Tải bản đầy đủ (.doc) (39 trang)

Tiểu luận cao học tuyên truyền khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức phong kiến trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý tỉnh thanh hoá hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (210.92 KB, 39 trang )

A. PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài.
Đất nước ta tiến lên chủ chủ nghĩa xã hội từ một nước phong kiến với một
nền nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ Tư bản chủ nghĩa. Đó là cơ sở kinh tế- xã
hội chịu các ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng đạo đức phong kiến tồn tại khá nặng
nề. Biều hiện rõ nét là tư tưởng đẳng cấp, ham mê quyền lực, đầu óc địa vị, gia
trưởng, giáo dục chủ nghĩa, trọng nam khinh nữ, thiếu tôn trọng lớp trẻ, giáo điều,
xa rời thực tê… Đây là một trong những nguyên nhân làm suy thoái phẩm chất đạo
đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, làm suy giảm lòng tin của dân đối với
Đảng và Nhà nước.
Bác Hồ đã từng dạy: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc… Công việc
thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”1.
Bởi vậy, việc chăm lo, giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ,
đảng viên, khắc phục của tư tưởng đạo đức phong kiến là nhiệm vụ hết sức quan
trọng trên mặt trận tư tưởng - văn hoá. Ngày nay, các thế lực thù địch ln ra sức
lợi dụng sự tha hố của cán bộ, đảng viên, sự quan liêu của bộ máy Nhà nước để
làm suy yếu mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân. Đặc biệt chúng thực hiện mọi thủ
đoạn để cản trợ, làm chệnh hướng mục tiêu đổi mới của nước ta, chống phá quá
trình xây dựng đạo đức mới, xoá bỏ đạo đức cũ của cách mạng xã hội ở nước ta.
Trải qua chặng đường hơn 20 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã gặt hái
được nhiều thành công to lớn trên mọi lĩnh vực, làm cho mối quan hệ sản xuất
được mở rộng và phát triển, tình hình chính trị trong nước được mở rộng, đời sống
xã hội và trình độ văn hố của nhân dân ta được nâng cao, trong đó có đội ngũ cán
bộ, đảng viên. Quần chúng nhân dân tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
Chủ trương, Nghị quyết của Đảng về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc với tinh thần giữ gìn và phát huy những giá trị văn hố tốt
đẹp của dân tộc phù hợp với xu thế phát triển mới.

1 Hồ Chí Minh tồn tập, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội 2000, Tập 5 Tr269-273.


1


Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó những tiêu cực, tệ nạn xã hội có chiều
hướng gia tăng, giá trị đạo đức truyền thống ít được chú trọng lối sống của một bộ
phận cán bộ, đảng viên có phần tha hoá, thuần phong mỹ tục và truyền thống đạo lý
của dân tộc bị xâm hại, trong quan hệ xã hội xuất hiện những thái độ, hành vi không
lành mạnh. Tình trạng trên đã và đang xuất hiện ở nhiều nơi, nhiều cấp, nhiều ngành,
một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý thiếu ý thức rèn luyện, sống thực dụng, buông
thả, coi thường các giá trị nhân văn và kỷ cương đạo lý.
Đứng trước tình trạng trên, việc tuyên truyền khắc phục ảnh hưởng tiêu cực
của đạo đức phong kiến trong cán bộ lãnh đạo, quản lý đang là vấn đề hết sức quan
trọng và cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Chính vì vậy, tơi đã chọn đề tài:
“Tuyên truyền khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức phong kiến trong đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý tỉnh Thanh Hố hiện nay”. Làm tiểu luận mơn
Ngun lý tuyên truyền.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Trong phạm vi nghiên cứu của một đề tài tiểu luận, tôi chỉ muốn đề cập một
cách khái quát nhất những ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức phong kiến đối với cán
bộ lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Thanh Hoá hiện nay. Ở nước ta, trong nhiều năm qua
đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về vấn đề ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến
đối với con người và xã hội hiện nay. Tuy nhiên, mỗi cơng trình nghiên cứu có
những cách tiếp cận và phân tích khác nhau. Có những cơng trình chỉ nghiên cứu
về ảnh hưởng của đạo đức phong kiến đối với đạo đức truyền thống, có những
cơng trình nghiên cứu về những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng phong kiến trong
quản lý kinh tế trong thời kỳ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước… Tất cả các
vấn đề trên đều được các tác giả nghiên cứu một cách khái tổng quát, cụ thể ở một
số cơng trình nghiên cứu sau:
- “Ảnh hưởng của đạo đức phong kiến trong cán bộ lãnh đạo, quản lý của
Việt Nam hiện nay”. Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, TS. Nguyễn Thế Kiệt.

- “Ảnh hưởng tiêu cực của tâm tiểu nông đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý
Doanh nghiệp Nhà nước”. Nxb Lý luận chính trị. 2005, Lê Hữu Xanh.
- “Đạo đức học - những nội dung cơ bản”. Hà Nội, 2003, Nguyễn Văn Đại.
2


- “Giáo trình tâm lý học lãnh đạo và quản lý” .Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh - 2004. PGS. TS. Trần Ngọc Khuê.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1. Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở làm rõ nội dung cơ bản của đạo đức phong kiến và ảnh hưởng của
nó đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý. Từ đó góp thêm những ý kiến vào việc tìm giải
pháp khai thác những giá trị tích cực của đạo đức phong kiến và loại bỏ những ảnh
hưởng hạn chế của nó trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Tiểu luận đi sâu vào giải quyết một số vấn đề sau:
- Làm sáng tỏ một số vấn đề chung về đạo đức phong kiến Việt Nam và tầm
quan trọng của việc tuyên truyền khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của nó
trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý.
- Phân tích thực trạng ảnh hưởng đạo đức phong kiến đến đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý và tình hình công tác tuyên truyền khắc phục ảnh hưởng tiêu cực
của đạo đức phong kiến đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý tỉnh Thanh Hoá thời gian
qua.
- Đề xuất một số giải pháp tuyên truyền cơ bản nhằm ngăn ngừa từng bước
khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức phong kiến trong cán bộ lãnh đạo, quản
lý tỉnh Thanh Hoá thời gian tới.
4. Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu.
4.1. Phạm vi nghiên cứu.
Việc nghiên cứu bất kỳ một đề tài nào cũng vậy, đòi hỏi sự công phu và sự
đầu tư lớn cả về con người, thời gian cũng như vật chất phục vụ cho nghiên cứu.

Những trong khuân khổ của một bài tiểu luận nên người viết khơng có ý định giải
quyết tất cả các vấn đề về đạo đức phong kiến mà chỉ tập trung vào phân tích thực
trạng ảnh hưởng của đạo đức phong kiến đến cán bộ lãnh đạo, quản lý và nêu một
số giải pháp cơ bản nhằm ngăn ngừa và từng bước khắc phục ảnh hưởng tiêu cực
của đạo đức phong kiến trong cán bộ lãnh đạo, quản lý tỉnh Thanh Hoá hiện nay.
4.2. Đối tượng nghiên cứu.
3


Tiểu luận tập trung nghiên cứu về đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý tỉnh
Thanh Hoá dưới ảnh hưởng của đạo đức phong kiến.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
5.1. Cơ sở lý luận.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp
luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, hệ thống các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt
Nam.
5.2. Phương pháp nghiên cứu.
Sử dụng tổng hợp các phương pháp như phân tích, tổng hợp, khảo sát thực
tiễn xã hội thu thập thông tin, đánh giá kết luận
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài.
Tiểu luận góp phần vào giải đáp một số vấn đề về lý luận và thực tiễn của
đạo đức phong kiến Việt Nam đang đặt ra hiện nay, đó là kế thừa và loại bỏ những
gì ảnh hưởng đến đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý tỉnh Thanh Hoá hiện nay.
Tiểu luận thành công sẽ là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giá trị
chuẩn mực đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý tỉnh Thanh Hoá hiện nay.
7. Kết cấu đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài cịn có
phần nội dung gồm 3 chương, được trình bày trong 23 trang.


4


B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TUYÊN TRUYỀN KHẮC PHỤC
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC PHONG KIẾN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN.

1.1.1. Đạo đức và đạo đức phong kiến.
- Đạo đức: Danh từ đạo đức bắt nguồn tà tiếng La Tinh được gọi là lề thói,
tập tục, là sự đánh giá hành vi của con người theo khuân pháp và quy tắc của nó.
Theo quan niệm phương Đơng “Đạo” có nghĩa là con đường, đường đi, đường
sống của con người trong xã hội. Theo nghĩa thơng thường “Đạo”cịn là đức tính
của con người, cịn “Đức” là biểu hiện của “Đạo”
Cùng với các hình thái, ý thức về chính trị, tôn giáo, pháp quyền, triết học,
nghệ thuật… đạo đức cũng là một hình thái xã hội, là một bộ phận của kiến trúc
thượng tầng, là sự phản ánh tồn tại xã hội. Song nó khác với ý thức xã hội khác, bởi
nó đưa ra các nguyên tắc, quy tắc, đạo lý, chuẩn mực để từ đó con người tự nhận
thức, tự điều chỉnh hành vi của mình. Đạo đức khơng phải là một hệ thống siêu nhiên
áp đặt cho con người mà nó duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Như vậy, từ những luận điểm trên có thể đưa ra định nghĩa về đạo đức:
“Đạo đức, có thể hiểu, một cách tổng quát là những chuẩn mực, nguyên tắc được
xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ con người đối với sự nghiệp, đối với
nhau và đối với xã hội. Đạo đức còn được hiểu là một hiện tượng xã hội, là sản
phẩm quan hệ con người với con người, giữa cá nhân và tập thể, với cộng đồng xã
hội. Chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, truyền thống và sức mạnh của xã
hội”.
- Đạo đức phong kiến Việt Nam: Chế độ phong kiến Việt Nam là một giai
đoạn trong sự phát triển lịch sử của xã hội Việt Nam.

Đạo đức phong kiến phản ánh tồn tại xã hội phong kiến mà chủ yếu là điều
kiện sinh hoạt vật chất của xã hội thơng qua lợi ích của giai cấp phong kiến.

5


Đạo đức phong kiến Việt Nam còn bị ảnh hưởng và bị chi phối bởi tư tưởng
phong kiến Việt Nam. Đó là sản phẩm của sự kết hợp giữa tư tưởng bản vị với các
luồng tư tưởng bên ngoài, chủ yếu là tư tưởng Nho giáo.
Trong xã hội phong kiến Việt Nam có đạo đức của giai cấp phong kiến
nhưng cũng có đạo đức của những người lao động trong xã hội phong kiến. Hai
nền đạo đức này dựa trên những lợi ích cơ bản đối nghích nhau, do đó đã đấu tranh
quyết liệt với nhau.
Hai nền đạo đức này khơng có bức tường ngăn cách tuyệt đối, chúng ảnh
hưởng nhau nhưng vẫn khác nhau về chất. Đó là đạo đức của giai cấp phong kiến
thống trị và đạo đức của nhân dân lao động trong xã hội phong kiến. Nói tới đạo
đức phong kiến là chúng ta nhấn mạnh mặt giai cấp của đạo đức. Đây là đạo đức
của giai cấp phong kiến thống trị, nảy sinh từ chế độ phong kiến, bảo vệ lợi ích và
đại diện cho lợi ích của giai cấp phong kiến thống trị.
Chế độ phong kiến Việt Nam đã hình hành và phát triển trên cơ sở một mặt
là bảo tồn và phong kiến hố kết cấu kinh tế xã hội của cơng xã nông thôn; mặt
khác là sự phát triển của chế độ tư hữu, ruộng đất, gắn liền với cuộc đấu tranh
dựng và giữ nước của dân tộc, không trải qua chế độ chiếm hữu điển hình. Chế độ
phong kiến Việt Nam là chế độ tập quyền dân chủ chuyên chế cao ở bên trên
nhưng lại tự trị phổ biến ở làng xã bên dưới. Chế độ phong kiến Việt Nam còn in
đậm dấu ấn của công xã nông thôn.
Chế độ phong kiến với sự phân biệt đẳng cấp tôn ti trật tự nặng nề, quyền
lực tập trung vào tay nhà vua, con người vừa bị luật pháp bóc lột, vừa bị áp bức
của lễ giáo, do vậy đạo đức phong kiến là thứ đạo đức vị kỷ, coi khinh người lao
động, coi khinh phụ nữ, coi thường lớp trẻ. Một thứ đạo đức trà đạp lên nhân phẩm

con người.
1.1.2. Những ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức phong kiến.
Hiện nay khi đề cập đến ảnh hưởng tiêu cực đạo đức phong kiến có hai loại
ý kiến khác nhau và có những ảnh hưởng tiêu cực:
Một là, đạo đức phong kiến vẫn cịn tồn tại như nó vốn có, chứ khơng phải
chỉ là ảnh hưởng tiêu cực, nó khơng cịn chi phối, thống trị xã hội mà thôi.
6


Theo họ, sau cách mạng Tháng Tám chúng ta mới làm thay đổi các mặt về
chính trị, mới giải quyết vấn đề dân tộc chứ chưa thay đổi tận gốc vấn đề kinh tế,
chưa thực hiện triệt để vấn đề dân chủ mà lẽ ra giai cấp tư sản Việt Nam phải đảm
đương sứ mệnh lật đổ chế độ phong kiến.
Hai là, đạo đức phong kiến khơng cịn tồn tại trong xã hội ta mà chỉ còn lại
đạo đức truyền thống mà còn ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Thực dân, Đế quốc,
tư sản mà thôi. Bởi lẽ trải qua 4000 năm lịch sử, Việt Nam ít có những cuộc đảo
lộn căn bản về chất có tính cách mạng như ở phương Tây (Kiểu khởi nghĩa Xpac
tacut hay cách mạng tư sản). Vì vậy, ở đây chỉ cịn ảnh hưởng tiêu cực của 4000
năm lịch sử.
Chúng ta dựa trên phương pháp luận biện chứng duy vật và khẳng định:
Hiện nay vẫn còn ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức phong kiến và nó cịn ảnh
hưởng tiêu cực đến một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam.
Tất nhiên diện mạo và cơ sở tồn tại của nó khác với nhiều nước và có ảnh hưởng
khơng nhỏ.
1.1.3. Vai trị của cơng tác tun truyền khắc phục những ảnh hưởng tiêu
cực của đạo đức phong kiến.
Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đời
sống xã hội từng bước được nâng cao, trình độ văn hố của người dân được nâng
cao, trong đó đội ngũ cán bộ đảng viên nói chung và cán bộ quản lý nói riêng. Tình
hình chính trị - xã hội được ổn định, quần chúng nhân dân tin tưởng vào sự lãnh

đạo của Đảng và Nhà nước chủ trương, Nghị quyết của Đảng về xây dựng nền văn
hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc phù hợp với xu thế mới. Xu thế hội
nhập quốc tế là cơ hội để Việt Nam mở cửa rộng quan hệ quốc tế-điểm thuận lợi để
Việt Nam sàng lọc những giá trị văn hoá, trong phong cách, lối sống hiện đại từ
các nền văn hoá khác bồi đắp thêm cho nền văn hoá vốn giầu bản sắc của dân tộc
Việt Nam.
Công tác tuyên truyền khắc phục những dư của đạo đức phong kiến trong
cán bộ lãnh đạo, quản lý trong tình hình mới cần phải nâng cao cả về nội dung và
hình thức thực hiện để thu hút được sự quan tâm của cán bộ, đảng viên. Từ đó tạo
7


ra sự chuyển biến mới, thúc đẩy quá trình hội nhập, rèn luyện, trau rồi những
chuẩn mực đạo đức đáp ứng yêu cầu của mỗi giai đoạn cách mạng mới.
Công tác tuyên truyền khắc phục ảnh hưởng của ảnh hưởng tiêu cực đạo
đức phong kiến trong cán bộ lãnh đạo, quản lý phải nhanh chóng thực hiện ở các
cấp, các ngành, bởi hiệu quả của cơng tác này có tác động nhiều mặt đến nhân tố
con người, nhân tố quan trọng nhất trong công cuộc xây dựng đất nước phát triển,
hiện đại và bền vững. Đây cũng là yếu tố cơ bản để giữ gìn bản sắc văn hố của
dân tộc Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế.
Trong bối cảnh mới, những thập niên đầu của thế kỷ XXI, chúng ta vừa có
thời cơ vừa có nhiều thách thức mới. Để sự nghiệp đổi mới của đất nước dành
được nhiều thành tựu hơn nữa, yêu cầu tăng cường hơn nữa chất lượng công tác
tuyên truyền khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của đặc điểm phong kiến trong
cán bộ quản lý càng trở nên cấp thiết bởi vì:
- Những ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức phong kiến trong cán bộ lãnh đạo,
quản lý những năm vừa qua đang là những thách thức mới là nguy cơ tiềm ẩn liên
quan đến sự sống còn của Đảng của chế độ. Nếu không đổi mới nội dung, phương
pháp, không được sự quan tâm đúng mức của các cấp, các ngành và ngay bản thân
đội ngũ lãnh đạo, quản lý thì đây sẽ là vấn đề nảy sinh nhiều phức tạp với những

diễn biến khó lường.
- Yêu cầu của sự nghiệp đổi mới trong giai đoạn đổi mới cần phát huy cao
độ nội lực, tạo ra sự đoàn kết thống nhất trong tồn Đảng tồn dân. Đặc biệt là
củng cố lịng tin của nhân dân đối với Đảng trong việc chặn đứng đà giảm sút, suy
thoái về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý. Có như vậy, chúng ta
mới phát huy được sức mạnh tổng hợp của dân tộc giữ gìn mục tiêu hồ bình ổn
định để phát triển.
- Yêu cầu đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền khắc phục
những ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức phong kiến còn đặt ra từ chính u cầu q
trình xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, cán bộ lãnh đạo, quản lý vừa là người
lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Sức mạnh của Đảng trước
hết là sức mạnh của đội ngũ cán bộ đảng viên nói chung và cán bộ lãnh đạo, quản
8


lý nói riêng ở từng tổ chức cơ sở Đảng cũng như các ban ngành. Bởi vậy, chất
lượng đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý trong giai đoạn mới ln có tầm quan
trọng đặc biệt. Bên cạnh đó, còn là yêu cầu đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý
Nhà nước, nâng cao chất lượng của bộ máy công quyền, chất lượng của đội ngũ
cán bộ lãnh đạo, quản lý cũng như cán bộ công nhân viên chức.
Để đảm bảo giữ vững sự ổn định chính trị, chống lại sự phá hoại của các
thế lực thù địch trong q trình hội nhập, mở cửa; do đó vấn đề đạo đức của cán bộ
lãnh đạo, quản lý cần được đặt lên hàng đầu. Vì các thế lực thù địch thường xem
đây là một kênh quan trọng để lợi dụng chống phá, thực hiện diễn biến hồ bình từ
bên trong.
1.2. CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ VÀ VAI TRÒ CỦA HỌ TRONG SỰ
NGHIỆP ĐỔI MỚI HIỆN NAY.

1.2.1. Cán bộ, cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý.
- Cán bộ: Theo từ điển tiếng Việt: Cán bộ là những người làm công tác

chuyên môn trong cơ quan Nhà nước: Đảng, Đồn thể. Những người làm cơng tác
có chức vụ để phân biệt với người khơng có chức vụ.
Hiểu một cách chung nhất cán bộ là: Chỉ những người có chức vụ, vai trò và
cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của tổ
chức và các quan hệ trong lãnh đạo chỉ huy, quản lý, điều hành góp phần định
hướng sự phát triển.
- Cán bộ quản lý: Theo thuật ngữ tiếng Anh Manager, đó là những người có
chức danh và nhiệm vụ điều kiển, tổ chức và phối hợp thực hiện hoạt động chun
mơn trong một khối, một cơng đoạn, một chương trình, một dự án.
Cán bộ quản lý là các cá nhân thực hiện những chức năng và nhiệm vụ quản
lý nhất định của bộ máy quản lý.
Nói cách khác cán bộ quản lý là những người mà hoạt động nghề nghiệp
của họ hoàn toàn hay chủ yếu gắn với việc thực hiện những quy định của tổ chức
và của cấp trên.
Mỗi cán bộ quản lý đều nhận trách nhiệm trong bộ máy quản lý bằng một
trong các hình thức: tuyển dụng, tuyển cử và bổ nhiệm.
9


Tuyển dụng: Chọn và nhận và làm việc ở các cơ quan, xí nghiệp.
Tuyển cử: Đây là một cách nói trang trọng của bầu cử vào một vị trí, chức
năng nào đó.
Bổ nhiệm: Cử giữ một chức vụ trong bộ máy Nhà nước chủ yếu do cấp trên
quy định.
- Cán bộ lãnh đạo: Là những người đứng đầu của một tổ chức, một tập thể
một bộ phận có quyền ra quyết định, tổ chức thực hiện các quyết định quản lý và
chịu trách nhiệm về quyết định quản lý của mình trước các cấp có thẩm quyền.
Cán bộ lãnh đạo là đại biểu cho lợi ích của tập thể người lao động mà họ
lãnh đạo. Hoạt động của cán bộ lãnh đạo là giải quyết những vấn đề chung đảm
bảo cho sự phát triển của cả hệ thống quản lý. Vì vậy sự phát triển của từng tổ

chức phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng, đội ngũ cán bộ lãnh đạo.
Cán bộ lãnh đạo, quản lý bao gồm hai loại: Cán bộ lãnh đạo trực tuyến và
cán bộ lãnh đạo chức năng.
Cán bộ lãnh đạo trực tuyến là người có vai trò trực tuyến điều hành hoạt động
của một tổ chức để hình thành mục tiêu cơ bản của đơn vị đó. Ví du: Trong trường đại
học quan hệ giữa Giám đốc với trưởng khoa và các giảng viên của khoa.
Cán bộ lãnh đạo chức năng là người điều hành hoạt động các khâu chức
năng của hệ thống. Ví dụ: trong trường đại học quan hệ giữa trưởng khoa với các
giảng viên trong khoa là quan hệ lãnh đạo trực tuyến, quan hệ giữa trưởng phòng
chức năng và giảng viên
1.2.2. Vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong sự nghiệp đổi
mới hiện nay.
Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là nhân tố có tính quyết định đến sự thành
công hay thất bại của một hệ thống quản lý.
Theo Hồ Chí Minh: “Cán bộ là gốc của mọi công việc, công việc thành
công hay thất bại là do các cán bộ tốt hay kém”.
“Cán bộ là tiền vốn của đồn thể, có vốn mới có lãi. Bất cứ chính sách gì có
cán bộ tốt thì thành cơng tức là có lãi, cơng tác có cán bộ khơng tốt thì hỏng việc”.
10


- Cán bộ lãnh đạo, quản lý là người quyết định hiệu quả các hoạt động kinh
tế, chính trị, xã hội…
C.Mác cho rằng: “Muốn thực hiện tư tưởng cần phải có lực lượng con người
thực hiện thực tiễn”.
“Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành cơng hay thất bại là do cách tổ
chức công việc, là nơi lựa chọn cán bộ, do nói, kiểm tra. Nếu ba điều ấy mà sơ sài
thì chính sách đúng mấy cũng vơ ích”.
Vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý được thể hiện trong bốn mối
quan hệ sau đây:

+ Quan hệ với đường lối chính sách thì cán bộ lãnh đạo, quản lý là người
chịu trách nhiệm cá nhân về các quy định chiến lược, chiến thuật mà mình đã lựa
chọn, đề ra.
+ Quan hệ với bộ máy: Bảo đảm chỉ đạo toàn diện với vận hành guồng máy
quản lý, phối hợp nhịp nhàng đồng bộ giữa các bộ phận, huy động toàn bộ lực
lượng vào thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao.
+ Quan hệ với cơng việc: Chỉ huy việc xây dựng kế hoạch cải tiến cơ cấu
vận hành hệ thống quản lý, tổ chức lao động tập thể cho mọi người dưới quyền, sử
dụng hiệu quả mọi nguồn lực.
+ Quan hệ với mọi người: Giáo dục mọi thành viên trong tập thể có thái độ
lao động đúng, chấp hành nghiêm túc kỷ luật chăm lo đời sống vật chất tinh thần
của người lao động.
Hơn nữa, người cán bộ lãnh đạo, quản lý còn là tấm gương cho quần chúng
noi theo. Trước kia Khổng Tử đòi hỏi người Thầy phải là tấm gương để học trò noi
theo, người cầm quyền phải thanh liêm thì mới chỉ đạo và cảm hố được dân
chúng. Ngày nay, trong q trình đổi mới thực hiện nền kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có phẩm chất đạo
đức trọng sạch là tấm gương cho quần chúng noi theo. Tấm gương đạo đức của cán
bộ lãnh đạo là giá trị đạo đức được truyền từ người này sang người khác từ thế hệ
này sang thế hệ khác. Quần chúng học tập, tu dưỡng, phấn đấu làm theo lời nói và
việclàm của người đảng viên, cán bộ của Đảng, vì đội ngũ cán bộ đảng viên là cầu
11


nối giữa Đảng với quần chúng. Thông qua từng cán bộ lãnh đạo cụ thể, từng tấm
gương đảng viên cụ thể mà giữ gìn uy tín của Đảng trước đây. Chủ tịch Hồ Chí
Minh thường dạy các cán bộ đảng viên: “Trước mặt quần chúng không phải ta cứ
viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến
những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân mình phải là mức
thức cho người ta bắt chước”.

Hiện nay, vai trò cán bộ lãnh đạo, quản lý ngày càng tăng, thực chất là do đòi
hỏi ở người cán bộ khả năng phát huy nhân tố chủ quan, có bản lĩnh, tri thức và năng
động trên cơ sở nắm vững và vận dụng quy luật khách quan cũng như những quan
điểm, đường lối, chính sách phát triển kinh tế xã hội của công cuộc đổi mới.
1.3. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN PHẢI TUYÊN TRUYỀN KHẮC
PHỤC ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA ĐẠO ĐỨC PHONG KIẾN TRONG ĐỘI
NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ.

Đất nước ta đang buớc vào giai đoạn mới, giai đoạn đẩy mạnh cơng nghiệp
hố, hiện đại hố, tiếp cận và hồ nhập với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của
Nhà nước.
Q trình đó tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có
lĩnh vực tinh thần và truyền thống đạo đức. Các giá trị đạo đức của dân tộc giờ
đang có những chuyển biến phức tạp, có đấu tranh giữa tiến bộ và lạc hậu, giữa cái
thiện và cái ác, giữa lối sống lành mạnh, trung thực thuỷ chung với lối sống thực
dụng dối trá, ích kỷ chạy theo đồng tiền. Đạo đức truyền thống đang phải đấu tranh
với những giá trị đạo đức cũ (đạo đức phong kiến) để tự hồn thiện, khẳng định
mình.
Những giá trị đạo đức cơ bản như: Chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết,
ý thức cộng đồng, cần cù, thông minh sáng tạo tiếp tục được duy trì và phát triển,
có những biểu hiện sinh động phong phú hơn
Bên cạch đó những giá trị đạo đức truyền thống đang bị mất phương hướng.
- Từ chỗ coi trọng, thậm chí tuyệt đối hố các giá trị kinh tế xã hội sang coi
trọng hơn các giá trị kinh tế vật chất.
12


- Từ chố lấy con người xã hội - tập thể làm mẫu mực sang chỗ nặng về con
người cá nhân, thậm chí là con người thuộc địa.

- Từ chố coi trọng đề cao con người sống vì lý tưởng sang chủ nghĩa cá
nhân, sùng bái đồng tiền lối sống hưởng thụ hình thức, xa hoa lãng phí….
Hơn nữa, những tư tưởng tâm lý đạo đức phong kiến đang có chiều hướng
ăn sâu, bám rễ vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý như:
- Tư tưởng đẳng cấp, quyền lực, đầu óc địa vị, tâm lý hiếu danh
- Tư tưởng cục bộ địa phương.
- Tư tưởng trọng nam hơn nữ.
- Thói gia trưởng phong kiến hay bệnh bảo thủ trì trệ…
Thực tế thời nay cho thấy, cũng có cán bộ chiến sỹ trước đây vững vàng trên
chiến trường, trước quân thù nhưng nay trong cơ chế thị trường đã có tâm lý xả
hơi, hưởng lạc, đục khoét của nhân dân. Một số cán bộ coi thường vấn đề tu dưỡng
đạo đức cá nhân ln coi mình là nhất, bắt mọi người phải nghe theo. Họ tự làm
xói mịn lịng tin của nhân dân với chính họ và với Đảng. Nhân dân ta vốn rất tin
vào Đảng, tin ở người cán bộ cách mạng trung kiên luôn lo cho nước cho dân, khổ
trước sướng sau, nên “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Nhưng qua những
vụ việc tiêu cực sảy ra đã gây nên những thắc mắc thậm chí có cả những phản ứng
trong dân, thiếu tin tưởng vào cán bộ cơ sở, dẫn đến tình trạng khiếu kiện kéo dài,
làm cho tình hình khá phức tạp. Tình trạng một bộ phận khơng nhỏ, trong đó có
cán bộ trung - cao cấp sa đoạ biến chất về đạo đức lối sống trong thời gian qua đó
là một trong những nguy cơ mất sức chiến đấu của Đảng cầm quyền. Bởi vậy,
trong giai đoạn hiện nay Đảng và Nhà nước ta phải không ngừng tăng cường tuyên
truyền khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng phong kiến nói chung và
đạo đức phong kiến nói riêng đối với mỗi cán bộ, đảng viên và đặc biệt là đối với
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay.

13


CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN KHẮC PHỤC NHỮNG ẢNH

HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA ĐẠO ĐỨC PHONG KIẾN TRONG ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TỈNH THANH HOÁ THỜI GIAN QUA

2.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC TUYÊN
TRUYỀN KHẮC PHỤC NHỮNG ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA ĐẠO ĐỨC
PHONG KIẾN TRONG CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TỈNH THANH HOÁ.

2.1.1. Đặc điểm về tự nhiên và xã hội.
2.1.1.1. Đặc điểm tự nhiên tỉnh Thanh Hóa
Thanh Hóa là một tỉnh thuộc phía Bắc miền trung với diện tích 11.116,3
km2, Thanh Hóa có vị trí địa lý cực kỳ quan trọng: Phía Bắc giáp với Ninh Bình,
Hịa Bình, Sơn La; Phía tây giáp với Lào; phía nam giáp với Nghệ An; phía đơng
giáp với vịnh Bắc bộ, có đầy đủ dạng địa hình: biển, đồng bằng, trung du, miền núi.
Thanh Hóa có 27 huyện, thị, thành phố. Trong đó có 2 thị xã và trung tâm
lớn nhất của tỉnh là Thành phố Thanh Hóa. Thanh Hóa cũng là tỉnh có số dân đơng
thứ 3 trong cả nước (sau Thành phố Hồ Chí Minh và Thủ đơ Hà Nội). Với
3.646.600 triệu người, trong đó có 7 dân tộc anh em: Kinh, Mường, Thái, Mông,
Dao, Khơ mú, Thổ. Trong gần 3,7 triệu dân thổ cư khoảng 2 triệu lao động. Trong
đó 80% lao động trong tỉnh là lao động Nông nghiệp. Do số lao động chủ yếu
trong lĩnh vực nông nghiệp cho nên thu nhập bình qn đầu người chỉ có 471USD/
năm. Hiện Thanh Hóa đang có chủ trương xây dựng 4 vùng kinh tế lớn đó là: Nghi
Sơn, Sầm Sơn, Bỉm Sơn, Ngọc Lặc. Và phấn đấu kinh tế đạt: Công nghiệp và xây
dựng 37,5%; nông lâm - ngư - nghiệp 28,5% và dịch vụ là 34% trong toàn tỉnh.
Với điều kiện địa lý, điều kiện dân cư và tình hình thực tiễn của tỉnh Thanh
Hố có nhiều khó khăn song tỉnh Thanh Hóa cùng với cả nước thực hiện thành
công công cuộc đổi mới, đời sống nhân dân trong tồn tỉnh ngày càng được nâng
cao.
2.1.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hoá.
Về kinh tế.
14



Kinh tế tỉnh Thanh Hóa trong năm qua duy trì được tốc độ tăng trưởng khá
và tương đối đồng đều giữa các ngành, lĩnh vực, các vùng miền trong tỉnh. Trong
10 chỉ tiêu kinh tế chủ yếu thì có 6 chỉ tiêu là hoàn thành vượt mức kế hoạch, 4 chỉ
tiêu còn lại gần đạt chỉ tiêu kế hoạch.
Tốc độ tăng trưởng GDP ước đạt 10,2% (kế hoạch 11%); GDP bình quân
đầu người ước đạt 471USD (kế hoạch 475 USD), giá trị tăng trưởng trong các
ngành nông - lâm - ngư nghiệp; công nghiệp và xây dựng; dịch vụ tương ứng là:
5,5%; 13,4%; 11% ( kế hoạch là 5,5%; 15,4%; 10,9%). Cơ cấu kinh tế tiếp tục tăng
theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và xây dựng, giảm trong ngành
nơng - lâm - ngư nghiệp.
Về văn hóa - xã hội.
Lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục có những chuyển biến tích cực theo
hướng chuẩn hóa và xã hội hóa. Các chỉ tiêu chủ yếu đạt và vượt mục tiêu kế
hoạch. Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên đó là phổ cập giáo dục đúng
độ tuổi được giữ vững 100% số huyện, thị xã, thành phố đạt tiêu chuẩn phổ cập
giáo dục THCS, hoàn thành mục tiêu kế hoạch 5 năm trước thời hạn. Toàn tỉnh có
434 trường đạt chuẩn quốc gia…Hoạt động y tế thì chất lượng khám chữa bệnh
được nâng lên, cơ sở vật chất, trang thiết bị được tăng cường…
2.1.1.3. Mục tiêu và các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh đề ra trong
năm 2008.
Mục tiêu tổng quát của năm 2008 là: Tranh thủ điều kiện và thời cơ mới,
kiên quyết cải thiện môi trường đầu tư, huy động tối đa nguồn nhân lực của các
thành phần kinh tế…Thực hiện đồng bộ các giải pháp tạo chuyển biến cơ bản và
tồn diện các nội dung cải cách hành chính để nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý
nhà nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập, đẩy mạnh công tác thực hành tiết kiệm,
chống tham nhũng lãng phí, tăng cường củng cố quốc phịng, an ninh, bảo đảm trật
tự an tồn xã hội.
Về chỉ tiêu kinh tế.

Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng kinh tế: 11,5% trở lên. GDP bình quân đầu
người đạt 520USD.
15


Đạt cơ cấu kinh tế : Nông - lâm - ngư nghiệp: 28,5%; Công nghiệp - xây
dựng đạt: 37,5%; dịch vụ: 34%. Trong đó, giá trị tăng thêm các ngành Công nghiệp
- xây dựng tăng 15,3% giá trị tăng thêm các ngành dịch vụ tăng 12,7%.
Tổng sản lượng lương thực ổn định 1,5 triệu tấn trở lên
Tổng giâ trị hành hóa xuất nhập khẩu trên địa bàn đạt 170 triệu USD
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn vượt quá dự tốn Trung ương giao
3% trở lên
Về văn hóa - xã hội
Giảm tỷ lệ sinh: 0,45/1000.
Giảm 3% tỷ lệ hộ nghèo, đến cuối năm 2008 còn 27,8%; 55% số xã,
phường thị trấn đạt 10 chuẩn quốc gia về y tế, giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy
dinh dưỡng xuống cũn 29,8%, tỷ lệ lao động được đào tạo đạt 31% và tạo việc
làm cho 47.000 lao động.
2.1.2 Tình hình đạo đức lối sống của cán bộ lãnh đạo, quản lý tỉnh
Thanh Hố trong thời gian qua.
2.1.2.1. Mặt tích cực tiến bộ.
Hiện nay đông đảo cán bộ lãnh đạo, quản lý của tỉnh đã kế thừa được truyền
thông cách mạng của Đảng và dân tộc theo gương Bác, ý thức được trách nhiệm
của người cán bộ, biết vượt qua khó khăn gian khổ, hồn thành tốt nhiệm vụ được
Đảng bộ, chính quyền và đồn thể giao phó. Xét về mặt đạo đức lối sống, số đông
cán bộ lãnh đạo, quản lý trong tỉnh vấn giữ được đạo đức trong sạch lành mạnh và
gắn bó với nhân dân. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường bên cạnh những mặt
tích cực, mặt tiêu cực cũng đang hàng ngày hàng giờ tác động đến xã hội, đến đội
ngũ cán bộ đảng viên nói chung và cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng. Nhiều người
đã phải đấu tranh quyết liệt với bản thân mình vượt lên những cám dỗ của lợi ích

vật chất, phát huy tính tích cực của bản thân, vươn lên để tiếp thu tri thức mới,
nâng cao trình độ, lao động sáng tạo làm giầu chính đáng, động viên nhân dân làm
giầu… Đảng có khơng ít gương về đạo đức, lối sống của người lãnh đạo, quản lý ở
các cấp, ngành và lĩnh vực trong tỉnh. Họ còn gương mẫu đi đầu trong cuộc đấu
16


tranh ngăn chặn và chông lại các hiện tượng tiêu cực, làm lành mạnh hoá trong nội
bộ tổ chức Đảng và chính quyền.
Nhìn chung đa số cán bộ lãnh đạo, quản lý có sự phấn đấu để hồn thành tốt
nhiệm vụ cơng tác của mình, giành thêm thời gian để học tập, nghiên cứu, để giải
quyết công việc. Phần đa cán bộ lãnh đạo, quản lý chấp hành tốt kỷ luật của Đảng
pháp luật của Nhà nước có nếp sống giản dị, gương mẫu góp phần tích cực xây
dựng cơ quan đơn vị xóm làng, xây dựng gia đình văn hố hạnh phúc. Tuy nhiên,
cịn một bộ phận ít cán bộ thiếu phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện và có những biểu
hiện sa sút đạo đức lối sống gây bất bình trong nhân dân.
2.1.2.2. Một số hạn chế, khuyết điểm
Bên cạnh những ưu điểm về đạo đức lối sống nói trên một số cán bộ lãnh
đạo, quản lý trong tỉnh cịn có những biểu hiện của sự suy thối đạo đức đó là:
Một là, chỉ vun vén cho quyền lợi cá nhân, gia đình, họ tộc…. Coi nhẹ lợi
ích cộng đồng, thờ ơ thiếu trách nhiệm trước những đòi hỏi bức xúc, chính đáng
của dân. Chỉ coi trọng lợi ích vật chất coi nhẹ lợi ích tinh thần, chỉ coi trọng việc
trước mắt không quan tâm đến vấn đề cơ bản lâu dài đó là biểu hiện của lối sống cá
nhân, thực dụng trong một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý tỉnh Thanh Hoá hiện
nay. Điều nguy hại hơn là lối sống này đang có xu hướng phát triển, nó khơng chỉ
có ở một số cán bộ trẻ mà còn biểu hiện ở những cán bộ lão thành, nhất là trong bộ
máy công quyền và các tổ chức kinh tế.
Hai là, việc lợi dụng chức vụ quyền hạn hoặc những cơ sở của chính sách
pháp luật, những khâu yếu trong quản lý của các tổ chức, để làm giầu bất chính.
Chính điều này đã gây ra sự phấn nộ trong nhân dân nhất là những người làm ăn

chân chính.
Theo báo cáo tổng kết 5 năm 2000-2005 trong tỉnh đã tiếp nhận nhiều đơn
kiếu nại tố cáo, phần lớn nội dung khiếu nại tố cáo có liên quan tới việc quản lý và
sử dụng đất đai, 1/3 số khiếu nại tố cáo vào lĩnh vực thi hành án dân sự. Về tố cáo,
tập trung vào những việc cán bộ lãnh đạo, quản lý lạm dụng chức quyền tham
nhũng, bao che dung túng cho cấp dưới làm sai chính sách, mất dân chủ, trù dập
người tố cáo. Điều đáng chú ý là 70-75% nội dung khiếu nại tố cáo của nhân dân là
17


đúng sự thật hoặc một phần đúng, nội dung kiếu nại sai sự thật chỉ chiếm trên dưới
20%.
Ba là, sự suy thối về đạo đức cịn biểu hiện ở lối sống cơ hội diễn ra dưới
nhiều hình thức, điển hình là các kiểu “chạy”:
- Chạy “chức” trước khi bầu cử.
- Chạy “quyền” trước khi bổ nhiêm. Chấp nhận “chức nhỏ” miễn là “quyền
lớn”, chấp nhận “chức bé trong cơ quan Nhà nước hơn là làm quan to bên Đảng”.
- Chạy “chỗ” trước khi bổ nhiệm, phân cơng cơng tác, tìm “chỗ ngon, chỗ
kiếm được nhiều lợi”. Chẳng những chạy chỗ cho bản thân mình mà cịn cho cả
“người thân, người nhà” của mình.
- Chạy “lợi” khi phân chia ngân sách, xét duyệt dự án đầu tư, giao thầu, tính
thuế, xét duyệt đề tài nghiên cứu.
- Chạy “tội” khi vi phạm đến mức phải điều tra, thanh tra, truy tố, xét xử….
Chẳng những chạy “tội” cho bản thân, cho người thân mà còn chạy tội cho cả
những người phạm tội trong các băng nhóm xã hội.
Chỉ tính riêng 5 năm 2000-2005 toàn tỉnh đã sử lý 52 vụ cán bộ lãnh đạo,
quản lý tham nhũng, 879 trường hợp xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, khai trừ
cách chức 71 cán bộ lãnh đạo trong các ban, ngành.
2.2. NHỮNG ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA ĐẠO ĐỨC PHONG KIẾN
ẢNH HƯỞNG TỚI ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TỈNH THANH

HOÁ HIỆN NAY.

Đạo đức phong kiến Việt Nam trong lịch sử có nhiều bước thăng trầm, khi
thì đạo đức Phật giáo nổi lên thời kỳ Lý-Trần, khi thì Nho giáo nổi lên (thời Lê),
song xuyên suốt thời kỳ phong kiến vấn là Nho giáo, Phật giáo và Lão giáo. Ngày
nay chúng thể hiện theo những sắc thái mới ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực trở
thành một bộ phận của đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân, thành phong tục
tập quán lề thói, lễ nghi… hết sức phong phú tế nhị.
2.2.1 Thói gia trưởng phong kiến ở gia đình được đem đến cơ quan, công sở.
Đây là một tệ hại trong phong cách làm việc, nó làm cho quan hệ thủ trưởng
và nhân viên khơng đồng thuần, đồng chí, mà như “cha chú với con cháu”. Những
18


người mắc bệnh gia trưởng rất ngại làm việc với những cấp dưới “khó bảo” nhưng
lại có trình độ tâm lý đẳng cấp này còn tạo ra phong cách làm việc xa rời quần
chúng, nhất là người lao động chân tay ở nông thôn cho làm cán bộ quản lý. Họ
hống hách kiêu ngạo với cấp dưới, thậm chí “thách thức” nhân dân, khinh nhờn
phép nước nhưng lại nịnh nọt xum xoe cấp trên. Họ cũng “khuân mình” nếu thấy
cấp trên “còn duyên”. Người ta phù thịnh chứ mấy ai phù suy là vậy. Do tâm lý đó
họ khơng thực sự tn thủ kỷ cương khơng thích nói thẳng, nói thật, không muốn
báo cáo sự thật, do vậy, nội bộ “không tâm phục, khẩu phục” mà nghi kỵ lẫn nhau.
Những mâu thuấn nội bộ cứ thế âm ỉ, người thật thà thẳng thắng thì thua thiệt cịn
kẻ lèo lá nịnh hót lại lên lương.
2.2.2 Bệnh hình thức chủ nghĩa
Giai cấp phong kiến trước đây đã triệt để sử dụng lễ nghĩa của Nho giáo để
trị nhân dân, phục vụ lợi ích giai cấp thống trị. Thực ra trước đây “lễ khơng tới thứ
dân, hình khơng tới bậc đại nhân”. Triết lý làm người của Nho giáo không phải
hướng vào nội dung, không phải thật tâm mà theo lệ. Cốt người sao mình vậy. Vốn
trước đây phong kiến tơn thờ đức của người quân tử, coi thường đức của kẻ tiểu

nhân, của người lao động. Họ thờ phụng bậc thánh hiền đâu thờ phụng nhân dân.
Đánh giá về di hại này của Nho giáo, Đồng chí Lê Duẩn viết “Nho giáo đã
để lại trong ta nhiều rơi rớt về một thứ đạo làm người ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa,
sản phẩm xấu xa của chế độ tư hữu và đẳng cấp phong kiến, trong “đạo lý làm
người” ấy. Tất cả đều trái ngược hoàn toàn với nhân sinh quan cách mạng của
chúng ta, với nhu cầu sự nghiệp tổ chức vĩ đại của chúng ta nhằm xây dựng chủ
nghĩa xã hội.1.
Hiện nay xử sự theo lẽ vấn còn nhưng mang nặng tính hình thức tuy trong
điều kiện của cơ chế thị trường đã có sự thay đổi nội dung cho hiện đại. Song lại
tồn tại dưới nhiều phong tục, thói quen, tập quán, thể lệ, thậm chí được che đậy
bằng lễ nghi, văn hố hay tín ngưỡng, tơn giáo mang tính dân gian hết sức phiền hà
rối rắm, thậm chí nhiêu khê… “di sản” này không thể tương hợp với tác phong
công nghiệp lối sống kỷ luật và cơ chế nặng động, mền dẻo của cơ chế thị trường.
Biểu hiện lối sống hình thức coi trọng lễ nghi, thủ tục đầy rẫy tính phiền hà trong
1 Lê Duẩn: Mấy vấn đề về tổ chức cán bộ trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, báo Nhân dân ngày 14/3/1973

19


quan hệ đã trở thành hủ tục để che đậy cách sống chủ nghĩa cá nhân, trục lợi của
một số cán bộ quản lý sa sút về phẩm chất đạo đức.
Một số cán bộ chạy vạy, đút lót, biếu xén hết sức hợp lý, hợp lệ đúng lúc,
đúng chỗ. Việc càng trong đại quan càng to thì sử sự càng phải “tử tế biết điều”
vấn đề là phải “thành tâm”. Họ biếu nhau không phải đầu gà, má lợn như thời xưa
mà đã ở mức khủng khiếp thể hiện rất “quân tử” như cho một biên chế, một
chuyến du ngoạn, du học, xe máy, nhà lầu, xe hơi….. Bệnh “phong bao” hiện nay
thực sự là một thủ đoạn trục lợi vơ vét đục khoét của dân, đó là tệ tham nhũng, hối
lộ, một nguy cơ hết sức nguy hiểm ở nước ta hiện nay. Trong điều kiện kinh tế thị
trường hội nhập những ảnh hưởng tiêu cực trên sẽ làm cản trở quá trình mở rộng
hợp tác kinh tế, và đương nhiên nó mà kém hiệu quả của cơ chế quản lý kinh tế

trong điều kiện kinh tế thị trường, vì thực chất cũng làm thiệt hại cho lợi ích của
Nhà nước, của xã hội đề cao lợi ích cá nhân.
2.2.3 Bệnh bảo thủ trì trệ.
Tư tưởng tình cảm, phong tục đạo đức vốn ăn sâu trong đời sống hàng ngàn
đời nay, dựa trên học thuyết Nho-Phật-Lão giáo để khuân xã hội vào những luật lệ
chuẩn mực quy tắc xử xự hết sức cứng nhắc, rập khuân, máy móc và bảo thủ.
Hiện tượng cán bộ lãnh đạo, quản lý khinh thường cấp dưới, sợ cấp dưới
hơn mình tiến bộ hơn mình; khơng dám khinh nhưng khơng coi trọng bằng cấp
thực chất là biểu hiện của tư tưởng thử cựu giáo điều nặng nề của đạo đức phong
kiến còn rớt lại: Một số cán bộ có học sính sách vở, tầm chương, trích cũ, đề cao
sách thánh hiền, thực ra đó cũng là mắc bệnh giáo điều. Họ muốn quản lý, đưa xã
hội về trật tự với “ngũ luân, tam cương ngũ thường” “tam tịng tứ đức, họ thốt ly
hồn tồn với thực tiễn cuộc sống hiện tại. Nói quan tâm đến tâm tư nguyện vọng
của tuổi trẻ nhưng lại thiếu tin tưởng vào thế hệ trẻ, song không muốn họ vượt qua
đầu mình vì họ sợ mất ghế, lép vế so với thế hệ trẻ nên họ tham quyền cố vị.
Đối với một số cán bộ khác lại “ dĩ hồ vi q”, khơng muốn phiền đến ai,
cũng khơng cho phép ai làm phiền đến mình, đến đâu cũng sợ đấu tranh, vì đấu
tranh thì “tránh đâu” trong cơ quan xí nghiệp, nội bộ Đảng họ khơng dám đao to
búa lớn nể nang xuê xoa, sống nhàn hạ “vô vi”, ngại xông pha, ngại đi cơ sở, ngại
20


tiếp xúc với nhân dân. Phương châm của họ là “ăn cơm cáy ngáy o o hơn là ăn thịt
bò mà lo ngay ngáy”, sống “an bần nhi lạc” vẫn hơn. Một số khác chạy theo cơ chế
thị trường, lo thu vén cho cá nhân cho con cho cháu, trí tuệ nghị lực dành cho che
chắn miễn sao cho “hạ cánh an tồn” chứ khơng vì sự phơn vinh tiến bộ xã hội.
Tính bảo thủ cũng thể hiện trong cơng tác đào tạo cán bộ. Tình trạng muốn
kéo dài nhiệm kỳ công tác, ngồi chờ chuyển việc, làm cho thời kỳ “quá độ” này
kéo dài, ảnh hưởng đến việc ổn định cán bộ. Tình trạng “có lên” mà khơng có
“xuống” làm cho khơng khí trong tập thể nhiều đơn vị nặng nề, câp trên lo giữ ghế,

cấp dưới hoạt động cầm chừng, kém nhiệt huyết cơng tác, chứ chưa nói đến sáng
kiến đổi mới công nghệ…
2.2.4. Bệnh giáo điều, xa rời thực tế, không thống nhất lý thuyết và thực hành.
Cái truyền thống văn hoá ứng sử theo lễ của Nho giáo phong kiến ăn khá
sâu trong nếp nghĩ cán bộ và nhân dân. Chẳng hạn, khi còn là nhân viên bình
thường thì siêng năng làm việc, nhưng mong phấn đấu trở thành người lãnh đạo,
quản lý, người đầy tớ trung thành của nhân dân là đã cảm thấy hơi “mệt mỏi” cầu
vinh. Khi họ có quyền lực, có cương vị họ có biểu hiện xa rời quần chúng, lời nói
và việc làm khơng thống nhất. Đặc biệt, trong cơ chế thị trường, họ nêu cao lý
tưởng đạo đức xã hội chủ nghĩa, song thực tế họ tìm mọi “sơ hở” trong chính sách,
pháp luật để cầu lợi, để vinh thân.
Giai cấp phong kiến trước đây cũng khơng ít ơng vua hiền rất chăm lo việc
tổ chức lãnh đạo nhân dân chống giặc ngoại xâm và chống thiên tai, thậm chí vua
tơi đồng lịng “hồ nước sơng, chén rượu ngọt ngào” dấy lên phong trào yêu nước,
tạo ra sức mạnh nhấn chìm biết bao bè lũ bán nước và cướp nước. Song khi bờ cõi
đã n, hồ bình trở lại, vua quan hưởng lạc, lo chia chác, tranh giành lợi ích và áp
bức nhân dân.
2.2.5. Tệ phân biệt đối xử, trọng nam hơn nữ.
Đây là hiện tượng hết sức bất cơng và cịn tồn tại trong đội ngũ cán bộ quản
lý tỉnh Thanh Hoá hiện nay.
Cách mạng đã đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân, người lao động, trong
đó có phụ nữ, được giải phóng đang vươn lên làm chủ cá nhân, làm chủ xã hội,
21


song tệ phân biệt đối xử vấn còn tồn tại cả trong gia đình và ngồi xã hội. Mặc dù
“hiện tượng xấu theo chế độ hơn nhân và gia đình cũ đã có giảm bớt nhưng việc
đánh chửi vợ, hành hạ con dâu, đánh chửi con cái, coi con trai hơn con gái vấn còn
khá phổ biến trong nhân dân và trong hàng ngũ cán bộ đảng viên.
Những ảnh hưởng này ở nơng thơn cịn nặng nề hơn thành thị, kể cả bộ phận

cán bộ có trình độ học vấn. Đương nhiên, việc trọng nam hơn nữ không cực đoan, lộ
liễu như trước đây “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vơ”, thậm chí (coi tuyệt tự là
một tội nặng). Họ vấn cịn tâm lý có con trai mới là có sức mạnh trụ cột trong gia
đình và đặc biệt là quan niệm về xuất đinh “chống gậy”, nỗi dõi tơng đường.
Tâm lý con trai phải đón vợ về dinh, khơng ai muốn ở rể, vì người ta sợ nép
dưới bóng vợ. Trong gia đình chồng phải nhỉnh hơn vợ mới thuận. Ngược lại, vợ
trội hơn về địa vị kinh tế là khơng hay, thậm chí cịn là điều giở “gà mái gáy”.
Trong công tác cán bộ, tâm lý ngại tuyển nữ hoặc thay chỗ cán bộ nữ là phổ
biến, tuy không thành chủ trương, song cũng không muốn nhận nữ về cơ quan
mình. Vì họ có q nhiều gánh nặng gia đình. Mặc dù vậy, phải thừa nhận rằng đa
phần chị em cũng chưa thực sự gạt bỏ được tư tưởng tự ti chưa vươn lên để ngang
tầm với trách nhiệm. Sự phân biệt đối sử nam-nữ là một cản trở cho công việc
phát triển và tiến bộ của xã hội.
2.3. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN KHẮC PHỤC NHỮNG
ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC ĐẠO ĐỨC PHONG KIẾN TRONG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TỈNH THANH HOÁ.

Những ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức phong kiến vấn còn tồn tại một
phần trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý tỉnh Thanh Hố. Những ảnh hưởng
tiêu cực đó đã ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức, quản lý. Chính từ những mặt
hạn chế đó mà chúng ta càng thấy rõ tầm quan trọng của công tác tuyên truyền.
Trong những năm qua, cùng với nhiều địa phương trong cả nước, cơng tác
tun truyền của tỉnh Thanh Hố đã đạt được nhiều thành tựu to lớn góp phần
khơng nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đặc biệt cơng tác tun truyền
đã góp phần nâng cao năng lực, phẩm chất cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
của tỉnh, tạo ra sự thống nhất trong mục đích và hành động.
22


2.3.1. Những thành tựu.

- Tổ chức lãnh đạo công tác tuyên truyền.
Thực hiện các văn bản của Trung ương, các cấp uỷ Đảng nhận thức sâu sắc
hơn vị trí, vai trị của cơng tác tun truyền. Thường vụ tỉnh uỷ tỉnh Thanh Hố đã tổ
chức lãnh đạo thực hiện cơng tác tuyên truyền. Ban Tuyên truyền, trung tâm thông tin
(cấp tỉnh), Trung tâm bồi dưỡng chính trị (cấp huyện), tuyên truyền xã, phường đã
tích cực chủ động thực hiện chức năng tham mưu giúp cấp uỷ tổ chức, quản lý và
điều hành hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên theo hướng đổi mới
phương thức hoạt động làm cho công tác tuyên truyền được tăng cường.
Cấp uỷ Đảng đã kịp thời định hướng đề ra kế hoạch, phương hướng nhiệm
vụ của công tác tuyên truyền. Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao đó là nguồn
động viên, cổ vũ đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền. Các cấp uỷ Đảng đã
xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện tốt các khâu từ thành lập tổ chức đến phân
phối hợp hành động, thường xuyên quan tâm, quản lý, giám sát, xử lý kịp thời các
vấn đề đặt ra.
Đặt trong bối cảnh tình hình mới hết sức phức tạp, ảnh hưởng của những
ảnh hưởng tiêu cực đạo đức phong kiến vào trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản
lý, cấp uỷ Đảng của tỉnh đã tổ chức, phối hợp hoạt động nhịp nhàng, cân đối góp
phần nâng cao hiệu quả của cơng tác tun truyền. Luôn tổ chức lãnh đạo thực
hiện theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”.
- Về nội dung tuyên truyền.
Trong tình hình bùng nổ thơng tin tồn cầu hiện nay, cùng với bước trưởng
thành về nhận thức tư tưởng của cán bộ, đảng viên nên đặc biệt là đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý thì nội dung tuyên truyền của tỉnh cũng được nâng cao.
Nội dung tuyên truyền phong phú và đa dạng góp phần to lớn vào nhiệm vụ
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị trí vai trị của tỉnh Thanh Hố trong q
trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta. Công tác tuyên truyền đã chú trọng vào
những nội dung trọng tâm đó là phổ biến đường lối, chính sách, chỉ thị, Nghị quyết
của Đảng và Nhà nước, những thông tin trong nội bộ Đảng. Qua đó góp phần làm

23



giầu thế giới tinh thần của con người. Nâng cao trình độ hiểu biết cho đội ngũ cán
bộ quản lý lãnh đạo trên địa bàn tỉnh.
Tuyên truyền chuẩn mực đạo đức mới xã hội chủ nghĩa, tránh để xảy ra các
“điểm nóng” hoặc tiềm ẩn những nhân tố mất ổn định về chính trị, tư tưởng. Tun
truyền khơng chỉ trực tiếp cắt nghĩa định hướng tư tưởng trước mọi sự kiện chính trị,
kinh tế, xã hội, mà cịn trực tiếp bồi dưỡng tình cảm cách mạng cổ vũ hành động..
Tuyên truyền đầy mạnh và bồi đắp những giá trị truyền thống của dân tộc:
tinh thần yêu nước gắn với phong trào thi đua yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội. Đẩy
mạnh một bước các phong trào “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”. Nội
dung tuyên truyền mang tính sâu rộng tuyên truyền về những điển hình tiên tiến
trong đạo đức, lối sống từ đó đã góp phần phát triển, nêu gương và lôi cuốn, cổ vũ
xã hội noi theo. Đó là những điển hình của tỉnh trong nhiều lĩnh vực khác nhau từ
đó để góp phần hình thành trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của tỉnh ý thức
tập thể, lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa,
ý thức lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, thường xuyên học tập nâng
cao hiểu biết, trình độ chun mơn nghề nghiệp.
Mặt khác một thành tựu quan trọng đã đạt được trong nội dung tuyên truyền
mà tỉnh Thanh Hoá đã đạt được đó là nội dung tuyên truyền đã đáp ứng yêu cầu
đổi mới phù hợp với đối tượng. Tuyên truyền đã có những nội dung thiết thực giúp
cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của tỉnh nhận thức rõ hơn, sâu sắc tồn diện
về bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế, những diễn biến phức tạp, nội dung
tun truyền đấu tranh chống diễn biến hồ bình bảo vệ chế độ, chống lại các quan
điểm sai trái thù địch, khắc phục được những ảnh hưởng của ảnh hưởng tiêu cực
đạo đức phong kiến đang còn tồn tại và hiện hữu trong đời sống của họ.
- Về hình thức, phương tiện.
Bằng nhiều hình thức phong phú và sinh động công tác tuyên truyền đã giúp
cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo của tỉnh hoàn thành tốt các nhiệm vụ kinh tế- khoa học
và giáo dục. Có có thể thấy hình thức tuyên truyền đã được đổi mới với nhiều hình

thức phong phú, đa dạng: kết hợp cả các hình thức tuyên truyền truyền thống như
tuyên truyền miệng với các hình thức tuyên truyền hiện đại như sử dụng các phương
24


tiện thông tin đại chúng: báo, đài, phát thanh… tiếp tục duy trì nâng cao chất lượng
hình thức, luân phiên tổ chức hội nghị báo cáo viên, trung tâm bồi dưỡng chính trị của
tỉnh đã tổ chức được hội nghị hàng tháng để bồi dưỡng tính thời sự, chính sách trong
sâu rộng cán bộ đảng viên đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Nội dung tuyên truyền khắc phục ảnh hưởng tư tưởng đạo đức phong kiến cho
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý không chỉ bằng tuyên truyền miệng mà đã được
tuyên truyền qua các phương tiện thơng tin đại chúng. Đây là một đóng góp lớn vào
thành cơng của cơng tác tun truyền. Ngồi ra cịn các hình thức tun truyền khác
như tỉnh đã tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, các gương điển hình tiên tiến,
các phong trào thi đua “tồn dân xây dựng đời sống văn hố”. Đó thực sự đã trở thành
những hình thức quan trọng để thực hiện tuyên truyền về đạo đức lối sống.
- Phối hợp lực lượng tuyên truyền.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng có thể nói cơng
tác tuyên truyền về đạo đức, lối sống đã phối hợp được các lực lượng làm cơng tác
này. Đã có sự phối hợp từ các cấp uỷ Đảng, ban tuyên truyền từ cấp tỉnh-huyện-xãthôn. Tỉnh đã hết sức chăm lo việc tổ chức, xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên
truyền viên lực lượng nịng cốt của cơng tác tun truyền. Lực lượng đó đã được
nâng cao hơn về trình độ và chuyên môn nghiệp vụ. Cán bộ tuyên truyền của tỉnh
đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác tuyên truyền đặc biệt là tuyên
truyền khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức phong kiến để từ đó đề ra
mục đích và phối hợp hoạt động được chặt chẽ.
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân của nó.
Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được thì công tác tuyên truyền khắc
phục những ảnh hưởng của ảnh hưởng tiêu cực đạo đức phong kiến trong đội ngũ
cán bộ quản lý của tỉnh Thanh Hố cịn nhiều hạn chế, còn tồn tại.
- Sự chỉ đạo, quản lý của các cấp uỷ Đảng đối với công tác tuyên truyền

đôi khi còn lỏng lẻo, chưa thống nhất. Nhiều vấn đề lớn tồn đọng kéo dài chưa
được giải quyết như: hệ thống tổ chức, vấn đề về chế độ chính sách, đào tạo, bồi
dưỡng, bố trí cán bộ chậm được bổ xung điều chỉnh. Việc lãnh đạo chưa thực sự
chặt chẽ đó dẫn đến sự lợi dụng của kẻ xấu.
25


×