Tải bản đầy đủ (.doc) (84 trang)

phương hướng và giải pháp tăng cường vai trò của nhà nước trong việc phát triển các kcn giai đoạn 2006-2010

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (363.86 KB, 84 trang )

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
LỜI NÓI ĐẦU
Bắt đầu từ năm 1991, là thời điểm đánh dấu sự ra đời của khu công
nghiệp đầu tiên ở nước ta, khi Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư (nay là
Bộ kế hoạch và đầu tư) được Thủ tướng chính phủ uỷ nhiệm cấp giấy phép
thành lập khu chế xuất Tân Thuận theo giấy phép đầu tư số 245/GP với quy
mô là 300 ha. Đến nay sau 15 năm phát triển, ở Việt Nam đã có 130 khu
công nghiệp đã có quyết định được thành lập và đi vào hoạt động hoặc đang
trong qua trình triển khai giải phóng mặt bằng xây dựng hạ tầng được phân
bố ở 45 tỉnh trên cả nước.
Sự ra đời của các khu công nghiệp là một yếu tố rất quan trọng giúp
chúng ta đưa đất nước đi lên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Học
tập kinh nghiệm của các nước đi trước Việt Nam đã đẩy mạnh phát triển các
khu công nghiệp như là một chìa khoá giúp thu hút đầu tư nước ngoài. Bên
cạnh đó, khu công nghiệp đã tạo ra những tác động tích cực đối với quá trình
phát triển của đất nước: tiếp nhận công nghệ tiên tiến từ bên ngoài, đổi mới
cơ chế quản lí theo hướng tích cực, tạo việc làm cho người lao động…
Trước những vai trò to lớn mà KCN đem lại cho tiến trình CNH-HĐH,
trong những năm gần đây Nhà nước ta rất chú trọng đến hoạt động phát triển
các KCN, trong đó đặc biệt chú ý đến việc thu hút đầu tư vào KCN nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động và đóng góp của KCN đối với đất nước. Để
tăng cường khả năng thu hút đầu tư vào KCN, Nhà nước đã có nhiều biện
pháp, chính sách và hoạt động để thể hiện sự quan tâm của mình như: Ban
hành các văn bản pháp luật hướng dẫn, khuyến khích hoạt động đầu tư vào
KCN (Quy hoạch phát triển KCN, Luật đầu tư nước ngoài liên tục được sửa
đổi cho phù hợp, Luật khuyến khích đầu tư trong nước), hay ban hành các
chính sách, trực tiếp hỗ trợ đối với các hoạt động đầu tư vào KCN… Những
1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
tác động này từ phía Nhà nước bước đầu đã đem lại những hiệu quả nhất
định: Vốn đầu tư nước ngoài vào KCN tăng dần qua các năm, vốn trong


nước cũng ngày càng được mở rộng.Tuy nhiên trong những năm gần đây, do
những diễn biến phức tạp của hoạt động phát triển KCN, vai trò của nhà
nước đối với thu hút đầu tư vào KCN đã bộc lộ nhiều hạn chế cần phải khắc
phục: công tác quy hoạch không theo kịp sự phát triển của KCN làm giảm
tính định hướng trong thu hút đầu tư, một số chính sách chưa phát huy được
tác dụng cũng như mục đích đề ra… Những hạn chế này phần nào làm giảm
vai trò của Nhà nước đối với hoạt động thu hút đầu tư vào KCN.
Câu hỏi nghiên cứu: Trước bối cảnh trên, vấn đề đặt ra là cần xác định
được Nhà nước cần có những vai trò hợp lí nào đối với việc thu hút đầu tư
vào KCN, vai trò đó phụ thuộc vào các nhân tố nào? Xác định được các
nhân tố đó chúng ta sẽ có những biện pháp hiệu quả để nâng cao vai trò của
nhà nước trong hoạt động thu hút đầu tư vào KCN, qua đó phát huy được
khả năng đóng góp của các KCN đối với tiến trình CNH-HĐH đất nước.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung vào các vấn đề liên quan đến các
yếu tố phát triển khu công nghiệp, đặc biệt chú trọng đến các yếu tố liên
quan đến vai trò của Nhà nước trong việc thu hút đầu tư vào KCN.
Phương pháp nghiên cứu: Trong đề tài tác giả chủ yếu dựa vào phương
pháp hệ thống, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp
so sánh và tiếp thu những kinh nghiệm thực tiễn.
Đóng góp của đề tài:
- Hệ thống hoá một số khái niệm về khu công nghiệp và vai trò của nó
đối với sự nghiệp CNH, HĐH
- Đánh giá lại vai trò của Nhà nước đối với việc phát triển KCN.
2
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
- Tìm kiếm các nhân tố tác động đến vai trò của Nhà nước đối với việc
phát triển KCN qua đó có những giải pháp thích hợp để nâng cao vai trò của
Nhà nước đối với hoạt động phát triển KCN.
Kết cấu dự kiến của đề tài như sau:
Chương I: Lí luận chung về KCN và vai trò của Nhà nước đối với việc

phát triển các KCN.
Chương II: Thực trạng phát triển KCN và vai trò của Nhà nước trong việc
phát triển các KCN thời gian vừa qua
Chương II: Phương hướng và giải pháp tăng cường vai trò của Nhà nước
trong việc phát triển các KCN giai đoạn 2006-2010.
3
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
4
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
CHƯƠNG I
LÍ LUẬN CHUNG VỀ KCN VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
VIỆC PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
I/LÍ LUẬN CHUNG VỀ KCN
1/Khái niệm chung về KCN
1.1/Khái niệm KCN ở Việt Nam
Khu công nghiệp đã được hình thành và phát triển ở các nước tư bản
phát triển vào những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Trong thời gian
đầu xuất hiện, các KCN được xem như một mô hình quy hoạch công nghiệp,
tuy nhiên sau đó do những lợi ích thiết thực mà mô hình này đem lại, các
KCN đã được xem như một công cụ để phát triển kinh tế. Đến nay, lợi ích
của việc phát triển các KCN đã được nhiều nước trên thế giới thừa nhận và
cùng với quá trình tồn tại, phát triển các KCN đã xuất hiện ngày càng nhiều
dưới những hình thức khác nhau. Khái niệm về KCN cũng được bàn cãi
trong một thời gian dài, đến nay vẫn chưa đi đến thống nhất.
Trong thời gian gần đây, KCN đang được hình thành và phát triển
mạnh mẽ ở nước ta. Khái niệm về KCN đã được Nhà nước ta nêu rõ trong
Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao ban hành kèm
theo Nghị định 36-CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ. Trong Quy chế này đã
đưa ra các khái niệm về KCN, KCX, KCNC như sau:
KCN là “khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất

hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có
ranh giới địa lí xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ
tướng chính phủ quyết định thành lập. Trong KCN có thể có doanh nghiệp
chế xuất” (Khoản 1, Điều 2)
5
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
KCX là “khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên
sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu
và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lí xác định, không có dân cư sinh
sống; do Chính phủ hoặc thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập” (Khoản
2, Điều 2)
KCNC là “khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và
các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu-
triển khai khoa học-công nghệ, đào tạo và các dịch vụ có liên quan, có ranh
giới địa lí xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ
tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong KCNC có thể có doanh nghiệp
chế xuất” (Khoản 3, Điều 2)
Có thể thấy rằng, giữa ba khái niệm này có liên quan với nhau. Nếu như
khái niệm về KCN mang tính chất đặc trưng cơ bản thì KCX và KCNC là
hai khái niệm mang tích chất là những hình thái đặc thù của KCN:
- KCX là khu công nghiệp mà theo đó hàng hoá sản xuất ra chủ yếu
dùng để xuất khẩu.
- KCNC là khu công nghiệp gắn với các hoạt động kĩ thuật, công nghệ
cao.
KCN, KCX, KCNC là các loại hình khác nhau của Khu công nghiệp tập
trung. Trong đề tài này, tác giả nghiên cứu cả ba loại hình trên. Tuy nhiên,
các KCN được nghiên cứu nằm trong phạm vi điều chỉnh của Quy chế KCN,
KCX, KCNC. Đó là những KCN do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ
quyết định thành lập.
1.2/ Một số cách hiểu khác nhau về KCN

Như đã được trình bày trong phần trên, hiện nay trên thế giới có nhiều
cách hiểu khác nhau về KCN và vẫn chưa đưa đến một khái niệm thống nhất
về KCN.
6
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
Trước tiên, đối với KCX, đây là một khu vực đặc biệt chuyên sản xuất
hàng xuất khẩu, đứng ngoài chế độ mậu dịch và thuế quan của một nước,
được thành lập với những điều kiện, yếu tố thuận lợi về pháp lí, quản lí và
cơ sở hạ tầng trên một phạm vi đã được xác định nhằm mục đích chủ yếu để
thu hút đầu tư của các nước phát triển đặc biệt từ các công ty xuyên quốc
gia. KCX, ngày nay có các định nghĩa sau:
- Định nghĩa của Hiệp hội các KCX thế giới (WEPZA)
Theo Điều lệ hoạt động của Hiệp hội các KCX thế giới (WEPZA),
“KCX bao gồm tất cả các khu vực được chính phủ các nước cho phép như
cảng tự do, khu mậu dịch tự do, KCN tự do hoặc bất kì khu vực ngoại
thương hoặc khu vực khác được WEPZA công nhận”. Định nghĩa này về cơ
bản đã đồng nhất KCX với khu vực được miễn thuế.
- Định nghĩa của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO):
KCX được hiểu là “khu vực được giới hạn về mặt hành chính và địa lí,
trong đó cách doanh nghiệp được hưởng chế độ thuế quan ưu đãi cho phép
tự do nhập khẩu các trang thiết bị và sản phẩm nhằm mục đích phục vụ cho
hoạt động sản xuất sản phẩm xuất khẩu”. Khác với định nghĩa thứ nhất, với
định nghĩa này có thể xác định được hoạt động chính trong KCX là sản xuất
công nghiệp.
Như vậy, cách hiểu của Việt Nam về KCX tương đồng với cách hiểu
của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc.
KCX được thành lập với mục tiêu chính nhằm để thu hút vốn từ các nhà
đầu tư nước ngoài qua việc tạo ra các chính sách ưu đãi đặc biệt cho các nhà
đầu tư hoạt động.Tuy nhiên, khi hoạt động trong KCX, một bất lợi rất lớn
đối với các nhà đầu tư đó là sản phẩm được làm ra yêu cầu phải xuất khẩu

hết hoặc phần lớn ra nước ngoài. Do đó, một trong những yếu tố tạo nên sức
hấp dẫn thu hút đầu tư nước ngoài đó là thị trường bên trong của nước sở tại
7
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
đã không được đảm bảo cho các nhà đầu tư. Điều này làm cản trở khả năng
thu hút vốn trong KCX. Ngoài ra, đối với nước sở tại nó cũng làm hạn chế
về lợi ích kinh tế do không phát huy được khả năng lan toả của các doanh
nghiệp trong KCX.
KCN là một mô hình linh hoạt hơn, hấp dẫn các nhà đầu tư hơn (đặc
biệt đối với các nhà đầu tư nước ngoài) vì họ có thể hi vọng vào thị trường
nội địa, đối với một số nước dung lượng của thị trường nội địa là khá lớn
(Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam…). Việc khai thác được thị trường nội địa
còn có thuận lợi cho các nhà đầu tư đó là tiết kiệm được chi phí vận chuyển
hàng hoá hơn so với việc xuất khẩu ra nước ngoài… Đối với nước sở tại,
ngoài việc khắc phục hạn chế về khả năng lan toả của KCX, việc phát triển
mô hình KCN, mở cửa thị trường nội địa cũng phù hợp với xu hướng tự do
hoá mậu dịch của khu vực và thế giới. Việc cho phép tiêu thụ hàng hoá trong
thị trường nội địa cũng góp phần giúp cho các doanh nghiệp trong nước
nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước, có khả
năng cạnh tranh với hàng hoá của nước ngoài .
Hiện nay có hai cách hiểu khác nhau về KCN:
- Cách hiểu thứ nhất:
KCN là “khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, trong đó tập trung các
doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và các dịch vụ phục vụ cho hoạt động
sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống”. Cách hiểu này cũng
giống với khái niệm về KCN của Việt Nam trong Quy chế KCN, KCX,
KCNC được ban hành kèm theo Nghị Định 36/CP.
- Cách hiểu thứ hai:
KCN là “khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công nghiệp,
bên cạnh đó là các hoạt động dịch vụ, kể cả dịch vụ sản xuất công nghiệp,

dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở…”.
8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
Khác với cách hiểu trên, ở đây trong KCN có hoạt động sinh sống của dân
cư. Về thực chất đây là mô hình khu hành chính – kinh tế đặc biệt (Đặc khu
kinh tế, Khu kinh tế mở…).
Bên cạnh hai loại hình KCN và KCX còn có mô hình KCNC. Ở một số
nước khái niệm Khu công nghiệp nói chung chỉ bao gồm KCN và KCX, một
số nước khác khái niệm Khu công nghiệp nói chung được hiểu bao gồm
KCN, KCX và KCNC. Ở Việt Nam khái niệm Khu công nghiệp nói chung
bao gồm cả KCNC. Có nước còn gọi KCNC là “thành phố khoa học”, “công
viên khoa học”. KCNC thường được xây dựng trên cơ sở hạt nhân là các
viện nghiên cứu khoa học, trường đại học lớn, các cơ sở sản xuất ứng dụng
các kĩ thuật cao… Mục tiêu nhằm phát triển công nghiệp kĩ thuật cao, thu
hút công nghệ cao của nước ngoài, nâng cao năng lực nội sinh của các ngành
công nghệ cao ở trong nước. KCNC yêu cầu cần phải có một hệ thống kết
cấu hạ tầng tương đối hiện đại với những tiêu chuẩn hết sức khắt khe (không
bị mất điện, mật độ xây dựng thấp thường dưới 25%, liên hệ chặt chẽ với
các trường Đại học và các cơ sở nghiên cứu…).
Tóm lại, KCN nói chung có thể hiểu theo nhiểu cách khác nhau tuỳ
theo mục đích phát triển KCN của các nước trên thế giới. Tuy vậy, trong đề
tài này, tác giả chỉ nghiên cứu về KCN trong giới hạn phạm vi lãnh thổ Việt
Nam. Những số liệu dẫn chứng thực trạng phát triển của KCN và các văn
bản pháp quy có liên quan đến KCN đều dựa trên cơ sở các khái niệm hiện
hành về KCN được nêu ra trong Quy chế KCN, KCX và KCNC. Do đó tác
giả thống nhất sử dụng các khái niệm về KCN nói chung trong quy chế này.
2/ Những đặc điểm của KCN liên quan đến vai trò của Nhà nước
KCN xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng cuối thế kỉ 19, xuất phát từ
nước Anh. Sau đó lần lượt xuất hiện ở các nước Tây Âu như Italia, Pháp,
Thuỵ Điển, Hà Lan và các nước Bắc Mĩ như Hoa Kì, Canada. Sau chiến

9
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
tranh thế giới lần thứ hai, KCN được xây dựng rộng khắp ở các nước đang
phát triển trên thế giới. Với khoảng thời gian tồn tại hơn 1 thế kỉ, ngày nay
KCN không phải là một mô hình mới mẻ mà trở nên phổ biến trên thế giới.
Đối với Việt Nam, với khoảng thời gian 15 năm hình thành và phát triển
(KCN đầu tiên ra đời tại Việt Nam là KCX Tân Thuận, Tp.Hồ Chí Minh vào
năm 1991). Khoảng thời gian đó là không dài nếu so với sự tồn tại của KCN
trên thế giới. Việc phát triển các KCN muốn đạt được thành công, trước tiên
cần phải có cái nhìn tổng quan về KCN, phát hiện được các đặc trưng của nó
qua đó có những biện pháp thích hợp tác động vào nó để đem đến những
thành quả mong muốn.
Xuất phát từ các khái niệm của Nghị định 36/CP và các khái niệm khác
về KCN, đồng thời qua thực tiễn phát triển của các KCN, tác giả cho rằng,
để xem xét vai trò của Nhà nước đối với việc phát triển của các KCN cần
phải lưu ý các đặc trưng sau:
Thứ nhất: KCN thực chất là một khu vực tập trung các doanh nghiệp
sản xuất trong một phạm vi nhất định, các doanh nghiệp trong KCN về cơ
bản vẫn phải chịu sự điều chỉnh của hệ thống Luật pháp Việt Nam (Luật đầu
tư nước ngoài, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Pháp luật về thuế…).
Về cơ bản, KCN là một bộ phận cấu thành nền kinh tế đất nước, có mối
quan hệ với các bộ phận khác và phải chịu sự quản lí của Nhà nước về kinh
tế.
Thứ hai: KCN thường được xây dựng ở những vị trí tương đối thuận lợi
(gần đường giao thông lớn, bến cảng, sân bay, trung tâm kinh tế…). Yêu cầu
đặt ra là cần phải có công tác quy hoạch tổng thể nhằm xác định các vị trí
xây dựng các KCN sao cho nó có thể phát huy được hiệu quả cao.
Thứ ba: Các doanh nghiệp trong KCN được hưởng một số quy chế
riêng của Nhà nước và địa phương sở tại, các quy chế này thể hiện sự quan
10

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
tâm, ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho các xí nghiệp này phát triển. Việc
ban hành các chính sách thuộc về vai trò của Nhà nước. Điều này đòi hỏi
Nhà nước vẫn phải có những chính sách thích hợp nhằm phát huy ưu thế của
các KCN.
Thứ tư: KCN được xây dựng với một kết cấu hạ tầng tương đối hiện đại
nhằm phát huy khả năng liên kết giữa các xí nghiệp trong KCN với nhau,
đồng thời giúp giảm chi phí sản xuất do sử dụng chung kết cấu hạ tầng. Việc
xây dựng kết cấu hạ tầng là tương đối tốn kém, thời gian thu hồi vốn lại khá
lâu, do đó cần phải có sự tham gia của Nhà nước đối với việc xây dựng cơ
sở hạ tầng có thể trực tiếp hoặc gián tiếp qua các thành phần kinh tế khác.
Thứ năm: KCN có Ban quản lí chung thống nhất, thực hiện quy chế
quản lí thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi và hiệu suất tối đa cho các xí
nghiệp công nghiệp và các doanh nghiệp khác phát triển.
Thứ sáu: Trong KCN, Nhà nước chỉ quy định những ngành và doanh
nghiệp loại nào được khuyến khích phát triển và loại nào không được đặt
trong KCN do yêu cầu bảo vệ môi trường và quốc phòng an ninh. Do đó cần
phải có công tác kiểm tra, thanh tra đối với các KCN.
3/ Tác động của KCN đối với nền kinh tế đất nước
3.1/ Tác động tích cực
3.1.1/ Tác động mạnh đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Ở Việt Nam, trong tiến trình CNH-HĐH, lí luận và thực tiễn cho thấy
nhân tố hàng đầu nếu không nói là quan trọng nhất đối với CNH-HĐH đất
nước đó là phải có vốn lớn. Tuy nhiên, sự khan hiếm nguồn vốn đang là vấn
đề mà Việt Nam cũng như các nước đang phát triển mắc phải. Do đó muốn
cho CNH-HĐH diễn ra với tốc độ nhanh, cần phải có biện pháp thu hút được
nguồn vốn nhiều nhất. Với tính chất là khu vực kinh tế đặc biệt, hoạt động
theo một quy chế riêng trong một môi trường đầu tư chung của cả nước,
11
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG

KCN là một công cụ hữu hiệu để thu hút đầu tư. Đó là do khi đầu tư vào
KCN, các nhà đầu tư có khả năng giảm chi phí sản xuất, tại đây các doanh
nghiệp sẽ được hưởng những ưu đãi đặc biệt về thuế và các loại phí, thuận
lợi trong các thủ tục hành chính… Đầu tư vào KCN sẽ giúp cho các nhà đầu
tư tận dụng tối đa các cơ hội đầu tư do không cần phải giải toả và xây dựng
cơ sở hạ tầng như ngoài KCN, điều này giúp cho các nhà đầu tư rút ngắn
được thời gian đọng vốn, nhanh chóng đưa dây chuyền sản xuất vào hoạt
động để chiếm lĩnh thị trường.
3.1.2/ Tác động của KCN đối với việc giải quyết việc làm, tạo thu nhập
cho người lao động
Các KCN được hình thành và phát triển sẽ thu hút được một lực lực khá
lớn vào làm việc trong các KCN này. Lao động được thu hút vào các doanh
nghiệp KCN bao gồm lao động ở địa phương và lao động từ nơi khác đến.
Không những tạo việc làm trực tiếp cho người lao động trong các KCN, việc
hình thành và phát triển các KCN còn tạo công ăn việc làm cho người lao
động ở ngoài KCN với các hoạt động dịch vụ phục vụ cho công nhân trong
các KCN. Khi các KCN được hình thành, một bộ phận nông dân sẽ được
vào làm trong các khu công nghiệp, với mức lương ổn định và thu nhập của
công nhân thường cao hơn so với thu nhập của người nông dân. Với mức thu
nhập cao như vậy, các hoạt động dịch vụ có cơ hội phát triển hơn qua đó tạo
được một số lượng lớn việc làm cho người dân ở địa phương, đây là số lao
động gián tiếp mà các KCN tạo ra, và thực tế cho thấy số lao động gián tiếp
này còn nhiều hơn so với số lao động trực tiếp mà các KCN thu hút vào
KCN
Khi các KCN được hình thành nó còn có tác dụng kích thích sự hình
thành và phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ ở địa phương và từ đó
lại tạo thêm nhiều chỗ làm mới.
12
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
3.1.3/ Tác động của KCN đối với việc nâng cao trình độ công nghệ của

đất nước
Ngày nay, công nghệ có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát
triển kinh tế đất nước. Đối với Việt Nam, trong tiến trình CNH-HĐH, việc
phát triển khoa học-công nghệ có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Tuy
nhiên, hiện nay trình độ công nghệ của nước ta còn rất thấp so với thế giới.
Chúng ta lạc hậu từ 3-4 thế hệ (hay từ 50-100 năm về thời gian) so với các
nước công nghiệp trên thế giới. So với các nước trong khu vực ASEAN thiết
bị của Việt Nam cũng lạc hậu khoảng 20-30 năm. Với hiện trạng như vậy thì
quá trình CNH-HĐH của nước ta là rất khó thực hiện.
Chúng ta biết rằng có hai con đường cơ bản để có công nghệ là tự
nghiên cứu phát minh, chế tạo ra công nghệ và chuyển giao công nghệ từ
nước ngoài. Để tận dụng lợi thế của nước đi sau cần thực hiện việc chuyển
giao công nghệ tiên tiến hơn từ nước ngoài vào Việt Nam. Qua việc phát
triển các KCN, cùng với dòng vốn của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
vào các dự án sản xuất kinh doanh trong KCN, các nhà đầu tư nước ngoài
còn đưa vào Việt Nam những dây chuyền sản xuất với công nghệ tiên tiến,
hiện đại. Động lực khiến cho các chủ đầu tư nước ngoài đem công nghệ tiên
tiến vào nước ta, là do khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong các
KCN cũng như bất kì một nơi nào khác, điều mà chủ đầu tư rất quan tâm đó
là sản phẩm họ làm ra có chiếm lĩnh được thị trường trong nước cũng như
thị trường thế giới hay không. Muốn vậy, một trong những yếu tố rất quan
trọng tạo nên sức cạnh tranh cho các sản phẩm đó là yếu tố công nghệ, đây
là các yếu tố mà các nước phát triển rất sẵn có.
Công nghệ theo cách hiểu hiện nay, không chỉ là các trang thiết bị máy
móc, khí cụ, nhà xưởng (phần cứng). Công nghệ còn là các “phần mềm” bao
gồm: kĩ năng tay nghề, kinh nghiệm của người lao động, trình độ quản lí của
13
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
cán bộ… Lao động của Việt Nam khi làm việc trong các KCN, với những
dây chuyền công nghệ tiên tiến, đòi hỏi cần phải có đủ trình độ để điều hành

nó. Do đó bên cạnh sự chuyển giao về công nghệ là hoạt động đào tạo nâng
cao tay nghề trong các KCN. Người lao động Việt Nam khi được làm việc
trong môi trường của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài còn được học
hỏi tác phong làm việc, kinh nghiệm quản lí tiên tiến của các chuyên gia, các
nhà quản lí từ nước ngoài.
3.1.4/ Tác động lan toả của KCN đối nền kinh tế trong nước, làm cầu
nối hội nhập kinh tế trong nước với kinh tế thế giới
Các KCN khi được hình thành và phát triển sẽ tạo ra năng lực sản xuất
mới, bên cạnh đó nó còn tạo ra được mối liên kết với các doanh nghiệp trong
nước thông việc cung cấp các sản phẩm đồng thời kí kết các hợp đồng cung
cấp nguyên vật liệu, hợp đồng gia công với các cơ sở sản xuất bên ngoài
KCN, đây là thực tiễn diễn ra ở các nhiều KCN trên thế giới. Ngoài ra nó
còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của một số ngành
dịch vụ như: ngân hàng-tài chính, dịch vụ thuê nhà, đào tạo và cung cấp
nguồn lao động cho các KCN…
Sự phát triển của các KCN sẽ giúp cho cánh cửa kết nối giữa nền kinh
tế trong nước và nền kinh tế thế giới được mở rộng hơn. Hàng hoá sản xuất
trong các KCN không những đủ sức cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu từ
bên ngoài mà có thể xuất khẩu ra các nước khác. Sự hội nhập kinh tế không
dừng lại ở việc trao đổi hàng hoá, các KCN còn là nơi “ươm mầm” cho các
chính sách mới ra đời, các chính sách này nhằm tạo điều kiện thông thoáng
hơn cho các nhà đầu tư, thu hẹp khoảng cách giữa nền kinh tế trong nước và
nền kinh tế của các nước trong khu vực và trên thế giới.
14
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
3.2/ Một số tác động tiêu cực của KCN
- Các KCN khi được xây dựng lên, việc lấy đi đất nông nghiệp sẽ khiến
cho một số bộ phận nông dân không có đất canh tác, do đó việc giải quyết
việc làm cho người dân khi bị lấy đất là một vấn đề cần phải giải quyết.
- Việc tập trung lao động quá cao ở một số khu vực phát triển KCN yêu

cầu Nhà nước cần phải đảm bảo các yếu tố cần thiết cho đời sống của những
người lao động: giao thông, điện nước, nhà ở, trường học…Đây là những
khoản chi phí khá lớn mà Nhà nước cần phải thực hiện.
- Phát triển các KCN, về lí thuyết sẽ tạo điều kiện cho việc bảo vệ môi
trường tốt hơn do tập trung các doanh nghiệp sản xuất trên một địa bàn hẹp,
việc kiểm soát môi trường sẽ được thực hiện dễ dàng và tốn kém ít chi phí
hơn. Tuy nhiên, đấy là trong trường hợp công tác quản lí của Nhà nước được
thực hiện tốt cũng như khả năng xử lí chất thải trong các KCN được bảo
đảm. Trong trường hợp ngược lại, do nhiều doanh nghiệp tư nhân trong
nước và nước ngoài, vì mục tiêu lợi nhuận, lợi dụng sự chưa đồng bộ hoặc
chưa đầy đủ của pháp luật đã không chú ý đến vấn đề xử lí chất thải gây ô
nhiễm môi trường. Một khi vấn đề chất thải không được chú ý trong các
KCN, hậu quả gây ra là rất nghiêm trọng do có nhiều xí nghiệp cùng hoạt
động trong một phạm vi hẹp, lượng chất thải tập trung lớn khiến cho ảnh
hưởng của nó càng lớn.
Như vậy, bên cạnh những mặt tích cực mà KCN tạo ra, việc phát triển
các KCN còn gây ra nhiều tác động tiêu cực, gây ra nhiều vấn đề xã hội và
môi trường bức xúc cấn phải giải quyết. Do đó, yêu cầu đặt ra là cần phải có
sự quản lí của Nhà nước trong việc phát triển các KCN nhằm phát huy
những mặt tích cực đồng thời hạn chế những mặt tiêu cực mà các KCN gây
ra. Những tác động tích cực mà các KCN đem lại sẽ tạo động lực để Nhà
nước tăng cường vai trò của mình. Những hậu quả tiêu cực đòi hỏi Nhà nước
15
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
cần phải có những biện pháp thích hợp, giải quyết bài toán pháp triển các
KCN một cách hợp lí, đảm bảo sự hài hoà trong quá trình phát triển nền kinh
tế đất nước.
II/ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN CÁC
KHU CÔNG NGHIỆP
1/ Cơ sở xác định vai trò của Nhà nước trong việc phát triển các KCN

1.1/ Cơ sở lí luận
Xuất phát từ vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Đó là
đảm bảo hiệu quả hoạt động của thị trường, đảm bảo công bằng xã hội và ổn
định kinh tế vĩ mô. Từ đó ta có thể thấy, trong hoạt động phát triển kinh tế
nói chung và sự phát triển của các KCN nói riêng, Nhà nước cần phải có sự
quản lí đối với hoạt động phát triển của các KCN.
Mục tiêu của các doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận, tức lợi ích tài
chính. Trong khi đó mục tiêu mà Nhà nước theo đuổi trong các hoạt động
phát triển kinh tế đó là lợi ích kinh tế. Do đó Nhà nước cần sử dụng quyền
lực và sức mạnh của mình để điều tiết và khống chế các hành vi không có lợi
cho nền kinh tế và cho cộng đồng. Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện
vai trò của mình đối với sự phát triển của các KCN, Nhà nước cần phải tạo
môi trường đầu tư hấp dẫn để huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực, phát huy các điểm mạnh, lợi thế của nền kinh tế quốc dân, góp phần
giúp cho các doanh nghiệp KCN sử dụng nguồn lực một cách tiết kiệm và
tạo ra được lợi ích chính đáng cho các doanh nghiệp đó, đồng thời bảo vệ
được môi trường sinh thái, chủ dộng phối hợp giữa các mục đích riêng của
từng KCN nhằm đạt tới mục tiêu chung của nền kinh tế.
1.2/ Cơ sở pháp lí
Cơ sở pháp lí để xác định vai trò của Nhà nước trong việc phát triển các
KCN hiện nay dựa trên một số văn bản hiện hành, đặc biệt được quy định
16
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
trong Quy chế KCN, KCX, KCNC được ban hành kèm theo Nghị định 36-
CP của Chính phủ ban hành ngày 24/4/1997.
Nội dung quản lí Nhà nước đối với KCN được quy định tại Điều 21,
Chương VI bao gồm:
- Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển
KCN.
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động của KCN.

- Quy định và hướng dẫn việc hình thành, xây dựng, phát triển và quản
lí hoạt động của KCN.
- Cấp, điều chỉnh, thu hồi các loại giấy phép và thực hiện các thủ tục
hành chính Nhà nước có liên quan.
- Tổ chức bộ máy, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ.
- Kiểm tra, thanh tra, giám sát các hoạt động của KCN và giải quyết
các vấn đề phát sinh.
2/ Vai trò của Nhà nước trong việc phát triển các KCN
Trên cơ sở các vấn đề lí luận đã được phân tích ở phần trên, cùng với
một số văn bản pháp lí quy định hoạt động của Nhà nước đối với việc phát
triển các KCN. Theo ý kiến của tác giả, đối với hoạt động phát triển KCN,
Nhà nước đóng góp các vai trò chủ yếu sau đây:
2.1/ Định hướng phát triển KCN thông qua việc xây dựng chiến lược,
quy hoạch phát triển KCN
Trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia; chiến lược
phát triển vùng, lãnh thổ; chiến lược phát triển công nghiệp, Nhà nước xây
dựng chiến lược phát triển KCN.
Từ chiến lược phát triển KCN, Nhà nước cần phải quy hoạch phát triển
các KCN nhằm thực hiện các chiến lược đã định. Công tác quy hoạch tổng
thể các KCN giữ một vai trò rất quan trọng. Quy hoạch các KCN có tác
17
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
dụng hạn chế sự chồng chéo, triệt tiêu lẫn nhau trong hoạt động đầu tư, xây
dựng, phát triển các KCN; đảm bảo phương hướng phát triển và cơ cấu kinh
tế theo đúng đường lối của Đảng; tạo nên sự bổ sung, tác động tích cực giữa
các KCN; đảm bảo sự hài hoà, đồng bộ giữa các công trình kết cấu hạ tầng
bên trong và ngoài hàng rào KCN; bảo vệ môi trường…
Việc xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống KCN ở nước ta
hiện nay do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, cùng với sự phối hợp với các bộ,
ngành khác như Bộ Công nghiệp, Bộ Xây dựng và sự tham gia của của Uỷ

ban nhân dân cấp tỉnh. Việc phát triển KCN phải theo đúng quy hoạch tổng
thể KCN đã được phê duyệt. Trường hợp chưa có trong quy hoạch thì phải
xin chủ trương hình thành trước khi lập báo cáo nghiên cứu khả thi.
Đối với quy hoạch ngành nghề trong KCN được thực hiện do sự phối
hợp giữa Bộ Công nghiệp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Ngành nghề công
nghiệp và công nghệ ưu tiên đầu tư vào KCNC do Bộ khoa học và Công
nghệ quy định.
UBND cấp tỉnh có nhiệm vụ lập quy hoạch chi tiết KCN trình Bộ Xây
dựng phê duyệt trừ trường hợp Thủ tướng Chính phủ có quyết định khácvà
thực hiện việc phát triển KCN theo quy hoạch tổng thể do Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt.
2.2/ Ban hành và thực hiện các chính sách ưu đãi về kinh tế
Các cơ chế và chính sách ưu đãi được Nhà nước ban hành sẽ tạo môi
trường kinh doanh thuận lợi đối với hoạt động của các chủ đầu tư vào KCN.
Trong việc thu hút đầu tư vào KCN hiện nay, cần phải phân biệt hai hình
thức đầu tư: đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN và đầu tư vào hoạt động sản
xuất kinh doanh trong KCN. Đối với việc phát triển các KCN, mục tiêu Nhà
nước đặt ra không phải là các KCN được thành lập càng nhiều càng tốt, mà
quan trọng là các KCN đó hoạt động có hiệu quả hay không, tức có thu hút
18
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
được nhiều doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong các
KCN. Do đó, các chính sách ưu đãi mà Nhà nước ban hành cần tập trung
vào đối tượng là các chủ đầu tư hoạt động sản xuất kinh doanh trong các
doanh nghiệp.
Hiện nay, ở Việt Nam ngoài các chính sách ưu đãi chung mà TW ban
hành. Nhằm khuyến khích đầu tư vào KCN trên địa bàn, các địa phương
cũng ban hành các chính sách ưu đãi đầu tư riêng. Những chính sách này
chủ yếu được ban hành ở các địa phương có điều kiện kinh tế-xã hội khó
khăn nhằm thu hút đầu tư trên địa bàn của mình.

Để đảm bảo cho Nhà nước thực hiện tốt vai trò này, yêu cầu đặt ra đó là
trong quá trình soạn lập chính sách cần phải có sự thống nhất, đồng bộ giữa
các chính sách, việc xây dựng các chính sách cần phải xuất phát từ lợi ích
của nước chủ nhà và lợi ích lâu dài của các chủ đầu tư, các biện pháp ưu đãi
cần phải thể hiện tính cạnh tranh cao đối với các khu vực bên ngoài khu vực
KCN. Trong quá trình thực hiện, cần phải có sự thống nhất từ TW đến địa
phương, đảm bảo sự chấp hành nghiêm túc của các chủ thể có liên quan.
2.3/ Thực hiện đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng KCN
Khi lựa chọn địa điểm đầu tư thực hiện dự án, điều mà các nhà đầu tư
rất quan tâm đó là cơ sở hạ tầng kĩ thuật và xã hội của khu vực vì nó có liên
quan đến các hoạt động sản xuất kinh doanh sau này. Việc xây dựng cơ sở
hạ tầng KCN đòi hỏi một nguồn vốn đầu tư rất lớn trong khi khả năng thu
hồi vốn lại cần nhiều thời gian. Do đó, yêu cầu đặt ra là cần phải có sự đóng
góp của nhiều thành phần kinh tế khác nhau.
Công trình hạ tầng kĩ thuật bao gồm các công trình bên trong và bên
ngoài hàng rào KCN. Đối với các nước phát triển, việc xây dựng cơ sở hạ
tầng bên trong hàng rào KCN chủ yếu do Nhà nước thực hiện. Tuy nhiên với
Việt Nam, là một nước đang phát triển, nguồn vốn ngân sách còn hạn chế do
19
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
đó Nhà nước thường huy động vốn từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước
nhằm giảm bớt gánh nặng ngân sách Nhà nước.
Đối với công trình hạ tầng bên ngoài hàng rào KCN, đây là những công
trình đòi hỏi vốn đầu tư lớn, phụ thuộc vào quy hoạch phát triển vùng, lãnh
thổ. Việc xây dựng các công trình này thường không được sự quan tâm của
các doanh nghiệp kinh doanh cơ sở hạ tầng. Các chủ đầu tư khi xây dựng
các KCN thường lựa chọn ở những vị trí đã có cơ sở hạ tầng bên ngoài hàng
rào KCN khá phát triển (gần đường giao thông, bến cảng, sân bay…). Do đó
công việc này chủ yếu do Nhà nước thực hiện.
Phát triển KCN có tác động lan toả rất lớn, xung quanh các KCN

thường tập trung một lượng dân cư đông, trong đó có cả dân di cư từ nơi
khác đến. Do đó, yêu cầu đặt ra là cần phải có một hệ thống cơ sở hạ tầng xã
hội đi kèm (trường học, bệnh viện, các chợ, trung tâm thương mại, khu vui
chơi giải trí…) nhằm phát huy tác dụng lan toả của các KCN đồng thời phát
huy tốt hơn lợi ích mà các KCN này tạo ra. Cũng như các công trình hạ tầng
ngoài hàng rào KCN khác, việc phát triển cơ sở hạ tầng xã hội thường do
Nhà nước thực hiện.
2.4/ Xúc tiến, vận động đầu tư
Việc xúc tiến, vận động đầu tư có ý nghĩa hết sức quan trọng. Công tác
vận động xúc tiến đầu tư được thực hiện nhằm giới thiệu cho các nhà đầu tư
trong và ngoài nước để cho họ có thể hiểu và nắm rõ môi trường đầu tư, các
chính sách ưu đãi mà Nhà nước ban hành, các thủ tục đầu vào mà các nhà
đầu tư cần thực hiện khi tiến hành đầu tư vào nước ta… Việc vận động xúc
tiến đầu tư thể hiện sự thiện chí của nước sở tại, mong muốn tìm kiếm đối
tác đầu tư. Điều này khiến cho các nhà đâu tư có cảm giác an tâm, đồng thời
giảm bớt thời gian đi lại của các nhà đầu tư để tiến hành tìm hiểu điều kiện
đầu tư của nước sở tại.
20
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
Trong việc vận động xúc tiến đầu tư, để đạt được hiệu quả cao, cần phải
có chiến lược xúc tiến đầu tư ngay từ đầu, trong đó đề ra các bước đi cụ thể,
việc lựa chọn các đối tác đầu tư cũng cần phải được chú trọng nhằm đem lại
lợi ích kinh tế lâu dài cho đất nước. Đặc biệt, cần chú trọng đối với việc vận
động xúc tiến đầu tư với các đối tác nước ngoài. Do sự xa cách về địa lí, nhu
cầu tìm hiểu thông tin của các đối tác này là rất cần thiết. Vận động, xúc tiến
đầu tư đối với các chủ đầu tư nước ngoài cần phải có sự vận động trọng tâm,
chú ý đến các đối tác ở các nước phát triển, có trình độ khoa học công nghệ
tiên tiến, hiện đại để góp phần nâng cao lợi ích mà KCN đem lại cho tiến
trình CNH-HĐH đất nước.
2.5/ Thực hiện các cơ chế, chính sách quản lí thích hợp

Để cho các KCN được hoạt động một cách thuận lợi và đạt được hiệu
quả cao nhất, Nhà nước cần phải thực hiện các cơ chế và chính sách như:
thực hiện các thủ tục hành chính, cơ chế quản lí đất đai Các nhà đầu tư
mong muốn được hoạt động trong môi trường kinh doanh mà ở đó việc giải
quyết các thủ tục hành chính được giải quyết một cách nhanh chóng, đơn
giản, thuận lợi. Điều này sẽ giúp cho các nhà đầu tư tiết kiệm được thời gian
cũng như tiền bạc trong hoạt động đầu tư của mình. Trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, yếu tố thời gian là rất quan trọng. Với những thủ tục hành
chính rườm rà, phức tạp, việc thực hiện các thủ tục hành chính của các cán
bộ quan lieu, gây phiền nhiễu cho các nhà đầu tư sẽ khiến cho các nhà đầu tư
nản lòng vì họ mất đi cơ hội trong kinh doanh. Ngoài ra, đối với các doanh
nghiệp hoạt động trong các KCN, yêu cầu cần phải có một cơ chế quản lí
đặc biệt, khác với cơ chế quản lí thông thường, có thể thành lập một bộ máy
quản lí riêng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp KCN, đây là
một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư vào các KCN.
Bộ máy quản lí KCN này cần đơn giản, gọn nhẹ nhưng vẫn có thể đáp ứng
21
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
được đầy đủ yêu cầu của các nhà đầu tư một cách nhanh chóng và kịp thời
đồng thời có thể giám sát hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN một
cách có hiệu quả.
Trong việc thực hiện vai trò này, Nhà nước cần phải xác định được một
mô hình quản lí thích hợp, trong đó sự phân công và phối hợp giữa các bộ
phận có liên quan diễn ra một cách thuận lợi, tránh sự chồng chéo giữa các
bộ phận, phân cấp rõ công việc giữa các bộ phận… Ngoài ra, yếu tố năng
lực của các cán bộ cũng hết sức quan trọng. Hiện nay, ở Việt Nam có một
thực trạng đó là sự không rõ ràng, thiếu rành mạch về từ ngữ và nội dung
trong các văn bản pháp lí khiến cho có thể có nhiều cách hiểu khác nhau.
Các cán bộ làm thủ tục hành chính có thể làm lãng phí tiền bạc và thời gian
của các nhà đầu tư bằng cách buộc họ phải chờ các văn bản hướng dẫn thi

hành. Nếu có sự sáng tạo và nhanh nhạy, các cán bộ có thể giải quyết nhanh
các thủ tục mà không trái với các quy định hiện hành tránh mất thời gian cho
các nhà đầu tư.
Các cơ chế quản lí được đưa ra cũng cần phải đảm bảo được tính hiệu
quả của nó. Áp dụng các cơ chế này phải đảm bảo sự công bằng đồng thời
đạt được những mục tiêu đề ra.
2.6/ Kiểm tra, giám sát hoạt động của các KCN
Công tác kiểm tra giám sát hoạt động của các doanh nghiệp cần phải
được thực hiện nhằm phát hiện các vấn đề ách tắc nảy sinh trong quá trình
phát triển của các doanh nghiệp, kiểm soát và xử lí các vi phạm của doanh
nghiệp trong việc thực hiện các quy định pháp luật của Nhà nước về nghĩa
vụ nộp thuế, bảo vệ môi trường, kiểm tra hoạt động phát triển KCN ở các
địa phương…
22
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
Công tác kiểm tra giám sát phải đảm bảo yêu cầu tránh gây phiền nhiễu
cho các doanh nghiệp KCN đồng thời cần phải nhanh chóng phát hiện các
vấn đề nảy sinh nhằm có những biện pháp khắc phục hợp lí.
III/ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
Phát triển KCN hiện đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng do
thấy được những mặt tích cực mô hình này. Tuy nhiên, kết quả mà các nước
thu được không hoàn toàn giống nhau. Ở một số nước, việc phát triển KCN
đã đem lại những kết quả thành công rực rỡ, một số nước khác lại gặp khó
khăn thậm chí thất bại trong việc phát triển KCN. Qua việc tìm hiểu, nghiên
cứu thành công và thất bại của các nước, có thể thu được những bài học quý
báu để phát triển các KCN ở Việt Nam.
3.1/ Kinh nghiệm của Đài Loan
Đài Loan là một trong những nước đi tiên phong và có thành công đáng
kể trong việc phát triển các KCN. Đài Loan là một trong những nước đầu
tiên trên thế giới sáng lập ra Khu gia công chế biến hàng xuất khẩu, gọi tắt là

KCX. Kể từ khi KCX đầu tiên ra đời ở thành phố Cao Hùng vào ngày
3/12/1966 đến nay ở Đài Loan đã có 95 KCN với tổng diện tích hơn 13000
ha đã được hoàn thành và 19 KCN với tổng diện tích hơn 19000 ha đang
trong quá trình xây dựng. Các KCX ở Đài Loan đã góp phần quan trọng
trong việc tạo ra kì tích kinh tế trên hòn đảo này. Đó là việc thu hút vốn đầu
tư cho phát triển kinh tế, nhất là các ngành công nghiệp xuất khẩu hàng tiêu
dùng ra thị trường thế giới, làm thay đổi cán cân ngoại thương theo hướng
xuất siêu, thu hút công nghệ tiên tiến, giải quyết công ăn việc làm cho người
lao động. Với 95 KCN đã được hoàn thành, đến nay đã thu hút khoảng hơn
9000 nhà máy vào hoạt động với trên 30 vạn lao động trực tiếp vào làm việc
cho các nhà máy, điều này tạo động lực rất lớn cho việc phát triển kinh tế ở
Đài Loan. Khi nhắc đến thành công của Đài Loan trong việc phát triển các
23
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
KCN phải kể đến thành công của các KCX Cao Hùng (3/12/1966), KCX
Nam Tử (1/1969), KCX Đài Chung (8/1969). Chỉ riêng 3 KCN này, sau 27
năm hoạt động đã tạo ra khoảng 20 tỷ USD lợi nhuận và tạo việc làm cho
trên 100.000 lao động trực tiếp.
Thành công của Đài Loan trong việc phát triển các KCN có công rất lớn
của Chính phủ:
- Đối với công tác quy hoạch: Chính phủ Đài Loan rất coi trọng công
tác quy hoạch phát triển KCN, việc phát triển các KCN được chính phủ căn
cứ vào điều kiện, tình hình kinh tế xã hội ở các địa phương, căn cứ vào các
nguồn lực ở các địa phương để có hướng phát triển các KCN một cách hợp
lí. Một trong những cách làm rất hay của Đài Loan đó là Chính phủ cho xây
dựng ở những vùng đất cằn cỗi hoặc lấn biển với một hệ thống cơ sở hạ tầng
tương đối hoàn chỉnh, điều này giúp hạn chế sử dụng đất nông nghiệp vào
việc xây dựng KCN, hạn chế việc thu hồi đất của nông dân.
- Sự thành công của các KCN Đài Loan trong việc thu hút đầu tư vào
KCN còn do chính phủ Đài Loan ban hành nhiều chính sách ưu đãi đối với

các doanh nghiệp hoạt động trong KCN. Một số biện pháp cụ thể mà Đài
Loan đã áp dụng như: cho các nhà đầu tư trong nước vay vốn dài hạn với lãi
suất ưu đãi khoảng 6,2%/năm; miễn giảm thuế đối với những ngành nghề
được chính phủ khuyến khích phát triển; miễn thuế lợi tức 5 năm cho tất cả
các doanh nghiệp đầu tư mới; đối với các công ty mới lập nghiệp được miễn
thuế lợi tức cho 80% sản lượng trong một năm (sau khi đã hết thời hạn miễn
thuế 5 năm); trong 5 năm kể từ khi có lãi các doanh nghiệp xuất khẩu trên
50% sản phẩm đầu ra và trong sản phẩm sản xuất sử dụng trên 50% nguyên
liệu của Đài Loan sẽ được miễn hoặc giảm thuế lợi tức. Ngoài ra để thu hút
di chuyển các doanh nghiệp bên ngoài vào KCN, chính phủ Đài Loan dành
ra một khoản vay ưu đãi đối với các hoạt động này đồng thời khi các doanh
24
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
nghiệp này đi vào hoạt động được giảm 20% thuế lợi tức phải nộp trong một
số năm.
- Đối với việc phát triển cơ sở hạ tầng KCN, ngoài việc bỏ vốn để xây
dựng hạ tầng ở những khu vực có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, Chính
phủ Đài Loan còn huy động sự đóng góp của các thành phần kinh tế khác
trong ở những nơi có điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi. Trong số 95 KCN đã
đi vào hoạt động, có 58 khu do chính quyền trực tiếp đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng kỹ thuật, còn lại do các tư nhân và các tổ chức đoàn thể đầu tư xây
dựng.
Đối với các cơ sở hạ tầng bên ngoài KCN, Đài Loan cũng có nhiều biện
pháp để tăng cường vai trò của khu vực kinh tế tư nhân. Các công trình
thuộc thành phần kinh tế công cộng và hợp doanh như đường quốc lộ, truyền
thông, dịch vụ bưu chính… đã được tư nhân hoá nhằm hạ thấp cước phí của
các dịch vụ có liên quan, tăng sức cạnh tranh của môi trường đầu tư.
- Ngoài ra, cơ quan phát triển công nghiệp Đài Loan được thiết lập để
xúc tiến đầu tư nước ngoài vào KCN và đóng vai trò là Trung tâm hợp tác
đầu tư trong nước. Chính phủ Đài Loan và các lãnh đạo của các KCN cũng

thường xuyên có các đợt công tác ra nước ngoài để vận động các đối tác đầu
tư nước ngoài cùng với nhiều biện pháp khác như gửi thư trực tiếp, sử dụng
công nghệ thông tin trong tiếp thị…
- Khi thực hiện đầu tư vào các KCN, cơ quan quản lí KCN ở Đài Loan
thực hiện việc quản lí KCN theo cơ chế “một cửa” từ việc xét duyệt đầu tư,
cho thuê mặt bằng đến việc cung cấp các dịch vụ.
- Việc kiểm tra, thanh tra cũng được thực hiện nhằm giám việc xây
dựng các KCN đồng thời quan tâm đến việc phát triển bền vững của KCN
qua việc kiểm tra ảnh hưởng của KCN đối với môi trường và giám sát phúc
lợi công cộng mà các doanh nghiệp này tạo ra.
25

×