Tải bản đầy đủ (.pdf) (17 trang)

Lợi ích kinh tế trong nền kinh tế thị trường và việc giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích kinh tế ở việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.67 MB, 17 trang )

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ
----- -----

TIỂU LUẬN

MƠN : KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Đề tài: Lợi ích kinh tế trong nền kinh tế thị trường và việc giải
quyết hài hịa các quan hệ lợi ích kinh tế ở Việt Nam hiện nay.

Sinh viên : Nguyễn Trần Minh Phương
Lớp : KT01001_8
Khố : K41
Chun ngành : Chính trị phát triển
Mã sinh viên : 2155310038
Giáo viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Thị Khuyên

HÀ NỘI - 2021


2

MỤC LỤC

MỤC LỤC .......................................................................................................................... 2
MỞ ĐẦU........................................................................................................................... 2
NỘI DUNG ........................................................................................................................ 5
CHƯƠNG 1: Lý luận cơ bản về lợi ích kinh tế ..................................................................... 5
1.1. Bản chất đặc chưng cơ bản của lợi ích kinh tế ............................................................ 5
1.2. Các cơ cấu lợi ích kinh tế trong các thành phần kinh tế ở nước ta ............................... 6


CHUƠNG 2: Vai trò nhà nước trong bảo đảm hài hịa các quan hệ lợi ích .......................... 8
2.1. Bảo vệ lợi ích hợp pháp, tạo mơi trường thuận lợi cho hoạt động tìm kiếm lợi ích của
các chủ thế kinh tế ............................................................................................................ 8
2.2. Kiểm soát, ngăn ngừa các quan hệ lợi ích có ảnh hưởng tiêu cực dối với sự phát triển
xã hội ............................................................................................................................... 9
2.3. Điều hòa lợi ích giữa cá nhân - doanh nghiệp - xã hội ............................................... 11
2.4. Giải quyết những mâu thuẫn trong quan hệ lợi ích kinh tế ........................................ 11
CHƯƠNG 3: Giải pháp chủ yếu để giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
trong điều kiện kinh thế thị trường ở Việt Nam hiện nay ................................................. 12
3.1. Vai trị của việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội ................... 12
3.2. Giải pháp giải quyết hài hịa quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều
kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay ................................................................... 13
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................................... 16


3

MỞ ĐẦU
1, Lý do chọn đề tài
Kinh tế thị trường là một bộ phận quan trọng, không thể thiếu của nền kinh tế. Đây
là nơi diễn ra các hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm, trao đổi mua bán hàng hóa và là
điều kiện phát triển vật chất , đáp ứng nhu cầu của con người. Ở nền kinh tế thị trường
mọi người được thỏa mái sáng tạo để tìm ra những phương án tốt nhất cho cơng việc
và rút ra những kinh nghiệm cho bản thân mình. Trong nền kinh tế thị trường không
thể không nhắc tới lợi ích của kinh tế. Do vậy, trên cơ sở đảm bảo lợi ích giai cấp và
mục đích phát triển của nền kinh tế, các giai cấp cầm quyền trong xã hội đều cần thiết
phát huy những mặt tích cực và hạn chế các mặt tiêu cực của các quy luật kinh tế (đến
một mức nào đó do lợi ích giai cấp, nhóm xã hội quy định) bằng hệ thống pháp luật,
chính sách. Đó chính là thể chế kinh tế. Ngày nay, kinh tế thị trường đã được áp dụng

phổ biến trên thế giới.Tuy nhiên, do mục đích và điều kiện của nền sản xuất ở mỗi
nước khác nhau, nên thể chế kinh tế thị trường ở các nước khơng hồn tồn giống
nhau.
Chính vì thế, chúng ta cần nghiên cứu về lợi ích kinh tế trong nền kinh tế thị trường,
tìm hiểu vai trị và tác động của nó tới nền kinh tế, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường
hiện nay, để có thể vận dụng nó khắc phục những nhược điểm của nền kinh tế và phát
triển đất nước. Vì vậy em đã quyết định lựa chọn đề tài “ Lợi ích kinh tế trong nền
kinh tế thị trường và việc giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích kinh tế ở Việt Nam
hiện nay” để từ đó có cái nhìn sâu sắc, tồn diện hơn về lợi ích của kinh tế, ảnh hưởng
của nó trong nền kinh tế để rút ra bài học, biện pháp khắc phục những ảnh hưởng tiêu
cực của nó đồng thời phát huy những ảnh hưởng tích cực của nó.
2, Mục đích nghiên cứu
Kinh tế thị trường có những khiếm khuyết cố hữu, địi hỏi phải có sự can thiệp của
nhà nước vào nền kinh tế để khắc phục. Tuy nhiên, nhà nước cũng có hạn chế và cũng
thất bại khi can thiệp quá mức. Chính sự khiếm khuyết của thị trường và hạn chế của
nhà nước cho thấy: không thể phát triển khi thiếu vắng sự can thiệp của nhà nước,
cũng như không thể phát triển nếu thiếu vắng thị trường, để phát triển đòi hỏi nhà
nước và thị trường cần tương tác, hỗ trợ nhau, khắc phục các khiếm khuyết. Qua đó
chúng ta nghiên cứu Lợi ích kinh tế trong nền kinh tế thị trường để có thể chỉ rõ ra
những cái hạn chế cần khắc phục cũng như tuyên truyền cho mọi người để người dân
có thể nâng cao tầm nhận thức về nền kinh tế thị trường và sẽ có những quyết định
đúng đắn trong q trình đầu tư của cá nhân hay doanh nghiệp. Từ đó sẽ thúc đẩy kinh
tế thị trường trong nước đi lên, và sẽ có những phát triển vượt bậc
3, Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng những cơ sở lý luận của giáo trình đang
học kết hợp với tình hình kinh tế ở Việt Nam hiện tại cũng như nền kinh tế thế giới từ
đó rút ra những nhận định, đánh giá, nghiên cứu số liệu, tham khảo quan điểm kinh tế
học của các nhà quản trị hiện đại



4

4, Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,phụ lục, tiểu luận gồm:

CHƯƠNG 1: Lý luận cơ bản về lợi ích kinh tế
1.1. Bản chất đặc chưng cơ bản của lợi ích kinh tế
1.2. Các cơ cấu lợi ích kinh tế trong các thành phần kinh tế ở nước ta
CHUƠNG 2: Vai trò nhà nước trong bảo đảm hài hòa các quan hệ lợi ích
2.1. Bảo vệ lợi ích hợp pháp, tạo mơi trường thuận lợi cho hoạt động tìm kiếm
lợi ích của các chủ thế kinh tế
2.2. Kiểm soát, ngăn ngừa các quan hệ lợi ích có ảnh hưởng tiêu cực dối với sự
phát triển xã hội
2.3. Điều hịa lợi ích giữa cá nhân - doanh nghiệp - xã hội
2.4. Giải quyết những mâu thuẫn trong quan hệ lợi ích kinh tế
CHƯƠNG 3: Giải pháp chủ yếu để giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi
ích xã hội trong điều kiện kinh thế thị trường ở Việt Nam hiện nay
3.1. Vai trò của việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
3.2. Giải pháp giải quyết hài hòa quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay


5

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: Lý luận cơ bản về lợi ích kinh tế
1.1. Bản chất đặc chưng cơ bản của lợi ích kinh tế
1.1.1. Lợi ích kinh tế
Ngay từ khi mới xuất hiện, con người đã tiến hành các hoạt động kinh tế

hoạt động kinh tế ln giữ vai trị trung tâm trong mọi hoạt động xã hội và nó là
cơ sở cho các hoạt động khác. Trong hoạt động kinh tế, con người ln có động
cơ nhất định.Động cơ thúc đẩy con người hành động. Mức độ hành động mạnh
hay yếu tuỳ thuộc vào mức độ chín muồi của động cơ - tuỳ thuộc vào nhận thức
và thực hiện lợi ích của họ. Lợi ích kinh tế và phân phối thu nhập là những vấn
đề rộng lớn liên quan đến các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội của nhà nước
và nhân dân lao động, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Chính vì thế mà em chọn đề tài: Lợi ích kinh tế và phân phối thu nhập trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Lợi ích là gì? Theo C.Mác thì phạm trù lợi ích, ích lợi, có lợi được sử dụng
như là cùng nghĩa và có thể thay thế nhau. Lợi ích khơng phải là cái gì trừu
tượng và có tính chất chủ quan, mà cơ sở của lợi ích là nhu cầu khách quan của
con người. Con người có nhiều loại nhu cầu (vật chất, chính trị, văn hố), do đó
có nhiều loại lợi ích (lợi ích kinh tế lợi ích chính trị lợi ích văn hố, tinh thần).
Lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, nó xuất hiện trong
những điều kiện tồn tại là mối quan hệ xã hội nhằm thực hiện nhu cầu kinh tế
của các chủ thể kinh tế. Những nhu cầu kinh tế của con người khi nó được xác
định về mặt xã hội thì nó trở thành cơ sở, nội dung của lợi ích kinh tế.
Lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện của quan hệ sản xuất, nó được quy
định một cách khách quan bởi phương thức sản xuất, bởi hệ thống quan hệ sản
xuất, trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất. Ph.Ănghen viết: "Những
quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định nào đó biểu hiện trước hết dưới hình
thức lợi ích". VILênin cũng cho rằng: “Lợi ích của giai cấp này hay giai cấp
khác được xác định một cách khách quan theo vai trị mà họ có trong hệ thống
quan hệ sản xuất, theo những hoàn cảnh và điều kiện sống của họ”.
Là hình thức biểu hiện của quan hệ sản xuất, lợi ích kinh tế thể hiện trong
tất cả bốn khâu của quá trình tái sản xuất xã hội.Cần khẳng định rằng, ở đâu có
hoạt động sản xuất-kinh doanh thì ở đó có lợi kinh tế và chủ thể sản xuất-kinh
doanh cũng là chủ thể của lợi ích kinh tế.
1.1.2. Vai trị của lợi ích kinh tế

Lợi ích kinh tế là một trong những vấn đề sống cịn của sản xuất và đời
sống. Chính những lợi ích kinh tế đã gắn bó con người với cộng đồng của mình


6

và tạo ra những kích thích thơi thúc, khát vọng và sự say mê trong hoạt động sản
xuất-kinh doanh cho người lao động. Lợi ích kinh tế được nhận thức và thực
hiện đúng thì nó sẽ là động lực kinh tế thúc đẩy con người hành động. Do đó, lợi
ích kinh tế thể hiện như là một trong những động lực cơ bản của sự tiến bộ xã
hội nói chung, phát triển sản xuất - kinh doanh nói riêng. Ph.Ăngghen cho rằng
lợi ích kinh tế là những động cơ đã lay chuyển những quần chúng đông đảo.Và
khi chúng biến thành sự kích thích hoạt động của con người :"thì chúng lấy động
đời sống nhân dân".
Lợi ích kinh tế cịn có vai trị quan trọng trong việc củng cố, duy trì các mối
quan hệ kinh tế giữa các chủ thể sản xuất - kinh doanh. Một khi con người tham
gia vào các hoạt động kinh tế đều nhằm đạt tới những lợi ích kinh tế tương xứng
với kết quả sản xuất kinh doanh thì mới đảm bảo nâng cao tính ổn định và sự
phát triển của các chủ thể lợi ích. Ngược lại, khi khơng mang lại lợi ích hoặc lợi
ích khơng được đầy đủ thì sẽ làm cho các mối quan hệ đó quan hệ giữa các chủ
thể xuống cấp. Nếu tình trạng đó kéo dài thì sớm muộn sẽ dẫn đến tiêu cực trong
hoạt động sản xuất - kinh doanh.
Lợi ích kinh tế thiết thân của cá nhân người lao động là động lực trực tiếp
đối với sự hoạt động của từng con người nói riêng và của cả xã hội nói chung.
Trong giai đoạn lịch sử hiện nay của đất nước, các lợi ích kinh tế, lợi ích
trước mắt của các cá nhân đang là cấp bách nhất, vì thế , nó cũng đang đóng vai
trị quan trọng hơn cả trong việc thúc đẩy các chủ thể hoạt động và qua đó gây
nên sự vận động phát triển của xã hội. Vì vậy vào thời điểm lịch sử hiện nay,
chúng ta phải chủ trương tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích các cá nhân ,
các gia đình cũng như các nhóm xã hội thực hiện các lợi ích trên đây là hết sức

đúng đắn, là phản ánh đúng những đòi hỏi khách quan của thực tiễn cuộc sống.
Thực ra, thông qua các chủ trương ấy, chúng ta nhằm vào các mục đích lớn lao
hơn- đó là đưa xã hội thoát khỏi khủng hoảng và từng bước phát triển đời sống
kinh tế xã hội của đất nước.
1.2. Các cơ cấu lợi ích kinh tế trong các thành phần kinh tế ở nước ta
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đang tồn tại nhiều thành
phần kinh tế với sự đa dạng các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất và đa dạng
các hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh Đại hội lần thứ IX của Đảng đã xác
định: ở nước ta hiện nay có 6 thành phần kinh tế. Đó là:
+ Kinh tế tập thể: Có thể nói các hợp tác xã được thành lập và tồn tại mấy
chục năm qua được hình thành trên cơ sở tập thể hố các tư liệu sản xuất mang
tính phong trào và được nền kinh tế xã hội chủ nghĩa bao cấp, nuôi dưỡng đến
nay hầu như bị tan rã hoặc đang đứng trước nguy cơ tan rã. Các hợp tác xã nông
nghiệp và thương nghiệp, dịch vụ hầu như đã biến dạng và biến mất hồn tồn.
Riêng trong nơng nghiệp các hợp tác xã hay các tập đoàn sản xuất diễn ra
theo hai xu hướng sau:


7

- Phần lớn các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất được thành lập trước đây đã
bị tan rã và giải thể.
- Số còn lại tồn tại chủ yếu mang tính chất hình thức làm dịch vụ phục vụ,
thúc đẩy kinh tế hộ gia đình phát triển.
Dĩ nhiên, cùng với sự tan rã và giải thể hàng loạt của các hợp tác xã và các tập
đoàn sản xuất trong cả nông nghiệp, công nghiệp thương nghiệp và dịch vụ theo
mơ hình cũ là sự hình thành những loại hình hợp tác kiểu mới đa dạng ra đời
một cách khách quan do yêu cầu của đời sống và sản xuất xã hội. Loịa hình hợp
tác này được hình thành trên cơ sở các thành viên xã viên tự nguyện tham gia và
đóng góp cổ phần trên nguyên tắc cùng có lợi , lời ăn, lỗ chịu. Trong công

nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ nó mang tên Tổ hợp sản xuất, cơng ty... tuỳ
theo tính chất và quy mơ, cịn trong nơng nghiệp nó được hình thành và hiện cịn
ở dạng quy mô hợp tác nhỏ.
Các quan hệ kinh tế của các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất trước đây gắn liền
với nhà nước, còn các quan hệ kinh tế của các công ty , các hợp tác xã mới được
hoạt động mấy năm qua gắn liền với cơ chế thị trường.
Hợp tác xã và tập đoàn sản xuất trước đây là một bộ phận của nền kinh tế xã
hội chủ nghĩa, quy định bởi nhà nước và vận động theo xu hướng chung đó. Cịn
kinh tế hợp tác hiện nay là hình thức liên kết tự nguyện của những người lao
động, người sản xuất nhỏ, dưới các hình thức hết sức đa dạng , được Đảng và
nhà nước ta coi là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, cùng với kinh tế nhà nước dần dần trở thành nền tảng của nền kinh
tế
Chỉ thị ngày 24-5-1996 của Ban bí thư Trung Ương Đảng về phát triển kinh tế
hợp tác chỉ rõ: "Nhà nước tôn trọng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản
xuất kinh doanh của hợp tác xã, không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh
doanh của hợp tác xã". Tuy nhiên, nhà nước khuyến khích phát triển mọi hình
thức kinh tế hợp tác , có các chính sách ưu đãi , hỗ trợ hợp tác xã về đất đai, thuế
tín dụng , đầu tư, xuất nhập khẩu, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ...Trong điều kiện
vừa được nhận sự ưu đãi , hỗ trợ từ nhà nước , vừa được hoàn toàn độc lập tự
chủ trong sản xuất kinh doanh, kinh tế tập thể hiện nay vận động theo xu hướng
khác nhau , vừa bị quy định bởi cơ chế thị trường , vừa phụ thuộc vào xu hướng
chung của các thành viên tham gia hợp tác.
Đối với kinh tế tập thể, nhà nước với các chức năng của mình, nhất là chức
năng hành pháp và kinh tế , thơng qua các luật doanh nghiệp, đầu tư...,các chính
sách thuế , chính sách bảo trợ sản xuất, các dịch vụ kỹ thuật ,cung ứng vật tư,
tiêu dùng sản phẩm và ngân hàng, tín dụng..., trong những chừng mực nhất định,
những phạm vi và quy mơ nhất định có thể định hướng điều chỉnh sự vận động
và phát triển của kinh tế tập thể theo định hướng xã hội chủ nghĩa . Dĩ nhiên, đó
là sự điều tiết ở tầm vĩ mô. Chắc chắn rằng trong tương lai thành phần kinh tế



8

tập thể sẽ cùng với thành phần kinh tế nhà nước trở thành nền tảng của nền kinh
tế xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta chủ trương.
+ Kinh tế tư bản nhà nước : Đó là thành phần kinh tế mới xuất hiện từ khi ta
thực hiện công cuộc đổi mới đất nước. Có thể kể 2 loại hình chủ yếu của kinh tế
hỗn hợp giữa nhà nước và tư nhân này là: liên doanh và hợp doanh, giữa nhà
nước và tư bản nước ngoài; và liên doanh, hợp doanh, hỗn hợp , giữa nhà nước
và doanh nghiệp trong nước và tư bản nước ngoài.
Hiện nay , 70-75% các dự án liên doanh với các nhà tư bản nước ngoài đều có
quy mơ trên dưới 7 triệu USD. Điều đó chứng tỏ các cơng ty nước ngồi đầu tư
vào Việt Nam giai đoạn đầu này phần lớn mới chỉ là cơng ty nhỏ, vốn ít, tìm
kiếm cơ hội có thể mang lại lợi nhuận ngay và thu hồi vốn nhanh. Do vậy, chưa
có các dự án tầm cỡ đầu tư vào các ngành công nghiệp nặng và kinh tế mũi
nhọn. Thu hút các nhà đầu tư giai đoạn hiện nay phần nhiều là điện tử, sản xuất
hàng tiêu dùng, dịch vụ, du lịch, khách sạn và ngân hàng
Trong những năm vừa qua, các nhà đầu tư vào Việt Nam gặp khơng ít khó
khăn nhất là thủ tục hành chính mơi trường đầu tư. Vì vậy, muốn thu hút các dự
án lớn cần trước hết làm trong sạch môi trường đầu tư cũng như ban hành và
thực thi pháp luật nghiêm minh, đồng bộ và bình đẳng .
CHUƠNG 2: Vai trị nhà nước trong bảo đảm hài hòa các quan hệ lợi ích
Sự phối hợp các lợi ích kinh tế là sự thống nhất biện chứng giữa các lợi ích
kinh tế là chủ thể, mặt mâu thuẫn được hạn chế, tránh va chạm, mâu thuẫn; mặt
phổ biến nhất là khuyến khích, tạo điều kiện phát triển theo chiều rộng và chiều
sâu, từ đó tạo động lực thúc đẩy góp phần thực hiện tốt hơn các lợi ích kinh tế,
đặc biệt là lợi ích xã hội.
Để điều phối các lợi ích kinh tế, kinh tế thị trường thơi chưa đủ, vì các lợi ích
kinh tế ln thống nhất, mâu thuẫn với nhau và cần có sự can thiệp của nhà

nước. Bảo đảm sự phối hợp các lợi ích kinh tế là việc nhà nước can thiệp vào
mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế với các công cụ giáo dục, luật pháp, hành chính,
kinh tế ... nhằm tăng thu nhập cho chủ sở hữu. Hạn chế xung đột và tăng cường
đoàn kết, xử lý kịp thời các xung đột.
2.1. Bảo vệ lợi ích hợp pháp, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động tìm
kiếm lợi ích của các chủ thế kinh tế
Hoạt động kinh tế luôn diễn ra trong một môi trường nhất định. Mơi trường
càng thuận lợi thì các hoạt động kinh tế càng được mở rộng và hiệu quả. Môi
trường vĩ mô tốt không phải do chúng ta tạo ra mà do đất nước tạo ra. Tạo môi
trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, trước hết là giữ vững ổn định chính
trị. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã làm rất tốt vấn đề này. Vì vậy, các


9

nhà đầu tư trong và ngồi nước đều có cảm giác an tâm khi đầu tư. Tiếp tục duy
trì ổn định chính trị sẽ giúp đảm bảo hài hịa các lợi ích kinh tế của Việt Nam.
Để tạo mơi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, cần xây dựng mơi
trường pháp lý thơng thống nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh
tế trong và ngồi nước, đặc biệt là lợi ích của quốc gia. Trong bối cảnh hội nhập
quốc tế ngày càng sâu rộng, hệ thống pháp luật của các nước cũng phải phù hợp
với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Trong những năm vừa qua, hệ thống
pháp luật của nước ta đã và dang thay đổi tích cực. Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất
hiện nay là tuân thù pháp luật.
Tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế tất yếu phải đầu tư xây
dựng kết cấu hạ tầng của nền kinh tế (bao gồm hệ thống đường bộ, đường sắt,
đường sông, dường hàng không...; hệ thống cầu cống; hệ thống điện, nước; hệ
thống thông tin liên lạc...). Nhờ phát triển kết cấu hạ tầng được coi là một trong
ba đột phá lớn, trong những năm vừa qua, kết cấu hạ tầng của nền kinh tế nước
ta đã được cải thiện rất đáng kề, đáp ứng nhu càu của các hoạt động kinh tế. Môi

trường vĩ mô về kinh tế đòi hỏi nhà nước phải đưa ra được các chính sách phù
hợp với nhu cẩu của nen kinh tế trong từng giai đoạn. Thực tế cho thấy, các
chính sách kinh tế của Việt Nam đang từng bước đáp ứng ycu cầu này.
Tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế cịn là tạo lập mơi
trường văn hóa phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường. Đó là mơi
trường trong đó con người năng động, sáng tạo; tôn trọng kỷ cương, pháp luật;
giữ chữ tín...
2.2. Kiểm sốt, ngăn ngừa các quan hệ lợi ích có ảnh hưởng tiêu cực dối với
sự phát triển xã hội
Lợi ích kinh tế là kết quả trực tiếp của việc phân phối thu nhập. Phân phối
công bằng và hợp lý góp phần quan trọng đảm bảo hài hịa các lợi ích kinh tế. Vì
vậy, quốc gia phải chủ động thực hiện phân phối thu nhập cơng bằng.
Hiện nay, có hai khái niệm chính về cơng bằng trong phân phối: bình đẳng về
mức độ (dựa trên mức thu nhập của từng đối tượng) và công bằng theo chức
năng (dựa trên đóng góp vào việc tạo ra thu nhập). Mỗi khái niệm đều có ưu và
nhược điểm, vì vậy cần kết hợp hai khái niệm. Thứ nhất, nhà nước phải chăm lo
đời sống vật chất của mọi công dân. Ở mọi giai đoạn phát triển, con người phải
đạt mức sống tối thiểu. Muốn vậy, đất nước cần thực hiện các chính sách xóa
đói, giảm nghèo, tạo điều kiện và cơ hội để tiếp cận bình đẳng các nguồn lực
phát triển, thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản, xóa đói giảm nghèo và phát
triển thịnh vượng, kiên quyết xóa đói giảm nghèo và phát triển thịnh vượng. khu
vực. Những người nghèo khổ, vượt qua bao cấp và tư tưởng bao cấp. Chú trọng
các chính sách ưu đãi xã hội, vận động toàn dân tham gia các hoạt động đên ơn


10

đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn. Đẩy mạnh các hoạt dộng nhân đạo, từ thiện,
giúp đỡ người nghèo, đồng bào các vùng gặp thiên tai... Tiếp theo, nhà nước cần
có các chính sách khuyến khích người dân làm giàu hợp pháp, tạo điều kiện và

giúp dỡ họ bằng mọi biện pháp, về nguyên tắc, người dân dược làm tất cả những
gì luật pháp khơng cấm; luật pháp chỉ cấm những hoạt động gây tồn hại lợi ích
quốc gia và các lợi ích hợp pháp khác.

Đề lợi ích kinh tế thật sự là động lực của các hoạt động kinh tế, người lao động
và người sử dụng lao động phải có nhận thức và hành động đúng trong lĩnh vực
phân phối thu nhập. Họ cần phải hiếu được các nguyên tắc phân phối của kinh tế
thị trường để có sự phân chia hợp lý giữa tiền lương và lợi nhuận; chủ doanh
nghiệp phải hiểu và tự nguyện thực hiện nghĩa vụ nộp thuế... Tuyên truyền, giáo
dục để nâng cao nhận thức, hiểu biết về phân phối thu nhập cho các chủ thể kinh
tế - xã hội là những giải pháp rất cần thiết đề loại bỏ những đòi hỏi khồng hợp lý
về thu nhập. Trong trường hợp người lao động và người sử dụng lao động không
tự nhận thức và thực hiện được, nhà nước cần có sự tư vấn, điều tiết họp lý.
Bên cạnh đó, trong cơ chế thị trường, thu nhập từ các hoạt động bất hợp pháp
như buôn lậu, làm hàng giả, hàng nhái; lừa đảo; tham nhũng... tồn tại khá phổ
biến. Các hoạt động này càng gia tăng, càng làm tồn hại lợi ích kinh tế của các
chủ thề làm ăn chân chính. Đẻ chống các hình thức thu nhập bất hợp pháp, bảo
đảm hài hòa các lợi ích kinh tế. Trước hết, phải có bộ máy nhà nước liêm chính,
có hiệu lực. Bộ máy nhà nước phải tuyển dụng, sử dụng được những người có
tài, có tâm; sảng lọc được những người không đủ tiêu chuẩn. Cán bộ, công chức
nhà nước phải được đãi ngộ xứng đáng và chịu trách nhiệm đến cùng mọi quyết
định trong phạm vi, chức trách của họ. Nhà nước phải kiềm sốt được thu nhập
của cơng dân, trước hết là thu nhập của cán bộ, công chức nhà nước. Trước pháp
luật, mọi người dân và cán bộ, công chức nhà nước phải thực sự bình đẳng; mọi
vi phạm phải được xét xử theo quy định của pháp luật. Thực hiện công khai,
minh bạch mọi cơ chế, chính sách và quy định của nhà nước... Nhờ đó, người


11


dân, doanh nghiệp và cán bộ, công chức nhà nước hiểu rõ được quyền lợi, trách
nhiệm của mình. Đồng thời, các cơ quan công quyền, cán bộ, công chức nhà
nước được giám sát, tránh được tình trạng lạm quyền, thiếu trách nhiệm, tham
nhũng...
Cùng với đó, việc nâng cao hiệu lực, hiệu quà của hoạt động thanh tra, kiểm
tra và xử lý vi phạm là đặc biệt cần thiết. Thực hiện tốt hoạt động này không chỉ
nhằm khắc phục các bất cập, thực hiện công bằng xã hội, mà quan trọng hơn là
ngăn chặn các hình thức thu nhập bất hợp pháp.
2.3. Điều hịa lợi ích giữa cá nhân - doanh nghiệp - xã hội
Do mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể và ảnh hưởng của quy luật thị
trường, chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp dân cư làm cho lợi ích kinh tế của
một bộ phận dân cư rất khó khăn và hạn chế. Vì vậy, quốc gia cần có chính sách,
trước hết là chính sách phân phối thu nhập để đảm bảo hài hoà lợi ích kinh tế.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, một mặt phải nhìn nhận một cách khách quan
sự chênh lệch giữa mức thu nhập của tập thể và cá nhân, nhưng mặt khác, cần
chống chênh lệch quá mức về thu nhập. Sự phân chia xã hội quá mức có thể dẫn
đến căng thẳng và thậm chí là xung đột xã hội. Đây đều là những vấn đề cần
được quan tâm trong chính sách phân phối thu nhập. Phân phối khơng chỉ phụ
thuộc vào quyền sở hữu, mà cịn phụ thuộc vào sản xuất. Trình độ phát triển
năng suất càng cao thì chất lượng hàng hố và dịch vụ càng phong phú, tốt hơn
và thu nhập của bộ phận chính càng lớn. Do đó, phát triển mạnh mẽ lực lượng
sản xuất, phát triển khoa học - công nghệ đê nâng cao thu nhập cho các chủ thể
kinh tế. Đó chính là những điều kiện vật chất đế thực hiện ngày càng đầy đủ sự
công bằng xã hội trong phân phối.
2.4. Giải quyết những mâu thuẫn trong quan hệ lợi ích kinh tế
Mâu thuẫn giữa các lợi ích kinh tế là khách quan, nếu không được giải quyết
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến động lực của các hoạt động kinh tế. Do đó, khi các
mâu thuẫn phát sinh cần được giải quyêt kịp thời. Muốn vậy, các cơ quan chức
năng của nhà nước cần phải thường xuyên quan tâm phát hiện mâu thuẫn và
chuân bị chu đáo các giải pháp đôi phó. Ngun tắc giải quyết mâu thuẫn giữa

các lợi ích kinh tế là phải có sự tham gia của các bên liên quan, có nhân nhượng
và phải đặt lợi ích đât nước lên trên hết.
Ngăn ngừa là chính nhưng khi mâu thuẫn giữa các lợi ích kinh tế bùng phát có
thề dẫn đến xung đột (đình cơng, bãi cơng...). Khi có xung đột giữa các chủ thể
kinh tế, cần có sự tham gia hòa giải của các tổ chức xã hội có liên quan, đặc biệt
là nhà nước.


12

CHƯƠNG 3: Giải pháp chủ yếu để giải quyết quan hệ giữa lợi ích
cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh thế thị trường ở Việt
Nam hiện nay
3.1. Vai trò của việc giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
Lãi suất là một trong những động lực thúc đẩy hoạt động của con người và
những biến đổi của xã hội, đồng thời là một trong những vấn đề cơ bản quyết
định bản chất của các quan hệ xã hội. Xét cho cùng, sự phát triển xã hội là kết
quả của những hoạt động có ý thức “theo đuổi những mục tiêu nhất định” của
con người. Lợi ích hợp pháp là động lực thúc đẩy hành động của mọi người;
việc giành và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng sẽ ln là động lực mạnh mẽ
và trực tiếp nhất cho hành động của mọi người. Mối quan tâm chính là yếu tố
quan trọng nhất trong chuỗi quy luật nhân quả định hướng cho các hoạt động
của con người: nhu cầu- hứng thú- mục đích- hoạt động. Theo quan điểm xã hội,
lợi ích là động lực của cách mạng quần chúng và là nguồn gốc của mọi mâu
thuẫn xã hội. Mỗi lợi ích đều có những chủ thể xác định và mối quan hệ giữa
các lợi ích, đặc biệt giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, tạo nên những vector
thúc đẩy hoạt động của con người và sự vận động của xã hội theo những chiều
hướng khác nhau, mạnh yếu khác nhau. Trong đó, quan hệ giữa lợi ích cá nhân
và lợi ích xã hội là quan hệ lợi ích căn bản của xã hội, chi phối đến sự phát triển
của cá nhân và xã hội.

Lợi ích cá nhân, đó là tất cả những lợi ích vật chất, tinh thần gắn liền với từng
cá nhân cụ thể và dùng để thỏa mãn các nhu cầu riêng tư cụ thể của cá nhân đó,
đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân; bao gồm: lợi ích vật chất, lợi ích
tinh thần, lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị,... Lợi ích xã hội là cái phản ánh quan hệ
nhu cầu của xã hội và là cái dùng để thỏa mãn nhu cầu chung của toàn xã hội về
một (một số) đối tượng (vật chất, tinh thần) nhất định, bảo đảm cho sự tồn tại và
phát triển của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, thể hiện các quan hệ cơ bản và
lâu dài của xã hội. Lợi ích xã hội ở đây khơng phải là lợi ích của một nhóm người,
một giai tầng, mà đó là lợi ích của cả dân tộc, trong đó có lợi ích chung của các
cá nhân cấu thành dân tộc, của cả dân tộc và khơng mâu thuẫn với lợi ích chung
của nhân loại tiến bộ.
Tuy nhiên, cũng cần thấy thêm, lợi ích cá nhân khơng chỉ đơn giản nằm trong
mỗi cá nhân cụ thể, nó có thể nằm trong một chủ thể nhất định nào đó khi ta xét
lợi ích của chủ thể đó với tư cách độc lập, tách biệt với các chủ thể khác, tuy nhiên,
trong phạm vi bài viết này, chủ thể của lợi ích cá nhân chỉ được xét ở góc độ là ở
trong mỗi cá nhân. Chủ thể của lợi ích xã hội thơng thường đó chính là Đảng, Nhà
nước, nó có thể biểu hiện ở phạm vi nhà nước Trung ương, hay chính quyền ở địa
phương. Trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, chủ thể của quan
hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội được biểu hiện chủ yếu thơng qua quan
hệ lợi ích giữa cá nhân và Nhà nước.
Quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội bao gồm cả mặt thống nhất và
mâu thuẫn với nhau; trong đó thường thể hiện ở trạng thái mất cân bằng do các


13

chủ thể lợi ích khi thì đề cao lợi ích này, khi thì đề cao lợi ích kia. Điều này thể
hiện sự phức tạp của quan hệ lợi ích trong một hồn cảnh lịch sử cụ thể. Trong
q trình thực hiện lợi ích của mình, mỗi chủ thể ln có xu hướng bảo vệ lợi
ích thiết thân, khó chấp nhận từ bỏ lợi ích bản thân, dù điều đó có thể tạo mâu

thuẫn, xung đột với các chủ thể lợi ích khác. Thực chất của việc giải quyết quan
hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt
Nam hiện nay là quá trình tác động vào việc nhận thức và thực hiện lợi ích của
cá nhân và xã hội, tạo ra sự hài hòa, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước.
3.2. Giải pháp giải quyết hài hịa quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã
hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, nâng cao nhận thức của các chủ thể lợi ích trong việc giải quyết quan
hệ lợi ích, nhất là giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
Nâng cao nhận thức của các chủ thể lợi ích để các chủ thể lợi ích xác định rõ
quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong các quan hệ lợi ích, tránh xung đột lợi ích
giữa các chủ thể. Cần nâng cao nhận thức của các chủ thể về tầm quan trọng của
sự thống nhất lợi ích. Mỗi chủ thể cần được giáo dục để tự đặt lợi ích của bản thân
trong mối quan hệ với các lợi ích khác. Trong mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân
và lợi ích xã hội, chủ thể cá nhân cần nhận thức được rằng, lợi ích xã hội chỉ có
thể đạt được khi mỗi cá nhân cố gắng thực hiện tốt các lợi ích chính đáng của
mình thơng qua việc tích cực học tập, lao động, rèn luyện, hài hòa giữa cống hiến
và hưởng thụ; mặt khác chủ thể của lợi ích xã hội chủ yếu là Đảng, Nhà nước
cũng cần nhận thức được rằng, muốn thực hiện tốt các mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội, phải quan tâm đến lợi ích thiết thực của mọi cá nhân, của từng đối
tượng, nhất là quan tâm đến những người có cơng với cách mạng, những đối tượng
yếu thế trong xã hội
Thứ hai, tiếp tục hồn thiện chính sách sở hữu và phân phối, tổ chức thực hiện
chính sách trên thực tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích
xã hội.
Vì vậy, bất kể hình thức sở hữu và thành phần kinh tế nào, cần tiếp tục thực
hiện nhất quán hệ thống pháp luật thương mại đối với doanh nghiệp. Các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đang hoạt động theo cơ chế thị trường, cạnh
tranh bình đẳng, cơng bằng, đúng pháp luật, bình đẳng về khả năng tiếp cận các
nguồn lực. Các quy định của pháp luật được cụ thể hóa nhằm bảo đảm mọi

thành phần tham gia trong nền kinh tế đều có quyền bình đẳng trong việc sử
dụng tài sản công, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thúc đẩy sự phát triển của
doanh nghiệp và doanh nhân Việt Nam. Nam thực sự trở thành lực lượng nòng
cốt, đi đầu trong sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế
quốc tế. Cải thiện thể chế bảo vệ quyền sở hữu và tài sản của các nhà đầu tư và
tất cả các chủ thể. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo thuận lợi phát triển khu vực
kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Thúc
đẩy hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có cơng nghệ


14

hiện đại, năng lực quản trị tiên tiến. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển
doanh nghiệp nhỏ và vừa. Xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp trong một số lĩnh
vực, nhất là với doanh nghiệp nhà nước.
Thứ ba, không ngừng đổi mới, hồn thiện chính sách đãi ngộ, kết hợp thực
hiện các chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Thực hiện tốt phương án
cải cách đãi ngộ đã cơng bố, thực hiện tốt chính sách đãi ngộ nhằm bảo đảm có
hiệu quả đời sống của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nhất là
người lao động. Xây dựng chính sách tiền lương hợp lý cho nhân tài trong các
lĩnh vực và vùng miền.

Thứ tư, thực hiện các giải pháp, bảo đảm công khai, minh bạch, bài trừ tệ tham
ơ, tham nhũng, lợi ích nhóm và các hành vi xấu khác.
Đảng và nhà nước cần thực hiện tốt hơn nữa các biện pháp tuyên truyền, minh
bạch để phịng chống tham nhũng, lãng phí. Nâng cao khả năng, hiệu quả sử
dụng tài sản công, đề cao trách nhiệm giải trình và thực hiện các biện pháp cơng
khai tài chính, minh bạch tài sản, thu nhập đối với cán bộ, công chức, viên chức.
Thứ năm, khuyến khích cá nhân thực hiện lợi ích chính đáng của mình đồng
thời bảo đảm lợi ích xã hội

Cần tích cực khuyến khích mỗi cá nhân tích cực vươn lên trong học tập, lao
động, sản xuất - kinh doanh, lập thân, lập nghiệp bằng nhiều cơ chế, chính sách
cụ thể, nhất là trong khởi nghiệp nhằm huy động tối đa các nguồn lực cho sự phát
triển. Thông qua các biện pháp giáo dục - đào tạo, tuyên truyền, các hoạt động
thực tiễn phong phú để họ thấy rằng, để thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích của bản


15

thân, trước hết cần có sự cố gắng, rèn luyện, cần cù, vượt khó vươn lên, tích cực
lao động, đóng góp cho xã hội; đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, vi phạm
các lợi ích chính đáng của bản thân từ các chủ thể khác; loại bỏ tư tưởng tự mãn,
ỷ lại; có cái nhìn tích cực về các vấn đề của xã hội, tìm ra những cơ hội cho sự
phát triển của mỗi cá nhân.
Có thể nói, nhìn một cách tổng thể, qua hơn 30 năm đổi mới lợi ích cá nhân
chính đáng đã được khuyến khích phát triển, lợi ích xã hội đạt được những kết
quả bước đầu quan trọng; các mâu thuẫn, xung đội đối kháng về lợi ích cơ bản
giữa cá nhân và xã hội được giảm thiểu tối đa, xã hội ổn định; gia tăng tính tích
cực của các chủ thể, thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu, lợi ích của cá nhân và
xã hội, thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội.

KẾT LUẬN
Nền kinh tế là thước đo sức mạnh và tiềm năng của một quốc gia. Việt Nam
Là một quốc gia đang phát triển, cần hiểu rõ lợi ích của doanh nghiệp kinh tế
học mang đến những chủ đề áp dụng cho nó để phát triển các ngành kinh tế.
Hiểu lợi ích của nó
Là một cơng dân của dân tộc Việt Nam, một sinh viên của Học viện Báo chí
và tuyên truyền, được các giảng viên truyền tải, trau dồi những kiến thức cơ bản,
quan trọng, thiết yếu, đặc biệt là bộ mơn Kinh tế chính trị về nội dung Lợi ích
kinh tế trong nền kinh tế thị trường. Từ bài học giá trị đó, biết được rằng để góp

phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước, bản thân mỗi chúng ta cần:
● Phải tích cực học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, bồi đắp tưtưởng
cách mạng trong sáng. Phải có lập trường tư tưởng vững vàng,có lịng u nước,
có niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp mới. Tích cực tham gia vào
các cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước, đấu tranh chống tham nhũng, tệ nạn
xã hội...
● Ln học tập tốt để nâng cao trình độ văn hóa, chun mơn, kỹ thuật và tay
nghề.
● Tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc Việt Nam và
các đoàn thể nhân dân. Tự nguyện, tự giác tham gia vào cáchội của thanh niên,
phấn đấu trở thành đồn viên, đảng viên xuất sắc.
● Phải xung kích đi đầu trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm
quốc phịng an ninh. Tích cực tham gia các chương trình, dự án của địa phương;
tự nguyện, tự giác tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự, tham gia các hoạt động
bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn an ninh trật tự an tồn xã hội.


16

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình kinh tế chính trị Mac- Lenin.
NXB chính trị quốc gia. Năm 2002
2. Văn kiện đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ IX.
NXB chính trị quốc gia. Hà Nội- 2001
3. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ X, XI,
XII,NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
4. />5. Vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội,1970


17




×