Tải bản đầy đủ (.doc) (82 trang)

một số giải pháp đối với công tác giám sát ngân hàng thuơng mại cổ phần chi nhánh bhtg khu vực hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (406.15 KB, 82 trang )

Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền
LỜI NÓI ĐẦU
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
1
Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
I. SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI
1. Sự cần thiết khách quan của Bảo hiểm tiền gửi
Trong hoạt động kinh tế, tín dụng là một trong những hoạt động phát triển khá
mạnh mẽ. Mặc dù hoạt động tín dụng đem lại lợi nhuận cao nhưng những “ rủi ro
tín dụng” như rủi ro mất khả năng thanh toán, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá hối đoái…
có thể xảy ra bất cứ lúc nào, gây tổn thất cho các tổ chức tín dụng như mất mát,
thiệt hại về tài sản, thu nhập…hay nguy cơ khách hàng rút tiền hàng loạt, nguy cơ
về đạo đức xuất phát từ ngay trong những người quản lý tín dụng làm cho quỹ tín
dụng bị thua lỗ, thậm chí bị phá sản.
Rủi ro tín dụng xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân:
- Do môi trường kinh tế chưa ổn định làm cho một số doanh nghiệp không
đứng vững trên thị trường.
- Do quản lý Nhà nước còn sơ hở, tạo điều kiện cho một số cá nhân, doanh
nghiệp có hành vi lừa đảo.
- Do trình độ quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp còn hạn chế…
Cùng với những nguyên nhân trên, khách hàng cũng góp phần tạo ra những rủi
ro tín dụng. Chẳng hạn sử dụng vốn vay sai mục đích, sản xuất kinh doanh thua lỗ,
hoặc người vay cố tình không trả nợ; hoặc tài sản thế chấp, giấy tờ pháp lý của
khách hàng không đảm bảo.
Bản thân các tổ chức tín dụng cũng gây ra những rủi ro như: Không chấp hành
nghiêm túc các thể lệ tín dụng và vi phạm quá trình xét duyệt cho vay; Qúa chú
trọng về lợi nhuận, đặt tiêu chuẩn lợi nhuận lên trên các nguyên tắc, điều kịên tín
dụng; Việc xem xét cho vay không chuẩn xác như cho vay sai mục đích, chẳng hạn
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
2


Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền
để “ đánh quả” hoặc để đầu cơ tích trữ hàng hoá chờ giá tăng, cho vay không có
biện pháp đảm bảo thích hợp.
Ngoài ra còn có nguyên nhân khác tác động đến rủi ro tín dụng như có sự thay
đổi, điều chỉnh về chính trị, chính sách, chế độ, luật pháp của Nhà nước, thay đổi
địa giới hành chính của các địa phương…
Những rủi ro tín dụng xảy ra có thể để lại hậu quả khôn lường.
- Đối với nền kinh tế: Hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng có liên
quan trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, các tổ chức, các doanh nghiệp,
người gửi tiền. Nếu có rủi ro gây thiệt hại lớn hoặc làm phá sản một vài tổ chức tín
dụng sẽ tạo ra tâm lý không an tâm đối với nhân dân, họ đưa nhau rút tiền làm phá
sản hàng loạt ngân hàng và tổ chức tín dụng, làm cho nhiều doanh nghiệp mất vốn
và ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung.
- Đối với ngân hàng và các tổ chức tín dụng: Rủi ro tín dụng ảnh hưởng trực
tiếp đến hoạt động kinh doanh của họ như: Giảm lợi nhuận, thua lỗ hoặc mất khả
năng chi trả.
- Đối với khách hàng: Có thể mất vốn dẫn đến khó khăn trong sản xuất kinh
doanh…
Để đối phó với những rủi ro tổn thất không lường trước được do các rủi ro gây
ra, có rất nhiều biện pháp khác nhau nhưng biện pháp tốt nhất là bảo hiểm, nghĩa là
chuyển những rủi ro mà mình có thể gặp phải cho các tổ chức bảo hiểm.
2. Tác dụng của Bảo hiểm tiền gửi
Bảo hiểm là một phần quan trọng trong chương trình quản lý rủi ro của các tổ
chức tín dụng cũng như cá nhân. Không chỉ góp phần ổn định tài chính cho người
tham gia bảo hiểm mà nó còn tạo ra sự yên tâm cho cả khách hàng và nhà bảo
hiểm. Bảo hiểm tiền gửi cũng là một hình thức bảo hiểm nên nó cũng nét chung của
bảo hiểm. Song với tư cách là một loại hình bảo hiểm cho một lĩnh vực riêng - lĩnh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
3
Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền

vực kinh doanh tiền tệ - nên Bảo hiểm tiền gửi cũng bộc lộ những nét tác dụng rất
riêng biệt.
Trước hết, Bảo hiểm tiền gửi góp phần ổn định tài chính cho người gửi tiền
trước tổn thất do rủi ro gây ra. Rủi ro xảy ra với ngân hàng chủ yếu gây ra tình
trạng mất khả năng thanh toán, phá sản. Khi gửi tiền vào ngân hàng, các cá nhân
không chỉ hy vọng vào khoản tiền thu được trong tương lai mà còn nhằm mục đích
dự trữ tài chính cho các dự định trong tương lai. Khi ngân hàng mất khả năng thanh
toán đồng nghĩa với việc mất tiền gửi và khi đó cuộc sống của hộ sẽ khó khăn. Bảo
hiểm tiền gửi sẽ trợ cấp, bồi thường cho người gửi tiền và ổn định hoạt động cho
các tổ chức tín dụng.
Thứ hai, Bảo hiểm tiền gửi góp phần bảo đảm hoạt động một cách trôi chảy cho
các tổ chức tín dụng. Do các nguyên nhân chủ quan và khách quan rủi ro tín dụng
ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng và các tổ chức tín
dụng như làm giảm lợi nhuận, thua lỗ, mất khả năng chi trả cho người gửi tiền.
Tham gia Bảo hiểm tiền gửi, ngân hàng và các tổ chức tín dụng sẽ có sự hỗ trợ để
bảo đảm khả năng thanh toán và do vậy sẽ tạo ra sự yên tâm cho khách hàng và từ
đó tạo động lực thúc đẩy hoạt động kinh doanh của tổ chức này.
Thứ ba, Bảo hiểm tiền gửi còn góp phần tạo ra sự ổn định về kinh tế và xã hội;
phát triển nền kinh tế. Ngân hàng và tổ chức tín dụng được coi là một trung gian tài
chính, một kênh cung cấp vốn cho các hoạt động của nền kinh tế. Vì vậy, sự đổ vỡ
của các ngân hàng sẽ gây ra tình trạng mất ổn định về kinh tế, là nhân tố dẫn đến
cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong nước cũng như khu vực. Nó còn là
nguyên nhân của hàng loạt vấn đề xã hội như mất việc làm,…Thông qua việc bảo
vệ cho hệ thống tài chính và sự đảm bảo cho các cá nhân, việc ra đời của Bảo hiểm
tiền gửi là một yêu cầu khách quan, có tác dụng đặc biệt quan trọng.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
4
Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền
II. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI
VIỆT NAM

1. Qúa trình hình thành và phát triển
Sau một thời gian dài nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm bởi chế độ “ tự cung,
tự cấp”, Đảng và Nhà nước ta đã sớm nhận thấy những hạn chế của chế độ này. Để
đưa đất nước phát triển theo kịp nhịp độ phát triển của thế giới, tại đại hội đảng lần
thứ VI đã chuyển đổi nền kinh tế từ “ tự cung, tự cấp” sang nền kinh tế thị trường
có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng XHCH. Cùng với sự chuyển đổi đó,
hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng đã bắt đầu triển khai kế hoạch đổi mới. Trong
giai đoạn này ngân hàng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và niềm tin của dân
chúng đã bị giảm sút, đặc biệt là sau một loạt hợp tác xã tín dụng nông thôn và quỹ
tín dụng trên toàn quốc bị đổ vỡ dây chuyền trong thập niên 80 -90 của thế kỷ 20.
Để lấy lại niềm tin của quần chúng nhân dân, đề án thí điểm thành lập quỹ tín dụng
nhân dân theo quy định số 390/QĐ-TTg ngày 27/7/1993 của Thủ tướng Chính phủ.
Quy tắc bảo hiểm trách nhiệm của quỹ tín dụng nhân dân đối với khoản tiền gửi có
kỳ hạn được ban hành kèm theo quyết định số 101/TCQĐ-BH của Bộ tài chính
ngày 1/2/1994. Theo quy định này Bảo Việt đã triển khai nghiệp vụ bảo hiểm tiền
gửi – Đây là sự khởi đầu hoạt động của bảo hiểm tiền gửi công khai tại Việt Nam.
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam do Bảo Việt thực hiện phát triển chậm và bộc lộ
những hạn chế sau:
- Phí đóng bảo hiểm tiền gửi cho Bảo Việt chỉ có tác dụng để trả tiền gửi cho
người gửi khi quỹ tín dụng bị giải thể hoặc phá sản. Nhưng khi quỹ có nguy cơ mất
khả năng thanh toán thì lại không được hỗ trợ để hoạt động như bình thường.
Nguyên nhân là do Bảo Việt không quản lý, giám sát rủi ro thường xuyên.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
5
Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền
Bên cạnh đó, phí đóng góp lại trở thành nguồn tài chính của Bảo Việt mà không
còn là tài sản chung của hệ thống tín dụng nhân dân nữa. Theo cơ chế này thì
nguồn vốn đóng góp hàng tỉ đồng để mua bảo hiểm hàng năm đã “ không cánh mà
bay”. Chỉ khi nào tổ chức tín dụng bị xoá sổ thì người gửi tiền mới được đền bù.
- Tỷ lệ phí 0.165% số dư tiền gửi có kỳ hạn của mỗi quý là qúa cao chính vì

vậy đã khiến cho các quỹ tín dụng không muốn tham gia.
Hoạt động ngân hàng trong quy luật phát triển của kinh tế thị trường (tính cạnh
tranh cao…), lại gắn với những yếu tố rủi ro cao điều đó đặt ra yêu cầu cần phải có
hệ thống bảo hiểm tiền gửi nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng. Đặc
biệt, cuộc khủng hoảng tài chính ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương năm 1997
tuy không ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế, nhưng đã để lại cho Việt Nam nhiều
bài học về quản lý đối với lĩnh vực tài chính – ngân hàng. Cùng với chính sách mở
cửa, quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới, sự tác động đối
với thị trường huy động vốn và tiêu thụ vốn trong nước cũng chịu sự tác động trực
tiếp.
Trước những thực trạng đó, ngày 1/9/1999 Chính phủ Nước CHXHCH Việt
Nam, Ban hành Nghị định số 89/1999/NĐ-CP về bảo hiểm tiền gửi. Ngày
9/11/1999 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg thành
lập bảo hiểm tiền gửi Việt Nam. Ngày 7/7/2000 Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam chính
thức khai trương đi vào hoạt động.
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là tổ chức nhà nước, có tư cách pháp nhân, hạch
toán độc lập, có tài sản và con dấu riêng. Hoạt động theo điều lệ do Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận. Chế độ tiền gửi do
Thủ tướng Chính phủ quy định trên cơ sở đề nghị của ban tổ chức và ý kiến của
ngân hàng Nhà nước. Vốn điều lệ của công ty là 1000 tỷ đồng do ngân sách nhà
nước cung cấp với nguồn vốn bổ sung từ phí bảo hiểm hàng năm và các nguồn vốn
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
6
Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền
khác. Phí bảo hiểm được tính theo quý và được nộp vào cuối tháng của quý với tỷ
lệ là 0.15%/ năm. Nguồn vốn hình thành từ quỹ này tổ chức bảo hiểm tiền gửi sẽ sử
dụng cho việc hỗ trợ khi có tổ chức tín dụng nào gặp khó khăn, khi có sự kiện bảo
hiẻm nào xảy ra và phần vốn nhàn rỗi được mang đi đầu tư theo luật định.
Như vậy, sự ra đời của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là một bước tiến có ý nghĩa
quyết định trong nỗ lực của Chính phủ của ngành Ngân hàng nhằm hoàn thiện

khuôn khổ pháp lý thể chế để bảo đảm cho hoạt động tín dụng Ngân hàng ở Việt
Nam có một môi trường minh bạch an toàn, hiệu quả theo gần những nguyên tắc và
thông lệ quốc tế. Năm năm qua mặc dù phải vừa làm vừa học hỏi kinh nghiệm để
xây dựng và trưởng thành nhưng Bảo hiểm tiền gửi đã có một vai trò quan trọng
đem lại niềm tin cho công chúng rộng rãi về những khoản tiền gửi của mình được
bảo hiểm tại tổ chức tín dụng Việt Nam. Đồng thời cũng giúp cho Tổ chức tín dụng
Việt Nam có thêm một chỗ dựa quan trọng nhằm triển khai các hoạt động của mình
một cách an toàn hơn, hiệu quả hơn, mặc dù chưa phải đã làm được nhiều trong
việc giải quyết các tổ chức tín dụng gặp khó khăn nhưng mà chỉ riêng việc Bảo
hiểm tiền gửi Việt Nam chi trả kịp thời cho những Quỹ tín dụng nhân dân bị thanh
lý, bị rút giấy phép đã đem lại sự ổn định về chính trị xã hội, niềm tin của người
dân đối với hoạt động tiền tệ tín dụng ở Việt Nam. Đẩy lùi dần tâm lý lo ngại về
hoạt động thiếu an toàn, thiếu bền vững của Tổ chức tín dụng và do đó tăng cường
hơn nữa việc huy động các nguồn lực trong xã hội vào các kênh tiền tệ, tài chính
ngân hàng để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội và cải thiện đời sống của nhân
dân. Bảo hiển tiền gửi Việt Nam cũng đã hình thành được một mạng lưới tổ chức
các định, thiết chế hoạt động và đã vươn lên, sử dụng tốt các nguồn lực tài chính
hiện có, bảo tồn được vốn nhà nước giao, bảo tồn được quỹ đóng góp bảo hiểm của
các tổ chức tín dụng tham gia bảo hiểm, chi trả và góp phần thanh lý tốt các Tổ
chức tín dụng bị thanh lý, đồng thời giám sát, kiểm tra tạo thêm một kênh thông tin
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
7
Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền
phối hợp với Ngân hàng Nhà Nước ở TW cũng như các chi nhánh địa phương để
làm cho hoạt động tiền tệ, tín dụng trở nên an toàn.Hơn nữa,Bảo hiểm tiền gửi đã
mở rộng mạng lưới hoạt động của mình tới các khu vực trong phạm vi cả nước, đó
là thành lập 6 chi nhánh BHTG khu vực gồm: Chi nhánh tại TP.HCM, chi nhánh
khu vực Hà Nội, chi nhánh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long( tại Cần Thơ, chi
nhánh khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên (tại Nha Trang), chi nhánh khu vực
Đông Bắc Bộ ( tại Hải Phòng ) và chi nhánh khu vực Bắc Trung Bộ ( tại Nghệ An).

Đây là những địa bàn kinh tế trọng điểm của đất nước, đồng thời là nơi tập trung
nhiều tổ chức tài chính và TCTD.
2.Nội dung hoạt động chính
 Thu phí bảo hiểm tiền gửi của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
theo quy định;
 Chi trả các khoản tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền trong phạm
vi mức bảo hiểm tối đa theo quy định;
 Theo dõi giám sát và kiểm tra việc chấp hành các quy định tại Nghị định
của Chính phủ về bảo hiềm tiền gửi và các quy định về an toàn trong hoạt
động của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi;
 Hỗ trợ cho các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi có nguy cơ mất khả
năng chi trả nhưng chưa đến mức phải đặt trong tình trạng kiểm soát đặc
biệt;
 Tham gia quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
bị phá sản;
 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền về việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung các chủ trương, chính sách về
bảo hiểm tiền gửi;
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
8
Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền
 Tuyên truyền về bảo hiểm tiền gửi đối với công chúng; tổ chức tập huấn,
đào tạo và tư vấn về nghiệp vụ liên quan đến bảo hiểm tiền gửi;
 Hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước nhằm tăng cường năng lực
hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và của các tổ chức tham gia
bảo hiểm tiền gửi;
 Thực hiện các nhiệm vụ khác khi được Thủ tướng Chính phủ giao
3. Các quy định của Chính Phủ về Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
3.1 Đối tượng và phạm vi bảo hiểm
Đối tượng tham gia bảo hiểm là các tổ chức tín dụng ( bao gồm ngân hàng,

quỹ tín dụng…) trong đó các công ty bảo hiểm nhận bảo hiểm cho trách nhiệm các
Tổ chức tín dụng với khoản tiền gửi của các cá nhân, tổ chức.
Mặc dù nhận bảo hiểm cho trách nhiệm của các Tổ chức tín dụng với các
khoản tiền gửi, song không phải tất cả các loại tiền gửi hoặc tất cả các đối tượng ,
các rủi ro xảy ra đều được công ty bảo hiểm thanh toán. Mà thông thường công ty
bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm trong các trường hợp thuộc phạm vi của mình. Cụ
thể như sau:
Trong bảo hiểm tiền gửi, các rủi ro sau được bảo hiểm:
Thứ nhất, đó là sự phá sản của Tổ chức tín dụng. Đây là trường hợp nghiêm trọng
nhất và đáng lo ngại nhất. Khi một Tổ chức tín dụng bị đặt trong tình trạng phá sản
có nghĩa là tổ chức đó không có khả năng trả nợ một cách đầy đủ hoặc không thể
tiếp tục hoạt động kinh doanh của mình do bị thiếu vốn. Trong trường hợp này, các
công ty bảo hiểm sẽ đứng ra trả lại tiền gửi cho khách hàng theo quy định của pháp
luật; mặt khác các tài sản, công việc kinh doanh của các Tổ chức tín dụng sẽ được
bàn giao cho ban thanh lý các tài sản và thực hiện việc thanh lý theo quy định.
Thứ hai, sự giải thể bắt buộc của tổ chức tín dụng. Sự giải thể có thể là bắt buộc
hoặc tự nguyện do bị đặt trong tình trạng có nguy cơ dẫn đến phá sản.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
9
Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền
Sự giải thể bắt buộc xảy ra khi các Tổ chức tín dụng không tuân theo các quy tắc,
luật lệ do Nhà nước đặt ra hoặc các Tổ chức tín dụng từ chối thanh toán hoặc chỉ có
cách giải thể các chủ nợ mới thu hồi được tiền nên họ đề nghị Toà án ra lệnh tuyên
bố giải thể.
Còn sự giải thể tự nguyện xảy ra khi Tổ chức tín dụng bị đặt trong tình trạng có
nguy cơ dẫn đến phá sản. Tình trạng này là tình trạng Tổ chức tín dụng thua lỗ
trong hoạt động kinh doanh hoặc gặp khó khăn sau khi áp dụng các biện pháp tài
chính cần thiết của Nhà nước mà đại diện là Toà án, các cổ đông của Tổ chức tín
dụng quyết định tuyên bố giải thể. Sau khi phân chia tài sản, các khoản tiền gửi có
kỳ hạn mà Tổ chức tín dụng không thanh toán hết thì tổ chức Bảo hiểm tiền gửi có

trách nhiệm bồi thường cho người gửi tiền.
Thứ ba, Phải chấp hành lệnh thanh lý vì một lý do khác với việc phá sản hay mất
khả năng thanh toán của tổ chức tín dụng. Trường hợp này xảy ra khi cơ quan có
thẩm quyền xét thấy quỹ mặc dù vẫn có khả năng thanh toán nhưng đúng mục đích
đã đề ra, không muốn toà án can thiệp mà quyết định thanh lý quỹ không cho hoạt
động tiếp. Trong trường hợp này, bảo hiểm sẽ giải quyết bồi thường cho những
người gửi tiền có kỳ hạn nhưng sẽ được thế quyền để được hưởng số tiền thanh lý
tài sản hay đòi nợ.
Thứ tư, là do không thể thực hiện việc thanh toán cho người gửi tiền. Vì một lý do
nào đó mà Tổ chức tín dụng cố ý không thanh toán nợ và chủ nợ đệ đơn lên toà án
để có lệnh bắt buộc Tổ chức tín dụng phải tuyên bố phá sản hay thanh lý để trả nợ
cho các chủ nợ. Họ cho rằng có như vậy họ mới thu hồi được các khoản nợ của
mình. Lệnh của toà án được áp dụng khi:
- Tổ chức tín dụng không có phương án hoà giải hoặc có phương án tổ chức lại
hoạt động kinh doanh của mình theo yêu cầu của toà án.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
10
Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền
- Không tham gia Hội nghị chủ nợ để trình bày các phương án hoà giải và trình
bày các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh.
- Có tham gia hội nghị chủ nợ để trình bày các phương án nhưng trong qúa trình
tổ chức lại kinh doanh, Tổ chức tín dụng đã vi phạm nghiêm trọng những thoả
thuận tại hội nghị và các chủ nợ yêu cầu tuyên bố phá sản.
- Hết thời hạn tổ chức lại hoạt động kinh doanh mà tổ chức tín dụng vẫn kinh
doanh không hiệu quả.
Tuy nhiên trong Bảo hiểm tiền gửi cũng có những rủi ro loại trừ. Những rủi ro
loại trừ (không thuộc phạm vi bảo hiểm) là những rủi ro gây ra sụư phá sản, thanh
lý hay giải thể một Tổ chức tín dụng trong các trường hợp:
- Vi phạm nghiêm trọng các quy định về tiền tệ tín dụng, thanh toán đã nêu trong
pháp lệnh ngân hàng của tổ chức tín dụng. Tổ chức tín dụng có điều lệ và quy chế

hoạt động riêng nhưng cũng phải tuân thủ các quy định hiện hành khác của Nhà
nước. Nếu tổ chức tín dụng vi phạm nghiêm trọng các quuy định về tiền tệ, tín
dụng, thanh toán của ngân hàng dẫn đến phá sản thì bảo hiểm không bồi thường.
- Giải thể tự nguyện vì nguyên nhân:
+ Do cổ đông nhận thức thấy mục tiêu khi thành lập tổ chức tín dụng không đạt
được.
+ Do cổ đông muốn thu hồi lại vốn hoặc có nhu cầu cải tổ lại cơ cấu của tổ
chức tín dụng.
- Ngừng hoạt động do những nguyên nhân:
Tổ chức tín dụng ngừng hoạt động vì chiến tranh, đình công, bạo loạn dân sự, nội
chiến. Đây là những rủi ro loại trừ không thông thường, không liên quan đến hoạt
động kinh doanh tiền tệ. Khi tổ chức tín dụng bị phá sản, thanh lý, giải thể do các
rủi ro này bảo hiểm cũng không chịu trách nhiệm bồi thường cho những người gửi
tiền.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
11
Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền
 Các quy định của Chính phủ về Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
* Căn cứ vào nghị định 89/NĐ-CP ngày 1/9/1999 thì đối tượng tham gia Bảo
hiểm tiền gửi Việt Nam với hình thức bắt buộc là tất cả các tổ chức tín dụng và tại
công văn số 109/2005 – NĐ-CP được bổ sung, sửa đổi một số điều của Nghị định
số 89/1999/NĐ-CP.
Hiện nay ở Việt Nam, các tổ chức tín dụng được phân làm hai loại là tổ chức tín
dụng ngân hàng và tổ chức tín dụng phí ngân hàng.
Các tổ chức tín dụng ngân hàng được phân theo các hình thức sau:
- Theo hình thức sở hữu:
+ Ngân hàng thương mại quốc doanh
+ Ngân hàng thương mại
+ Ngân hàng liên doanh
+ Ngân hàng nước ngoài

- Theo hình thức hoạt động có:
+ Ngân hàng công thương
+ Ngân hàng ngoại thương
+ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
+ Ngân hàng Đầu tư & phát triển
+ Ngân hàng chính sách
Các quỹ tín dụng nhân dân gồm có:
+ Quỹ tín dụng nhân dân trung ương
+ Quỹ tín dụng nhân dân khu vực
+ Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm có:
+ Các công ty tài chính
+ Các công ty thuê tài chính
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
12
Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền
+ Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác
Như vậy,, tổ chức tín dụng cũng như các tổ chức không phải là tín dụng được
phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của luật tín dụng, hoạt
động trên lãnh thổ Việt Nam và có nhận tiền gửi bằng tiền Việt Nam đều là đối
tượng tham gia của Bảo hiểm tiền gửi.
* Điều 3 Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999 của Chính phủ về Bảo
hiểm tiền gửi quy định:
Tiền gửi được bảo hiểm là đồng Việt Nam của các cá nhân tổ chức tham gia bảo
hiểm tiền gửi.
* Thông tư số 03/2000/TT-NHNN ngày 26/3/2000 của Ngân hàng Nhà nước
hướng dẫn thực hiện nghị định số 89/1999/NĐ-CP, hướng dẫn cụ thể hơn về đối
tượng tiền gửi được bảo hiểm gồm:
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và có kỳ hạn
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và có kỳ hạn bao gồm cả tiền gửi trên tài

khoản các nhân.
- Tiền mua các chứng chỉ tiền gửi và các trái phiếu ghi danh cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cho phép tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phát hành.
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam không bảo hiểm đối với các loại chứng chỉ tiền gửi
và trái phiếu vô danh do tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phát hành.
Mặc dù, đối tượng được bảo hiểm là tiền gửi bằng đồng Việt Nam của những
người gửi tiền gửi tại tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi, trừ những trường hợp
sau:
- Tiền gửi của người gửi tiền là cổ đông sở hữu trên 10% vốn điều lệ hoặc nắm
giữ trên 10% vốn cổ phần, có quyền bỏ phiếu của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền
gửi đó;
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
13
Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền
- Tiền gửi của người gửi tiền là thành viên của hội đồng quản trị, ban kiểm soát,
tổng giám đốc (giám đốc), phó tổng giám đốc ( phó giám đốc ) của tổ chức tham
gia bảo hiểm;
- Tiền gửi dùng để đảm bảo nghĩa vụ của người gửi tiền;
- Tiền mua các giấy tờ có giá, trừ một số giấy tờ có giá theo hướng dẫn của ngân
hàng Nhà nước Việt Nam;
3.2 Số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm (STBH) là số dư tiền gửi trong báo cáo số dư tiền gửi mỗi quý
của tổ chức tín dụng.
Phí bảo hiểm là một trong những công cụ nhạy cảm của chính sách Bảo hiểm
tiền gửi ở mỗi quốc gia. Tuỳ theo mục tiêu thiết lập hệ thống Bảo hiểm tiền gửi là
hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận hay phi lợi nhuận mà định ra các mức phí khác
nhau. Nó có thể cao hơn, thấp hơn, thậm chí bằng chi phí và tổn thất mà Bảo hiểm
tiền gửi phải bỏ ra. Tuy nhiên, cơ chế xác định phí công bằng luôn là cơ sở quan
trọng để Bảo hiểm tiền gửi hoạt động có hiệu quả và phát triển bền vững.
Một số hệ thống Bảo hiểm tiền gửi trên thế giới mà tiêu biểu là Mỹ, Canada, Nhật,

Đài Loan… đã vận dụng thành công phương pháp định phí bảo hiểm dựa trên
thông tin thị trường và thông tin đối kháng. Để phân tích ngwofi ta đã sử dụng mô
hình “ quyền chọn của Merton” hay mô hình “ tổn thất dự kiến”
Phí bảo hiểm chính là nguồn thu quan trọng góp phần bảo đảm cho sự tồn tại của
tổ chức Bảo hiểm tiền gửi. Do vậy, định phí chính xác phải đi đôi với thu phí có
hiệu quả. Thông thường phí bảo hiểm là số tiền tổ chức tín dụng phải trả cho công
ty bảo hiểm để công ty bảo hiểm nhận bảo hiểm số dư tiền gửi của tổ chức tại thời
điểm cuối mỗi quý. Phí bảo hiểm mà tổ chức tín dụng trả cho người bảo hiểm theo
từng quý được tính theo công thức:
P = m x R/365 x G
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
14
Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền
Trong đó: P - Phí bảo hiểm theo quý;
m - Số dư tiền gửi;
R - Tỷ lệ phí bảo hiểm;
G - Số ngày của một quý;
365 - Số ngày trong năm;
Ở đây, công ty bảo hiểm nhận các khoản tiền gửi. Do đó để thuận tiện cho việc
tính phí bảo hiểm, khi báo cáo số dư tiền gửi, các tổ chức tín dụng phải phân loại;
- Những khoản tiền gửi không kỳ hạn;
- Những khoản tiền gửi có kỳ hạn;
Trên cơ sở phân loại, cuối mỗi quý, tổ chức tín dụng có thể tính phí bảo hiểm và trả
cho người bảo hiểm.
 Quy định của Chính phủ
- Số tiền bảo hiểm
Theo điều 4 của nghị định 109/2005/NĐ-CP thì số tiền bảo hiểm được trả cho tất
cả các khoản tiền gửi abo gồm cả gốc và lãi của một người gửi tiền (một cá nhân
hoặc người đại diện theo pháp luật) tại một tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi
thuộc các đối tượng tham gia theo quy định ở trên, tối đa là 50 triệu đồng. So với

mức tiền gửi được bảo hiểm của nghị định 89 thì mức tiền gửi được bảo hiểm tối đa
đã tăng thêm 20 triệu tức gần 20%. Điều chỉnh này tăng niềm tin của khách hàng,
giúp Tổ chức tín dụng huy động được nhiều hơn nguồn vốn nhàn rỗi trong cư dân.
- Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là khoản tiền mà tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi có nghĩa vụ
nộp cho tổ chức Bảo hiểm tiền gửi cho khách hàng. Theo quy định phí bảo hiểm
được hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
15
Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền
Hiện nay, trên thế giới tồn tại hai hệ thống tính phí: hệ thống quy định mức phí
thống nhất và hệ thống quy định mức phí phân biệt. Mức phí thống nhất được quy
định theo một tỷ lệ % thống nhất, áp dụng chung cho một ngân hàng và nó được
tính dựa trên % tổng số tiền gửi được bảo hiểm. Còn mức phí phân biệt được xác
định riêng cho từng ngân hàng, tuỳ thuộc khả năng thanh toán, khả năng cạnh
tranh, và mức ổn định của mỗi ngân hàng.
Theo quy định ở Việt Nam, tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi phải nộp phí theo
mức 15%/năm tính trên số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảo
hiểm tại tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi theo quy định. Như vậy là ở Việt Nam
hệ thống tính phí áp dụng là hệ thống tính phí thống nhất. Song trước yêu cầu đặt ra
của xã hội, các Tổ chức tín dụng, năm 2005 việc tính phí được điều chỉnh: mức phí
được áp dụng vẫn là 15% tính trên số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi
được bảo hiểm nhưng tuỳ theo loại hình tổ chức tham gia bảo hiểm hoặc trên cơ sở
đánh giá, xếp loại của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, được Thủ tướng Chính
phủ quyết định dựa trên cơ sở đề nghị của Bảo hiểm tiền gửi và ý kiến của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính.
Phí bảo hiểm được nộp bốn lần trong năm tài chính, phí phạt với các trường hợp
nộp chậm là 0.1% số tiền nộp chậm trên ngày. Nếu tình trạng kéo dài quá 30 ngày,
tổ chức Bảo hiểm tiền gửi có thể yêu cầu ngân hàng Nhà nước, Tổ chức tín dụng
hoặc kho bạc nơi Tổ chức tín dụng lập tài khoản chuyển nộp khoản phí nôp chậm

và các khoản phạt. Qúa thời hạn 3 tháng mà tổ chức này vẫn không nộp phí, Bảo
hiểm tiền gửi sẽ chấm dứt việc bảo hiểm và ra thông báo cho công chúng. Lúc này
trách nhiệm của Bảo hiểm tiền gửi sẽ được bảo tồn trong thời hạn 6 tháng.
Công thức tính phí đóng bảo hiểm tiền gửi hàng năm là:
P = r x D
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
16
Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền
Trong đó: P - mức phí bảo hiểm tiền gửi hàng năm mà một tổ chức tham gia bảo
hiểm tiền gửi cần đóng.
r - tỷ lệ bảo hiểm tiền gửi áp dụng đối với tổ chức tham gia bảo hiểm
tiền gửi
D - số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại tổ
chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
Ngoài ra, còn tính phí bảo hểm mà Quỹ tín dụng trả cho người gửi tiền tại tổchức
tín dụng bị phá sản theo từng quý theo công thức:
P = m x R/360 x 90
Trong đó:
P - Phí bảo hiểm theo quý
m - số dư tiền gửi
R - Tỷ lệ phí bảo hiểm
90 - Số ngày của một quý
360 - Số ngày trong năm
3.3 Công tác chi trả tiền gửi được bảo hiểm
Khi xảy ra tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm, tổ chức tín dụng phải thông báo cho
công ty bảo hiểm biết kèm theo các giấy tờ:
- Giấy yêu cầu bồi thường
- Giấy chứng nhận tham gia bảo hiểm
- Báo cáo thực trạng đến ngày xảy ra rủi ro
- Lệnh của toà án, tuyên bố phá sản, quyết định giải thể hay thanh lý.

- Bản kê danh sách những người gửi tiền chưa được thanh toán tính đến ngày
xảy ra rủi ro
- Bản kê khai chi tiết dư nợ cho vay tính đến ngày xảy ra rủi ro.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
17
Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền
Sau khi xem xét các chứng từ có liên quan tới việc trả tiền bồi thường cho quỹ
tín dụng và người gửi tiền gửi đến và nếu thuộc phạm vi bảo hiểm thì bảo hiểm sẽ
trả tiền bồi thường cho người gửi tiền.
Số tiền bồi thường cao nhất của bảo hiểm là số dư tiền gửi thực tế (chỉ tính gốc
không tính lãi) vào thời điểm quỹ tín dụng xảy ra rủi ro nhưng không vượt quá số
tiền ghi trong hợp đồng bảo hiểm.
 Quy định của Chính phủ
Bảo hiểm tiền gửi sẽ tiến hành chi trả tiền gửi được bảo hiểm với giới hạn tối đa là
50 triệu đồng/cá nhân bao gôồ cả gốc và lãi. Số tiền chi trả căn cứ trên chứng từ
hợp lệ và danh sách tiền gửi do tổ chức bảo hiểm và tổ chức tham gia bảo hiểm tiền
gửi lập. Trong trường hợp số tiền gửi bao gồm cả gốc và lãi vượt quá mức trách
nhiệm của công ty bảo hiểm thì phần vượt quá sẽ được thanh toán khi Tổ chức tín
dụng tiến hành thanh lý tài sản. Sau khi tiến hành bồi thường, Bảo hiểm tiền gửi
trở thành chủ nợ của tổ chức tham gia bảo hiểm bị phá sản dựa trên cơ sở số tiền đã
chi trả cho người gửi tiền. Do đó Bảo hiểm tiền gửi được tham gia vào quy trình
quản lý và thanh lý tài sản của tổ chức bị phá sản.
4. Các hoạt động chính của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Tuỳ thuộc vào mục đích và mô hình tổ chức của Bảo hiểm tiền gửi ở mỗi quốc gia
mà tổ chức này có những nghiệp vụ cụ thể nhất định. Song nhìn chung các tổ chức
bảo hiểm tiền gửi trên thế giới đều tổ chức thực hiện một số nghiệp vụ chính sau:
4.1 Nghiệp vụ kiểm tra khách hàng
Trên cơ sở quy định tại nghị định số 89/1999/NĐ, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có
quyền kiểm tra tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi thực hiện các quy định về Bảo
hiểm tiền gửi và quy định bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng. Nội dung

kiểm tra việc chấp hành các quy định Bảo hiểm tiền gửi bao gồm: Kiểm tra việc
niêm yết chứng nhận Bảo hiểm tiền gửi, kiểm tra tính đầy đủ trong nộp phí, chấp
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
18
Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền
hành thời hạn nộp phí và nộp phạt(nếu có), kiểm tra việc cung cấp thông tin cho tổ
chức Bảo hiểm tiền gửi. Nội dung kiểm tra này được thực hiện căn cứ vào các chỉ
tiêu an toàn mà hệ thống ngân hàng Việt Nam đặt ra. Công tác kiểm tra tuân thủ
quy định an toàn tập trung vào các tiêu chí: Tuân thủ quy định giới hạn huy động
vốn theo địa bàn, tuân thủ quy định về chế độ hạch toán kinh tế và chứng từ kế
toán, quy định bảo đảm vốn điều lệ, quy định bảo đảm an toàn trong cho vay, quy
định về tính pháp lý của hồ sơ vay vốn, khả năng tạo lợi nhuận ,trích lập các quỹ,
quy định về quản trị điều hành.
4.2 Nghiệp vụ giám sát tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi
Nghiệp vụ giám sát tổ chức tham gia BHTG được tiến hành trên cơ sở thông tin
thu thập được để nắm bắt tình hình hoạt động của các tổ chức tham gia BHTG. Các
nguồn thông tin chủ yếu mà BHTGVN có được bao gồm: các loại báo cáo nhận
được từ khách hàng, thông tin truy cập từ Ngân hàng Nhà nước. Kết quả của công
tác giám sát phản ánh tình hình nộp phí bảo hiểm, tình hình tuân thủ một số chỉ tiêu
về an toàn trong hoạt động ngân hàng. Hàng quý, các chi nhánh khu vực của Bảo
hiểm tiền gửi có báo cáo gửi về phản ánh tình hình hoạt động, tình hình tuân thủ
các quy định an toàn của tất cả các khách hàng thuộc chi nhánh mình quản lý dựa
trên cơ sở từ các thông tin tổng hợp. Đồng thời chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi có
thông báo, cảnh báo, nhắc nhở khách hàng tuân thủ các quy định đảm bảo an toàn
trong hoạt động và quy định về Bảo hiểm tiền gửi.
4.3 Nghiệp vụ chi trả tiền gửi và theo dõi sau chi trả
Khi tổ chức tham gia BHTG bị phá sản hoặc bị đình chỉ hoạt động và mất khả
năng thanh toán, tổ chức tham gia BHTG làm thủ tục trình BHTGVN để được chi
trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức đó.
Theo đó, BHTGVN (Hội sở chính hoặc chi nhánh khu vực theo địa bàn phụ trách)

thành lập đoàn chi trả tiến hành tổ chức chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
19
Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền
ngay tại địa bàn của tổ chức tham gia BHTG đó một cách nhanh gọn và thuận lợi.
Người được chi trả có thể trực tiếp đến nhận tiền mặt tại địa bàn chi trả tiền bảo
hiểm tại tổ chức tham gia BHTG vào thời gian được công bố hoặc có thể đề nghị
chuyển tiền qua ngân hàng hoặc bưu điện đến một địa điểm khác.
Quy trình và thủ tục chi trả được quy định cụ thể ở các văn bản do Bảo hiểm tiền
gửi Việt Nam ban hành.
Công tác theo dõi, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi sau khi
trả được tiến hành dưới hình thức nắm thông tin về hoạt động của hội đồng thanh lý
thông qua chi nhánh ngân hàng Nhà nước tỉnh để đốc thúc việc thu hồi trong thanh
lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm được chi trả, giám sát việc thực hiện thanh
toán cho các chủ nợ để đảm bảo trả nốt phần tiền ửi của người gửi tiền trên hạn
mức chi trả.
4.4 Nghiệp vụ cho vay hỗ trợ khách hàng
Cho vay hỗ trợ là hình thức hỗ trợ tài chính, theo đó Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
giao cho quỹ tín dụng sử dụng một khoản tiền trong thời gian nhất định với các ưu
đãi đảm bảo về lãi suất và điều kiện vay vốn để sử dụng vào mục đích chi trả tiền
gửi được Bảo hiểm theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi có thể hỗ trợ tài chính cho tổ chức tham gia bảo hiểm
tiền gửi dưới các hình thức cho vay, bảo lãnh, mua lại nợ và các hình thức khác phù
hợp với quy định của pháp luật. Nhưng tổ chức bảo hiểm tiền gửi chỉ xem xét,
quyết định việc hỗ trợ tài chính cho tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi sau khi
ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác định rằng việc giải thể, phá sản của tổ chức
tham gia bảo hiểm tiền gửi có thể gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng, sâu rộng
đến sự an toàn của hệ thống tài chính, ngân hàng và sự ổn định chính trị, kinh tế -
xã hội.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh

20
Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền
Việc thực hiện hỗ trợ tài chính được coi là việc tổ chức bảo hiểm áp dụng biện
pháp đặc biệt về tài sản để phục hồi hoạt động kinh doanh của tổ chức tham gia bảo
hiểm tiền gửi. Khoản hỗ trợ tài chính này sẽ được ưu tiên hoàn trả trước tất cả các
khoản nợ khác của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.
 Điều kiện vay vốn
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam xem xét và quyết định cho vay khi Quỹ tín dụng có
đủ các điều kiện sau:
- Là quỹ tín dụng đang được Ngân hàng Nhà nước xếp loại A, thực sự có nguy cơ
gặp khó khăn tạm thời về khả năng chi trả vì lý do khách quan nhưng chưa đến
mức đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt.
- Có phương án vay vốn khả thi đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong thời hạn
cam kết.
- Tình hình hoạt động kinh doanh năm thực hiện hành đến thời điểm đề nghị vay
vốn không có các biểu hiện sút giảm theo chiều hướng xấum trích lập đầy đủ quỹ
dự phòng để xử lý rủi ro theo quy định.
- Chấp hành đúng các quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.
- Vốn điều lệ thực có lớn hơn hoặc bằng mức vốn tối thiểu theo quy định của
pháp luật, hàng năm trích lập đầy đủ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ.
- Đã hoàn trả hết nợ (cả gốc và lãi) của khoản vay phát sinh trước đó (nếu có) cho
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
- Có khả năng cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin cần thiết liên quan đến tình
hình thực hiện phương án vay vốn cho Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
- Việc tiếp tục hoạt động của Quỹ tín dụng có vai trò quan trọng với sự bảo đảm
an toàn hệ thống, sự ổn định chính trị, kinh tế - xã hội.
- Chấp nhận các quy định của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam về cho vay hỗ trợ.
 Nguyên tắc cho vay
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
21

Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền
- Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam chỉ xem xét quyết định cho vay 1lần/năm đối với
các Quỹ tín dụng đáp ứng đủ các điều kiện quy định.
- Khoản cho vay hỗ trợ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đối với Quỹ tín dụng
được coi là khoản cho vay đặc biệt của Nhà nước nhằm hỗ trợ chi trả tiền gửi của
dân chúng và phục hồi hoạt động kinh doanh của Quỹ tín dụng.
- Quỹ tín dụng vay vốn của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam phải đảm bảo:
+ Sử dụng vốn vay để chi trả tiền gửi được bảo hiểm
+ Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đầy đủ và đúng hạn
 Lãi suất cho vay
Lãi suất cho vay áp dụng theo mức lãi xuất tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước
đối với các tổ chức tín dụng tại thời điểm vay vốn. Lãi suất quá hạn bằng 15% mức
lãi suất cho vay.
 Thời hạn cho vay, định kỳ trả nợ gốc và lãi vốn vay
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và Quỹ tín dụng căn cứ vào kế hoạch kinh doanh và
khả năng trả nợ của Quỹ tín dụng để thoả thuận về thời hạn cho vay và việc trả nợ
gốc, lãi vốn theo nguyên tắc:
- Thời hạn cho vay tối đa là 6 tháng
- Các kỳ hạn trả nợ gốc, các kỳ hạn trả lãi vốn vay cùng với trả nợ gốc hoặc theo
kỳ hạn riêng nhưng không quá thời hạn cho vay.
4.5 Nghiệp vụ tuyên truyền, quảng cáo
Hoạt động tuyên truyền đã được tiến hành với mục đích phổ cập thông tin về
hoạt động BHTG tới toàn thể công chúng. Các vấn đề về quyền lợi và trách nhiệm
của người gửi tiền, tổ chức tham gia BHTG, tổ chức BHTG, mục đích vai trò của
hoạt động này đã được BHTGVN tuyên truyền tới công chúng trên các phương tiện
thông tin đại chúng, ấn phẩm, hội thảo… Đến nay, tại tất cả các tỉnh và thành phố,
BHTGVN đã tổ chức hội thảo về BHTG với thành viên tham gia là đại diện các tổ
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
22
Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền

chức tham gia BHTG, các cơ quan chính quyền địa phương liên quan, các cơ quan
thông tấn báo chí và chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh và thành phố. Cùng với
BHTGVN, các tổ chức tham gia BHTG cũng bắt đầu quảng cáo về hoạt động
BHTG tới công chúng. Một trang Web về BHTGVN cũng được thành lập trên
mạng internet để quảng bá về hoạt động này và trao đổi thông tin với cộng đồng
được hiệu quả hơn.




Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
23
Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền
CHƯƠNG II. NỘI DUNG VỀ CÔNG TÁC GIÁM SÁT CỦA BẢO HIỂM
TIÊN GỬI VIỆT NAM
I. Vài nét về công tác giám sát của Bảo hiểm tiền gửi
1. Khái niệm
Giám sát là việc ghi nhận lại tiến độ thực hiện công việc, thu nhập, phân tích và
luận giải các thông tin, nhằm đưa ra các lựa chọn trong việc xử lý những vấn đề đã
xác định hoặc dự tính; Là quá trình kiểm tra thường xuyên các hoạt động nhằm đối
chiếu với các mục tiêu, điều kiện và kế hoạch đặt ra để từ đó đưa ra định hướng và
điều chỉnh hoạt động.
Có nhiều hình thức giám sát khác nhau, tuỳ thuộc chức năng, nhiệm vụ của từng
đơn vị để áp dụng cho thích hợp.
- Giám sát thông qua Kiểm toán
- Giám sát thông qua hội thảo và họp trao đổi.
- Giám sát thông qua thực địa
- Giám sát từ xa
Là việc gián tiếp kiểm tra, thông qua tổng hợp, tính toán, phân tích chỉ tiêu dựa
trên báo cáo của Tổ chức tín dụng nhằm đánh giá tình hình hoạt động của từng Tổ

chức tín dụng riêng biệt. Từ đó xác định những Tổ chức tín dụng có vi phạm để
cảnh báo kịp thời và đưa ra các biện pháp xử lý phù hợp.
Hiện tại, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đang sử dụng phương pháp giám sát này là
chủ yếu.
2. Mục đích, yêu cầu của công tác giám sát
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định
của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh
hoạt động ngân hàng.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
24
Giáo viên hướng dẫn:Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền
Phát hiện sớm và có biện pháp ngăn chặn kịp thời vi phạm pháp luật về Bảo hiểm
tiền gửi và an toàn trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền
gửi.
3. Đối tượng giám sát: là các tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi.
II. Sự cần thiết khách quan của công tác giám sát đối với Ngân hàng thương
mại cổ phần
Trong nền kinh tế thị trường, tài chính tiền tệ là lĩnh vực hết sức nhạy cảm đòi
hỏi chúng ta phải phấn đấu xây dựng được một thể chế đủ mạnh, phù hợp với thông
lệ và chuẩn mực quốc tế để từng bước đáp ứng sự vững chắc nhu cầu vốn của một
nền kinh tế đang phát triển với nhịp độ cao trong thời gian dài. Mặt khác, khi hệ
thống pháp luật và thể chế thị trường tại Việt Nam chưa ổn định và hoàn thiện,
năng lực tài chính của các ngân hàng còn yếu, chất lượng tín dụng kém nên tiềm ẩn
không ít rủi ro: rủi ro lãi suất, rủi ro hệ thống, rủi ro đạo đức…
Việc phát sinh và tồn tại rủi ro đi cùng với hoạt động bảo hiểm tiền gửi mang tính
khách quan, phản ánh mặt hạn chế của hoạt động bảo hiểm tiền gửi. Một trong
những các rủi ro phát sinh cùng với hoạt động bảo hiểm tiền gửi là rủi ro đạo đức.
Rủi ro đạo đức của hoạt động bảo hiểm tiền gửi là loại rủi ro liên quan tới việc phát
sinh các cư xử thiếu đạo đức trong việc tiếp cận, sử dụng các dịnh vụ ngân hàng
làm ảnh hưởng không tốt tới hoạt động Bảo hiểm tiền gửi và đe doạ tính an toàn

của hệ thống ngân hàng. Cư xử thiếu đạo đức do cơ chế Bảo hiểm tiền gửi tạo nên
là hiện tượng bất cẩn trong việc tiếp cận, thực hiện các dịch vụ ngân hàng của các
đối tượng thụ hưởng chính sách bảo hiểm tiền gửi, gây ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu
quả trong hoạt động bảo hiểm tiền gửi và ảnh hưởng tới sự an toàn trong hoạt động
của hệ thống ngân hàng. Các đối tượng thụ hưởng chính sách bảo hiểm tiền gửi bao
gồm đối tượng trực tiếp và đối tượng thụ hưởng gián tiếp. Đối tượng thụ hưởng
trực tiếp của chính sách Bảo hiểm tiền gửi bao gồm người gửi tiền thuộc đối tượng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Quỳnh
25

×