký. Bên vay phải chứng minh về
khả năng tài chính và đảm bảo trả nợ trong thời gian sớm nhất. Khi xác định cho vay thì
bên cho vay kiểm tra khả năng tài chính như báo cáo tài chính có kiểm toán, khả năng
vốn, các thông tin về năng lực tài chính và phương án kinh doanh khả thi đảm bảo việc trả
nợ. một trong những điều kiện vay vốn từ tổ chức tín dụng mà khách hàng phải thỏa mãn
là “nhu cầu vay vốn để sử dụng vào mục đích hợp pháp”, bắt buộc phải ghi rõ mục đích
của vốn vay. Từ góc độ của tổ chức tín dụng là bên cung cấp vốn, việc hợp đồng tín dụng
quy định mục đích sử dụng vốn nhằm đảm bảo rằng khách hàng sẽ có khả năng trả nợ khi
đến hạn bởi vì việc sử dụng vốn vay sẽ liên quan mật thiết đến việc có trả được nợ sau
này của khách hàng hay không nên nó có mối liên hệ chặt chẽ với việc thẩm định và
quyết định cho vay của tổ chức tín dụng và đảm bảo rằng tiền vay sẽ không được sử dụng
vào một mục đích phi pháp hay thiếu thận trọng. Tổ chức tín dụng có quyền yêu cầu
khách hàng vay báo cáo việc sử dụng vốn vay và chứng minh vốn vay được sử dụng đúng
mục đích vay vốn5. Vì thế người đi vay cần phải làm rõ mục đích sử dụng sử dụng vốn
vay theo nội dung thỏa thuận; cung cấp cho tổ chức tín dụng các tài liệu chứng minh việc
sử dụng vốn vay theo yêu cầu của tổ chức tín dụng. Việc pháp luật điều chỉnh quy định về
mục đích sự dụng vốn vai trò quan trọng trong việc đảm bảo mục đích của hai bên, tránh
tình trạng nợ xấu, hoặc các rủi ro tài chính khác ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các
bên. Bên cạnh đó nội dung của hợp đồng tín dụng tín dụng còn đề cập đến điều kiện
khách hàng được phép vay vốn đó là: Khách hàng phải có năng lực pháp luật dân sự, năng
lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. Khách hàng
phải có khả năng tài chính đảm bảo trả được nợ trong thời hạn cam kết. Thực hiện đầy đủ

các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng
Nhà Nước và hướng dẫn của ngân hàng thương mai hoặc tổ chức tín dụng.
Pháp luật Việt Nam quy định về đối tượng của hợp đồng, chủ thể vay là các pháp nhân và
cá nhân Việt Nam và nước ngoài. Trong đó các pháp nhân là các cơ quan, tổ chức có đầy
đủ điều kiện pháp luật quy định, có đầy đủ năng lực pháp luật, mục đích sử dụng vốn hợp
pháp, có khả năng trả nợ trong thời hạn, có dự án đầu tư, kinh doanh rõ ràng. Điều này
được quy định rõ tại Quyết định 1672/QĐ – NHNH.
5 Khoản 4 Điều 94 Luật Các tổ chức tín dụng 2010

12


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD:

Đối với phương thức cho vay, trên thực tế có nhiều phương thức thực hiện như việc cho
vay : Cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay theo dự án đầu tư, cho vay trả góp.
Phương thức cho vay tùy vào từng ngân hàng cụ thể, họ có những chính sách cho vay
khác nhau cũng như phương thức cho vay khác nhau nhằm thu hút khách hàng.
Những quy định về lãi suất trong hợp đồng tín dụng: Lãi suất là nội dung cơ bản của hợp
đồng tín dụng, lãi suất là mục đích sinh lời của các tổ chức tín dụng, cũng là điều mà
khách hàng quan tâm khi vay vốn. Nó cũng là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tranh chấp
hợp đồng tín dụng khi người vay không trả được vốn bởi khi đi vay họ đang rất cần tiền
nên miễn có tiền họ không hề quan tâm đến lãi suất, đến khi vỡ nợ mới phát hiện ra, lãi
suất khá cao, dẫn đến tranh chấp hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, quy định của lãi suất
không được đồng nhất giữa các ngành luật. Lãi suất trong hợp đồng vay tài sản không
được quá 20%/ năm (quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015), ở đây lãi suất
không được quy định rõ, riêng biệt cho hợp đồng tín dụng. Trong khi đó luật các tổ chức
tín dụng 2010 (tại Điều 91, 92) lại quy định cơ chế lãi suất theo thỏa thuận giữa tổ chức

tín dụng và khách hàng.
Thời hạn vay được quy định tại của Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHN ngày 31/12/2001
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Tổ chức tín dụng và khách hàng căn cứ vào chu kỳ
sản xuất, kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách
hàng và nguồn vốn cho vay của tổ chức tín dụng để thoả thuận về thời hạn cho vay. Đối
với các pháp nhân Việt Nam và nước ngoài, thời hạn cho vay không quá thời hạn hoạt
động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép hoạt động tại Việt Nam; đối với cá
nhân nước ngoài, thời hạn cho vay không vượt quá thời hạn được phép sinh sống, hoạt
động tại Việt Nam.6 . Thời hạn của hợp đồng tín dụng luôn được xác định trước và ghi
trong hợp đồng tín dụng. Tuỳ theo mục đích sử dụng vốn vay, chia thành vay ngắn hạn
(dưới một năm, 12 tháng), vay trung hạn (từ 1 năm đến 5 năm) hoặc vay dài hạn (trên 5
năm). Ðây chính là khoảng thời gian mà bên vay có thể sử dụng nguồn vốn vay từ tổ chức
tín dụng. Tùy theo hợp đồng tín dụng đã ký thì khách hàng có thể trả tiền lãi cũng như
tiền gốc theo thời hạn đã định. Nhưng khi hết thời hạn vay tiền, bên đi vay phải trả hết
toàn bộ số tiền gốc cũng như tiền lãi mà mình còn nợ. Mục đích của quy định này nhằm
xác định rõ ràng trách nhiệm của người đi vay và đảm bảo cho bên cho vay có thể thu hồi
lại được vốn, nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh của bên cho vay. Đây là điều khoản
quan trọng để xác định rõ nghĩa vụ của bên đi vay, là cơ sở để giải quyết tranh chấp khi có
tranh chấp xảy ra.
Khác với các loại hợp đồng khác hình thức của hợp đồng tín dụng luôn bằng văn bản,
điều này nhằm để đảm bảo quyền cũng như nghĩa vụ của các bên. Việc quy định hình
thức hợp đồng này luôn bằng văn bản là do xuất phát từ tính rủi ro cao của hợp đồng tín
dụng. Được quy định trong Ðiều 51 Luật Các tổ chức tín dụng và theo Ðiều 18 của Quy
chế cho vay. Hợp đồng tín dụng bản chất là một hợp đồng dân sự được ký kết giữa các
pháp nhân hay cá nhân để thỏa mãn nhu cầu về vốn. Do đó, pháp luật quy định các chủ
6 Điều 10 Quyết định số 1627/2001/QĐ - NHNN

13



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD:

thể khi tham gia vào quan hệ tín dụng phải thỏa thuận bằng văn bản gồm cả văn bản viết
và văn bản điện tử dưới dạng thông điệp dữ liệu. Như vậy, mọi thỏa thuận dưới mọi hình
thức không phải bằng văn bản về việc cho vay giữa tổ chức tín dụng với bên đi vay đều
không có giá trị pháp lý. Ðây là một quy định bắt buộc nhằm đảm bảo tính chặt chẽ, rõ
ràng trong thoả thuận của các bên về quyền và nghĩa vụ, hạn chế các rủi ro có thể xảy ra,
là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết tranh chấp nếu có.
Pháp luật không quy định về mẫu của hợp đồng tín dụng, thông thường là hợp đồng
mẫu do các tổ chức tín dụng soạn thảo dựa trên quy định của pháp luật và phù hợp với
quy chế cho vay của tổ chức tín dụng. Vì thế, quyền và lợi ích hợp pháp của bên cho vay
luôn được đảm bảo bởi đặc trưng của loại hợp đồng này khá rủi ro. Tuy nhiên, nó cũng
phải đảm bảo xác định cụ thể quyền và nghĩa vụ của bên cho vay và bên đi vay. Khi các
bên đã thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ của mình trong hợp đồng thì các bên phải có
nghĩa vụ thực hiện đúng những điều đã cam kết. Nếu một trong hai bên vi phạm cam kết
gây thiệt hại cho bên kia, họ phải có trách nhiệm bồi thường cho bên bị vi phạm. Như vậy
khi giải quyết tranh chấp thì hợp đồng tín dụng là bằng chứng để quy trách nhiệm cho các
bên.
Cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: Ðối với các hợp đồng khác, quyền và nghĩa vụ của
các bên thường xuất hiện đồng thời như: hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng lao
động…còn với hợp đồng tín dụng ngân hàng nghĩa vụ chuyển giao tiền (giải ngân) của tổ
chức tín dụng bao giờ cũng phải thực hiện trước tạo cơ sở pháp lý tiền đề cho bên vay
thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Tổ chức tín dụng chỉ có quyền yêu cầu bên
vay thực hiện các nghĩa vụ như cam kết trong hợp đồng tín dụng (như: sử dụng tiền vay
đúng mục đích, trả nợ đúng hạn…) khi tổ chức tín dụng chứng minh được rằng họ đã
chuyển tiền cho bên vay theo đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng.
Như vậy, hợp đồng tín dụng là hình thức pháp lý của quan hệ cho vay giữa tổ chức
tín dụng và khách hàng vay, nó là cơ sở để giải quyết mọi tranh chấp liên quan sau này.

Xuất phát từ tính chất và vai trò quan trọng của nó đối với nền kinh tế nên hợp đồng tín
dụng có những nét đặc thù riêng biệt. Vì vậy, trong quá trình giao kết và thực hiện hợp
đồng các bên phải thực hiện đúng tất cả nghĩa vụ được ký kết trong hợp đồng nhằm đảm
bảo tính hiệu lực của hợp đồng cũng như hạn chế rủi ro có thể xảy ra cho các bên trong
quan hệ hợp đồng.
1.2. Tranh chấp hợp đồng tín dụng
1.2.1. Đặc điểm của tranh chấp hợp đồng tín dụng
Nền kinh tế đang trên đà phát triển, người dân có nhu cầu vay vốn càng cao, vậy
nên hợp đồng tín dụng ngày càng phổ biến hơn trong nền kinh tế thị trường. Vậy nên,
tranh chấp hợp đồng tín dụng là điều không thể tránh khỏi. Hợp đồng tín dụng, bản chất
của nó là một hợp đồng dân sự nên tranh chấp hợp đồng tín dụng sẽ có những đặc điểm
mà một hợp đồng dân sự bình thường có. Tuy vậy, hợp đồng tín dụng có tính chất đặc thù
nên tranh chấp hợp đồng tín dụng sẽ có những đặc trưng riêng biệt để có thể phân biệt với
các loại hợp đồng dân sự khác. Sau đây là những đặc điểm mà hợp đồng tín dụng sẽ có.
14


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD:

Một là, tranh chấp hợp đồng tín dụng luôn là tranh chấp mà một bên là tổ chức tín dụng
còn bên còn lại là các cá nhân, tổ chức. Phần lớn, nguyên đơn là tổ chức tín dụng, còn bị
đơn là bên đi vay. Xét về mặt lý thuyết thì tổ chức tín dụng và cá nhân tổ chức đi vay đều
bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ. Nhưng, trên thực tế thì các tổ chức tín dụng sẽ
soạn thảo sẵn hợp đồng cho vay, nếu bên vay đồng ý với những điều khoản đó sẽ ký vào
hợp đồng và hình thành quan hệ hợp đồng tín dụng, bên đi vay chỉ có quyền lựa chọn
giữa ký với không ký chứ không có quyền thêm vào đó những điều khoản có lợi cho
mình. Như vậy, hợp đồng tín dụng được ký kết với các điều khoản nhằm đảm bảo quyền
lợi cho các tổ chức tín dụng khi bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Nên

tranh chấp xảy ra chỉ khi bên đi vay vi phạm điều khoản trong hợp đồng chứ sẽ có rất ít
trường hợp mà bên cho vay sẽ vi phạm những điều khoản mà bên mình đã soạn thảo ra.
Bên cạnh đó, nghĩa vụ của bên đi vay chỉ phát sinh sau thời điểm giải ngân, khi mà bên
phía các tổ chức tín dụng đã cung cấp nguồn vốn cho bên vay thì nghĩa vụ cơ bản của họ
coi như hoàn thành, chỉ còn lại nghĩa vụ của bên đi vay. Vì vậy, khi có tranh chấp xảy ra
thì chỉ phát sinh từ việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của bên đi
vay. Do đó, trong tranh chấp hợp đồng tín dụng một bên là tổ chức tín dụng với tư cách
lànguyên đơn bên còn lại là cá nhân, tổ chức với tư cách là bị đơn.
Hai là, đa phần các tranh chấp hợp đồng tín dụng thường chỉ phát sinh từ việc thực hiện
nghĩa vụ trả lãi, trả vốn của bên đi vay, về mức tính lãi. Có rất nhiều loại tranh chấp liên
quan đến hợp đồng tín dụng như: tranh chấp về chủ thể xác lập, thực hiện hợp đồng, tranh
chấp mục đích sử dụng vốn,tranh chấp về pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng tín
dụng... Nhưng phổ biến nhất đó là tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ trả vốn, trả lãi
của bên đi vay. Bởi, trả nợ là nghĩa vụ chính, cơ bản của bên đi vay, lãi chính là mục đích
của hoạt động tín dụng này, nó đóng vai trò nòng cốt trong hợp đồng tín dụng và việc thực
hiện nghĩa vụ của bên đi vay ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các tổ chức tín dụng.
Vì vậy, tranh chấp hợp đồng thường chỉ phát sinh khi bên đi vay không thực hiện nghĩa
vụ trả nợ của mình.
Ba là, tranh chấp hợp đồng tín dụng có giá trị hợp đồng rất lớn. Hợp đồng tín dụng được
hình thành là do một bên thiếu hụt vốn, có nhu về vốn mà mình không thể huy động được,
thường thì nhằm bổ sung vốn để kinh doanh. Số tiền này không dễ dàng vay được từ
người thân, bạn bè, tổ chức mà không phải là tổ chức tín dụng. Về phía bên cho vay là tổ
chức tín dụng, bởi với đặc thù của tín dụng là sự cung cấp nguồn vốn đến những cá nhân
nhân tổ chức trên cơ sở huy động vốn của những cá nhân tổ chức có thừa vốn trong lưu
thông và đưa cho bên kia sử dụng số vốn đó. Và tổ chức tín dụng thực ra chỉ là trung gian
trong hoạt động tín dụng, bên cạnh vai trò là chủ thể cung ứng vốn cho nền kinh tế thì còn
đóng vai trò là người đi vay của các chủ thể khác để cho vay lại. Trong hoạt động tín dụng
thì tổ chức tín dụng đóng vai trò trung gian nhằm để luân chuyển nguồn vốn. Để đạt được
lợi nhuận cao thì các tổ chức tín dụng thường kí kết các hợp đồng có giá trị lớn dựa trên
định giá tài sản đảm bảo tại thời điểm cho vay. Do bên đi vay vốn dùng khoản vay này

15


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD:

phần lớn để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh nên nếu bên vay không tuân thủ
các cam kết trong hợp đồng, không trả nợ cho các tổ chức tín dụng sẽ làm ảnh hưởng xấu
đến hoạt động của tổ chức tín dụng. Thực tế không hiếm các trường hợp lâm vào tình
trạng mất khả năng chi trả do “nợ xấu’. Một khi bên đi vay không thể thanh toán được nợ,
và tranh chấp xảy ra thì tổ chức tín dụng sẽ là chủ thể bị thiệt hại lớn nhất, điều này làm
ảnh hưởng đến rất nhiều cá nhân tổ chức khác, có thể gây nên hiệu ứng dây chuền. Đặc
biệt, nếu tranh chấp mà phải khởi kiện tại Tòa án thì càng gây khó khăn cho tổ chức khi
muốn thu hồi vốn. Bởi khi đã bị khởi kiện tại Tòa án thì thường là người đi vay không
còn có khả năng trả nợ. Mặt khác, khi tranh chấp xảy ra thì sẽ mất lòng tin với khách hàng
vay vốn đối với tổ chức tín dụng đó , các hoạt động tiếp theo sẽ khó mà thực hiện, kể cả
khi bên đi vay chứng minh lại được khả năng tài chính của mình. Do đó, có thể nói tranh
chấp hợp đồng tín dụng là loại tranh chấp có giá trị thiệt hại lớn, không chỉ ảnh hưởng
đến bên cho vay mà còn cả đối với bên đi vay, các bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Bên cạnh những đặc điểm trên thì tranh chấp hợp đồng tín dụng nó có những đặc điểm
của hợp đồng thông thường. Tranh chấp hợp đồng tín dụng sẽ được giải quyết trên nguyên
tắc thỏa thuận, trong khuôn khổ pháp luật của các bên tham gia. Và tranh chấp hợp đồng
tín dụng chỉ phát sinh khi lợi ích giữa các bên xảy ra xung đột. Nói tóm lại bên cạnh
những đặc điểm mang tính đặc thù riêng thì hợp đồng tín dụng cũng có những đặc điểm
cơ bản của hợp đồng dân sự bởi bản chất của nó chính là hợp đồng dân sự.
1.2.2. Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp hợp đồng tín dụng
Như được đề cập ở trên có rất nhiều loại tranh chấp hợp đồng tín dụng, nên ứng với mỗi
loại là những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp hợp đồng tín dụng. Thực tế đa số các hợp
đồng tín dụng đã được các bên thực hiện đầy đủ, sòng phẳng, điều này tạo ra mối quan hệ

tốt đẹp giữa khách hàng vay và tổ chức tín dụng, chính điều này sẽ giúp cho hai bên trong
giao dịch đều có lợi đóng góp chung vào sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, thực
tiễn vẫn không ít trường hợp các bên không thực hiện đúng như những gì quy định trong
hợp đồng tín dụng dẫn đến ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên và điều này chính
là nguyên nhân tiềm tàng xảy ra tranh chấp. Đa phần, các tranh chấp liên quan về hợp
đồng tín dụng xuất phát từ việc khách hàng vay không thực hiện đúng các cam kết trong
hợp đồng. Sự cam kết này đã được các bên thống nhất, tự nguyện ký kết nhưng lại không
thực hiện nghiêm túc những gì đã thỏa thuận. Ngoài ra, việc chậm trả đối với các nợ quá
hạn và nợ lãi vốn vay thì khách hàng vay còn bị phạt. Nhiều khách hàng vì không trả nợ
đúng hạn dẫn đến nhiều khoản phạt khác, điều này nợ lại chồng nợ và dẫn đến khả năng
chi trả sau này, từ đó lại phát sinh tranh chấp. Bên cạnh đó, việc người vay đã sử dụng
vốn sai mục đích: Một trong các nguyên nhân vi phạm điều khoản sử dụng vốn không
đúng mục đích từ đó làm nảy sinh tranh chấp. Cuối cùng, kèm theo những nguyên nhân
phổ biến đó thì còn có nguyên từ chính phía chủ thể cho vay đó việc khi cho vay ngân
hàng không tiến hành thẩm định về năng lực, khả năng trả nợ, môi trường làm việc của
16


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD:

khách hàng mà chỉ dựa vào nhận định của nhân viên dẫn đến việc không thể dự đoán
chính xác được khả năng thu hồi nợ, nên việc không thể thu hồi được vốn cũng như tiền
lãi là điều có thể xảy ra. Trên thực tế, ngân hàng không thể kiểm định được hết các quỹ
đen của khách hàng, cũng như các khoản vay nặng lãi của người đi vay. Thậm chí, còn có
trường hợp nhân viên ngân hàng khi cho vay không nắm giữ được giấy tờ gốc của khách
hàng nên khi khách hàng bán tài sản đã thế chấp cho người thứ ba dẫn đến xảy ra tranh
chấp giữa người thứ ba và ngân hàng. Nhưng những trường hợp này trên thực tế xảy ra
không nhiều vì nghiệp vụ của chuyên viên tài chính tại các ngân hàng là vô cùng tốt, chỉ

có một số trường hợp sai sót mới dẫn đến điều đó.
Khi một bên trong quan hệ hợp đồng tín dụng vi phạm thì bên còn lại có quyền thực
hiện quyền yêu cầu chấm dứt hành vi, đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc đòi bồi
thường thiệt hại theo thực tế. Quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện quyền, nghĩa
vụ của các bên trong hợp đồng tín dụng chưa được chặt chẽ và thống nhất. Đặc biệt, vấn
đề thực hiện quyền và nghĩa vụ cụ thể trong hợp đồng tín dụng đã ký kết chưa thực sự
khách quan và công bằng cho hai bên đó là mấu chốt gây ra nhiều mâu thuẫn và xung đột
về quyền lợi giữa hai bên. Do đó, vấn đề tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng có
liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên vẫn cứ xảy ra.
1.2.3. Giải quyết tranh chấp hợp dồng tín dụng
Khi xảy ra tranh chấp hợp đồng tín dụng, để bảo đảm quyền lợi của các chủ thể
nên việc giải quyết tranh chấp hợp đồng đòi hỏi phải được giải quyết một cách kịp thời,
nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật nhằm hạn chế đến mức thấp nhất về rủi ro để các
chủ thể tận dụng được những cơ hội kinh doanh mới, giảm sự tổn thất đến mức tối thiểu
giành cho mình. Trong quá trình giải quyết tranh chấp phải bảo đảm giữ được bí mật về
hoạt động kinh doanh cũng như uy tín của các bên trong quan hệ tranh chấp. Bởi vì, các
bên còn nhiều đối tác trong quan hệ kinh doanh khác, nên việc giữ uy tín là hết sức quan
trọng.Và một điều nữa, việc giải quyết tranh chấp phải đảm bảo tính dân chủ và quyền tự
định đoạt của các bên với chi phí giải quyết thấp. Hiện nay có các phương thức giải quyết
tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng mà các bên thường hay áp dụng trong quá tình
giải quyết tranh chấp cụ thể như: thương lượng, hòa giải, trọng tài và thông qua tòa án.
Một là thương lượng, đây là phương thức được các bên tranh chấp lựa chọn trước tiên, ưu
tiên sử dụng và trong thực tiễn phần lớn các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng
được giải quyết bằng phương thức này. Thông qua phương thức này, các bên cùng nhau
bàn bạc, tự tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại bỏ tranh chấp mà không cần sự trợ
giúp hay phán quyết của bất kỳ bên thứ ba nào. Đây là phương thức được các bên tiến
hành đầu tiên bởi những ưu điểm như sự thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng, linh hoạt, đặc
biệt ít tốn kém về thời gian, nếu hai bên có được tiếng nói chung thì sẽ nhanh chóng giải
quyết tranh chấp, về tiền bạc thì không tốn thêm khoản phí nào để nhờ bên thứ ba can
thiệp giải quyết, và không ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phức tạp, ngoài ra, đảm bảo

17


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD:

tính bí mật, uy tín của các bên. Nếu thương lượng thành công thì ít gây phương hại đến
quan hệ hợp tác vốn có của các bên thậm chí còn được tăng cường sự hiểu biết và hợp tác
lẫn nhau khi kết thúc cuộc thương lượng. Tuy vậy, bên cạnh các ưu điểm trên, thương
lượng cũng có những nhược điểm như:việc thương lượng thành công phụ thuộc vào thiện
chí của các bên.Trên thực tế, nếu thương lượng thành công thì hẳn khó lòng mà có xảy ra
tranh chấp trước đó. Tuy nhiên, một số trường hợp, bên vay muốn dùng hình thức thương
lượng để kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ của mình thì việc thương lượng chỉ làm tốn
kém và kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp hơn, chứ không đem lại hiệu quả gì, điều
này làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh đặc biệt là các tổ chức tín dụng. Cũng
chính vì, phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng không bị ràng buộc bởi
bất kỳ các cơ chế pháp lý nào nên kết quả thương lượng cũng không được bảo đảm bởi
bất kỳ cơ chế pháp lý nào dẫn đến tính bắt buộc thực hiện không cao. Nên sự thực thi kết
quả thương lượng phụ thuộc vào ý chí tự nguyện thi hành của các bên tham gia. Mặt khác,
hình thức giải quyết khép kín, chỉ có hai bên tham gia , không công khai nhiều trường hợp
lại nảy sinh ra những vấn đề tiêu cực, trái với quy định của pháp luật.
Hai là, hoà giải, đây là phương thức mà các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận
để giải quyết các vấn đề tranh chấp nhưng khác với thương lượng là hoà giải có sự hỗ trợ
của bên thứ ba là hòa giải viên. Phương thức hòa giải với những ưu điểm như: thủ tục,
thời gian, địa điểm hoà giải dựa trên sự thỏa thuận và điều chỉnh của các bên tham gia,
các bên có quyền tự định đoạt và lựa chọn bất kỳ người nào làm trung gian hòa giải. Hòa
giải mang tính thân mật nhằm tiếp tục giữ gìn và phát triển các mối quan hệ kinh doanh vì
lợi ích của cả hai bên. Quá trình hòa giải tạo cơ hội cho mỗi bên bày tỏ quan điểm của
mình về tranh chấp, không dẫn đến tình trạng đối đầu căng thẳng thắng thua như quá trình

kiện tụng tại tòa án, bên cạnh đó còn duy trì được mối quan hệ vốn có của các bên. Do
hòa giải xuất phát từ sự tự nguyện tham gia và tự do thỏa thuận của các bên, nên nội dung
thỏa thuận luôn hướng tới lợi ích của tất cả các bên. Mặt khác, là khi giải quyết bằng con
đường này các bên đảm bảo được những bí mật của mình bởi hòa giải được tổ chức kín,
trong khi giải quyết tại Tòa án thì các yêu cầu này không được đảm bảo do tòa án thực
hiện xét xử theo nguyên tắc công khai. Bên cạnh những ưa điểm trên, giải quyết tranh
chấp hợp đồng tín dụng bằng phương pháp hòa giải vẫn còn tồn tại những nhược điểm
nhất định: cũng giống như thương lượng, việc hòa giải có được tiến hành hay không phụ
thuộc vào sự nhất trí của các bên, hòa giải viên không có quyền đưa ra một quyết định
ràng buộc hay áp đặt bất cứ vấn đề gì đối với các bên tranh chấp thỏa thuận hòa giải,
không có tính bắt buộc thi hành như phán quyết của Trọng tài thương mại hay của Tòa án.
Các thỏa thuận, cam kết từ kết quả của quá trình hòa giải không có giá trị bắt buộc cưỡng
chế thi hành mà phụ thuộc vào thiện chí, sự tự nguyện của các bên. Vì vậy, phương pháp
này ít được sự dụng nếu các bên không có sự tin tưởng với nhau.
Thứ ba là trọng tài thương mại, thực tiễn hoạt động giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp
đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại cho thấy có một số ưu điểm sau: Phương pháp
18


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD:

giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại với nguyên tắc xét xử kín nếu các bên
không có thỏa thuận khác, quyết định của Trọng tài thương mại là quyết định cuối cùng,
bắt buộc các bên phải thực hiện theo. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thể hiện tính
linh hoạt và mềm dẻo, tạo quyền chủ động cho các bên về địa điểm, thời gian giải quyết
tranh chấp, tiết kiệm được thời gian, rút ngắn thủ tục tố tụng, trong trường hợp có yếu tố
nước ngoài thì không cần chú ý đến thẩm quyền giải quyết của trọng tài, tùy theo thỏa
thuận của các bên mà lựa chọn trọng tài để giải quyêt tranh chấp. Bởi giải quyết bằng

trọng tài không bị giới hạn về mặt lãnh thổ do các bên có quyền lựa chọn bất kỳ trung tâm
trọng tài nào để giải quyết tranh chấp cho mình. Và phán quyết của trọng tài thương mại
đạt được sự công nhận quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh đó phương pháp giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài có những nhược điểm đáng chú ý như sau: Quyết định trọng tài
thương mại không có tính cưỡng chế cao như quyết định của toà án, các trọng tài viên
không có quyền ra lệnh cưỡng chế bồi thường hoặc áp dụng các biện pháp tạm thời khách
như thu giữ tài sản, triệu tập nhân chứng hoặc bên thứ ba khi họ không muốn tham gia
vào tố tụng7; giải quyết bằng phương thức trọng tài đòi hỏi chi phí cao, vụ việc giải quyết
càng kéo dài thì phí trọng tài càng cao.
Bốn là, giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án, phương thức giải quyết tranh chấp hợp
đồng tín dụng tại Tòa án là hình thức cuối cùng mà các bên lựa chọn để giải quyết tranh
chấp khi không còn lựa chọn nào khác. Việc đưa tranh chấp ra xét xử tại tòa án có nhiều
ưu điểm nhưng cũng có những nhược điểm nhất định. Về ưu điểm của hình thức này đó
chính là: Khi cần hành động nhanh chóng và hiệu quả để ngăn chặn sự vi phạm. Tòa án
có thể ra lệnh cưỡng chế khẩn cấp, thậm chí trước khi bắt đầu quá trình tố tụng, 8 cũng như
việc triệu tập nhân chứng, bên thứ ba tham gia tố tụng. Bởi đặc trưng cơ bản của thủ tục
giải quyết tranh chấp bằng tòa án là thông qua hoạt động của bộ máy tư pháp và nhân
danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành. Vì
vậy, quyền lợi của người thắng kiện sẽ được đảm bảo nếu như bên thua kiện. Việc giải
quyết tranh chấp bằng toà án được thực hiện theo nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm và xét
xử phúc thẩm được bảo đảm hai cấp xét xử , nhờ vậy mà những sai sót trong quá trình
giải quyết tranh chấp có khả năng được phát hiện, khắc phục nhằm đảm bảo quyền lợi
chính đáng của các bên. Điểm tiếp theo đó là chi phí giải quyết tranh chấp thông qua toà
án ít hơn rất nhiều so với chi phí giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại. Tuy
vậy, việc lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng
con đường tòa án cũng có những nhược điểm nhất định so với các hình thức khác như:
với đặc trưng là các thủ tục nghiêm ngặt, khá cứng nhắc nên thời gian để giải quyết tranh
chấp thông qua tòa án thường dài hơn so với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương
mại. Hơn nữa, với nguyên tắc xét xử công khai tại tòa án có thể làm giảm uy tín của các
7 Trung tâm Thương mại Quốc tế, Trọng tài và các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn, giải quyết các

tranh chấp thương mại như thế nào?, NXB Tài chính, 2001,tr78.
8 Trung tâm Thương mại Quốc tế, Trọng tài và các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn, giải quyết các
tranh chấp thương mại như thế nào?, NXB Tài chính, 2001,tr79.

19


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD:

bên trong hoạt động kinh tế sau này; đồng thời có thể lộ các bí mật kinh doanh cản trở
hoạt động trong kinh doanh đối với các chủ thể bên vay là doanh nghiệp. Ngoài ra, bản án
xét xử sơ thẩm chưa được thi hành ngay mà các bên còn có quyền kháng cáo, khiếu nại
nên thời gian kéo dài ảnh hưởng đến quá trình hoạt động kinh doanh của các bên.
1.3.

Quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
tại tòa án thì phải đảm bảo các nguyên tắc sau: Thứ nhất, nguyên tắc tôn trọng quyền
quyết định và tự định đoạt của các đương sự, các đương sự có quyền lựa chọn tòa án làm
cơ quan giải quyết tranh chấp, cũng như việc lựa chọn tòa án giải quyết trong trường hợp
có nhiều tòa án cùng có thẩm quyền. Thứ hai, nguyên tắc các đương sự có nghĩa vụ cung
cấp chứng cứ và chứng minh, mọi phán quyết của thẩm phán dựa trên những chứng cứ,
tài liệu liên quan do các bên cung cấp, cơ quan tòa án không có nghĩa vụ thu thập chứng
cứ, tài liệu liên quan. Thứ ba, nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng
dân sự, hội đồng xét xử phải công bằng trong việc đưa ra các quyết định liên quan đến vụ
án. Thứ tư, nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự, các quyền lợi của các đương
sự. Thứ năm, nguyên tắc hoà giải, trước khi đưa vụ án ra xét xử thì vụ án phải được tổ

chức hòa giải, nếu hòa giải thành thì công nhận sự thỏa thuận của các bên. Thứ sáu,
nguyên tắc xét xử vụ án dân sự phải có Hội thẩm nhân dân tham gia, thể hiện sự công
tâm, minh bạch trong mọi quyết định, cũng như thể hiện sự tham gia của nhân dân trong
xét xử.Thứ bảy, nguyên tắc Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai, để đảm bảo các
quyền lợi liên quan của các đương sự, các phiên xét xử được công khai trừ những trường
hợp liên quan đến bí mật quốc gia nhằm đảo bảo sự công bằng trong quá trình xét xử. Thứ
tám, nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử, các bên có quyền ủy quyền cho luật sư
để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.
Về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng: Tòa án nhân
dân huyện, quận, thị xã , thành phố thuộc tỉnh gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện có
thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín
dụng mà không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho
cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, tức là các tòa
án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp phát
sinh từ hợp đồng tín dụng không có yếu tố nước ngoài. Còn Toà án nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương gọi chung là Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải
quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng mà có đương
sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần uỷ thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài,tức là tranh chấp
phát sinh từ hợp đồng tín dụng có yếu tố nước ngoài, và có thẩm quyền xét xử phúc thẩm
các tranh chấp hợp đồng tín dụng không có yếu tố nước ngoài.

20


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD:

Về thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án, quá trình giải quyết tranh

chấp hợp đồng tín dụng gồm có bốn giai đoạn: Giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án, trong
giai đoạn này, nguyên đơn nộp đơn và cơ quan tòa án tiến hành nhận đơn, thụ lý và bổ
sung chứng cứ, tài liệu liên quan. Giai đoạn hoà giải và chuẩn bị xét xử, trước khi có
quyết định đưa vụ án ra xét xử thì phải có thủ tục hòa giải. Giai đoạn xét xử sơ thẩm, khi
có bản án sơ thẩm, các bên không có kháng cáo kháng nghị của các bên tham gia cũng
như cơ quan viện kiểm sát thì bản án sơ thẩm sau 30 ngày kể từ ngày ra bản án thì có hiệu
lực áp dụng. Giai đoạn xét xử phúc thẩm, nếu trong vòng 15 ngày có kháng cáo của các
đương sự thì vụ án sẽ được xét xử phúc thẩm.

21


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD:

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
TÍN DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ
2.1.
Thực trạng về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
2.1.1. Thực trạng về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng ngày càng phổ biến, nên tranh chấp là điều không thể tránh khỏi. Theo
thống kê, trong các tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại, hợp đồng dân sự thì hợp
đồng tín dụng chiếm tỉ lệ lớn nhất và không có dấu hiệu giảm về số lượng. Án tranh chấp
hợp đồng tín dụng có chiều hướng gia tăng rõ rệt, nó chiếm khoảng 40% trong các tranh
chấp kinh doanh thương mại, tranh chấp hợp đồng dân sự. Sự gia tăng về mặt số lượng
này đã phản ánh đúng thực trạng tranh chấp hiện nay, tranh chấp hợp đồng tín dụng đang
chiếm con số lớn. Một số năm trở lại đây tình hình kinh tế thế giới có nhiều diễn biến
phức tạp. Điều này tác động bất lợi đến kinh tế cả nước nói chung và thành phố Đà Nẵng
nói riêng. Các doanh nghiệp trên địa bàn Đà Nẵng chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các biến

động về kinh tế, chính trị trong thời gian này. Người dân, cũng như các doanh nghiệp vừa
và nhỏ của thành phố Đà Nẵng gặp một số khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày cũng như
hoạt động sản xuất kinh doanh như thiếu vốn, giá nguyên vật liệu tăng cao, khả năng thu
hồi vốn chậm từ các dự án, công trình xây dựng điều này dẫn đến các cá nhân, các doanh
nghiệp đi vay vốn ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác ngày càng tăng cao.Trong đó lãi
suất cho vay liên tục ở mức cao, thời gian vay vốn ngắn cũng khiến các doanh nghiệp,
người đi vay khó quay vòng vốn để trả nợ đúng hạn dẫn đến vi phạm hợp đồng tín dụng,
cũng như các chính sách, chương trình hỗ trợ vay vốn của các tổ chức tín dụng mang tính
chất câu dẫn, thu hút khách hàng đánh đòn vào tâm lý khách hàng nên được một thời gian
sau khi hết ưu đãi, chương trình khuyến mãi không còn, lãi suất cao. Điều này làm cho
tranh chấp hợp đồng tín dụng ngày càng nhiều, và không có dấu hiệu giảm xuống.
2.1.2. Trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
Việc lựa chọn Tòa án là cơ quan giải quyết tranh chấp là sự tự nguyện của bên nguyên
đơn. Quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng được thực hiện theo trình tự như
sau: Tòa án tiếp nhận đơn khởi kiện từ phía nguyên đơn, thụ lý vụ án, phân công thẩm
phán giải quyết, hòa giải và chuẩn bị xét xử, phiên tòa sơ thẩm.
Toà án nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Toà án hoặc gửi qua bưu điện
đến bộ phận tiếp nhận đơn và đơn được phân loại tại bộ phận tiếp nhận đơn, tranh chấp
hợp đồng tín dụng có thể thuộc vụ án dân sự hoặc kinh doanh thương mại và ghi thông tin
vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện,
Toà án phân công thẩm phán xem xét và có một trong các quyết định như: Tiến hành thủ
tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hoặc chuyển đơn khởi
22


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD:

kiện cho Toà án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền

giải quyết của Toà án khác. Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không
thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án hoặc trong trường hợp thời hiệu khởi kiện đã hết,
nguyên đơn không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;
sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án
hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hết thời hạn nộp tiền
tạm ứng án phí mà đương sự không nộp lại biên lai nộp tiền án phí để Toà án làm thủ tục
thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng, chưa có đủ điều kiện khởi kiện thì tòa án
trả lại đơn cho nguyên đơn. Khi trả lại đơn khởi kiện, Toà án có văn bản kèm theo ghi rõ
lý do trả lại đơn khởi kiện.
Tiếp đó, Tòa án sẽ tiến hành các bước như: Trong trường hợp đơn khởi kiện không có đủ
các nội dung đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 2, Điều 189 Bộ luật Tố dụng dân sự
2015 thì Tòa án tiến hành yêu cầu nguyên đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện không được
quá ba mươi ngày; trong trường hợp đặc biệt, Toà án có thể gia hạn, nhưng không quá
mười lăm ngày. Khi nguyên đơn bổ sung đầy đủ đơn khởi kiện thì Toà án tiếp tục thụ lý
vụ án; nếu họ không thực hiện theo yêu cầu của Toà án thì Toà án trả lại đơn khởi kiện và
tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện.
Sau khi tiếp nhận đơn khởi kiện và bên nguyên đơn nộp đầy đủ án phí thì tiến hành việc
thụ lý vụ án: Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo thì Toà án thông
báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Toà án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí
trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí. Toà án dự tính số tiền tạm ứng án phí,
ghi vào phiếu báo và thông báo cho nguyên đơn để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời
hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Toà án về việc nộp tiền tạm ứng
án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí. Toà án thụ lý vụ án khi người khởi
kiện nộp lại cho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí. Toà án thụ lý vụ án khi nhận
được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo nếu thuộc trường hợp được miễn tiền
án phí. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Toà án ra thông báo bằng
văn bản cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho
Viện kiểm sát cùng cấp về việc Toà án đã thụ lý vụ án. Sau khi vụ án được thụ lý thì phân
công thẩm phán giải quyết: Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án,
Chánh án Toà án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án.

Hòa giải và chuẩn bị xét xử: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập các đương sự
để tiến hành lấy lời khai. Trong trường hợp vụ án không thuộc trường hợp không được
hòa giải (quy định tại Điều 206 Luật Tố tụng dân sự 2017) hoặc không tiến hành hòa giải
được thì Tòa án ra Thông báo về phiên hòa giải cho các đương sự, người đại diện hợp
pháp của đương sự biết về thời gian, địa điểm tiến hành phiên hoà giải, nội dung các vấn
đề cần hoà giải. Thành phần phiên hòa giải gồm: thẩm phán chủ trì phiên hòa giải, thư ký
Tòa án ghi biên bản hòa giải, các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương
sự.

23


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

GVHD:

Trong trường hợp có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý
tiến hành hòa giải và việc hòa giải đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương
sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành hòa giải giữa các đương sự có mặt; nếu các đương
sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán
phải hoãn phiên hòa giải. Thẩm phán thông báo việc hoãn phiên hòa giải và việc mở lại
phiên hòa giải cho đương sự biết. Khi tiến hành hoà giải, Thẩm phán phổ biến cho các
đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các
bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hoà giải
thành để họ tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Nếu hòa giải thành
thì Tòa án ra Quyết định công nhận thỏa thuận của các đương sự sau 7 ngày kể từ ngày
lập biên bản hòa giải thành. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định
công nhận sự thoả thuận của các đương sự, Toà án gửi quyết định đó cho các đương sự và
Viện kiểm sát cùng cấp.Trong trường hợp bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần
thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, thì Toà án lập biên bản về việc không tiến hành hoà giải

được do bị đơn vắng mặt và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Trong
trường hợp tại phiên toà bị đơn có yêu cầu Toà án hoãn phiên toà để tiến hành hoà giải, thì
Toà án không chấp nhận, nhưng cần tạo điều kiện cho các bên thoả thuận với nhau về việc
giải quyết vụ án. Trong trường hợp các đương sự chỉ thoả thuận được với nhau về việc
giải quyết một phần vụ án, còn phần khác không thoả thuận được, thì Toà án ghi những
vấn đề mà các đương sự thoả thuận được và những vấn đề không thoả thuận được vào
biên bản hoà giải theo quy định tại Điều 211 của Bộ Luật Tố tụng dân sự và tiến hành ra
quyết định đưa vụ án ra xét xử, trừ trường hợp có căn cứ để tạm đình chỉ hoặc đình chỉ
việc giải quyết vụ án. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử đối với vụ án tranh chấp hợp đồng
tín dụng ngân hàng là từ 4 – 6 tháng. Trong thời hạn này tuỳ từng trường hợp mà Toà án
ra một trong các quyết định sau đây: Công nhận sự thoả thuận của các đương sự nếu hòa
giải thành; tạm đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp các bên bổ sung tài liệu chứng
cứ liên quan; đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện;
hoặc đưa vụ án ra xét xử: trong thời hạn một tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra
xét xử, Toà án mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là hai
tháng.
Khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì tiến hành mở phiên tòa sơ thẩm: Phiên toà sơ
thẩm phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ
án ra xét xử hoặc trong giấy báo mở lại phiên toà trong trường hợp phải hoãn phiên
toà.Phiên tòa được mở xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục và được công khai. Phải
có sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự. Trong trường hợp khi tòa triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nếu các đương sự có
người vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề
nghị xét xử vắng mặt. Khi hoãn phiên tòa, Tòa án thông báo cho đương sự, người đại
diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự biết việc hoãn phiên tòa.

24


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp


GVHD:

Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, nếu vắng mặt không vì
sự kiện bất khả kháng thì xử lý như sau: Nguyên đơn, người đại diện theo pháp luật vắng
mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và
Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ
trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại,
nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có
yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến
hành xét xử vắng mặt họ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng
mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của
mình và Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết đối với yêu cầu độc lập có người đó,
trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó, nếu thời
hiệu khởi kiện vẫn còn. Trong trường hợp khi mở phiên tòa mà người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Tiếp đó trong phiên tòa xét xử, tiến hành các thủ tục như sau: Thủ tục bắt đầu phiên tòa,
Thủ tục hỏi tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử tiến hành hỏi các đương sự . Tranh luận tại
phiên Tòa. Cuối cùng, Nghị án và tuyên án, hội đồng xét xử tiến hành nghị án và đưa ra
bản án cuối cùng, rồi tiến hành tuyên án. Bản án có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày tuyên
án nếu các bên đương sự không kháng cáo, viện kiểm sát không kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm.
2.2. Thực trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng ở tòa án nhân
dân quận Sơn Trà
2.2.1. Giới thiệu về tòa án nhân quận Sơn Trà
Tòa án nhân dân quận Sơn Trà là một trong bảy tòa án thuộc thành phố Đà Nẵng, trụ sở
đặt tại 25 Hà Thị Thân, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Tòa án nhân dân quận Sơn
Trà được thành lập từ ngày 31/12/1996 khi tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng

chia tách thành Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam và tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
Từ đó tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng thành lập thành 6 tòa án quận huyện và tòa án
nhân dân quận Sơn Trà là một trong số đó. Căn cứ Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm
2014, thì tòa án nhân dân quận Sơn Trà thành phố Đà Nẵng gồm 1 chánh án, 1 phó chánh
án, 7 thẩm phán, 8 thư ký và kế toán.
2.2.2. Thẩm quyền của tòa án nhân dân quận Sơn trà trong việc giải quyết tranh
chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng
Tòa án nhân dân quận Sơn Trà có thẩm quyền giải quyết các vụ án dân sự, kinh
doanh thương mại thuộc lĩnh vực hợp đồng tín dụng ngân hàng theo quy định của pháp
luật về thẩm quyền của tòa án cấp huyện. Theo điều 26, 35, 36 của Luật Tố tụng dân sự
năm 2015 thì thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân quận Sơn Trà như sau: Tòa án
25


×