Tải bản đầy đủ (.doc) (62 trang)

giải pháp nâng cao khả năng thu hút lao động và tạo việc làm của kinh tế trang trại ở việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (360.96 KB, 62 trang )

Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
Lời nói đầu
Hiện tại Việt Nam vẫn là nớc nông nghiệp với hơn 75% dân số và 62%
lao động làm việc trong nhóm ngành nông nghiệp. Để thực hiện chủ trơng
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc, việc đa nhanh tiến bộ khoa học vào
nông nghiệp nhằm phát triển nông nghiệp theo hớng sản xuất kinh doanh
hàng hoá và nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập cho ngời lao động,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng phát triển công nghiệp và dịch vụ từ
đó giảm lao động trong nông nghiệp là những nhiệm vụ to lớn và cấp bách.
Trong những năm đổi mới vừa qua, Việt Nam đã đạt đợc những thành
tựu kinh tế to lớn, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp. Tính riêng từ năm
1996 đến năm 2000, giá trị sản xuất nông, lâm, ng nghiệp tăng bình quân
5,7%/năm; so với năm 1995 diện tích trồng cà phê năm 2000 đã tăng 2,7
lần, cao su tăng 46%, mía tăng 35%, sản lợng thịt tăng gần 1,4 lần, xuất
khẩu tăng 1,7 lần. Những thành tựu đạt đợc này là kết quả thực hiện các
chính sách đổi mới về phát triển nông nghiệp và nông thôn, đẩy mạnh đầu
t ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm,
gắn sản xuất với thị trờng. Kết quả này có sự đóng góp to lớn của việc thực
hiện các chính sách đổi mới về phát triển nông nghiệp và nông thôn, đẩy
mạnh đầu t ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đa dạng hoá
sản phẩm, gắn sản xuất với thị trờng. Kết quả này có sự đóng góp to lớn của
mô hình kinh tế trang trại, mô hình sản xuất mới trong nông thôn.
Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại có liên quan chặt
chẽ với sự biến đổi xã hội nông thôn và quan hệ sản xuất trong nông
nghiệp. Điều này thể hiện rất rõ trong xu hớng phát triển lực lợng lao động
và tổ chức sử dụng lao động trong quan hệ cộng đồng làng xã và quản lý xã
hội nông thôn.
Kinh tế trang trại là một mô hình sản xuất mới có hiệu quả ở nớc ta
cần đợc nghiên cứu đầy đủ. ở nớc ta, để tạo điều kiện cho kinh tế trang trại
phát triển, chính phủ đã có Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000
về kinh tế trang trại, trong đó nêu rõ "Nhà nớc khuyến khích và tạo điều


kiện hỗ trợ các chủ trang trại mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tạo
nhiều việc làm cho lao động nông thôn".
Đề tài: "Giải pháp nâng cao khả năng thu hút lao động và tạo việc
làm của kinh tế trang trại ở Việt Nam" nhằm giải quyết, nghiên cứu các
hoạt động của trang trại dới giác độ sử dụng lao động xã hội và môi trờng
chính sách tạo điều kiện cho trang trại phát triển, thu hút thêm lao động vào
làm việc.
Kết cấu của đề tài bao gồm 3 chơng:
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
Ch ơng I: Một số khái niệm và đặc điểm lao động việc làm trong kinh tế
trang trại
Ch ơng II: Đánh giá thực trạng tình hình phát triển kinh tế trang trại ở
Việt Nam
Ch ơng III: Các giải pháp về thu hút lao động và tạo việc làm cho kinh tế
trang trại trong thời gian tới.
Do khả năng và trình độ có hạn nên đề tài khó tránh khỏi sai sót. Rất
mong đợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và những ngời quan tâm để
đề tài đợc hoàn thiện hơn. Để hoàn thành đợc đề tài này em xin chân thành
cảm ơn thầy giáo TS. Nguyễn Tiến Dũng - khoa Kế hoạch & Phát triển đã
giúp đỡ hớng dẫn em trong quá trình hình thành và thực hiện luận văn tốt
nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn!
Chơng I: Một số khái niệm và đặc điểm lao
động việc làm trong kinh tế trang trại
I- Tổng quan về kinh tế trang trại.
1. Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại.
Trang trại và kinh tế trang trại là những khái niệm đợc nói đến nhiều
trong thời gian gần đây và là chủ đề đợc nhiều nhà khoa học và quản lý
quan tâm bàn luận.
Trong thực tế, có một số trờng hợp, ngời ta đồng nhất khái niệm trang

trại và kinh tế trang trại. Tuy nhiên, về bản chất và ý nghĩa, những khái
niệm này có những điểm khác nhau căn bản.
Nói đến trang trại là nói đến đơn vị hay cơ sở sản xuất kinh doanh
trong lĩnh vực nông nghiệp (theo nghĩa rộng), và trên thực tế hoạt động kinh
tế của trang trại là hoạt động của một doanh nghiệp trong lĩnh vực nông
nghiệp.
Khi nói đến kinh tế trang trại là nói đến tổng thể các mối quan hệ kinh
tế nảy sinh trong quá trình hoạt động kinh tế của trang trại: Đó là mối quan
hệ trong trang trại, giữa các trang trại với nhau, giữa các trang trại với các
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
tổ chức kinh tế khác, giữa các trang trại với Nhà nớc, với thị trờng và môi
trờng sinh thái tự nhiên
Nh vậy, nói kinh tế trang trại là nói về mặt kinh tế của trang trại. Trong
thực tế, các nhà nghiên cứu và quản lý thờng chú trọng đến mặt kinh tế của
trang trại nhiều hơn mà ít chú ý tới các mặt khác. Do vậy, khi nói tới kinh tế
trang trại ngời ta thờng gọi tắt là trang trại vì kinh tế là nét cơ bản chứa
đựng những nội dung cốt lõi của trang trại.
Tuy nhiên, ngoài mặt kinh tế, còn có thể nhìn nhận trang trại từ mặt xã
hội và môi trờng.
- Mặt xã hội: trang trại là một tổ chức cơ sở của xã hội, trong đó quan
hệ xã hội đợc đan xen với nhau (quan hệ giữa các thành viên của hộ trang
trại, quan hệ giữa chủ trang trại và ngời lao động thuê ngoài, quan hệ giữa
ngời lao động làm thuê cho chủ trang trại với nhau )
- Mặt môi trờng: trang trại là một không gian sinh thái, trong đó diễn
ra các quan hệ sinh thái đa dạng. Không gian sinh thái trang trại có quan hệ
chặt chẽ và ảnh hởng qua lại trực tiếp với hệ sinh thái của vùng.
Tóm lại, có thể thấy khái niệm trang trại rộng hơn khái niệm kinh tế
trang trại. Tuy nhiên, trong các mặt kinh tế, xã hội và môi trờng của trang
trại thì mặt kinh tế là mặt cơ bản chứa đựng những nội dung cốt lõi của
trang trại. Vì vậy để hiểu đợc khái niệm kinh tế trang trại về mặt kinh tế thì

khái niệm này phải thể hiện đợc những nét bản chất về kinh tế, tổ chức và
kỹ thuật sản xuất của trang trại trong điều kiện kinh tế thị trờng. Cụ thể nh:
- Trang trại là một hình thức tổ chức cơ sở vì trang trại là đơn vị trực
tiếp sản xuất ra những sản phẩm vật chất cần thiết cho xã hội (bao gồm các
sản phẩm hàng hoá của nông - lâm - thuỷ sản). Đồng thời kinh tế trang trại
là một quá trình sản xuất khép kín với các khâu của tái sản xuất luôn kế tiếp
nhau (bao gồm sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng).
- Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất hàng hoá. Đây là điểm
cơ bản của trang trại trong điều kiện kinh tế thị trờng.
- Các yếu tố vật chất của sản xuất, trớc hết là ruộng đất và tiền vốn
trong trang trại đợc tập trung với qui mô nhất theo yêu cầu của sản xuất
hàng hoá.
- T liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng của một ngời chủ
độc lập. Tức là t liệu sản xuất ở trang trại hoặc thuộc quyền sở hữu của một
ngời chủ độc lập, hoặc thuộc quyền sử dụng của một ngời chủ độc lập nếu
t liệu sản xuất đó là đi thuê hoặc nhận giao thầu.
- Trang trại tự chủ hoàn toàn trong các hoạt động sản xuất kinh doanh
của mình, tự lựa chọn phơng hớng sản xuất, quyền quyết định về kỹ thuật
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
và công nghệ sản xuất, tổ chức sản xuất đến tiếp cận thị trờng và tiêu thụ
sản phẩm.
- Tổ chức quản lý sản xuất của trang trại tiến bộ hơn nông hộ. Trang
trại có nhu cầu cao hơn về ứng dụng tiến bộ khoa học và thờng xuyên tiếp
cận thị trờng, đặc biệt là có thu nhập cao hơn so với nông hộ trong vùng.
Từ những nhận thức trên và trên cơ sở nghiên cứu của thế giới cũng
nh thực tiễn kinh tế trang trại ở Việt Nam. Nghị quyết số 03/2000/NĐ-CP,
ngày 2/2/2000 đã đa ra khái niệm chung về mô hình kinh tế trang trại nh
sau: "Kinh tế trang trại là một trong những hình thức tổ chức sản xuất hàng
hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở
rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn

nuôi, thuỷ sản, lâm nghiệp, gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ nông, lâm,
thuỷ sản".
2. Đặc trng của kinh tế trang trại.
Một là, chuyên môn hoá, tập trung sản xuất hàng hoá và dịch vụ theo
nhu cầu của thị trờng, có lợi nhuận cao.
Đây là một đặc trng cơ bản của kinh tế trang trại so với kinh tế nông
hộ. Trong đó, giá trị tổng sản phẩm và sản phẩm hàng hoá là chỉ tiêu trực
tiếp đánh giá về quy mô trang trại. Qui mô trang trại thờng lớn hơn nhiều
lần so với qui mô của kinh tế nông hộ và có tỷ suất nông sản hàng hoá trên
dới 75%. Ngoài ra còn có các chỉ tiêu gián tiếp nh ruộng đất, vốn, lao
động, Riêng về qui mô ruộng đất chẳng những nhiều hơn gấp nhiều lần
(tuỳ theo phơng hớng và trình độ kinh doanh) mà còn tập trung liền vùng,
liền khoảnh.
Hai là, có nhiều khả năng áp dụng những tiến bộ kỹ thuật hơn, tốt hơn
kinh tế nông hộ vì trang trại có vốn có lãi nhiều hơn. Do đó, nhìn chung,
các trang trại chẳng những có những công cụ thờng và sức kéo trâu bò mà
đã trang bị nhiều loại máy móc và áp dụng nhiều quy trình công nghệ mới
(hay quy trình sản xuất mới) vào các ngành sản xuất dịch vụ. Đó chính là
yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất, chất lợng sản phẩm và hiệu quả
kinh doanh.
Ba là, các trang trại vừa sử dụng nguồn lao động vốn có của gia đình,
vừa có thuê mớn thêm lao động làm quanh năm, hoặc trong từng thời vụ,
với số lợng nhiều ít khác nhau. Có trang trại chỉ thuê 1-2 ngời, nhng có
trang trại thuê đến 50-100 ngời.
Bốn là, các chủ trang trại là ngời có ý chí làm giàu, có phơng pháp và
nghệ thuật biết làm giàu và có những điều kiện nhất định để tạo lập trang
trại.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
3. Bản chất và vai trò của kinh tế trang trại.
Trang trại là mô hình sản xuất nông nghiệp có tính phổ biến trên thế

giới khi nông nghiệp đạt đến trình độ phát triển sản xuất hàng hoá. Mục
đích hoạt động kinh tế của trang trại là sản xuất hàng hoá, đáp ứng nhu cầu
thị trờng. Mục đích này hoàn toàn khác với kinh tế tiểu nông (kinh tế hộ
nông dân).
Kinh tế tiểu nông chủ yếu là sản xuất tự cung, tự cấp, đáp ứng nhu cầu
của gia đình về lơng thực và thực phẩm và các nhu cầu khác. Trình độ phát
triển cao nhất của kinh tế hộ cũng chỉ dừng lại ở sản xuất hàng hoá nhỏ,
bán phần nông sản d thừa sau khi đã để lại phần lớn cho tiêu dùng gia đình.
Còn sản xuất hàng hoá lớn (bán toàn bộ hoặc phần lớn nông sản làm ra
nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận) chính là điểm cơ bản nói lên sự khác
biệt giữa kinh tế trang trại và kinh tế hộ nông dân.
Để có sản xuất nông sản hàng hoá lớn thì hoạt động kinh tế của trang
trại phải đợc tiến hành trên qui mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tập
trung đủ lớn (vợt trội nhiều hơn so với kinh tế kinh tế hộ nông dân) với ph-
ơng thức tổ chức sản xuất và quản lý tiến bộ, ứng dụng những thành tựu
mới về tiến bộ khoa học công nghệ, sử dụng sức lao động gia đình và thuê
thêm lao động. Chủ trang trại phải là ngời có ý chí, có năng lực quản lý, có
kiến thức và hiểu biết nhất định về kinh doanh trong cơ chế thị trờng. Đây
là những đặc trng cơ bản của kinh tế trang trại mà kinh tế hộ nông dân cha
hội đủ.
Những đặc trng trên đây và thực tế cho thấy phát triển kinh tế trang
trại là xu thế tất yếu khách quan, có tính quy luật, cần đợc khuyến khích
phát triển. Sự nghiệp công nghiệp hoá không thể tiến triển nếu thiếu một
nền nông nghiệp hàng hoá phát triển, đảm bảo nguồn cung ứng nguyên liệu
dồi dào, đồng thời cũng là thị trờng tiêu thụ nội địa cho ngành công nghiệp.
Nông nghiệp không phát triển thì cũng không thể thúc đẩy hoạt động ngoại
thơng, trao đổi buôn bán, hội nhập kinh tế với các nớc trên thế giới và khu
vực. Chính vì vậy, quá trình công nghiệp hoá sẽ tác động mạnh mẽ đến nền
nông nghiệp truyền thống đa nông nghiệp từng bớc chuyển dần sang sản
xuất kinh doanh hàng hoá phù hợp với nhịp độ phát triển của công nghiệp.

Kinh tế trang trại là một trong các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với
điều kiện và đặc điểm của sản xuất nông nghiệp theo yêu cầu của công
nghiệp hoá. Phát triển kinh tế trang trại cho phép ngời nông dân sử dụng
một cách đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả nhất các nguồn tài nguyên nông
nghiệp (đất đai, mặt nớc, khí hậu, thời tiết, ) để phát triển sản xuất, tăng
thu nhập. Với mô hình kinh tế trang trại ngời chủ, ngời quản lý đồng thời
cũng là ngời lao động trực tiếp, lao động của họ gắn liền với quyền lợi và
thành quả mà họ làm ra nên tiết kiệm đợc chi phí và nâng cao hiêụ quả kinh
tế.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
Kinh tế trang trại phát triển tạo bớc đột phá trong nông nghiệp, thúc
đẩy phát triển kinh tế hàng hoá trong nông thôn. Kinh tế trang trại phát
triển thì mục đích sản xuất tự cung tự cấp của kinh tế hộ bị thu hẹp, nhờng
chỗ cho mục đích sản xuất nông sản hàng hoá theo nhu cầu thị trờng, đồng
thời trình độ kỹ thuật sản xuất đợc nâng cao, lao động cơ khí thay dần lao
động thủ công và tiến bộ khoa học kỹ thuật đợc ứng dụng rộng rãi vào sản
xuất, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi. Kinh tế trang trại phát triển
còn tạo bớc chuyển dịch, tích tụ ruộng đất cùng với quá trình phân công lại
lao động ở nông thôn giữa các cùng, từng bớc chuyển dịch lao động nông
nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp, góp phần xoá dần khoảng cách
khác biệt giữa nông thôn và thành thị.
ở nớc ta, kinh tế trang trại tuy mới xuất hiện trở lại trong mấy năm
gần đây, song nó đã tạo một sự phát triển đột biến trong nông nghiệp, tạo
thuận lợi cho nông nghiệp sớm đi nhanh vào con đờng sản xuất hàng hoá.
Tuy nhiên, xung quanh vấn đề phát triển kinh tế trang trại hiện vẫn đang tồn
tại nhiều ý kiến khác nhau.
Một số ý kiến cho rằng, sự phát triển của kinh tế trang trại gắn liền với
quá trình tích tụ ruộng đất. Khi số lợng các trang trại càng tăng, số lợng hộ
gia đình bị mất đất cũng tăng. Trong khi điều kiện sản xuất công nghiệp và
đô thị hoá chậm, các trang trại lại không có đủ việc làm để thu hút nhiều

lao động. Kết quả là thất nghiệp tăng và chênh lệch thu nhập ngay trên địa
bàn nông thôn tăng lên và mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên gay gắt.
Chênh lệch thu nhập cao, trong dài hạn sẽ kìm hãm phát triển kinh tế.
Một số ý kiến khác lại cho rằng, các trang trại có nhiều u điểm hơn so
với kinh tế hộ gia đình tự cung, tự cấp. Với lợi thế về quy mô, các trang trại
dễ dàng áp dụng công nghệ hiện đại, nâng cao năng suất lao động, tăng sản
lợng nông sản hàng hoá, và qua đó, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá,
chiếm lĩnh thị trờng và mở rộng sản xuất. Hơn nữa, các trang trại phát triển
chủ yếu thông qua huy động sức ngời, sức của, khai thác đất trống, đồi núi
trọc tạo ra của cải và việc làm cho xã hội. Do đó, việc phát triển kinh tế
trang trại không làm giảm đất của các hộ gia đình có quy mô nhỏ.
Phát triển kinh tế trang trại là quá trình khách quan và cần thiết. Kinh
tế phát triển đòi hỏi các loại hình kinh tế phát triển phù hợp với xu thế và
hoàn cảnh cụ thể. Đặc biệt, trong bối cảnh của nền kinh tế thị trờng, dới tác
động của "bàn tay vô hình" các loại hình kinh tế sẽ phát sinh và đào thải tự
nhiên (nếu không có sự điều tiết của Nhà nớc về mặt thể chế). Kinh tế nông
hộ là tiền thân của kinh tế trang trại gia đình. Các tài liệu khoa học cũng
cho thấy kinh tế trang trại đã hình thành và phát triển từ xa xa ở cả Việt
Nam và các nớc trên thế giới, chúng tồn tại dới nhiều hình thức khác nhau
và cũng suy thịnh theo dòng lịch sử.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng chỉ riêng kinh tế trang trại phát
triển thì vẫn cha đủ và cũng không bao giờ thu hút hết lực lợng lao động d
thừa ở nông thôn. Để kinh tế trang trại phát triển và phát huy hiệu quả vốn
có của nó và không làm ảnh hởng đến tăng trởng dài hạn của nền kinh tế thì
cần có sự hỗ trợ của quá trình công nghiệp hoá, đặc biệt là công nghiệp hoá
nông thôn. Điều này đã đợc chứng minh rất rõ qua kinh nghiệm của các nớc
trên thế giới rằng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá lực lợng lao
động nông nghiệp giảm cả về tuyệt đối và tơng đối và phải đợc thu hút vào
các ngành nghề phi nông nghiệp.

II. Loại hình tổ chức sản xuất của kinh tế trang trại
Tổng kết kinh nghiệm của nớc ta và các nớc khác trên thế giới cho
thấy kinh tế trang trại hình thành và phát triển dới nhiều hình thức tổ chức
sản xuất khác nhau nh t bản t nhân, cổ phần, liên doanh, uỷ thác và trang
trại gia đình.
1. Trang trại gia đình là hình thức sản xuất phổ biến nhất của nông
nghiệp thế giới hiện nay. Quá trình hình thành và phát triển trang trại gia
đình là quá trình nâng cao hay mở rộng tính chất và trình độ sản xuất hàng
hoá của trang trại, thu hẹp tính chất tự cung tự cấp của kinh tế nông hộ.
Chính vì vậy mà trang trại gia đình có khả năng thích ứng với các trình độ
sản xuất nông nghiệp khác nhau và với qui mô sản xuất khác nhau. Thực
tiễn cho thấy kinh tế trang trại gia đình đã và đang thể hiện đợc tính thích
ứng và phát triển tốt. ở nhiều quốc gia, trang trại đang là loại hình doanh
nghiệp đặc trng và là hình thức tổ chức cơ bản của nông nghiệp hàng hoá
trong kinh tế thị trờng.
2. Trang trại t bản t nhân có quy mô lớn, sản xuất ra nhiều sản phẩm
hàng hoá, kết hợp sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản theo phơng thức t
bản chủ nghĩa và sử dụng hoàn toàn lao động làm thuê.
3. Trang trại cổ phần đợc tổ chức theo nguyên tắc nh công ty cổ phần,
có qui mô lớn và đợc chuyên môn hoá, sử dụng kinh doanh làm thuê là chủ
yếu.
4. Trang trại liên doanh do hai hay ba trang trại hợp nhất thành một
trang trại lớn hơn để tăng thêm khả năng về vốn và t liệu sản xuất. Các
trang trại tham gia liên doanh nhng vẫn giữ quyền điều hành sản xuất riêng.
Đối tác liên doanh thờng là họ hàng thân tộc. Lao động chủ yếu là lao động
gia đình và một số lao động làm thuê khác. Tuy nhiên, tỷ lệ 3 loại trang trại
này trên thế giới không nhiều.
5. Trang trại uỷ thác (ở Đài Loan), ở đó quyền sử dụng ruộng đất đợc
tập trung vào những hộ nông dân, các trang trại chuyên làm ruộng. Quyền
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng

này đợc uỷ thác từ một số nông dân đi làm nghề khác, song không muốn
bán ruộng.
Có thể thấy trang trại gia đình là loại hình trang trại chủ yếu trong
nông nghiệp ở nhiều nớc trên thế giới, sử dụng lao động gia đình là chủ yếu
và có thuê thêm lao động, đặc biệt vào lúc thời vụ.
T liệu sản xuất chính của trang trại là ruộng đất. Do mỗi vùng địa lý có
điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội khác nhau nên kinh tế trang trại cũng
hình thành các loại hình sản xuất kinh doanh rất đa dạng mang những nét
đặc trng riêng của mỗi vùng. Có vùng có thế mạnh về cây lơng thực, có
vùng lại có thế mạnh cây công nghiệp hay cây ăn quả, cây đặc sản, trồng
rừng, chăn nuôi đại gia súc, nuôi trồng thuỷ sản, Bởi vậy các trang trại có
thể tổ chức sản xuất theo phơng thức chuyên canh (cây ăn quả, cây công
nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, ) hoặc cũng có thể kinh doanh tổng hợp (nông
- lâm kết hợp giữa cây dài ngày với cây ngắn ngày, giữa trồng trọt với chăn
nuôi hay giữa sản xuất nông nghiệp với dịch vụ, hoạt động phi nông
nghiệp), tất cả tuỳ thuộc vào khả năng và trình độ sản xuất của các trang
trại.
Ngày nay, nền nông nghiệp hiện đại đòi hỏi sản xuất chuyên môn hoá
kết hợp với phát triển tổng hợp và đa dạng hoá sản phẩm để tận dụng tối đa
các yếu tố tự nhiên, kinh tế và xã hội và bảo vệ môi trờng sinh thái bền
vững. Trong điều kiện cơ sở hạ tầng và trình độ tổ chức sản xuất của nông
nghiệp và nông thôn Việt Nam hiện nay còn rất nhiều hạn chế khi sản xuất
kinh doanh nông nghiệp tổng hợp đa canh cho hiệu quả hơn hẳn sản xuất
chuyên môn hoá điều độc canh. Mô hình kinh tế trang trại với qui mô thích
hợp sẽ thực hiện có hiệu quả việc sản xuất kinh doanh tổng hợp kiểu đa
ngành nh VAC, VACR hay đa dạng sản phẩm trong các ngành trồng trọt,
chăn nuôi.
III- Đặc điểm tổ chức lao động trong kinh tế trang
trại.
Tổ chức lao động trong sản xuất nông nghiệp nói chung và kinh tế

trang trại nói riêng bị chi phối bởi các quy luật sinh học trong chu kỳ phát
triển cuả các loại cây, con bởi các điều kiện tự nhiên và môi trờng, bởi các
yếu tố văn hoá xã hội của từng vùng và cộng đồng dân c, Tổ chức lao
động trong kinh tế trang trại có những đặc điểm chính sau đây:
1. Tính thời vụ.
Do sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ cao, nên lao động và việc làm
ở các trang trại cũng có tính thời vụ cao, có thời gian làm việc không ổn
định trong năm. Trong cơ cấu lao động tại các trang trại, số lợng lao động
thờng xuyên chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp (20%), trong khi đó số lợng lao động
thời vụ chiếm đến 80%.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
Lao động thờng xuyên chủ yếu là ngời nhà của chủ trang trại làm các
chức năng quản lý, kỹ thuật và những hoạt động đòi hỏi trình độ cao hoặc
có nhiều kinh nghiệm thực tế. Lao động thời vụ chủ yếu là lao động làm
thuê tạm thời theo thời vụ nh gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, tiêu thụ sản
phẩm với cách thức và tiền công do chủ và ngời làm thuê thoả thuận với
nhau.
Tuỳ theo loại hình và tính chất sản xuất của trang trại mà số lợng và cơ
cấu các loại lao động và việc làm có khác nhau. Trang trại lâm nghiệp,
trồng cây lâu năm thờng có số lao động hợp đồng thời vụ nhiều và chiếm tỷ
trọng lớn, các trang trại chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản chủ yếu sử dụng lao
động gia đình vì yêu cầu kỹ thuật cao, nhất là những khâu công việc phức
tạp nh nuôi cá giống, tôm giống, chế biến, chăm sóc đàn bò sữa, vắt sữa,
chăn nuôi lợn hớng nạc, gia cầm.
2. Trình độ tay nghề thấp.
Lao động làm việc tại các trang trại chủ yếu là lao động d thừa từ khu
vực nông nghiệp, trình độ văn hoá và kiến thức nghề nghiệp không cao. Lực
lợng lao động này chủ yếu làm các công việc giản đơn, làm thuê theo hợp
đồng thời vụ với giá trị ngày công thấp so với các ngành nghề khác trên
cùng địa bàn. Do phải làm các công việc nặng nhọc lại phải hoạt động trên

một phạm vi rộng, ngoài trời, phải cơ động nhiều và không cố định nên lao
động nam giới chiếm tỷ lệ cao, lao động chỉ có trong một số ngành và lĩnh
vực nhất định, nh chăn nuôi gia súc, gia cầm, chăm sóc vờn cây,
3. Tính đa dạng cao về các hình thức tổ chức kinh doanh .
Do tính chất ngành nghề và sản phẩm của các trang trại ở nớc ta rất đa
dạng, không ổn định và tự phát nên tổ chức lao động và việc làm ở các
trang trại cũng rất đa dạng.
Tính chuyên môn hoá thấp, lao động kiêm nhiệm là chủ yếu và do đó
khó tăng năng suất lao động. Đặc thù này có u điểm là nhu cầu về lao động
và việc làm không những nhiều về số lợng, đa dạng về nghề nghiệp mà còn
không đòi hỏi cao về chất lợng và trình độ chuyên môn, rất phù hợp với
nguồn lao động d thừa hiện nay ở khu vực nông thôn.
Tuy nhiên, bên cạnh u điểm và lợi thế đó, tính đa dạng về cầu lao động
của các trang trại cũng tạo ra những bất cập và mâu thuẫn trong công tác
quy hoạch đào tạo, bồi dỡng nghề nghiệp và sử dụng lao động.
4. Sự không đồng nhất về chất lợng lao động.
Yêu cầu sản xuất nông, lâm nghiệp và cả nuôi trồng thuỷ sản trong
điều kiện hiện nay tại các trang trại chỉ mới giới hạn chủ yếu trong các hoạt
động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ cây, con giống, thu hoạch, vận chuyển,
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
sơ chế nông sản, thuỷ sản. Do vậy, nhu cầu lao động làm việc cũng chỉ tập
trung vào các công việc nặng nhọc, sử dụng lao động cơ bắp theo thời vụ,
cha cần nhiều lao động có trình độ cao và kinh doanh kỹ thuật cao (trừ
ngành nuôi tôm giống, cá giống, bò sữa, lợn, gia cầm giống, ). Yêu cầu về
chất lợng và trình độ kỹ thuật cao chủ yếu dựa vào lao động gia đình của
chủ trang trại.
Hiện tợng phổ biến hiện nay là sự không đồng đều về chất lợng và
trình độ lao động trong các trang trại. Điều này đã và đang đặt ra một vấn
đề khó khăn là làm thế nào để nâng cao trình độ nghề nghiệp của ngời lao
động trong các trang trại phù hợp với yêu cầu sản xuất hàng hoá lớn, chất l-

ợng sản phẩm cao, giá thành hạ để tăng sức cạnh tranh trên thị trờng.
5. Tổ chức lao động mang nặng tính tự phát.
Tổ chức lao động trong trang trại còn mang tính tự phát, dựa theo kinh
nghiệm là chính và do đó tính khoa học cha cao. Tính tự do, tự phát và
không thống nhất về tiền công, hợp đồng lao động, việc làm trong các trang
trại là hiện tợng phổ biến. Hợp đồng lao động, giá ngày công đều do đôi
bên tự thoả thuân, không có văn bản hoặc có nhng rất sơ lợc.
Cả chủ trang trại và ngời lao động làm thuê cha chịu sự quản lý hoặc
ràng buộc cần thiết về luật pháp. Các "lệ làng" đang chi phối rất lớn các
quan hệ lao động. Hầu nh không có chủ trang trại nào quan tâm đến vấn đề
bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội cho lao động làm thuê và bản thân lao
động làm thuê (kể cả thời vụ và thờng xuyên) cũng đòi hỏi quyền lợi chính
đáng về các loại bảo hiểm mà lẽ ra họ đợc hởng.
IV- Kinh nghiệm của nớc ngoài về kinh tế trang trại.
Kinh nghiệm của các nớc rất phong phú. Tuỳ theo điều kiện đặc thù
của mỗi quốc gia mà mỗi nớc có những biện pháp, chính sách để giải quyết
vấn đề khác nhau và đơng nhiên những kinh nghiệm, bài học rút ra của mỗi
nớc tuy không thể áp dụng một cách máy móc, nhng lại là kinh nghiệm
tham khảo rất bổ ích đối với quốc gia khác. Dới đây là kinh nghiệm phát
triển kinh tế trang trại của các nớc Đông Bắc á.
1. Kinh tế trang trại Nhật Bản.
Nhật Bản là nớc đi đầu Châu á trong công nghiệp hoá cũng nh phát
triển kinh tế trang trại. Từ thời Minh Trị (1886) bắt đầu thời kỳ đi lên công
nghiệp hoá, kinh tế hộ nông dân của Nhật Bản đã có sự chuyển dịch từng b-
ớc từ sản xuất tự túc sang sản xuất hàng hoá, theo mô hình kinh tế trang
trại. Nhng kinh tế trang trại ở Nhật Bản chỉ thực sự phát triển từ sau chiến
tranh thế giới lần thứ 2, sau cuộc cải cách ruộng đất, tạo điều kiện cho các
hộ nông dân làm chủ ruộng đất, hình thành các trang trại sản xuất nông sản
hàng hoá với khối lợng lớn và tỷ suất hàng hoá cao.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng

Nông nghiệp Nhật Bản cũng nh kinh tế trang trại Nhật Bản thời gian
đầu công nghiệp hoá có nhiều nét tơng đồng với các nớc Châu á, đặc biệt
là các nớc vùng Đông Bắc á và Đông Nam á, nh ruộng đất bình quân thấp,
lao động nhiều, sản xuất lúa nớc là chủ yếu, trình độ sản xuất thấp, năng
suất cây trồng gia súc thấp, độc canh, thuần nông, thu nhập và mức sống
của nông dân thấp.
Nhng do công nghiệp hoá đất nớc và phát triển kinh tế trang trại gia
đình, trong nông nghiệp đã tạo ra một sự chuyển biến to lớn về lợng cũng
nh về chất, tiến kịp và vợt nhiều nớc Âu - Mỹ, trong điều kiện đặc thù riêng
của Châu á, nh đã nêu trên.
Kinh tế trang trại gia đình quy mô nhỏ của Nhật Bản đã đạt trình độ
chuyên môn hoá, xã hội hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thơng phẩm
hoá sản xuất nông nghiệp cao, với gần 2,4 triệu trang trại (năm 1994) đã
sản xuất ra một khối lợng nông sản hàng hoá lớn đảm bảo nhu cầu cho 125
triệu ngời, đạt đủ nhu cầu về gạo, gần 80% nhu cầu về thịt, sữa, trứng, đ-
ờng, rau quả
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
Bảng 1: Số lợng trang trại gia đình ở Nhật Bản thời gian
1950 - 1995.
Năm
Số lợng trang trại (1000
cơ sở)
Quy mô bình quân 1
trang trại (ha)
1950 6.176 0,3
1970 5.382 1,1
1980 11.661 1,1
1990 3.739 1,4
1995 2.385 1,5
Số lợng trang trại gia đình ở Nhật Bản cũng phát triển theo quy luật

chung. Thời gian bắt đầu công nghiệp hoá số trang trại tăng lên: Năm 1945
có 5,7 triệu cơ sở, đến năm 1950 tăng ên đến 6,17 triệu. Sau đó số lợng
trang trại giảm dần, đến nay chỉ còn 2,4 triệu cơ sở.
Về quy mô trang trại thì Nhật Bản là điển hình của loại trang trại quy
mô nhỏ. HIện nay ở Nhật Bản 2,4 triệu trang trại canh tác 5 triệu ha đất, so
vói 15 nớc liên minh Châu Âu (EU) 6 triệu trang trại canh tác 80 triệu ha
đất, và nớc Mỹ có 2,1 triệu trang trại canh tác 150 triệu ha đất. Việc tích tụ
ruộng đất của các trang trại cũng diễn ra với tốc độ chậm. Trong 40 năm
bình quân ruộng đất của trang trại chỉ tăng từ 0,8 lên 1,5 ha.
Riêng ngành chăn nuôi thì quy mô trang trại tăng nhanh nhất là chăn
nuôi gà lợn vì cần ít đất. Cơ cấu sản xuất và cơ cấu thu nhập của các trang
trại gia đình ở Nhật Bản vừa qua có nhiều biến đổi. Trong những năm 50,
chủ yếu là thuần nông, thu nhập từ nông nghiệp là chính, đến nay chuyển
sang kiêm nghiệp, hoạt động cả trong và ngoài nông nghiệp, thu nhập ngoài
nông nghiệp ngày càng tăng, nhiều khi vợt thu nhập từ nông nghiệp.
Hiện nay ở Nhật Bản có 4 loại trang trại gia đình với cơ cấu ngành
nghề và nguồn thu nhập khác nhau:
- Các trang trại chuyên làm nông nghiệp (thuần nông) có thu nhập duy
nhất từ nông nghiệp năm 1960 có 2 triệu cơ sở, đến năm 1990 còn 600.000
cơ sở giảm đi hơn 3 lần, chiếm 15% tổng số trang trại.
- Các trang trại làm nông nghiệp là chính (nguồn thu nhập từ nông
nghiệp là chủ yếu) đồng thời có làm thêm ngoài nông nghiệp để tăng thu
nhập phụ, loại trang trại này đến năm 1990 có 600.000 cơ sở chiếm 15%
tổng số trang trại.
- Các trang trại làm nông nghiệp và thu nhập từ nông nghiệp là phụ,
làm ngoài nông nghiệp và thu nhập ngoài nông nghiệp là chính. Loại trang
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
trại này năm 1990 có khoảng gần 3 triệu cơ sở chiếm xấp xỉ 70% tổng số
trang trại.
- Các trang trại nông thôn của những ngời dân thành phố để lao động

giải trí trong những ngày nghỉ mục đích chính để thay đổi môi trờng làm
việc và sinh hoạt cần tăng thu nhập là phụ. Trang trại gia đình Nhật Bản tuy
qui mô nhỏ nhng đã hiện đại hoá ở mức độ cao, các khâu canh tác lúa nớc
đã cơ giới hoá 90.100% kể cả cấy lúa và gặt lúa, sấy thóc. Nên từ năm 1950
đến nay chi phí lao động làm ra 1 tạ thóc giảm đi 9 lần, và thu nhập của
trang trại tăng 30 lần. Lao động nông nghiệp giảm từ 17 triệu (năm 1950)
xuống còn 4 triệu (1995) và 99,2% số trang trại gia đình tham gia vào các
hoạt động của trên 4000 hợp tác xã dịch vụ tổng hợp đảm bảo đầu vào và
đầu ra cho sản xuất. Nhà nớc có nhiều biện pháp về luật pháp và kinh tế để
hỗ trợ cho sản xuất của các trang trại gia đình. Điểm nổi lên là mối quan hệ
gắn bó giữa các trang trại gia đình và mạng lới hợp tác xã ở Nhật Bản. Kinh
tế trang trại đã thúc đẩy kinh tế hợp tác phát triển, và kinh tế hợp tác xã đã
trở thành lực lợng chủ yếu cung ứng vốn, vật t cho các trang trại và đảm bảo
tiêu thụ nông sản hàng hoá của các trang trại làm ra.
Trang trại gia đình Kaxumata ở xã Gôtamba, tỉnh Siduôka, có hai vợ
chồng và 1 con trai lớn. Gia đình có 1 ha ruộng lúa và thuê thêm 2 héc ta để
trồng cây thức ăn gia súc, nuôi 32 bò sữa và 24 bò thịt. Sử dụng lao động
gia đình không thuê ngoài. Thu nhập của trang trại là 5 triệu Yên/năm.
Trang trại gia đình Tanaka, ở Ôb, ngoại ô thành phố Nagôya có 4 lao
động trồng 0,7 héc ta rau quanh năm, mùa đông phủ ni lông nh nhà kính.
Trang trại vay Hợp tác xã tín dụng 4 triệu yên để xây dựng hệ thống tới
phun, ống đặt ngâm dới đất. Thu nhập hàng năm 5 triệu yên do bán trên 100
tấn cà chua và da chuột.
2. Kinh tế trang trại Đài Loan.
ở Đài Loan là một lãnh thổ nhỏ, nhng đi vào công nghiệp sớm ở Châu
á sau Nhật Bản, nên kinh tế trang trại gia đình cũng sớm phát triển.
Bảng 2: Số lợng trang trại gia đình ở Đài Loan thời gian
1955 - 1996
Năm
Số trang trại gia đình (1000

cơ sở)
Quy mô bình quân 1 trang
trại (ha)
1955 732 1,12
1960 785 0,91
1970 879 0,83
1980 872 1,04
1990 824 1,08
1996 779 1,20
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
Số lợng trang trại gia đình ở Đài Loan thời gian 1955-1970 thời kỳ bắt
đầu công nghiệp hoá tăng lên gần 150.000 cơ sở và từ năm 1970 đến nay
giảm dần, nhng với tốc độ chậm. Năm 1996 có 779.427 trang trại. Qui mô
bình quân của trang trại gia đình cũng thuộc loại rất nhỏ nh Nhật Bản thời
gian đầu giảm đi, từ năm 1980 đến nay có chiều hớng tăng lên, nhng không
nhiều. Năm 1996 bình quân 1 trang trại có 1,2 ha.
Phân tích cụ thể sự biến động về quy mô trang trại ở Đài Loan, ta thấy
một hiện tợng đáng chú ý là trong quá trình công nghiệp hoá số trang trại
có qui mô rất nhỏ lại tăng lên cả về số lợng và tỷ lệ, còn số trang trại lớn lại
giảm đi.
Số trang trại nhỏ dới 0,5 ha năm 1955 chiếm 34,4% đến năm 1980
tăng lên 43,1%.
Số trang trại có từ 2 ha trở lên năm 1955 chiếm 11,7%, năm 1980 còn 7,4%.
Đến nay số trang trại cực nhỏ (dới 0,5 ha) chiếm 43,1% tổng số trang trại.
Số trang trại nhỏ (0,5 - 1 ha) chiến 29,5%.
Số trang trại trung bình (1-2 ha) chiếm 11,0%.
Số trang trại lớn (3-5 ha) chiếm 2,0%
Số trang trại rất lớn (5-10 ha) chiếm 0,1%.
Trong chăn nuôi quy mô trang trại tăng nhanh. Trong ngành chăn nuôi
lợn số trại nuôi dới 100 con giảm đi một nửa và số trâu nuôi từ 100-5000 con

tăng lên gấp đôi. Số trại lợn giảm từ 344.832 cơ sở xuống 140.452 cơ sở.
Để tích tụ ruộng đất vào một số trang trại gia đình ở Đài Loan đã phát
triển hình thức sản xuất uỷ thác. Những nông dân chủ trang trại tìm đợc
việc làm trong công nghiệp, ngoài trang trại có thu nhập cao hơn làm nông
nghiệp, đã đem ruộng đất uỷ thác cho bà con thân thích hoặc bạn bè nhàn
để canh tác bởi các điều kiện do hai bên thoả thuận. Hiện nay có đến 75%
số trang trại gia đình thực hiện hình thức sản xuất uỷ thác.
Về hình thức sở hữu và sử dụng ruộng đất, đến nay ở Đài Loan 83% số
trang trại gia đình có ruộng đất riêng đủ canh tác, 13% có ruộng riêng, nh-
ng còn thiếu phải thuê thêm, và 4% số trang trại không có ruộng riêng hoàn
toàn đi thuê ruộng để sản xuất.
Có trang trại gia đình thuần nông, chuyên làm nông nghiệp giảm từ
39,87% (1995) xuống 8,89% (1980).
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
Các trang trại kiêm nghiệp vừa làm nông nghiệp vừa làm ngoài nông
nghiệp tăng từ 60,13% (1995) lên 91,02% (1980).
Trang trại gia đình quy mô nhỏ ở Đài Loan cũng đã tiến lên hiện đại
hoá ở mức độ cao xấp xỉ Nhật Bản. Từ năm 1981, trong sản xuất lúa đã cơ
giới hoá 95% khâu làm đất, 91% khâu cấy lúa 80% khâu gặt lúa và 50%
khâu sấy thóc. ở mỗi làng xã có Trung tâm làm mạ của t nhân, làm mạ theo
quy trình công nghiệp để bán cho các trang trại có máy làm đất và máy cấy
lúa để làm thuê cho từng trang trại.
Việc bảo vệ thực vật của các trang trại gia đình do 2 công ty máy bay
lên thẳng đảm nhiệm.
Các trang trại gia đình quy mô nhỏ có sự hỗ trợ đắc lực của các tổ
chức nh Hiệp hội nông dân, Hiệp hội ng dân, Hội thuỷ nông, các hợp tác xã
tiêu thụ quả, và các hình thức đổi công làm việc chung. Kinh tế trang trại
gia đình quy mô nhỏ ở Đài Loan đã tạo ra một khối lợng nông sản hàng hoá
lớn phục vụ kịp thời các thời kỳ công nghiệp hoá.
3. Kinh tế trang trại Hàn Quốc

Kinh tế trang trại gia đình ở Hàn Quốc cũng có những đặc điểm tơng
tự nh Đài Loan và Nhật Bản.
Bảng 3: Số lợng trang trại gia đình ở Hàn Quốc thời gian
1953 - 1979
Năm
Số trang trại gia
đình (1000 cơ sở)
Qui mô bình quân
1 trang trại (ha)
Số lợng lao động
nông nghiệp (1000
ngời
1953 2.249 0,86 4.430
1965 2.507 0,90 4.538
1975 2.379 0,94 5.041
1979 1.772 1,20 3.722
Năm 1950 Hàn Quốc tiến hành cải cách ruộng đất, chính quyền đề ra
mức hạn chế mỗi hộ không đợc quyền sở hữu quá 3 ha ruộng đất và Nhà n-
ớc mua lại đất đai quá hạn mức của địa chủ để bán lại cho nông dân thiếu
đất trả tiền dần, tạo cơ sở cho việc hình thành nền kinh tế trang trại gia đình
sản xuất nông sản hàng hoá.
Năm 1974, 67% số trang trại gia đình có từ 1 ha trở xuống, 25% số
trang trại có 1-3 ha, 8% trang trại có 3-5 ha.
Trong quá trình công nghiệp hoá kinh tế trang trại gia đình phát triển
nhanh chóng do tác động của các chính sách khuyến khích của Nhà nớc, sự
hỗ trpj của hệ thống tổ chức hợp tác xã dịch vụ và tác động của khoa học và
công nghệ, và tăng cờng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
Năm 1988 mức độ cơ giới hoá sản xuất lúa đã đạt trên 80% đối với
khâu làm đất, 54% đối với khâu cấy lúa, 53% đối với khâu gặt lúa và đến

năm 1992 làm đất đạt 93%, cấy lúa đạt 71%, gặt lúa đạt 76%.
Số trang trại gia đình thuần nông giảm đi và các trang trại vừa làm
nông nghiệp vừa làm ngoài nông nghiệp tăng lên.
Chơng II: Đánh giá thực trạng Tình hình phát
triển kinh tế trang trại ở Việt nam
I- Tình hình phát triển trang trại.
1. Về số lợng và quy mô trang trại.
1.1. Về số lợng trang trại.
Trớc năm 1986, sản xuất nông nghiệp nớc ta đợc tổ chức theo mô hình
kế hoạch hoá tập trung, bao gồm: nông trờng quốc doanh, hợp tác xã nông
nghiệp và tập đoàn sản xuất. Kinh tế t nhân, cá thể bị hạn chế đến mức tối
đa.
Tháng 1 năm 1981 Ban bí th Trung ơng ra chỉ thị 100 về khoán sản
phẩm cuối cùng đến nhóm và ngời lao động. Tiếp sau đó, nhiều văn bản
khác của Đảng và Chính phủ đã đợc ban hành: Chỉ thị 19 về điều chỉnh
ruộng đất đẩy mạnh cải tạo nông nghiệp miền Nam; Chỉ thị 29 về giao đất,
giao rừng và củng cố quan hệ sản xuất ở miền núi Chỉ thị 35 về phát triển
kinh tế gia đình, Chỉ thị 50 về kiện toàn nông nghiệp quốc doanh; Chỉ thị
65 về củng cố quan hệ sản xuất ở miền biển; Chỉ thị 67 về hoàn thiện cơ
chế khoán sản phẩm đến nhóm và ngời lao động. Đặc biệt, Nghị quyết 10
của Bộ Chính trị (tháng 4/1988) về đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp đã
khẳng định hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ đã tạo cơ sở cho
nông nghiệp và nông thôn phát triển theo một hớng mới. Kể từ đó, kinh tế
trang trại gia đình xuất hiện ở một số nơi. Tuy nhiên, theo các tài liệu
nghiên cứu thì đến 1985, số lợng trang trại ở nớc ta còn rất ít và rất phân
tán. Chỉ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần VI (12/1986) thì kinh tế trang trại
mới có điều kiện phát triển.
Theo các tài liệu đã công bố, năm 1989, nớc ta chỉ có 5.215 trang trại,
đến năm 1992, đã tăng lên 13.246 trang trại, nhiều hơn gấp 2,53 lần, năm
1999 nớc ta có 45.372 trang trại, tăng gấp 8,7 lần so với năm 1989 và gấp

3,4 lần năm 1992.
ở một số tỉnh, kinh tế trang trại phát triển với tốc độ khá nhanh. Sơn
La, năm 1990 mới có 530 trang trại, thì đến năm 1998 có 4805 trang trại;
Lào Cai năm 1991 có 581 trang trại, đến năm 1998 có 2.622 trang trại.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
Năm 1998, các địa phơng trong cả nớc, dựa trên sự hớng dẫn sơ bộ về
khái niệm và các tiêu chí của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn, đã
điều tra khảo sát về Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn khoảng
113.000 trang trại.
Thực tế, đến trớc tháng 6/ 2002 việc thống kê số lợng trang trại ở
nhiều địa phơng và cơ quan khác nhau đã đợc thực hiện theo những tiêu chí
riêng, do đó nhiều khi các số liệu công bố rất khác nhau.
Để thống nhất, ngày 22/6/2000 Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông
thôn và Tổng cục thống kê đã có thông t liên bộ "hớng dẫn tiêu chí để xác
định kinh tế trang trại". Về giá trị sản lợng hàng hoá va dịch vụ, thông t quy
định bình quân 1 năm 1 trang trại phải đạt ít nhất 50 triệu đồng đối với khu
vực miền Nam và 40 triệu đồng đối với khu vực miền Bắc và miền Trung.
Về quy mô đất đai, các trang trại phải có ít nhất từ 2 ha trở lên, cá biệt, các
vùng đồng bằng hay đô thị đất chật ngời đông, thì qui mô trang trại có thể
dới 2 ha nhng phải đảm bảo chỉ tiêu tỷ suất hàng hoá cao. Đối với chăn
nuôi thì quy mô đàn gia súc đợc lấy làm tiêu chí. Trâu bò sinh sản và lấy
sữa từ 10 con trở lên, lấy thịt từ 50 con trở lên, nuôi lợn sinh sản thờng
xuyên ít nhất là 20 con, lấy thịt là 100 con. Chăn nuôi gia cầm thờng xuyên
phải có ít nhất 2000 con.
Việc ban hành các tiêu chí để áp dụng thống nhất trong cả nớc cho
công tác thống kê, báo cáo, công tác quản lý và nghiên cứu là hết sức cần
thiết. Tuy nhiên, xung quanh các tiêu chí cụ thể này, một số nhà khoa học
và quản lý cho rằng tiêu chí xác định quy mô giá trị sản phẩm hàng hoá và
dịch vụ phải đạt 40 triệu đồng trở lên đối với các trang trại phía Bắc và 50
triệu đồng trở lên đối với các tỉnh phía Nam là cao. Ngay các nớc có lịch sử

phát triển kinh tế trang trại lâu đời nh Mỹ cũng chỉ quy định giá trị sản
phẩm hàng hoá của trang trại chỉ cần từ 1000 USD/năm trở lên. Năm 1995,
ở Mỹ tỷ lệ trang trại có qui mô giá trị hàng hoá từ 1000 -2499 USD (tơng đ-
ơng 14,5-36,2 triệu đồng Việt Nam) còn chiếm 21,5%.
Tiêu chí thứ hai, ít quan hệ với tiêu chí thứ nhất, trên thực tế đã tách
rời và có nhiều mâu thuẫn với tiêu chí thứ nhất. Chẳng hạn với diện tích cây
hàng năm từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và 3 ha trở lên đối với
các tỉnh phía Nam thì khó có thể lựa chọn những cây hàng hoá hàng năm để
đạt đợc mức giá trị hàng hoá 40-50 triệu đồng ở qui mô nói trên. Thậm chí
các trang trại trồng cây lâu năm, ở những năm đầu (thời kỳ kiến thiết cơ
bản) không có thu hoạch, không có giá trị hàng hoá.
Do đặc thì của sản xuất nông nghiệp, chuyên môn hoá sản xuất phải
kết hợp với phát triển tổng hợp. Ngay chuyên môn hoá sản xuất cũng không
chỉ có một sản phẩm mà có thể có vài ba loại sản phẩm hàng hoá khác
nhau. Nh vậy, không nhất thiết loại sản phẩm nào cũng phải có quy mô tơng
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
ứng hội đủ các tiêu chí về diện tích đất đai và số lợng đầu vật nuôi. Thực tế,
nhiều địa phơng đã gặp khó khăn khi vận dụng các tiêu chí trên để xác
định kinh tế trang trại. ở Sơn La, từ chỗ hàng nghìn trang trại, rà soát lại
theo các tiêu chí của Thông t 69 LB/BNN-TCTK thì chỉ còn 49 trang trại là
đủ tiêu chuẩn.
Theo tiêu chí của Thông t 69 LB/BNN-TCTK ngày 23/09/2000, số liệu
báo cáo của 57 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của các địa phơng,
năm 2002 có 52554 trang trại. Trong đó, chủ yếu là của các hộ gia đình
nông dân lấy sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trên các vùng đất còn
hoang hoá ở trung du, miền núi và ven biển theo hớng kinh tế hàng hoá.
Nh vậy, sau 11 năm số lợng trang trại nớc ta đã tăng gần 11 lần.
Biểu đồ 1: Số lợng trang trại qua một số năm
5215
13246

45372
52554
0
10000
20000
30000
40000
50000
60000
1989 1992 1999 2002
Số liệu thống kê cũng cho thấy rằng số lợng trang trại không những
tăng nhanh, mà còn tăng khá ổn định và rộng khắp các địa bàn trên phạm
vi cả nớc (biểu đồ 1).
Ba khu vực phía Nam (Tây Nguyên, Đồng bằng Đông Nam Bộ và
Đồng bằng sông Cửu Long) có số lợng trang trại lớn nhất, chiếm 75% tổng
số trang trại và chiếm 64% về diện tích đất trang trại cả nớc, riêng đồng
bằng sông Cửu Long có số trang trại trên 42% và diện tích chiếm 28% so
với cả nớc. Khu vực phía Bắc (đồng bằng sông Hồng, Đông Bắc và Tây
Bắc) có ít trang trại nhất (chiếm khoảng 11%), song có diện tích đất khá lớn
(18%).
Nh vậy, có thể thấy rằng ở nớc ta trang trại hình thành và phát triển
mạnh trở lại chủ yếu kể từ khi có Nghị quyết 10 - BCT (năm 1988) và thực
hiện Luật Đất đai (năm 1993). Trang trại là sản phẩm của đờng lối đổi mới.
Mặc dù đang có những ý kiến khác nhau về tiêu chí, song nhận định chung
là số lợng trang trại ở nớc ta đã tăng nhanh trong thời gian qua.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng, thời gian đầu, kinh tế trang trại
chủ yếu phát triển tự phát, phân tán và manh mún. Phát triển trang trại cha
gắn liền với qui hoạch các vùng sản xuất chuyên môn hoá và công nghiệp
chế biến nông, lâm, thuỷ sản và thị trờng.

Nhìn chung, qui mô trang trại ở nớc ta hiện nay đạt mức tơng đối lớn
(so với qui mô kinh tế hộ) cả về ruộng đất, vốn, lao động.
1.2. Qui mô về ruộng đất.
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, diện tích đất
sử dụng bình quân một trang trại ở nớc ta hiện nay là 6,0 ha. Trong đó, lớn
nhất là ở vùng đồng bằng Sông Hồng 11,3 ha và thấp nhất là đồng bằng
sông Cửu Long với 4,5 ha/trang trại.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
Bảng 4: Đất sử dụng bình quân một trang trại theo vùng kinh tế và
tính chất sử dụng
Đơn vị: ha
Tổng
số
Đất
nông
nghiệp
Đất trồng
cây hàng
năm
Đất trồng
cây lâu
năm
Đất lâm
nghiệp
Diện tích mặt
nớc nuôi trồng
thuỷ sản
Đất khác
Cả nớc 6,0 4,4 2,4 2,0 1,1 0,4 0,1
ĐB Sông Hồng 11,3 1,3 0,5 0,8 2,4 5,1 0,1

Đông Bắc 10,4 3,5 1,2 2,3 5,0 1,8 0,1
Tây bắc 7,6 2,6 2,2 0,4 4,0 0,5 0,1
Bắc Trung Bộ 9,3 2,5 1,8 0,7 5,2 0,8 0,4
Duyên Hải Miền
Trung
4,9 3,3 1,4 2,0 1,2 0,4 0,0
Tây Nguyên 5,9 4,9 0,8 4,0 0,1
Đông Nam Bộ 6,7 7,3 1,4 5,8 0,3 0,1 0,1
ĐB Sông Cửu Long 4,5 3,9 3,9
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nếu phân theo loại hình sản xuất:
- Trang trại trồng cây lâu năm có qui mô đất nông nghiệp bình quân
4,7 ha/1 trang trại, trong đó 10% dới 2 ha, 24% từ 2-3 ha, 61% từ 3 - 10 ha
và 13% trên 10 ha.
- Trang trại trồng cây lâu năm có qui mô đất nông nghiệp bình quân
9,4 ha, trong đó 0,9% dới 3 ha, 7,5% từ 3-5 ha, 67% từ 5-10 ha, 24,7% trên
10 ha.
- Trang trại lâm nghiệp có qui mô bình quân 17 ha đất rừng 1 trang
trại, trong đó 76% có từ 5 20 ha, 34% có trên 20 ha và có 4 trang trại
trên 100 ha.
- Trang trại nuôi trồng thuỷ sản có qui mô bình quân 1 ha diện tích
mặt nớc.
- Trang trại chăn nuôi có qui mô bình quân 39 trâu, bò, 52 lợn và 544
gia cầm.
Nguồn đất để hình thành trang trại rất đa dạng, trong đó 71,8% là đất
đợc giao NĐ 64/CP của Chính phủ, còn 28,2% là đất cha giao. Trong số đất
cha đợc giao thì 31,5% là đất nhận thầu của xã hoặc HTX, 19,3% nhận
chuyển nhợng, 18% tự khai hoang, 19% nhận thầu của nông, lâm trờng và
10% nhận thầu của các dự án.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng

1.3. Qui mô về vốn.
Vốn là một trong những điều kiện tiên quyết giúp trang trại khởi sự
hoạt động sản xuất kinh doanh trong các giai đoạn tiếp theo. Nguồn vốn
ban đầu của các trang trại về cơ bản vẫn là vốn tự có của các chủ trang trại,
hoặc vay một phần của ngời thân hay họ hàng trong gia đình mà không phải
trả lãi. Khi trang trại phát triển đến mức độ nhất định thì nhu cầu vay vốn
tín dụng của các trang trại tăng lên.
Số liệu điều tra năm 1998 của Viện Kinh tế Nông nghiệp cho thấy vốn
đầu t bình quân của 1 trang trại đạt trên dới 200 triệu đồng. Trong đó vốn
tự có chiếm 85%, vốn vay cộng đồng 5% và vay của ngân hàng, dự án đầu
t chỉ chiếm 10%.
Theo kết quả điều tra của Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân (năm
1999): qui mô vốn bình quân 1 trang trại là 291,43 triệu đồng, trong đó
91% là vốn tự có. Các tỉnh phía Nam 418 triệu đồng, cao gấp 3,6 lần các
tỉnh phía Bắc, trong đó cao nhất là các tỉnh Tây Nguyên 495 triệu đồng,
riêng Đắc Lắc là 619 triệu đồng, thấp nhất là Yên Bái 95,9 triệu đồng.
Nguyên nhân của tình hình này là do: trang trại ở các tỉnh phía Nam phải
đầu t vốn cho khai hoang đất mới hoặc nhận chuyển nhợng của các hộ nông
dân khác để trồng cây công nghiệp lâu năm (cà phê, cao su), trong khi đó
trang trại ở phía Bắc, chủ yếu sử dụng đất Nhà nớc giao hoặc đất đấu thầu,
mức đầu t ban đầu thấp.
Vốn đầu t của các trang trại tập trung vào khai hoang, trồng cây lâu
năm và mua sắm t liệu sản xuất, kể cả đàn gia súc cơ bản. Đến năm 1999,
cơ cấu giá trị t liệu sản xuất và tài sản chủ yếu của trang trại nh sau: 63% là
giá trị vờn cây lâu năm, 5% là giá trị nhà xởng, chuồng trại, 7% là chi phí
sản xuất dở dang và 6% là vốn tiền. Đáng chú ý là máy móc, thiết bị phục
vụ sản xuất chỉ chiếm gần 3%, một số tỉnh dới 1% nh Sơn La, Yên Bái,
Quảng Ninh cha tơng xứng với yêu cầu sản xuất hàng hoá qui mô lớn.
1.4. Quy mô về lao động.
Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê năm 1998, bình quân một trang

trại có 12 lao động, trong đó 2 lao động gia đình và 12 lao động làm thuê.
Trong số lao động làm thuê ngoài có 80% là lao động thời vụ và chỉ có 20%
là lao động thờng xuyên. Hai loại trang trại có số lao động lớn nhất là nông
lâm kết hợp (17 ngời/trang trại) và trồng cây lâu năm (14 ngời/trang trại).
Sang năm 1999, số lao động bình quân một trang trại đạt 15,4 ngời,
trong đó lao động thuê ngoài khoảng 82% .
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
So với năm 1998, sang năm 1999 số lợng lao động bình quân trong
trang trại tăng lên 3,5 ngời và đồng thời tỷ trọng lao động làm thuê cũng
tăng lên.
Theo số liệu của 50545 trang trại của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn hiện nay có 443723 lao động. Bình quân mỗi trang trại sử dụng
8,8 lao động, nơi trang trại sử dụng nhiều lao động là vùng Đông Nam Bộ
18,6 lao động/trang trại, nơi trang trại sử dụng lao động ít là vùng miền núi
phía Bắc 4,4 lao động/trang trại.
Cũng cần phải nói rằng, hiện nay số liệu về qui mô lao động bình
quân/trang trại do các cuộc điều tra khác nhau công bố có sự khác nhau rất
nhiều. Ví dụ, theo kết quả điều tra của Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân, số
lao động bình quân một trang trại là 5,82 ngời, trong đó bình quân một
trang trại chỉ thuê 0,98 lao động thờng xuyên.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
Bảng 5: Số lao động bình quân một trang trại phân theo vùng kinh tế
và loại lao động
Đơn vị: ngời.
Tổng số
Lao động gia đình
Lao động thuê
ngoài thờng xuyên
Lao động thuê ngoài
thời vụ

TS % TS % TS %
Cả nớc 15,5 2,8 18,06 1,2 7,74 11,5 74,19
ĐB Sông Hồng 6,3 3,1 49,21 1,8 28,57 1,4 22,22
Đông Bắc 6,7 3,3 49,25 1,1 16,42 2,3 34,33
Tây Bắc 5,8 2,9 50,00 0,9 15,52 2 34,48
Bắc Trung Bộ 4,7 2,5 53,19 0,6 12,77 1,6 34,04
Duyên Hải Miền Trung 5,1 2,6 50,98 0,8 15,69 1,7 33,33
Tây Nguyên 5,3 2 37,74 2,1 39,62 1,2 22,64
Đông Nam Bộ 23,9 2,7 11,30 3,1 12,97 18,1 75,73
ĐB Sông Cửu Long 21 3,2 15,24 0,1 0,48 17,7 84,29
Nguồn: Tổng Cục Thống kê.
2. Lĩnh vực hoạt động và loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh.
Hoạt động kinh tế của trang trại là sản xuất nông lâm ng nghiệp, thực
hiện trên địa bàn rộng lớn, nhiều khi phức tạp và lệ thuộc nhiều vào điều
kiện tự nhiên. Sản xuất nông nghiệp gắn liền với cây trồng vật nuôi. Đây là
những cơ thể sống, sinh trởng và phát triển theo những qui luật sinh học
nhất định và mang đậm tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp. Vì vậy,
cách thức tổ chức sản xuất, đầu t tiền vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật cũng nh
sử dụng lao động của trang trại phụ thuộc rất nhiều vào qui mô cũng nh các
đặc điểm của nông nghiệp trong trang trại.
Theo số liệu thống kê nông lâm nghiệp thủy sản của Tổng Cục Thống
kê hiện nay cả nớc có 45.372 trang trại. Trong đó, trang trại trồng cây hàng
năm là phổ biến nhất (25.702 trang trại - chiếm 56,65%) và tập trung nhiều
nhất ở Đồng Bằng sông Cửu Long (chiếm 3/4 trong tổng số trang trại của
loại hình sản xuất này). Tiếp theo là trang trại trồng cây lâu năm, chiếm
27%. Sau các loại hình này là trang trại sản xuất kinh doanh hỗn hợp (nông
lâm kết hợp, hoặc kết hợp giữa cây dài ngày với cây ngắn ngày, giữa trồng
trọt với chăn nuôi hay giữa sản xuất nông nghiệp với dịch vụ, hoạt động phi
nông nghiệp) - 2.559 trang trại, chiếm gần 6%. Những loại hình trang trại
đợc nhắc tới nhiều trong thời gian gần đây nh chăn nuôi, trồng rừng, và

thuỷ sản chỉ chiếm khoảng 3-4%.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
Bảng 6: Cơ cấu trang trại của các vùng kinh tế theo loại hình sản xuất
kinh doanh
Đơn vị: %
Tổng số
Trồng cây
hàng năm
Trồng cây
lâu năm
Chăn nuôi
Lâm
nghiệp
Nuôi trồng
thuỷ sản
Kinh doanh
tổng hợp
Cả nớc 100,00 56,65 26,99 2,88 4,06 3,79 5,64
ĐB Sông Hồng 100,00 7,25 19,08 5,52 13,13 37,37 17,65
Đông Bắc 100,00 4,81 38,10 0,97 21,34 5,39 29,39
Tây Bắc 100,00 35,71 18,91 10,08 28,99 4,20 2,10
Bắc Trung Bộ 100,00 32,16 13,74 10,62 14,88 10,39 18,21
Duyên Hải Miền
Trung
100,00 33,24 43,11 1,49 6,17 13,92 2,07
Tây Nguyên 100,00 26,42 72,86 0,25 0,16 0,03 0,28
Đông Nam Bộ 100,00 29,03 53,74 7,93 0,83 3,25 5,22
ĐB Sông Cửu Long 100,00 99,70 0,04 0,07 0,07 0,01 0,11
Nguồn: Tổng Cục Thống kê.
Đồng bằng Sông Cửu Long nổi tiếng là một vựa thóc của đất nớc với

điều kiện thiên nhiên luôn bị ngập lụt trong nhiều tháng liền nên các trang
trại vùng này hầu hết tập trung trông cây hàng năm lại loại sớm cho thu
hoạch và giảm thiểu rủi ro khi nớc lên lâu ngày không rút. Trái lại, các vùng
Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ là nơi tập trung các trang trại
trồng cây lâu năm cung cấp sản phẩm cho cả nớc và xuất khẩu đi thế giới
nh: cà phê, hồ tiêu, cao su và các loại cây ăn quả có giá trị khác. Ngoài ra,
các trang trại vùng này còn chiếm tỷ lệ đáng kể về cây hàng năm, riêng
vùng Đông Nam Bộ đứng đầu cả nớc về số trang trại chăn nuôi (trên 50%).
Đồng bằng Sông Hồng đứng đầu cả nớc về số trang trại nuôi trồng
thuỷ sản. Các vùng Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung bộ là nơi có tỷ lệ các
loại hình trang trại tơng đối rải đều hơn các vùng khác, đây là vùng phát
triển trang trại lâm nghiệp cao nhất cả nớc (từ 15 - 28%), phù hợp với điều
kiện đất đai, tự nhiên và tạo đợc môi trờng sinh thái bền vững. Các vùng
này là nơi cung cấp nguyên liệu gỗ và giấy cho các ngành sản xuất khác.
Ngoài trang trại lâm nghiệp các vùng này cũng phát triển trang trại chăn
nuôi, nông nghiệp và sản xuất kinh doanh hỗn hợp với tỷ lệ cao trong tổng
số trang trại của vùng.
Các trang trại ở nớc ta hiện nay chủ yếu là trang trại gia đình, sử dụng
lao động gia đình là chính và đợc hình thành trên cơ sở đợc giao khoán các
phần đất trống, đồi núi trọc, các vùng đất khai hoang tập trung hay do các
lâm nông trờng giao khoán vờn cây ổn định và lâu dài cho các hộ công
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Doãn Hùng
nhân, công chức và các hộ nông dân trong vùng. Đồng thời cũng có gia
đình nhận thầu diện tích mặt nớc các ao, hồ, đầm trong nội đồng hay ở các
bãi bồi ven biển, cửa sông để khoanh bờ, quai đê khai thác và nuôi trồng
thuỷ sản.
Theo Tổng Cục thống kê, tổng thu bình quân 1 trang trại năm 2000 là
51 triệu đồng/ năm, giá trị sản phẩm hàng hoá đã bán ra 41,5 triệu đồng, tỷ
suất hàng hoá 81,48%, tốc độ tăng giá trị hàng hoá bán ra hàng năm từ 62%
đến 2,1 lần trong 3 năm 2000 - 2002. Thu nhập vợt trội so với hộ nông dân

và tăng nhanh, hiệu quả kinh tế xã hội rõ nét, thu nhập thuần tuý 23 triệu
đồng, bình quân 1 nhân khẩu 4,1 triệu đồng, 1 lao động 9,3 triệu đồng. Tốc
độ tăng tổng thu 1999 so với 1998 là 42,6%; năm 2000 so 1998 là 87%, tốc
độ tăng thu nhập 42% và 90% trong 2 năm tơng ứng.
Theo điều tra của trờng Đại học Kinh tế Quốc dân năm 1999, thu nhập
của các trang trại trồng cây công nghiệp lâu năm ở Nam Bộ và Tây Nguyên
nh sau: Đồng Nai 225 triệu; Đắc Lắc 163 triệu; Khánh Hoà 164 triệu đồng
và thấp nhất là các trang trại phía Bắc: Quang Ninh 24 triệu đồng; Yên Bái
33 triệu đồng, Sơn La 46 triệu đồng. Phần lớn tổng thu của trang trại là sản
phẩm hàng hoá.
Giá trị sản phẩm hàng hoá trong năm bình quân một trang trại đạt 91
triệu đồng, tỷ suất hàng hoá là 87%, cao nhất là Đồng Nai 189 triệu đồng,
Khánh Hoà 163 triệu đồng, Đắc Lắc 142 triệu đồng, thấp nhất là Quảng
Ninh 18 triệu đồng, Yên Bái 22 triệu đồng, Nghệ An 28 triệu đồng, Cà Mau
67 triệu đồng.
Dù còn có sự chênh lệch lớn giữa các trang trại nhng nhìn chung ở
vùng nào và địa phơng nào, tổng thu, giá trị và tỷ suất hàng hoá và thu nhập
của trang trại cũng vợt trội ít nhất là 3 lần so với mức thu nhập trung bình
của hộ nông dân cùng địa bàn.
Rõ ràng, kinh tế trang trại gia đình ở nớc ta đã thể hiện rõ tính vợt trội
so với kinh tế hộ về nhiều mặt: khai thác và sử dụng có hiệu quả tiềm năng
đất đai, lao động và tiền vốn để biến nó thành của cải vật chất, làm giàu
chính đáng cho bản thân họ và cho xã hội, tạo thêm việc làm mới để thu hút
lao động d thừa ở nông thôn, phân bổ lại dân c và lao động giữa các vùng,
tăng số lợng, chất lợng và tỷ suất hàng hoá của các sản phẩm nông, lâm
thuỷ sản, góp phần xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng ở nông thôn miền
núi, vùng sâu, vùng ven biển, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho nông
dân nghèo góp phần xoá đỏi giảm nghèo. Bên cạnh lợi ích về kinh tế, nhiều
chủ trang trại còn là những hình mẫu tốt về tổ chức sản xuất và quản lý kinh
tế ở nông thôn theo cơ chế thị trờng.

Ngoài trang trại gia đình, nớc ta còn có trang trại hoạt động trên cơ sở
sử dụng lao động làm thuê là chủ yếu, lao động gia đình làm trong trang

×