Tải bản đầy đủ (.pdf) (23 trang)

Định hướng và một số giải pháp chủ yếu để phát triển dịch vụ viễn thông công ích của tập đoàn viễn thông quân đội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (310.4 KB, 23 trang )



1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TẬP ĐOÀN BƢU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƢU CHÍNH VIỄN THÔNG



ĐINH PHƢỢNG LOAN


ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ
PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VIỄN THÔNG CÔNG ÍCH CỦA
TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI


CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60.34.05


TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ




HÀ NỘI - 2010



2
MỞ ĐẦU
Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) là doanh nghiệp 100% vốn
nhà nước, được thành lập từ năm 1995, đến nay đã trở thành một trong hai
doanh nghiệp chủ đạo trong ngành Viễn thông Việt Nam. Thực hiện chính
sách điều tiết viễn thông nhằm tối đa hoá lợi nhuận và tận dụng hiệu ứng
mạng trong viễn thông, Chính phủ giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ viễn
thông công ích (DVVTCI) giai đoạn 2006÷2010 cho các doanh nghiệp
viễn thông (DNVT), trong đó có Viettel. Đến nay hoạt động cung cấp
DVVTCI của Viettel đã đạt được một số kết quả nhất định, đóng góp phần
không nhỏ vào hoạt động phổ cập dịch vụ viễn thông đến với người dân
vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo. Thực hiện đường lối
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, gắn với phát triển kinh tế tri thức,
hội nhập quốc tế nhằm mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam “dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh”, thì nhiệm vụ cung cấp
DVVTCI tiếp tục được triển khai như Luật Viễn thông khẳng định.
Để phát huy lợi thế về năng lực mạng lưới viễn thông, vừa đảm bảo
mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, vừa đảm bảo mục tiêu phục vụ xã hội, cộng
đồng, các DNVT nói chung, Viettel nói riêng cần tạo ra bước phát triển
mạnh mẽ, đi đầu về DVVTCI giai đoạn 2011÷2015 theo đường lối chính
sách của Đảng và Nhà nước đề ra. Xuất phát từ sự cần thiết nêu trên, đề tài:
“Định hướng và một số giải pháp chủ yếu để phát triển dịch vụ viễn thông
công ích của Tập đoàn Viễn thông Quân đội” được lựa chọn nghiên cứu
làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ - chuyên ngành Quản trị Kinh doanh. Dựa
trên hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về DVVTCI, cùng với việc
đánh giá thực trạng cung cấp DVVTCI của Viettel giai đoạn 2006÷2010,
luận văn nêu quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển và đề xuất một số
giải pháp phát triển, duy trì DVVTCI của Viettel giai đoạn 2011÷2015. Về
kết cấu ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về dịch vụ viễn thông công

ích. Chương 1 của Luận văn làm rõ cơ sở lý luận về DVVTCI: Khái
nhiệm, nguồn gốc và bản chất của DVVTCI; đồng thời đưa ra quan điểm,
đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước trong phát triển viễn thông,
trong điều kiện mở cửa và hội nhập quốc tế. Nội dung chương 1 cũng đã
làm rõ cơ sở thực tiễn thiết yếu của DVVT đối với đời sống xã hội, sự cần


3
thiết của chính sách về DVVTCI thực hiện đường lối công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức. Chương 1 cũng đã
tóm tắt được một số kinh nghiệm quốc tế về hoạt động cung cấp DVVTCI
của một số nước phát triển trên thế giới và khu vực, đồng thời rút ra bài
học về hoạt động cung cấp DVVTCI. Kết quả chương 1 đã hệ thống hoá cơ
sở lý luận và thực tiễn về DVVTCI giai đoạn 2006÷2010.
Chƣơng 2: Thực trạng cung cấp dịch vụ viễn thông công ích của
Viettel giai đoạn 2006 ÷ 2010. Chương 2 của Luận văn đã nêu tổng quan
về Viettel và bước phát triển của Viettel trong hoạt động cung cấp
DVVTCI ở Việt Nam; khái quát thực trạng cung cấp DVVTCI của Viettel
giai đoạn 2006÷2010, trong đó phân tích thành tựu kết quả đạt được,
những thuận lợi, khó khăn, tồn tại và nguyên nhân; đồng thời rút ra bài học
trong hoạt động cung cấp DVVTCI đối với Viettel.
Chƣơng 3: Định hƣớng và một số giải pháp phát triển dịch vụ
viễn thông công ích do Viettel cung cấp giai đoạn 2011÷2015. Chương 3
nêu rõ quan điểm phổ cập dịch vụ viễn thông giai đoạn 2011÷2015;
nguyên tắc xây dựng chương trình cung cấp DVVTCI giai đoạn
2011÷2015; mục tiêu, định hướng phát triển giai đoạn 2011÷2015. Các
giải pháp phát triển DVVTCI do Viettel cung cấp bao gồm: Giải pháp về
qui hoạch phát triển mạng lưới; giải pháp về thể chế quản lý; giải pháp huy
động nguồn lực; giải pháp về công nghệ. Một số giải pháp của Nhà nước:
Khuyến khích phát triển dịch vụ và nội dung; hợp tác quốc tế, hội nhập

quốc tế. Điều kiện thực hiện các giải pháp: Nâng cao nhận thức về
DVVTCI; cơ cấu tổ chức quản lý; sự nỗ lực của toàn dân. Kiến nghị, đề
xuất đối với cơ quan quản lý Nhà nước; đối với Viettel.
Sau đây là kết quả nghiên cứu từng chương:








4
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ VIỄN
THÔNG CÔNG ÍCH
1.1. Khái niệm, nguồn gốc và bản chất của DVVTCI
1.1.1. Khái niệm
Dịch vụ công là những công việc phục vụ cộng đồng theo những nhu
cầu thiết yếu, nhằm thoả mãn các yêu cầu cụ thể phát sinh trong quá trình
quan hệ qua lại. Hiện nay, người ta chia dịch vụ công thành 2 loại chính là:
Dịch vụ sự nghiệp công và dịch vụ công ích.
Dịch vụ viễn thông công ích bao gồm: Dịch vụ viễn thông phổ cập
nhằm phục vụ cộng đồng tạo điều kiện cho mọi người dân có thể sử dụng
thông tin liên lạc phù hợp với điều kiện, khả năng của chính bản thân họ,
gia đình họ, như điện thoại nội hạt, truy nhập Internet… Dịch vụ viễn
thông bắt buộc (DVVTBB) nhằm phục vụ cộng đồng trong từng trường
hợp giải quyết những vấn đề “an toàn” cho cuộc sống chung như cứu hoả,
cấp cứu sinh mệnh, cấp cứu xung đột trật tự xã hội, thiên tai…
1.1.2. Nguồn gốc, bản chất kinh tế và phân loại hoạt động công ích

- Nguồn gốc của hoạt động công ích: Nguồn gốc của hoạt động công
ích bắt đầu từ không tự giác, xuất phát từ cái lợi riêng để tạo ra các vật
dụng và điều kiện nào đó nhưng sản phẩm, dịch vụ đó lại có lợi không chỉ
riêng ai, mọi người theo nhau, cùng nhau làm và cuối cùng, hoạt động tự
giác của xã hội loài người có tiêu chuẩn nhất định.
- Bản chất: Một là, hoạt động công ích do ý muốn chủ quan của Nhà
nước, do Nhà nước quy định và hỗ trợ cho các hoạt động này nhằm thực
hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của Nhà nước. Hai là, hoạt động vì lợi
ích chung của cộng đồng người dân, vì lợi ích lâu dài của quốc gia. Ba là,
hoạt động công ích là phạm trù quản lý Nhà nước về kinh tế, có sự giao thoa
giữa kinh tế vĩ mô và vi mô. Việc quản lý hoạt động công ích là một trong
các nội dung của chính sách điều tiết của Chính phủ đặc biệt là trong điều
kiện hội nhập quốc tế, và đẩy mạnh thực thi các cam kết của WTO.
- Phân loại: Xét về mục tiêu và ý nghĩa xã hội mà hoạt động công ích
bao gồm: Nhóm thứ nhất gồm những hoạt động trực tiếp phục vụ hoạt


5
động của bộ máy nhà nước và đảm bảo quốc phòng, an ninh. Những hoạt
động này do tầm quan trọng của chúng nên Nhà nước độc quyền, chọn và
giao cho doanh nghiệp thực hiện. Nhóm thứ hai bao gồm việc cung cấp
những sản phẩm, dịch vụ thiết yếu cho nhân dân. Những dịch vụ này được
xem như là những dịch vụ phổ cập của Nhà nước.
- Sự cần thiết của DVVTCI: Với cách tiếp cận xã hội học, dịch vụ
viễn thông (DVVT) cần phải được phổ cập bởi vì: trong xã hội, mặc dù
điện thoại đã xuất hiện từ lâu và phát triển rất nhanh, nhưng do mục tiêu lợi
nhuận nên hầu hết điện thoại được phát triển ở các vùng đô thị, các vùng
tập trung dân cư và các vùng kinh tế phát triển, trong khi các vùng không
đem lại lợi nhuận thì bị các nhà kinh doanh bỏ qua. Nhà nước cần sử dụng
công cụ của mình để điều tiết sao cho các mục tiêu kinh tế – xã hội của đất

nước phải được phát triển một cách hài hoà. Nhà nước coi phổ cập dịch vụ
điện thoại là trách nhiệm chung, trước hết là của các nhà cung cấp dịch vụ
điện thoại. Trách nhiệm đó được thực hiện bằng cách yêu cầu các doanh
nghiệp phải cung cấp dịch vụ điện thoại ở các vùng khó khăn; hoặc yêu
cầu các doanh nghiệp phải đóng góp vào Quỹ phổ cập dịch vụ và Nhà
nước dùng quỹ này để thuê một doanh nghiệp nào đó làm nhiệm vụ cung
cấp dịch vụ phổ cập. Với cách tiếp cận kinh tế học, DVVT cần phải được
phổ cập vì 2 lý do chính là hiệu ứng mạng lưới và tính chất của hàng hoá
công cộng. Ở Việt Nam, việc phổ cập DVVT càng trở nên cần thiết khi
thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và việc đi tắt, đón đầu được coi là
chính sách phù hợp để rút ngắn, thu hẹp khoảng cách số và đuổi kịp các
nước trong khu vực và trên thế giới trong lĩnh vực viễn thông.
- Vai trò của Nhà nước trong cung cấp DVVTCI: Đảm bảo các điều
kiện pháp lý và duy trì các nghĩa vụ đối với xã hội nhằm đảm bảo việc
cung cấp DVVTCI; đầu tư một phần hoặc toàn bộ nguồn lực tài chính để
sản xuất hoặc hỗ trợ cuối cùng là cung cấp DVVTCI; đảm bảo các quan hệ
tín dụng, quan hệ về xác định mức hỗ trợ cung cấp DVVTCI, nhờ đó sẽ tạo
lập sự đảm bảo, ổn định trong việc cung cấp DVVTCI.
1.2. Quan điểm, đƣờng lối chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về
DVVTCI
1.2.1. Quan điểm, đƣờng lối của Đảng


6
Đảng và Nhà nước luôn coi trọng việc phát triển thông tin, truyền
thông nông thôn. Ngay từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của
Đảng, quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển viễn thông nông
thôn đã được khẳng định và tiếp tục được nhấn mạnh tại Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ IX, lần thứ X. Đặc biệt Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội 2011÷2020 sẽ trình tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục

khẳng định: Hiện đại hoá bưu chính – viễn thông và hạ tầng công nghệ
thông tin đủ sức đảm bảo nhu cầu phát triển trong điều kiện hội nhập quốc
tế ngày càng sâu rộng… Nâng cao chất lượng hệ thống thông tin, báo chí,
Internet, xuất bản. Bảo đảm quyền được thông tin và cơ hội tiếp cận thông
tin của nhân dân, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc.
1.2.2. Chính sách của Nhà nƣớc
Nhà nước khẳng định chính sách mở cửa thị trường của Việt Nam và
đã có những chính sách nền tảng về cung cấp DVVTCI: Pháp lệnh Bưu
chính, Viễn thông; Chiến lược phát triển viễn thông đến năm 2010 và định
hướng đến năm 2020 của Chính phủ; Quy hoạch phát triển viễn thông và
Internet Việt Nam đến năm 2010 theo Quyết định số 32/2006/QĐ-TTg
ngày 07/02/2006 của Thủ tướng Chính phủ; “Chiến lược Cất cánh” -
Chiến lược phát triển Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt Nam giai
đoạn 2011÷2020; Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công
nghệ thông tin và truyền thông” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại
Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 22/9/2010.
1.2.3. Các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nƣớc và Bộ Thông tin
– Truyền thông
Nhà nước khẳng định cung cấp DVVTCI là một trong ba chính sách
điều tiết của Chính phủ về viễn thông. Các văn bản quy phạm pháp luật
của Nhà nước về DVVTCI: Luật Doanh nghiệp; Pháp lệnh Bưu chính,
Viễn thông (BCVT); Nghị định 160/NĐ-CP ngày 03/9/2004 của Chính phủ
quy định chi tiết việc thi hành một số điều của Pháp lệnh BCVT về viễn
thông; Quyết định 191/QĐ-TTg ngày 08/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ
về thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Dịch vụ Viễn thông công ích
Việt Nam (VTF); Luật Viễn thông ra đời và có hiệu lực từ ngày 01/7/2010
thay thế Pháp lệnh BCVT; Quyết định 74/2006/QĐ-TTg ngày 07/4/2006
của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình cung cấp DVVTCI đến



7
năm 2010; Quyết định số 32/2006/QĐ-TTg ngày 07/02/2006 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển viễn thông và Internet
Việt Nam đến năm 2010. Các quy định về điều hành cung cấp DVVTCI có
Thông tư 110/2005/TT-BTC ngày 08/12/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn
chế độ hạch toán thu nộp các khoản đóng góp vào VTF; QĐ số
186/2007/QĐ-TTg ngày 03/12/2007 về việc sửa đổi Quyết định số
191/2004/QĐ-TTg; Thông tư 67/2006/TT-BTC ngày 18/7/2006 của Bộ Tài
chính hướng dẫn chế độ quản lý tài chính của VTF.
Để thực hiện chính sách của Nhà nước về DVVTCI, Bộ Thông tin –
Truyền thông (TTTT) đã đưa ra phương hướng triển khai hoạt động cung
cấp DVVTCI, và các văn bản cụ thể liên quan đến thực thi chính sách nêu
trên lần lượt được ban hành.
Từ nghiên cứu những văn bản pháp lý nêu trên rút ra 2 vấn đề như
sau:
Vấn đề 1: Việc tổ chức triển khai thực hiện hoạt động cung cấp
DVVTCI:
1. Đảng, Nhà nước, Cơ quan thanh tra Nhà nước, Tư pháp,…: Hoạch
định, tổ chức thực hiện và kiểm tra các đường lối chính sách hoạt động;
thực hiện giải quyết khiếu kiện, tranh chấp xảy ra nếu có,…
2. Bộ TTTT: Là cơ quan chức năng của Chính phủ trực tiếp quản lý
Nhà nước hoạt động cung cấp DVVTCI. Bộ Tài chính: quản lý Nhà nước
về các cơ chế chính sách tài chính hoạt động công ích. Uỷ ban Nhân dân
các tỉnh (Sở Thông tin và Truyền thông): quản lý Nhà nước tại địa phương
về hoạt động cung cấp DVVTCI trên địa bàn tỉnh, thành phố. Bộ TTTT đặt
hàng cung cấp DVVTCI cho các DNVT.
3. DNVT: Là đơn vị triển khai thực hiện cung cấp DVVTCI.
4. VTF: Là đơn vị cầu nối từ người dân tới DNVT với cơ quan quản lý
Nhà nước, có chức năng hỗ trợ tài chính.
Vấn đề 2: Hình thành và đồng bộ hoá các công cụ trong hoạt động

cung cấp DVVTCI
Bao gồm: Quy định phổ cập dịch vụ viễn thông; Quy định dịch vụ viễn
thông bắt buộc; Quy định vùng công ích; Quy định đối tượng được hưởng


8
hỗ trợ công ích; Quy định nguồn vốn hỗ trợ công ích; Quy định phương
thức quản lý hoạt động cung cấp DVVTCI (giao kế hoạch, đặt hàng, đấu
thầu). Những quy định nêu trên là công cụ để các DNVT tiến hành các
hoạt động cung cấp DVVTCI, từ khâu thực hiện kế hoạch Bộ TTTT giao
đến khâu cung cấp DVVTCI cho khách hàng (người dân), hỗ trợ kinh phí
và thanh toán kinh phí, đánh giá tổng kết công tác cung cấp DVVTCI hàng
kỳ.
1.3. Kinh nghiệm quốc tế về hoạt động cung cấp DVVTCI
Hoạt động cung cấp DVVTCI được Chính phủ nhiều nước trên thế
giới quan tâm, Quỹ DVVTCI đã được Chính phủ rất nhiều nước thành lập
với mục tiêu phổ cập dịch vụ, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thông
tin như là một chỉ số phát triển quan trọng trong các chỉ số phát triển kinh
tế, xã hội nông thôn. Qua nghiên cứu thực tiễn hoạt động cung cấp
DVVTCI của một số nước phát triển trên thế giới và trong khu vực có thể
rút ra bài học cho hoạt động cung cấp DVVTCI cho Việt Nam như sau:
Thúc đẩy việc phát triển nội dung thông tin tại các điểm truy nhập tạo thói
quen sử và thu hút người dân sử dụng DVVTCI; cân đối giữa công nghệ và
nội dung phổ cập; các dự án cung cấp DVVTCI được nhìn nhận theo hình
thái giá trị và tài chính; lựa chọn địa điểm xây dựng, lắp đặt thiết bị phục
vụ cho hoạt động cung cấp DVVTCI; cơ chế hợp lý để phổ biến và nâng
cao được các hoạt động cũng như mức độ thuận tiện của các điểm truy
nhập viễn thông công cộng.












9
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG CUNG CẤP DỊCH VỤ VIỄN THÔNG CÔNG ÍCH
CỦA VIETTEL GIAI ĐOẠN 2006÷2010
2.1. Tổng quan về Viettel và DVVTCI do Viettel cung cấp
2.1.1. Tổng quan về Viettel
Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) là doanh nghiệp Nhà nước
trực thuộc Bộ Quốc phòng, được thành lập từ năm 1995 đến nay đã trở
thành một trong hai doanh nghiệp chủ đạo trong ngành Viễn thông Việt
Nam. Tính đến hết năm 2009, Viettel có 47,7 triệu thuê bao điện thoại hoạt
động 2 chiều. Tập đoàn này hiện có 24.000 trạm BTS, trong đó 83% xã
trên cả nước đã có trạm phát sóng và xây dựng được 100.000 km cáp
quang phủ hết 100% huyện trên đất liền và 75% xã trên cả nước. Đây là
năm thứ 5 Viettel phát triển nhanh. Bốn năm trước (2004-2008) phát triển
trên 100%. Viettel đã đầu tư sang Campuchia và Lào, các thị trường Châu
Á, Châu Phi và Mỹ La Tinh. Là DNVT trong nước đầu tiên được nhận
được các giải thưởng quốc tế: Nhà cung cấp DVVT tốt nhất khu vực châu
Á Thái Bình Dương tại các nước đang phát triển (Frost & Sullivan); Nhà
cung cấp DVVT tốt nhất thế giới tại các nước đang phát triển – WCA 2009
(Total Telecom); được tổ chức Wireless Intelligence xếp hạng 24/772 các
nhà cung cấp DVVT trên toàn thế giới.

2.1.2. Bƣớc phát triển của Viettel trong hoạt động cung cấp DVVTCI ở
Việt Nam
Trong thời gian qua (2005÷2010), thực hiện chính sách của Nhà nước
về DVVTCI, nhận thức rõ trách nhiệm và nhiệm vụ của mình trong việc
phổ cập DVVT tới những vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn,
Viettel tuy là doanh nghiệp mới tham gia thị trường viễn thông, nhưng đã
tích cực triển khai cung cấp DVVTCI. Là doanh nghiệp tham gia cung cấp
DVVTCI muộn nhưng tốc độ phát triển thuê bao điện thoại cố định
(ĐTCĐ) trong vùng viễn thông công ích (VTCI) mạnh nhất.
2.2. Đánh giá thực trạng cung cấp DVVTCI của Viettel giai đoạn
2006÷2010
2.2.1. Phƣơng pháp và tiêu chí đánh giá


10
2.2.1.1. Xét trên hệ thống cung cấp DVVTCI của cả nước: Việc đánh
giá tình hình thực hiện cung cấp DVVTCI được thực hiện theo các tiêu chí
Quyết định số 74 như sau: Mật độ điện thoại tại các vùng được cung cấp
DVVTCI đạt trên 5 máy/100 dân (> 5%); 100% số xã trên toàn quốc có
điểm truy nhập ĐTCC; 70% số xã trên toàn quốc có điểm truy nhập InCC;
mọi người dân được miễn phí khi sử dụng các DVVTBB. Theo báo cáo sơ
bộ số liệu thực hiện Chương trình 74 – VTF, cho đến tháng 6/2010: Mật độ
ĐTCĐ bình quân tại vùng được hỗ trợ cung cấp DVVTCI đã được 16,8%,
trong đó Viettel đạt được mật độ ĐTCĐ là 5,5% (thuê bao ĐTCĐ do
Viettel cung cấp chiếm 32,5% tổng số thuê bao ĐTCĐ vùng viễn thông
công ích). Mật độ thuê bao Internet bình quân tại vùng công ích đạt 0,5%,
trong đó Viettel đạt được mật độ thuê bao Internet là 0,03% (thuê bao
Internet do Viettel cung cấp chiếm 6,6% tổng số thuê bao Internet vùng
công ích). Số xã có điểm truy nhập ĐTCC là 8.048/9.502 xã trên toàn
quốc, đạt 85%; ước đến cuối năm 2010 riêng vùng được cung cấp

DVVTCI có 5.013 điểm trong đó Viettel theo kế hoạch đến cuối năm 2010
có 291 điểm (VNPT là 4.722 điểm), chiếm khoảng 5,8% tổng số điểm truy
nhập ĐTCC tại vùng công ích. Số xã có điểm truy nhập InCC là
4.147/9.502 xã trên toàn quốc, đạt 44%; ước đến cuối năm 2010 riêng vùng
được cung cấp DVVTCI có 1.247 điểm truy nhập InCC, trong đó Viettel
theo kế hoạch đến cuối năm 2010 có 151 điểm (VNPT là 1.043 điểm, EVN
Telecom là 52 điểm), chiếm khoảng 12% tổng số điểm truy nhập InCC tại
vùng công ích. Mọi người dân được truy nhập miễn phí khi sử dụng các
DVVTBB.
Căn cứ theo số liệu thống kê như trên, có thể nhận thấy Viettel tuy là
doanh nghiệp mới tham gia cung cấp DVVTCI (5 năm kể từ năm 2005)
nhưng có sự đóng góp vào hoạt động cung cấp DVVTCI lớn thứ hai sau
VNPT, trong khi VNPT đã có truyền thống trên 60 năm thực hiện cung cấp
DVVTCI.
2.2.1.2. Dưới góc độ thực hiện của Viettel:
Dịch vụ phổ cập: Duy trì thuê bao ĐTCĐ có trên mạng; phát triển
thuê bao ĐTCĐ của cá nhân, hộ gia đình (CN-HGĐ) và duy trì thuê bao
ĐTCĐ của CN-HGĐ là những dịch vụ Viettel trú trọng và đẩy mạnh phát
triển trong giai đoạn 2006÷2010. Sản lượng duy trì và phát triển thuê bao


11
ĐTCĐ của CN-HGĐ Viettel luôn thực hiện vượt kế hoạch và hợp đồng đặt
hàng (HĐĐH). Tuy nhiên các dịch vụ khác (duy trì thuê bao Internet
ADSL có trên mạng, duy trì trạm VSAT, phát triển và duy trì điểm truy
nhập điện thoại công cộng (ĐTCC), điểm truy nhập Internet công cộng
(InCC), phát triển thuê bao Internet ADSL của CH-HGĐ) Viettel thực hiện
được rất thấp so với kế hoạch giao hoặc không hoàn thành so với hợp đồng
đặt hàng (HĐĐH).
Dịch vụ viễn thông bắt buộc: Giai đoạn 2006÷2010, Viettel thực hiện

cung cấp DVVTBB trên phạm vi toàn quốc và được hưởng kinh phí hỗ trợ
theo sản lượng thực hiện.
2.2.2. Đánh giá việc tổ chức triển khai hoạt động cung cấp DVVTCI
Thứ nhất về việc tổ chức triển khai hoạt động VTCI của Viettel: Tại
Viettel, việc tổ chức quản lý, triển khai hoạt động công ích có sự thay đổi
về đầu mối làm việc tại các Phòng và chuyên viên quản lý qua các thời kỳ,
và các chuyên viên đều là kiêm nhiệm, không chuyên trách. Tại các đơn vị
thành viên (các chi nhánh Viettel tại các tỉnh, thành phố), việc tổ chức đều
là kiêm nhiệm, không chuyên trách. Thứ hai, tình hình triển khai thực hiện
hoạt động cung cấp DVVTCI: Sau các quyết định được Bộ TTTT ban
hành, Viettel đã kịp thời nghiên cứu xây dựng văn bản hướng dẫn và hệ
thống biểu mẫu thống kê sản lượng cung ứng DVVTCI, văn bản hướng
dẫn hạch toán kinh phí hỗ trợ để các chi nhánh thống nhất triển khai thực
hiện hoạt động cung ứng DVVTCI. Các chi nhánh theo quy định sẽ báo
cáo Sở TTTT và Viettel số liệu thực tế đơn vị đã thực hiện và sau khi có
xác nhận của Sở TTTT sẽ gửi về Viettel. Tuy nhiên, việc báo cáo của các
chi nhánh thường chậm do việc thống kê số liệu và xác nhận số liệu mất
nhiều thời gian vì sự thay đổi thường xuyên của các quy định mà Viettel và
Sở TTTT hướng dẫn và yêu cầu bổ sung thông tin; việc giao kế hoạch thực
hiện hoạt động cung cấp DVVTCI của Viettel không đồng nhất chủ thể
giao và thời điểm giao nên việc xác nhận và thẩm định số liệu của Viettel
gặp rất nhiều khó khăn do không đồng nhất chủ thể xác nhận và nghiệm
thu thẩm định số liệu.
2.2.3. Thành tựu đạt đƣợc giai đoạn 2006÷2010


12
Thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao về cung cấp DVVTCI giai đoạn
2006÷2010, Viettel đã thực hiện và đạt được những thành tựu nhất định,
góp phần hoàn thành mục tiêu của chương trình cung cấp DVVTCI theo

Quyết định 74 và là doanh nghiệp chủ đạo trong việc đóng góp kinh phí
của giai đoạn này. Viettel mặc dù mới thực hiện cung cấp DVVTCI từ năm
2005 nhưng tốc độ phát triển thuê bao ĐTCĐ trong vùng được cung cấp
DVVTCI rất nhanh. Sản lượng duy trì thuê bao ĐTCĐ của CN-HGĐ năm
2007 mới chỉ đạt 3,1% tổng số thuê bao vùng được hỗ trợ cung cấp
DVVTCI, đến năm 2010 ước thực hiện chiếm tới trên 30% tổng số thuê
bao ĐTCĐ của CN-HGĐ vùng VTCI. Tuy nhiên, Viettel chưa quan tâm
đến việc phát triển điểm truy nhập VTCC, phát triển thuê bao Internet
ADSL đạt kết quả thấp trong khi phát triển thuê bao ĐTCĐ thực hiện luôn
vượt kế hoạch giao. Viettel là doanh nghiệp chủ đạo đóng góp kinh phí,
tổng giai đoạn 2006÷2010 ước thực hiện đóng góp 2.651.834 triệu đồng,
chiếm 35,7% tổng kinh phí đóng góp của các DNVT. Tuy nhiên sản lượng
cung cấp DVVTCI thực hiện được chiếm tỷ lệ nhỏ so với toàn vùng công
ích nên kinh phí được hỗ trợ cung cấp DVVTCI không cao (ước thực hiện
kinh phí được hỗ trợ cung cấp DVVTCI của Viettel giai đoạn 2006÷2010
là 974.485 triệu đồng, chiếm 14,1% tổng kinh phí hỗ trợ cung cấp
DVVTCI giai đoạn 2006÷2010).Trong giai đoạn 2006÷2010, Viettel thực
hiện hỗ trợ cho người dân vùng VTCI ước đạt 661.709 triệu đồng, chiếm
67,9% tổng kinh phí hỗ trợ được nhận. Điều này thể hiện việc thực hiện
đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về hoạt động VTCI.
2.2.4. Những điểm mạnh, điểm yếu, khó khăn, tồn tại giai đoạn
2006÷2010
2.2.4.1. Điểm mạnh, điểm yếu
Giai đoạn 2006÷2010, là doanh nghiệp mới tham gia thực hiện cung
cấp DVVTCI, Viettel đã thể hiện những điểm mạnh của một DNVT hàng
đầu Việt Nam: Luôn vượt kế hoạch về phát triển mới thuê bao ĐTCĐ tại
vùng được giao kế hoạch cung cấp DVVTCI; là doanh nghiệp chủ đạo
trong việc đóng góp kinh phí hỗ trợ; với lợi thế người đi sau, tận dụng công
nghệ thoại không dây Viettel đã phát triển thuê bao ĐTCĐ nhanh, mở rộng
thị trường tại các vùng được hỗ trợ cung cấp DVVTCI là các vùng sâu,

vùng xa, biên giới, hải đảo, thực hiện đảm bảo thông tin hỗ trợ công tác


13
tuần tra, bảo vệ biên cương Tổ quốc; thế mạnh vượt trội của Viettel là đội
ngũ nhân lực với kỷ cương vững vàng, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, hợp lý, và
đội ngũ cán bộ lãnh đạo quan tâm đến công tác giáo dục đào tạo cả về
chuyên môn nghiệp vụ và ý thức trách nhiệm của mọi thành viên trong
Viettel.
Tuy nhiên, hoạt động cung cấp DVVTCI của Viettel giai đoạn
2006÷2010 cũng bộc lộ những điểm yếu: Sử dụng công nghệ thoại không
dây với ưu điểm cung cấp nhanh, đầu tư ít, tuy nhiên công nghệ này sẽ
không tích hợp được nhiều DVVT; chưa có kinh nghiệm trong hoạt động
cung cấp DVVTCI, tổ chức triển khai hoạt động này tại Tập đoàn cũng
như tại các ĐVTV của Viettel còn kiêm nhiệm, gặp nhiều khó khăn khi
thực hiện; chất lượng dịch vụ và chất lượng phục vụ tại vùng được hỗ trợ
cung cấp DVVTCI chưa tương đương giữa thành thị và nông thôn, vùng
sâu, vùng xa; trong thời gian đầu còn có sự không rõ ràng giữa việc hỗ trợ
của Chương trình cung cấp DVVTCI với các khuyến mại của doanh
nghiệp.
2.2.4.2. Những thuận lợi, khó khăn, hạn chế và tồn tại
Trong việc tổ chức triển khai hoạt động cung cấp DVVTCI, Viettel có
những thuận lợi: Giai đoạn 2006÷2010, nhìn chung Nhà nước đã tạo điều
kiện cho doanh nghiệp về thủ tục nghiệm thu sản lượng, kinh phí hỗ trợ;
các năm 2008, 2009, 2010 Bộ TTTT đã có những chỉnh sửa phù hợp cho
kế hoạch đặt hàng cho các doanh nghiệp, đã quy định chi tiết và cụ thể hơn
cho các chỉ tiêu phát triển và duy trì các DVVTCI, tạo điều kiện thuận lợi
hơn cho các chi nhánh của Viettel trong quá trình thực hiện hoạt động cung
cấp DVVTCI; các cán bộ đã dần có kinh nghiệm quản lý và triển khai thực
hiện trong hoạt động cung cấp DVVTCI.

Tuy nhiên, triển khai thực hiện cung cấp DVVTCI Viettel cũng gặp
những khó khăn: Chính sách quản lý về hoạt động cung cấp DVVTCI
thường xuyên thay đổi, không ổn định, thiếu tính thực tiễn, không có kế
hoạch và không cập nhật nhanh phù hợp với các báo cáo phản ánh của các
ĐVTV và Viettel; việc xác định tiêu chí vùng cung cấp DVVTCI chỉ căn
cứ vào tiêu chí là mật độ thuê bao ĐTCĐ/100 dân là không hợp lý, cần
phải căn cứ thêm cả những điều kiện về kinh tế, xã hội của vùng đó nữa;
quy trình giao kế hoạch, thực hiện thanh quyết toán, thẩm định, nghiệm thu


14
sản lượng và kinh phí hỗ trợ phức tạp, nhiều khâu nhưng lại trùng lặp, gây
khó khăn cho đơn vị thực hiện; chưa có sự khảo sát, dự báo thật kỹ lưỡng
xuất phát từ nhu cầu và khả năng cung cấp DVVTCI, do vậy Viettel gặp
rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch và hợp đồng
đặt hàng cung cấp DVVTCI theo kế hoạch được Bộ TTTT giao; quản lý
cung cấp DVVTCI còn tập trung, chưa gắn kết giữa cung cấp DVVTCI và
hỗ trợ tài chính; một số cơ quan đơn vị chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa và
tầm quan trọng của việc phổ cập DVVTCI; chính sách về DVVTCI là một
chính sách mới, chưa có tiền lệ ở Việt Nam do đó quá trình nghiên cứu,
xây dựng cơ chế, chính sách không có điều kiện kế thừa, rút kinh nghiệm;
việc đầu tư hạ tầng mạng lưới của các chi nhánh Viettel chưa kịp tiến độ;
trình độ cán bộ quản lý thực hiện chương trình còn hạn chế, nhất là cán bộ
của các địa phương và các chi nhánh của doanh nghiệp tại địa phương, dẫn
đến quá trình triển khai chương trình, kế hoạch còn lúng túng, tính thống
nhất chưa cao.
Tồn tại và hạn chế trong quá trình triển khai cung cấp DVVTCI giai
đoạn 2006÷2010: Việc công bố chỉ tiêu kế hoạch chưa kịp với tiến độ giao
kế hoạch kinh doanh của các doanh nghiệp hàng năm, do đó chưa có sự
đồng bộ và chủ động cho doanh nghiệp; việc thực hiện chính sách của Nhà

nước giữa các doanh nghiệp tại các địa phương chưa có sự thống nhất;
công tác tuyên truyền chính sách của nhà nước đảm bảo DVVTCI chưa
được sự quan tâm đúng mức ở các doanh nghiệp; có hiện tượng cạnh tranh,
chồng chéo trong việc phát triển mới thuê bao viễn thông của CN-HGĐ
ảnh hưởng đến mục tiêu chính sách của nhà nước; việc thực hiện các chỉ
tiêu kế hoạch của các doanh nghiệp chưa đồng đều giữa các địa phương,
nhất là chỉ tiêu phát triển điểm truy nhập VTCC ở khu vực khó khăn.
Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại: Về phía cơ quan Nhà nước: Về
ban hành cơ chế, chính sách; chưa kịp đào tạo, tập huấn quản lý DVVTCI;
công tác kiểm tra, giám sát còn chưa thường xuyên; kinh nghiệm quản lý,
sự chủ động phối hợp của các Sở TTTT với các DNVT chưa đồng đều
trong việc triển khai kế hoạch, xác nhận sản lượng DVVTCI. Về phía
Viettel: Gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu
ban đầu; việc xây dựng kế hoạch chưa tốt; chưa có sự thống nhất về áp
dụng quy trình, thủ tục báo cáo, xác nhận sản lượng DVVTCI tại địa


15
phương, giữa các ĐVTV, chưa có sự phối hợp tốt trong công tác tổ chức,
tổng hợp, thẩm định sản lượng, cấp phát, thanh toán kinh phí giữa Viettel
và VTF; chưa làm tốt công tác tuyên truyền về chính sách cung cấp
DVVTCI của Nhà nước; việc chỉ đạo quá trình thực hiện chưa xuyên suốt,
chưa có tính thống nhất toàn hệ thống; công việc quản lý, triển khai thực
hiện mới chỉ được coi là công việc kiêm nhiệm, không tổ chức chuyên
trách trong khi khối lượng công việc nhiều và chi tiết; quan hệ giữa các chi
nhánh Viettel với Sở TTTT và với Viettel còn rất phức tạp.
2.3. Bài học rút ra trong hoạt động cung cấp DVVTCI đối với Viettel
Bài học rút ra đối với Viettel để phát triển DVVTCI giai đoạn
2011÷2015 cụ thể như sau: Cần thành lập riêng tổ chuyên trách quản lý,
hướng dẫn triển khai thực hiện cung cấp DVVTCI từ Tập đoàn đến các

ĐVTV, xác định riêng chức danh cho cán bộ chuyên trách quản lý về hoạt
động VTCI; thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu về hoạt động cung cấp
DVVTCI hoàn chỉnh, đầy đủ và thống nhất; nâng cao nhận thức về hoạt
động cung cấp DVVTCI cho các cán hộ, công nhân viên, đưa chương trình
quản lý công ích vào chương trình đào tạo cho các cán bộ thực hiện; thiết
lập kỷ cương trong việc thực hiện triển khai hoạt động cung cấp DVVTCI.















16
Chƣơng 3
ĐỊNH HƢỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ
VIỄN THÔNG CÔNG ÍCH DO VIETTEL CUNG CẤP
GIAI ĐOẠN 2006÷ 2010
3.1. Quan điểm và nguyên tắc
3.1.1. Quan điểm phổ cập dịch vụ viễn thông giai đoạn 2011÷2015
Thứ nhất, phải khẳng định phổ cập DVVT là 1 trong 3 chính sách
của Chính phủ về điều tiết viễn thông. Mục đích của phổ cập DVVT nhằm

thực hiện quy luật vượt trước một bước về thông tin. Thứ hai, phổ cập
DVVT và cung cấp DVVTCI tạo điều kiện tiền đề cho hội nhập quốc tế, tự
do hóa viễn thông, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và phát triển kinh tế tri
thức. Thứ ba, phổ cập DVVT và cung cấp DVVTCI thực hiện đường lối
chính sách của Đảng, Chính phủ nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo, góp
phần tăng trưởng kinh tế quốc dân ổn định và bền vững, xoá khoảng cách
số giữa các vùng; Thứ tư, đảm bảo các chính sách Nhà nước đúng mục
tiêu hỗ trợ cung cấp DVVTCI đồng thuận với các mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội khác của Nhà nước trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của
WTO, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với phát
triển kinh tế tri thức; Thứ năm, ưu tiên hợp lý việc phổ cập DVVT phục vụ
cộng đồng trên cơ sở phổ cập cho mọi tầng lớp người dân lao động tại các
vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; Thứ sáu, Giai đoạn
2011÷2015 chú trọng phát triển công nghệ cao tại cùng được cung cấp
DVVTCI và triển khai các nội dung thông tin để người dân sử dụng thông
tin tại các vùng sâu, vùng xa.
Viettel phải thấm nhuần 6 quan điểm nêu trên, xác định cung cấp
DVVTCI vừa là mục tiêu vừa là công cụ trong quá trình xây dựng và phát
triển, trong hoạt động của mọi cán bộ, viên chức Viettel. Cung cấp
DVVTCI để Viettel cạnh tranh, để nâng cao uy tín, giữ gìn thương hiệu
mạnh, để vươn xa ra thị trường tại vùng sâu, vùng xa.
3.1.2. Nguyên tắc xây dựng chƣơng trình cung cấp DVVTCI giai đoạn
2011÷2015
Viettel thực hiện sáng tạo nhưng đảm bảo đúng các quy định hiện
hành: Hỗ trợ không hoàn lại đúng đối tượng, đúng các dịch vụ theo quy


17
định của Bộ TTTT; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng góp vào VTF; cung
cấp tốt hơn DVVTBB; ưu tiên lợi ích cộng đồng trước, thể nhân sau, cụ thể

ưu tiên phổ cập các điểm truy nhập VTCC đặc biệt các điểm truy nhập
VTCC ở các đồn biên phòng, biên giới, hải đảo; bảo đảm công bằng, bình
đẳng đối với mọi khách hàng được cung cấp và hỗ trợ cung cấp DVVTCI
tương xứng phù hợp; hợp tác cùng các DNVT thực hiện quyền và nghĩa vụ
tham gia cung cấp DVVTCI; Viettel thực hiện đầy đủ các điều kiện để
thanh toán, thanh lý, báo cáo thống kê theo quy định.
3.2. Mục tiêu giai đoạn 2011÷2015
3.2.1. Mục tiêu tổng thể
Phát triển và phổ cập DVVT nhằm đưa cơ sở hạ tầng mạng viễn thông
của Viettel về đến xã, đưa dịch vụ thông tin truyền thông thông qua mạng
lưới DVVTCI của Viettel đến người dân vùng nông thôn. Đối với các chi
nhánh Viettel tại các tỉnh, thành phố: Tập trung đầu tư hạ tầng mạng tại
các vùng công ích đến xã, đặc biệt là các vùng biên giới, hải đảo của Tổ
quốc; tập trung phát triển, nâng cao hiệu quả sử dụng tại các điểm truy
nhập VTCC tại các đồn biên phòng; tích hợp công nghệ viễn thông và tin
học nhằm thực hiện mục tiêu tăng doanh thu và giảm chi phí, tiến tới có lợi
nhuận.
3.2.2. Các chỉ tiêu tổng quát
Đến năm 2015 mật độ thuê bao ĐTCĐ đạt khoảng trên 9%, chiếm
35% tổng số thuê bao ĐTCĐ vùng công ích. Tập trung đẩy mạnh phát triển
thuê bao Internet băng rộng và điểm truy nhập VTCC tại các vùng công
ích. Số hộ gia đình tại vùng VTCI sử dụng thuê bao Internet ADSL của
Viettel đạt khoảng trên 2,7%, chiếm 30% tổng số hộ gia đình có thuê bao
Internet tại vùng công ích. Xóa vùng trắng chưa có điểm truy nhập VTCC
tại các đồn biên phòng, đơn vị quốc phòng tại hải đảo và khu vực tiền tiêu
của quốc gia. Mọi người dân được truy nhập miễn phí khi sử dụng các
DVVTBB. Chú trọng phát triển công nghệ phần mềm và phần cứng để
phục vụ cho các mục tiêu cụ thể trên. Ở vùng đồng bằng cần tiến tới cáp
quang đến tận xã.
3.2.3. Mục tiêu hàng năm



18
Mục tiêu hàng năm gắn liền với mục tiêu chương trình. Chương trình
cung cấp DVVTCI giai đoạn 2011÷2015 tập trung vào các mục tiêu cụ thể:
Một là tập trung phát triển hạ tầng truyền dẫn băng rộng để cung cấp đa
dịch vụ đến 100% các xã, cụm thôn bản để đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng
dịch vụ của người dân và chính quyền các cấp. Bình quân năm thực hiện
20% chỉ tiêu tổng thể. Hai là tiếp tục thực hiện phổ cập dịch vụ điện thoại
đến hầu hết các hộ dân trong vùng công ích. Hàng năm thực hiện 100%
nhu cầu phát triển thuê bao viễn thông. Ba là tập trung phổ cập dịch vụ
truy nhập Internet đến các CN-HGĐ. Bình quân năm thực hiện 20% chỉ
tiêu tổng thể. Bốn là trên cơ sở các điểm truy nhập VTCC hiện nay sẽ phát
triển thành các Trung tâm thông tin cộng đồng, phục vụ cung cấp các dịch
vụ BCVT-CNTT, phát thanh, truyền hình và các dịch vụ khác để đảm bảo
thuận tiện nhất cho người dân trong sử dụng các dịch vụ. Bình quân năm
thực hiện 30% chỉ tiêu tổng quát. Phấn đấu đến 2014 hoàn thành chỉ tiêu cả
giai đoạn 2011÷2015.
3.3. Định hƣớng phát triển giai đoạn 2011÷2015
3.3.1. Định hƣớng tổng quát: Để thực hiện mục tiêu phát triển và phổ cập
DVVT, Viettel cần định hướng phát triển DVVTCI theo quan điểm, đường
lối chính sách của Đảng và Nhà nước; đồng thời cần định hướng cụ thể về
thị trường, các đối tượng cũng như các loại hình dịch vụ sẽ được phổ cập
trong giai đoạn 2011÷2015.
3.3.2. Định hƣớng cụ thể: Định hướng phát triển mạng lưới, mở rộng thị
trường; Định hướng các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ DVVTCI
giai đoạn 2011÷2015; Định hướng các các loại hình dịch vụ sẽ được phổ
cập giai đoạn 2011÷2015.
3.4. Một số giải pháp
Viettel cần thực hiện những giải pháp nhằm phát huy thế mạnh, khắc

phục điểm yếu, tận dụng cơ hội và hạn chế khó khăn. Giai đoạn
2011÷2015, Viettel sẽ không chỉ đóng góp nhiều hơn về kinh phí mà còn
tham gia sâu hơn nữa vào hoạt động VTCI, thực hiện và sáng tạo nhằm
nâng cao hiệu quả của hoạt động cung cấp DVVTCI theo đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước.
3.4.1. Giải pháp về qui hoạch phát triển mạng lƣới


19
Phân loại theo từng vùng được cung cấp DVVTCI mà Viettel có
những bước đi trước về đầu tư xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng (CSHT)
mạng và dịch vụ, tránh đầu tư dàn trải mà chỉ tập trung vào những dịch vụ
mang lại lợi ích thiết thực cho người dân, đồng thời cũng là công cụ quản
lý của Đảng và Nhà nước trong việc bảo đảm an ninh chính trị, quốc
phòng: Đối với các vùng nông thôn phát triển cần tập trung đẩy mạnh việc
xây dựng phát triển các DVVT hiện đại: Internet tốc độ cao (ADSL, Wifi),
các dịch vụ thông tin di động mới (GPRS, 3G, 4G…), các dịch vụ giá trị
gia tăng trên mạng (GameOnline, IPTV, Truyền hình ). Đối với các vùng
nông thôn còn khó khăn cần triển khai và phát triển các DVVT giá rẻ phù
hợp với nhu cầu sử dụng trên địa bàn: VoIP, InternetTelephony, dần dần
từng bước phát triển các dịch vụ Internet tốc độ cao. Đối với vùng sâu,
vùng xa bảo đảm tất cả các xã đều có ĐTCĐ thông qua mọi hình thức
truyền dẫn như: vệ tinh, cáp đồng, hệ thống điểm đa điểm, tiến tới 2015
đảm bảo kết nối Internet tại địa bàn này là 100%.
Viettel nên hợp tác với các DNVT khai thác chung mạng hạ tầng sẵn
có, chia sẻ việc đầu tư, phát triển hạ tầng mạng một cách hợp lí nhằm tăng
hiệu quả đầu tư, hiệu quả khai thác mạng CSHT. Hoàn thành xây dựng
mạng diện rộng tới các chi nhánh, các điểm giao dịch của Viettel. Kết nối
Internet băng rộng cho tất cả các cơ quan hành chính Nhà nước, chính
quyền cấp huyện, xã, các trường học, trạm y tế tại các địa phương.

3.4.2. Giải pháp về thể chế quản lý
Chính phủ nên có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp chủ đạo,
như VNPT, Viettel, EVN Telecom… đầu tư và khai thác hạ tầng mạng
NGN, trước hết là chia sẻ dùng chung các CSHT mạng hiện có, mạng truy
nhập đầu cuối với các công nghệ hiện đại như cáp quang, vệ tinh
VINASAT, mạng GSM… Trên cơ sở một chính sách, sao cho vị trí và các
mối quan hệ hoạt động kinh doanh được xác lập rõ ràng và đầy đủ giữa
Chính phủ/chính quyền địa phương; doanh nghiệp chủ CSHT viễn thông;
các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư phát triển điểm truy nhập VTCC và
nội dung, thì số lượng điểm truy nhập dịch vụ VTCC mới có cơ hội phát
triển nhanh.
Đẩy nhanh việc triển khai các dự án phổ cập truy nhập Internet; sớm hình
thành và triển khai các dự án Chính phủ điện tử, Thương mại điện tử, mạng


20
truy nhập InCC, các trung tâm thư viện số lớn và liên thông với các cơ sở
dữ liệu quốc gia, cổng thông tin quốc gia… Xây dựng dự án nông dân điện
tử; điều tra- khảo sát kỹ các nhu cầu địa phương, nhằm làm rõ các điều
kiện sở tại, các mong muốn của những người sử dụng; coi trọng và có
chính sách phù hợp đối với việc truyền thông quảng bá về vai trò và giá trị
của viễn thông trong phát triển nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Phương thức
quảng bá tới người dân vùng công ích thông qua 2 hình thức chính, đó là:
Đưa thông tin trực tiếp tới người dân bằng việc tự họ tiếp cận với các
DVVT đã được triển khai.
3.4.3. Giải pháp huy động nguồn lực
Đào tạo, đào tạo lại các cán bộ, công nhân viên của Viettel để làm
việc trong môi trường mới ở các lĩnh vực là rất cần thiết. Có chính sách
phát triển đào tạo nguồn nhân lực theo địa chỉ, chính sách cử tuyển đào tạo
cán bộ để cung cấp đồng bộ và kịp thời nhân lực cho các địa phương, nông

thôn, vùng sâu, vùng xa… Khuyến khích, tạo điều kiện, tuyển dụng lao
động làm việc tại các điểm truy nhập VTCC của Viettel, vừa làm hạt nhân
tại cơ sở, xoá mù tin học cho người dân địa phương.
3.4.4. Giải pháp về công nghệ
Cơ sở các giải pháp kỹ thuật công nghệ được lựa chọn phải đảm bảo
các tiêu chí cơ bản sau: Khả thi về mặt kỹ thuật; có khả năng hoạt động
trong điều kiện môi trường khí hậu khắc nghiệt; vận hành và bảo dưỡng có
thể thực hiện với đội ngũ nhân viên kỹ thuật tay nghề không cao và số
lượng ít; hỗ trợ các DVVT, Internet băng rộng giá rẻ; thời gian triển khai
dịch vụ nhanh, tránh phức tạp; chi phí triển khai đầu tư, chi phí khai thác,
vận hành, bảo dưỡng thấp; tốc độ truy nhập phù hợp với nhu cầu, yêu cầu
sử dụng của khách hàng và phải có độ dự phòng lưu lượng thích hợp đáp
ứng với những đột biến gia tăng nhu cầu, phát triển thêm; khả năng có thể
nâng cấp, mở rộng, tương thích với mạng thế hệ sau. Với nguyên tắc là rõ
ràng và phù hợp với khả năng thanh toán của đại bộ phận dân cư nông thôn
trong quá trình thực hiện nội dung và ứng dụng CNTT và truyền thông. Sử
dụng tổng hợp tất cả các công nghệ như cáp quang, xDSL, vô tuyến băng
rộng, vệ tinh đảm bảo tính kế thừa hiện tại tối đa để giảm thiểu chi phí đầu
tư.


21
3.4.5. Một số giải pháp hỗ trợ của Nhà nƣớc:
3.4.5.1. Khuyến khích phát triển dịch vụ và nội dung: Phát huy hiệu
quả CSHT mạng lưới phát triển DVVTCI, tập trung vào cung cấp dịch vụ
nội dung đến với người dân thông qua các điểm cung cấp dịch vụ, tập
trung sâu vào cung cấp nội dung thông tin và truyền thông như: các kiến
thức canh nông, chăn nuôi; sức khoẻ cộng đồng; việc làm và trao đổi hàng
hoá; các nội dung cung cấp bởi chính quyền; các nội dung đào tạo từ xa và
phổ cập kiến thức sản xuất kinh doanh, thương mại, nâng cao kiến thức,

giải trí tại các vùng công ích. Phát triển hạ tầng mạng lưới để cung cấp
DVVTCI là cần thiết, nhưng việc nâng cao hiệu quả hoạt động và người
dân đến với DVVTCI là điểm mấu chốt.
3.4.5.2. Hợp tác quốc tế, hội nhập quốc tế: Tăng cường tham gia các
hoạt động của các tổ chức viễn thông ASEAN và quốc tế để có thể tiếp thu,
đón đầu những thành tựu khoa học, công nghệ chuyên ngành mới nhất;
tranh thủ tối đa sự trợ giúp đào tạo cán bộ, trợ giúp kỹ thuật và tài chính
của các tổ chức đó cho việc phát triển DVVTCI. Nhà nước cần có chính
sách, mục tiêu, chương trình cụ thể nhằm hỗ trợ nghiên cứu xây dựng các
Định hướng chiến lược, cơ chế chính sách; nghiên cứu - triển khai các
công nghệ chi phí thấp, hiệu quả, các giải pháp kĩ thuật và DVVT, các nội
dung thông tin… các quy chuẩn kinh tế- kĩ thuật phù hợp với từng vùng
miền địa lí, phù hợp với nhu cầu, tập quán văn hoá của các dân tộc ít
người, với người dân nông thôn
3.5. Kiến nghị, đề xuất
3.5.1. Đối với cơ quan quản lý Nhà nƣớc: Về cơ chế quản lý; hệ thống
chính sách đầy đủ. Các điều kiện thực hiện đối với Viettel: Nâng cao nhận
thức về DVVTCI; cơ cấu tổ chức quản lý; sự nỗ lực của toàn dân.
3.5.2. Đối với Viettel: Thứ nhất, tổ chức việc triển khai thực hiện hoạt
động công ích hệ thống chuyên trách quản lý riêng, thành lập riêng Ban
hoặc Tổ chuyên trách công ích, xác định riêng chức danh công ích cho cán
bộ chuyên trách. Thứ hai, hoàn thiện hệ thống dữ liệu về hoạt động công
ích cho toàn Viettel. Thứ ba, hướng dẫn và đào tạo chương trình quản lý
công ích có bài bản, tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ về lĩnh vực công


22
ích và cập nhật những văn bản mới của Viettel, của Bộ TTTT một cách cụ
thể, rõ ràng cho các cán bộ thực hiện.




























23
KẾT LUẬN
Giai đoạn 2006÷2010, hoạt động cung cấp DVVTCI của Viettel đã đạt
được một số kết quả nhất định đóng góp cho hoạt động phổ cập DVVT đến

với người dân vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo của
Tổ quốc. Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa xứng tầm với một tập
đoàn lớn với cam kết tái đầu tư lại cho xã hội thông qua việc gắn kết các
hoạt động sản xuất kinh doanh với các hoạt động xã hội, hoạt động nhân
đạo góp phần công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, giữ vững an ninh
quốc phòng.
Để đẩy mạnh phát triển và duy trì DVVTCI giai đoạn 2011÷2015,
Viettel cần nhận thức rõ nhiệm vụ, tận dụng thời cơ, tích cực đầu tư cung
cấp dịch vụ, huy động nguồn lực và mở rộng thị trường. Nhà nước cũng
cần có những biện pháp tuyên truyền để người dân thấy được vai trò của
thông tin - truyền thông và tích cực hưởng ứng, hỗ trợ, cộng tác với doanh
nghiệp viễn thông để triển khai thực hiện chương trình phổ cập DVVTCI.
Đề tài: “Định hướng và một số giải pháp chủ yếu để phát triển dịch vụ
viễn thông công ích của Viettel” được thực hiện, kết quả nghiên cứu đã đề
xuất một số nội dung về hoạt động cung cấp DVVTCI giai đoạn
2011÷2015, trong đó cơ bản bao gồm:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về DVVTCI.
- Từ thực trạng DVVTCI và hoạt động triển khai cung cấp DVVTCI
của Viettel đưa ra các đánh giá, nhận xét.
- Quan điểm, mục tiêu, định hướng và đề xuất một số giải pháp phát
triển DVVTCI giai đoạn 2011÷2015.
Kết quả nghiên cứu là tài liệu đánh giá kết quả học tập và có thể được
cán bộ, viên chức liên quan quan tâm tham khảo vào thực tế công tác.

×