Tải bản đầy đủ (.doc) (105 trang)

Marketing hỗn hợp mở rộng thị trường chè của Công ty cổ phần chè Kim Anh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (511.18 KB, 105 trang )

Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ1
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí

LỜI NĨI ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua có mức tăng trưởng khá
ổn định, đây là điều kiện tiền đề giúp cho Việt Nam chủ động hội nhập với
nền kinh tế khu vực và thế giới.Trước tình hình đó địi hỏi các thành phần
kinh tế, các ngành phải đề ra chiến lược phát triển nhằm tăng khả năng cạnh
tranh đối với sản phẩm hàng hoá của mình so với sản phẩm của nước khác
trên thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu .
Trong xu thế chung đó, thì ngành chè một ngành chủ chốt của nơng
nghiệp Việt Nam đang tìm mọi biện pháp; như thực hiện đổi mới cơng tác tổ
chức quản lí, phát triển thị trường ..nhằm nâng cao giá trị của cây chè đóng
góp đáng kể vào bước phát triển chung của nền kinh tế đất nước. Một trong
những thành công của chiến lược đó là ngành đang dẫn đầu trong cả nước về
cơng cuộc thực hiện cổ phần hố các doanh nghiệp, tăng cường hiệu quả sản
xuất kinh doanh.Tiêu biểu nhất là Cơng ty cổ phần chè Kim Anh.
Được cổ phần hố từ năm 1999 cho đến nay Công ty cổ phần chè Kim
Anh đang từng bước thích ứng hơn với thị trường, đáp ứng thị hiếu của
người tiêu dùng, dần đã khẳng định được uy tín và hình ảnh của cơng ty
trong lịng cơng chúng tiêu dùng chè. Nhờ những cố gắng nỗ lực không
ngừng của cán bộ công nhân viên tồn cơng ty trong cơ chế mới mà Cơng ty
cổ phần chè Kim Anh xứng đáng là cánh chim đầu đàn của ngành chè Việt
Nam .
Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở những thành công này mà trong
tương lai nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển ,
Công ty cổ phần chè Kim Anh ln xác định : Một mặt, phải củng cố lịng
tin của người tiêu dùng đối với các loại sản phẩm chè của công ty, mặt khác





Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ2
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
cơng ty phải đề ra chiến lược mở rộng thị trường .Với mục tiêu đưa chè Kim
Anh có mặt rộng khắp trên thị trường trong nước và xuất khẩu .
Chính vì vậy, trong thời gian thực tập tại Cơng ty cổ phần chè Kim Anh
tác giả chọn đề tài “ Marketing hỗn hợp mở rộng thị trường chè của

Công ty cổ phần chè Kim Anh ” nhằm hiểu rõ hơn về những chiến lược
phát triển các sản phẩm chè của công ty trong tương lai.
Do thời gian thực tập có hạn, nên bài viết cịn nhiều hạn chế mong
bạn đọc và thầy cô giúp đỡ .
Tác giả xin trân thành cám ơn thầy giáo hướng dẫn Ts.Lưu Văn
Nghiêm cùng các cơ chú trong Phịng kế hoạch thị trường của Công ty cổ
phần chè Kim Anh đã giúp đỡ tận tình để tác giả hồn thành bài viết này .
Nội dung bài viết gồm 3 phần :
Chương I: Thị trường chè và thực trạng hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty cổ phần chè Kim Anh.
Chương II: Thực trạng hoạt động Marketing của Công ty cổ phần
chè Kim Anh.
Chương III: Giải pháp hoàn thiện nhằm mở rộng thị trường chè
của Công ty cổ phần chè Kim Anh.




Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ3
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí

Chương I

THỊ TRƯỜNG CHÈ VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHÈ KIM ANH
I.THỊ TRƯỜNG CHÈ:

1.Thị trường chè nội tiêu :
1.1.Qui mô thị trường nội tiêu :
Chè thứ nước uống quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày của đa số
người dân đất Việt, nó đã ăn sâu vào đời sống và tâm hồn người Việt, trở
thành tập quán tiêu dùng. Chè góp mặt bất cứ khi nào : khi vui cưới hỏi, tân
gia, khi hiếu hỉ hay trong các cuộc hội nghị, các buổi sinh hoạt câu lạc bộ,
chè có mặt trong mọi gia đình. Uống chè khơng phân biệt tuổi tác, giới tính,




Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ4
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
khơng có sự phân chia giai tầng cao thấp. Qua đây ta thấy nhu cầu tiêu dùng
chè của người dân là rất lớn .
Tuy nhiên, theo thống kê của Tổng cơng ty chè Việt Nam thì sức tiêu
dùng chè xanh bình qn của người dân Việt cịn thấp khoảng 260g/người,
con số này còn thấp so với một số nước có thói quen tiêu dùng chè xanh như
: Đài Loan 1300g/người, Nhật Bản 1050g/người, Trung Quốc 340g/người
(Số liệu thống kê của Hiệp hội chè thế giới ).
Theo dự đoán của Hiệp hội chè Việt Nam sức tiêu dùng nội địa đang
có chiều hướng gia tăng trong những năm tới khoảng 5-6% /năm . Như vậy,
nếu như năm 2000 tổng nhu cầu nội tiêu là 24000 tấn sẽ tăng lên 35000 tấn
vào năm 2005, và năm 2010 sẽ tiêu thụ khoảng 45000 tấn .
1.2.Sức tiêu dùng chè trên thị trường nội tiêu có xu hướng gia
tăng là do:

+Dân số Việt Nam tăng ổn định, hiện nay Việt Nam có khoảng hơn 75
triệu dân, tỉ lệ gia tăng dân số hàng năm là 2,1 % đây dự báo một qui mô thị
trường rất lớn để tiêu dùng chè. Mặt khác, không chỉ gia tăng về số lượng
mà sức tiêu dùng cũng được cải thiện đáng kể . Nếu như trước khi theo đuổi
nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung việc tiêu dùng chè cũng như các hàng hoá
khác đều theo phân phối do vậy mà việc sản xuất theo kế hoạch, người tiêu
dùng có nhu cầu tiêu dùng lớn nhưng khơng mua được. Sau khi thực hiện
nghị quyết của Đại hội Đảng IX nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn
phát triển mới sức tăng trưởng kinh tế trong một số năm khá ổn định và có
tiềm năng phát triển trong tương lai, do đó mà đời sống chung của người dân
được cải thiện thể hiện ở bình quân thu nhập tăng lên từ 300 USD lên
khoảng 400 USD, nhất là mức sống của người dân ở khu vực thành phố lớn
như Hà Nội, Sài Gịn, thành phố Hồ chí Minh...ở các khu cơng nghiệp Biên
Hồ, Hải Phịng, Bình Dương...rất cao, do vậy mà nhu cầu tiêu dùng được
cải thiện đáng kể .Theo nghiên cứu của thạc sỹ Trần Thu Vân trong tạp chí
Kinh tế phát triển số 3/2000 tiêu dùng của dân cư Việt Nam phụ thuộc vào




Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ5
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
nhiều yếu tố: cơ cấu tuổi, cơ cấu giới tính, nghề nghiệp, vùng dân cư...nhưng
ảnh hưởng mạnh nhất đến sức tiêu dùng của dân cư Việt Nam là yếu tố thu
nhập, tác giả phân tích khi thu nhập tăng bình quân 1% thì nhu cầu tiêu dùng
tăng 0.65%. Điều đó thể hiện rất rõ ở bảng số liệu dưới đây:
Thu nhập và tiêu dùng của dân cư Việt Nam

Đơn vị (ngànn vị (ngàn (ngànn
đồng )ng )

Thu nhập

Nhóm chỉ tiêu
1
2
553.5
816.8

3
1093.3

4
1544.3

5
3921.7

Tiêu dùng

517.5

984.1

1338.4

2540.3

Chỉ tiêu

755.7


Chung
1586.1
1227.3

Khi thu nhập tăng lên thì người dân tăng tiêu dùng như vậy tỉ lệ thu
nhập giành cho thực phẩm tăng lên đáng kể và cách lựa cho thực phẩm cũng
có xu hướng thay đổi, người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn đến những thực
phẩm có giá trị cho sức khoẻ.
Mặt khác trong xu hướng tự do và hội nhập, lối sống mới cũng được
du nhập vào Việt Nam ,bên cạnh những nét truyền thống trong tiêu dùng thì
phong cách tiêu dùng mới cũng xuất hiện .Ví thử trong cách tiêu dùng chè,
theo truyền thống thường thì mọi người thích uống nóng, khi pha cũng phải
lựa chọn ấm, nước, hay trong cách đun và cách chế biến rất cầu kì .Cịn ngày
nay khi cuộc sống trở nên bận rộn hơn thì các sản phẩm chè nhúng, chè hồ
tan được ưa chuộng hơn cả, trong cách uống cũng có nét thay đổi ngồi
uống nóng ,cịn uống chè đá ,chè pha sẵn, chè đóng lon ...
+Nhu cầu tiêu dùng chè đang có xu hướng gia tăng do lợi ích của việc
uống chè ngày càng biểu hiện rõ .
Chè là một thứ nước uống kì diệu nó khơng chỉ có tác dụng giải khát
làm cho tinh thần sảng khối mà nó trở thành thần dược có tác dụng rất tốt
để chữa bệnh .




Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ6
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
-Uống chè làm cho tâm tư tĩnh lặng, cho tâm hồn thanh tao, giảm bớt
ưu phiền, hết mọi cảm giác uể oải , buồn ngủ, hăng hái làm việc, học tập

hơn.
-Chè có giá trị trong giao tiếp, là cầu nối trong các mối quan hệ
-Ngày nay khi khoa học ngày càng phát triển thì mọi người nhận
thấy rằng chè là thức uống bổ dưỡng, có tác dụng dược lí quí giá. Chất
cafein và một số hợp chất alkaloit khác trong chè có khả năng kích thích
vỏ đại não, làm cho tinh thần minh mẫn tăng cường hoạt động của các cơ
quan trong cơ thể, nâng cao năng lực làm việc, giảm bớt mệt nhọc sau
những lúc lao động. Hỗn hợp tanin trong chè làm cho chè có khả năng
giải khát gây cảm giác hưng phấn cho người uống chè. Người ta còn sử
dụng chè trong trị liệu bệnh, uống chè thường xuyên sẽ làm giảm quá
trình viêm ở người bị bệnh khớp, hay viên gan mãn tính, có tác dụng làm
tăng tính đàn hồi của thành mạch máu , điều chuỉnh có hiệu quả bệnh lị,
xuất huyết dạ dày và đường ruột, xuất huyết não và suy yếu mao mạch do
tuổi già. Chè cịn có tác dụng chống nhiễm phóng xạ ,chống ung thư ,và
có tác dụng rất tốt chữa các loại bệnh về răng miệng .
Nhận thấy tác dụng, hiệu quả của việc uống chè đối với sức khoẻ
do vậy nhu cầu của người dân gia tăng, mặt khác do môi trường sinh thái
của con người ngày càng ô nhiễm, thực phẩm rất dễ bị nhiễm chất độc
hoá học có hại cho sức khoẻ, chè là một loại thực phẩm ít bị ảnh hưởng.
Đặc biệt ngày nay ngành chè tăng cường mở rộng dự án trồng các loại
chè sạch, chè hữu cơ, chè thảo dược, chè gừng, chè thảo mộc phục vụ tốt
nhất nhu cầu của người tiêu dùng .
Như vậy, nhu cầu tiêu dùng chè nội địa là rất cao và đang có xu
hướng gia tăng đây là cơ hội hay là thị trường đâỳ tiềm năng giúp cho các
doanh nghiệp Việt Nam có định hướng phát triển mở rộng sức tiêu dùng
tăng thị phần thị trường phục vụ của mình trên thị trường .
1.3.Đặc điểm tiêu dùng chè :





Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ7
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
a.Đặc điểm sản phẩm : chè là cây cơng nghiệp dài ngày mang giá
trị kinh tế cao, sản phẩm thu hoạch là lá, thời gian thu hoạch một lứa từ
9- 10 ngày. Sau khi thu hoạch chè được bón phân vô cơ hoặc hữu cơ, gốc
cây được làm cỏ sạch , mỗi năm thu hoạch khoảng 20 lứa chè . Chè được
trồng chủ yếu trên đất đồi núi nhiều tỉnh trung du và miền núi phía Bắc,
miền Trung (Hà Tĩnh ), miền Nam (Lâm Đồng ,Gia Lai ) dưới 2 hình
thức chủ yếu nơng trường và hộ gia đình .
Từ nguyên liệu chè tươi người ta thực hiện chế biến thành nhiều
loại chè khác nhau dựa trên việc thực hiện chuyển hoá các chất trong chè
đặc biệt hệ enzim có sẵn trong búp chè tươi .Các sản phẩm được chế biến
bao gồm :
 Chè đen :
Được sản xuất theo phương pháp : héo, sấy, cho lên men cho đến khi
đạt được vị nồng và có màu hổ phách đậm. Sản phẩm chè đen có màu nước
đỏ tươi ,có vị chát hậu dịu ngọt và hương thơm của hoa tươi quả chín .Chè
đen được phân loại dựa trên kích thước và tỉ trong cánh chè .
Chè cánh gồm OP-P-PS cánh chè xoăn đều, chắc đen tự nhiên,
khá nhiều tuyết, nước pha có màu đỏ nâu trong sáng khá sánh rõ viền vàng,
hương thơm đượm khá hài hoà hấp dẫn.Đây là các sản phẩm chè cấp cao .
Chè mảnh gồm FBOP – BPS :Loại chè nhỏ mảnh, đều đen khá
chắc nhiều tuyết, nước pha có màu đỏ nâu, mùi thơm khá hài hoà, đậm dịu
rõ hậu .
Chè vụn F-D : nhỏ đều, tương đối nặng, sạch, tương đối đen, nước
có màu đỏ nâu, mùi thơm nhẹ dễ chịu, vị đậm .
Chè xanh:
Từ nguyên liệu chè búp tươi thu mua người sản xuất tiến hành diệt
men, vị, làm khơ, phân loại, thành chè xanh thành phẩm.Chè xanh sản phẩm

nước có màu xanh tươi hoặc vàng sáng, có vị chát đượm, hậu ngọt và có
hương thơm tự nhiên, có mùi cốm nhẹ, mùi mật ong .




Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ8
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Phân chia chè bán thành phẩm gồm 3 dạng:
Chè cánh gồm OP-P-PS
Chè mảnh gồm BP, BPS
Chè vụn gồm F, D
Phân chia khối chè bán thành phẩm theo cấp loại ban đầu của nguyên
liệu sau khi đã bỏ bồm cẫng và chè vụn.
Nguyên liệu
sản phẩm
Chè A hái đặc biệt
chè đặc biệt
Chè A
chè loại 1
Chè B
chè loại 2.
Chè olong, chè vàng, chè đỏ là loại chè trung gian thực hiện lên men
một nửa.
Ngồi ra cịn có chè dược thảo, tuy gọi là chè nhưng nguyên liệu
không phải từ chè búp tươi mà từ các loại chè dây, chè thanh nhiệt .
Nhìn chung các loại chè đều có tác dụng tốt cho sức khoẻ. Một mặt là
loại nước giải khát, thứ nước uống hàng ngày, mặt khác có tác dụng chữa
bệnh .
b.Đặc điểm tiêu dùng :

Thị trường nội địa chỉ ưa dùng chè xanh, đặc biệt chè sao chế theo
phương pháp thủ công ở các vùng đất chè nổi tiếng như chè Thái, chè Shan,
chè blao ...Thú uống chè xuất hiện từ lâu trong văn hố tiêu dùng người
Việt, hình thức uống chè được khởi nguồn từ chùa chiền .
Trước kia phong thái và cách thức thưởng thức chè của người Việt có
khác nhau trong từng giai tầng xã hội : Vua quan thường ưa thích các sản
phẩm chè tàu của Trung Quốc, uống chè như bằng chứng thể hiện sự giàu
sang quyền quí để phân biệt đẳng cấp thứ bậc dân trong xã hội. Cách thức
uống chè rất cầu kì.Các tầng lớp nông dân thường uống chè tươi, chè tự sao
chế lấy .




Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ9
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Ngày nay, thói quen uống chè vẫn tồn tại nhưng dần dần nó xố đi
những rào cản về tuổi tác về giai tầng, sự khác nhau trong uống trà cũng chỉ
do sở thích.Đa phần mọi người thường thích uống chè mộc nhất là các sản
phẩm chè gốc Thái rất được ưa chuộng, họ thích cái vị đậm chát có hậu dịu
ngọt của chén chè nóng, thường các sản phẩm này được sao theo phương
pháp thủ công truyền thống, chè được nước ngon nhất và có hương thơm là
chè xuân.Trong cách thưởng thức chè cũng có phần đơn giản hơn.
Lại có những người khi uống chè muốn có thêm hương thơm của các
loại hoa: chè ướp hương sen, chè hoa ngâu, chè nhài .Để chế ra các sản
phẩm chè ướp hương thường là rất cầu kì địi hỏi mất thời gian điều này
không cho phép nhất là trong thời nay, thì nhu cầu của người dân là các sản
phẩm nhanh gọn tiện do vậy chè nhài, chè sen nhúng, chè hồ tan có sức tiêu
thụ tăng .
Nhu cầu các sản phẩm chè đen và chè thảo mộc có chiều hướng gia

tăng .
1.4.Các nhân tố thuộc về đặc điểm tiêu dùng chè :
-Tính ổn định và ít co dãn về mặt cung cầu :
Các sản phẩm chè phục vụ trực tiếp cho nhu cầu cơ bản thường xuyên
trong cuộc sống hàng ngày của người dân.Việc tiêu dùng chè hầu như không
phụ thuộc vào giá cả thị trường vì mỗi người tiêu dùng mỗi loại chè với một
số lượng nhất định tuỳ thuộc vào những giới hạn sinh lí .
-Việc tiêu dùng chè mang tính thời vụ rõ nét ;
Do đặc điểm sản xuất nơng nghiệp mang tính thời vụ rõ nét, vì thế
nhu cầu tiêu dùng chè trên thị trường khơng cân bằng cả về mặt khơng gian
và thời gian.Nhìn chung nhu cầu tiêu dùng chè thường rất lớn vào những dịp
lễ lớn hoặc dịp đầu xuân vì đây là mùa của những lễ hội truyền thống.
Nhưng vụ chè thường vào tháng 3 đến tháng 11 vì thế địi hỏi nhà cung ứng
sản phẩm chè phải dự trữ một lượng nhất định để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng




10
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
trong những dịp này.Trước đặc điểm câu tiêu dùng như vậy địi hỏi người
cung ứng phải có biên pháp bảo vệ sự hài hoà cung cầu .
-Thị trường tiêu dùng chè là thị trường cạnh tranh tương đối hoàn hảo.
Người sản xuất chỉ cung ứng ra thị trường một khối lượng chè rất nhỏ
so với lượng cung của xã hội. Do không thể độc quyền về lượng cung cho
nên không thể độc quyền về giá cả mà buộc phải chấp nhận mức giá khách
quan trên thị trường .
Xu hướng tiêu dùng chè cũng biến đổi theo cơ cấu tuổi của dân
số .

Thật vậy, Việt Nam là nước có dân số trẻ, trên 50% dân số ở độ tuổi
lao động nên yếu tố này ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng các loại chè. Mức
tiêu dùng các sản phẩm chè xanh, chè mộc, chè hương truyền thống có xu
hướng ổn định, hoặc tăng tương đối nhỏ, còn nhu cầu đối với các sản phẩm
chè nhúng, chè hoà tan, chè thảo mộc đang tăng mạnh, nhu cầu này biến đổi
theo cơ cấu nhóm tuổi .
-Nhóm người ở độ tuổi trung niên và cao tuổi.
Sở thích uống chè chung của những người ở lứa tuổi này là các sản
phẩm chè mộc, chè mạn, chè hương truyền thống. Đa phần những người này
rất sành trong cách thưởng thức chè. Trong cách lựa chọn cho tiêu dùng họ
có khuynh hướng gắn với những đặc trưng về nội chất gồm cả hương và vị
của chè, họ đánh giá chất lượng chè dựa trên sự cảm nhận của chính mình về
hương thơm, mùi vị và màu sắc của trà .
Có các loại chè:
Chè xanh đặc biệt: Đây là loại chè cấp cao, sản phẩm có màu xanh tự
nhiên, cánh chè dài xoăn đều non, có tuyết.Nước pha phải có màu vàng
trong sáng, hương của trà thơm mạnh tự nhiên, thống có mùi cốm, sau khi
thưởng thức chè người uống thấy vị đậm dịu có hậu ngọt .
Chè loại 1: Theo kinh nghiệm của những người uống chè sành là chè
có màu xanh tự nhiên, cánh chè dài xoăn tương đối đều nước của chén chè




11
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
sau khi được pha lên có màu vàng xanh sáng, hương thơm tự nhiên tương
đối mạnh, vị chát đậm dịu dễ chịu .
Chè loại 2 có màu xanh tự nhiên, cánh chè ngắn hơn tương đối xoăn

thoáng cẫng, màu nước của chè có màu vàng sáng, màu xanh tự nhiên vị
chát tương đối dịu, có hậu ngọt .
Chè loại 3: Màu vàng xanh xám, mảnh nhỏ tương đối đều, màu nước
vàng hơi đậm hương thơm vừa thống hăng gì vị chát hơi xít .
Chè được đánh giá là ngon là loại chè có màu nước xanh tươi hoặc
vàng sáng, có vị chát đậm, có hậu ngọt, hương thơm tự nhiên, có mùi cốm
nhẹ và mùi mật ong.Chính vì vậy khi mua chè họ phải lựa chọn những loại
chè đặc sản gắn liền với vùng đất chè: chè chính Thái (Tân Cương - Thái
Nguyên), chè Lục (Yên Bái ), các loại chè Shan trên vùng núi cao suối
Giàng, chè Blao (Bảo Lộc- Lâm Đồng ).
Các loại chè xanh được tiêu thụ chủ yếu trên thị trường là chè chế
biến theo phương pháp thủ cơng,và được nhóm người trung và cao tuổi lựa
chọn, bởi vì họ ít quan tâm đến nhãn mác, bao bì sản phẩm. Cịn các sản
phẩm chè xanh chế biến ở các nhà mày chủ yếu phục vụ cho nhu cầu biếu
tặng .
Nhóm người này có nhu cầu tiêu dùng rất lớn , chè đã trở thành thứ
nước uống quen thuộc từ lâu trong gia đình, trong các cuộc họp hội nghị,
nhất là đối với nhóm người cao tuổi, trong các buổi họp câu lạc bộ thì chén
chè chính là cầu nối tâm giao giữa con người với con ngươì , bên chén chè
nóng vừa bình dị vừa đơn sơ các cụ ngồi bàn chuyện văn chương, thơ ca,
chơi cờ chia xẻ với nhau những vui buồn của tuổi già .
Bên cạnh nhu cầu về chè mộc, nhóm người này cịn thích uống chè
ướp hương,thơng thường các loại hoa quả ướp hương chè phải là thứ hoa
quí, thanh tao như hoa ngâu, hoa sói, hoa sen, hoa nhài, hoa cúc .Đặc biệt
thứ chè ướp hương sen là thứ chè quí dùng để tiếp khách chi âm hoặc làm
quà biếu .





12
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Qua phân tích đặc điểm tiêu dùng các loại chè của nhóm tuổi này, ta
thấy vấn đề coi trọng trước tiên là chất lượng chè mà ít quan tâm đến bao bì
mẫu mã sản phẩm.Bên cạnh sở thích uống chè mộc, nhóm người này cũng
rất ưa thích sản phẩm chè ướp hương.Qua đây địi hỏi các cơng ty chè phải
tìm biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo những hương vị đặc trưng
cho sản phẩm chè của mình có như vậy mới thu hút thêm nhu cầu tiêu dùng
của nhóm người thuộc lứa tuổi này .
-Nhóm người ở độ tuổi thanh niên:
Do yêu cầu của cuộc sống mà quĩ thời gian đối với họ rất eo hẹp xu
hướng tiêu dùng của những người thuộc lứa tuổi này là những sản phẩm
nhanh gọn, tiện dụng. Chính dựa vào đặc điểm này mà trong những năm qua
các công ty luôn đưa ra sản phẩm mới như chè hoà tan, chè túi nhúng với
nhiều mùi vị khác nhau chanh, cam xoài ...
Khi các sản phẩm này ra đời đã nhanh chóng thu hút được giới trẻ.
Nhìn chung giới trẻ uống chè với nhu cầu giải khát, họ ít quan tâm đến vị
chát đượm, hậu ngọt hay nước của chè mà mà họ quan tâm đến mẫu mã, bao
bì và sự tiện dụng của sản phẩm. Họ yêu cầu về chất lượng chè không cao,
khi lựa chọn chè họ quan tâm đến hương vị của chè và đặc biệt là nhãn hiệu
sản phẩm. Mục đích tiêu dùng của họ là muốn định vị chính mình, thể hiện
phong cách của riêng mình do đó nhãn hiệu chè nổi tiếng là yếu tố ảnh
hưởng quyết định đến sự lựa chọn của họ.
Việc thu hút sức tiêu dùng của những người thuộc nhóm lứa tuổi này,
các cơng ty chè nước ngồi rất thành cơng,họ liên tiếp tiến hành quảng bá và
đưa ra thị trường những sản phẩm chè mới đa dạng về mùi vị và chủng loại.
Cịn các sản phẩm chè nhúng chè hồ tan của các công ty trong nước tuy
mẫu mã và hương vị khơng thua kém chè nước ngồi nhưng các cơng ty
chưa có chiến lược định vị phù hợp với tâm lí chung của giới trẻ .Trong

tương lai các cơng ty chè trong nước phải tích cực xây dựng chiến lược phát
triển khẳng định được hình ảnh của mình mở rộng sức tiêu dùng chè .




13
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Nhu cầu tiêu dùng chè cũng mang những khác biệt ở mỗi vùng
khác nhau.
Thú uống chè của người Việt đã trở thành văn hoá tập quán tiêu dùng,
khắp đất nước từ đồng bằng đến miền núi, từ nông thôn đến thành thị không
vùng nào là không biết uống chè.Nhưng ở mỗi vùng cách tiêu dùng chè của
người dân mang những đặc trưng riêng .
 Đối với người dân Bắc, có lẽ chè là thứ nước uống gắn bó nhất
trong đời sống hàng ngày.
Văn hoá uống chè cũng mang những đặc trưng riêng biệt của từng dân
tộc, dường như đồng bào dân tộc nào cũng uống chè và sành về chè theo
cách riêng của họ. Như khu vực vùng núi cao Hà Giang ,Yên Bái có chè đặc
sản là chè tuyết,tuy vậy
Đối với người Dao (Yên Bái ) người dân thường chọn bút non, lá non
hái về sao khô để qua đêm sau đó nhồi vào những ống bương to rồi đưa lên
gác bếp.Khi nhà có khách q họ chỉ cần lấy trên gác bếp một ống bương,
quét sạch bồ hóng rồi thận trọng gỡ bỏ nút lá chuối, rồi dùng móc lơi ra từng
lớp chè giống như thuốc lào đóng bánh. Nước mưa đã được để giành cho
vào ấm đun sơi rồi sau đó cho những bánh chè vào ấm, một lúc sau khoảng
5 đến 10 phút thì rót chè ra bát.
Chè “cán pái hở” của người Hà Giang lại khác uống với chè ống
bương của người Dao ở Yên Bái,chè mọc trên vùng núi cao quanh năm mây

che phủ, chè sống bằng mùn đất do gió mang về và sống bằng hơi sương khi
mùa hanh khô đến.Chè chỉ tươi tốt vào mùa xuân vào những ngày cuối xuân
đầu hạ những người dân ở Lũng Phìn Đồng Văn lên núi tìm chè.Chè được
sao khơ được cho vào hũ hoặc chum hoặc gói buộc cẩn thận bằng lá dong lá
chuối khô.Vào những ngày phiên chợ đồng bào mang chè xuống chợ bán.
Chè “cán pái hở” khi pha được nước rót ra bát, cạn nước đến ngày hôm sau
đổ đi không vấy bẩn chén, nhất là khi được thưởng thức chè trong ngôi nhà
sàn bập bùng ánh lửa, chênh vênh trên sườn núi cao hẳn là chẳng bao giờ




14
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
qn cái tình người và cả hương vị đậm đà nguyên sơ của “cán pái hở” đã
quấn quýt hoà quyện vào nhau.
Trong dân gian vẫn có câu “Chè Mai Hiếu, điếu Sơn Vi, rượu Hạ Bì,
men Tịng Lệnh” là người ta nói đến nét độc đáo của nền văn hoá ẩm thực
trên vùng đất Thanh Thuỷ - Phú Thọ. Người dân Mai Hiếu không hái búp
làm chè khô mà chỉ chuyên hái chè xanh, cây chè ở đây qua nhiều năm chăm
sóc nên phát triển rất tốt, lá chè nhỏ và dày, răng của mép lá đều, bẻ, vò giòn
lách tách, mặt lá ánh màu vàng xanh, khi nấu nước vàng sánh toả mùi thơm
hấp dẫn đặc trưng của chè. Người dân ở đây có cách nấu và uống chè xanh
rất sành. Nước nấu phải kén, lấy nước giếng đồi trong vắt hoặc nước mưa
mái ngói, nước mưa giữa trời lọc sạch. Khơng nấu nước giếng có vơi sẽ làm
cho chất chè có màu vàng đục uống nhạt và mất mùi thơm. Khi nấu cần rửa
chè từ hai đến ba nước vuốt từng lá chè cho sạch rồi bỏ vào xoong, cứ một
lít nước với một nắm lá chè to là vừa. Lúc đun điểm chính là cho lửa cháy
đều liên tục khi nước sôi lấy đũa sạch đảo cho lớp chè trên lật xuống dưới,

bỏ vào vài lát gừng thái mỏng cho dậy mùi, đậy vung kín bắc xuống để độ
10 - 15 phút cho lá chè chín dần rồi chắt ra bát, màu nước chè vàng sánh như
mật toả ra mùi thơm ngọt, tuỳ thuộc vào sở thích của từng người mà uống
nóng hay uống nguội.
Cách thưởng thức chè của người dân đồng bằng sông Hồng lại được
đặc trưng nổi bật nhất là thú uống chè của người Hà Nội. Vẻ thanh lịch trang
nhã, sự cầu kì trong ẩm thực của người Hà Nội đã nâng tính thẩm mỹ của
chén chè lên một trình độ cao. Xuất phát từ nơng thơn nhưng chính người
Hà Nội có cơng giữ gìn và đa dạng văn hố uống chè của người Việt Nam.
Người Hà Nội chỉ thích uống chè Chính Thái đó là các sản phẩm chè mộc từ
vùng Tân Cương - Thái Nguyên, người Hà Nội thường tìm mua chè Thái ở
các phố Hàng Điếu, phố Chùa Bộc,....Đây là hai dãy phố chuyên bán các sản
phẩm chè rời, chè cân đóng trong túi nilơng. Hà Nội cũng chính là nơi xuất
phát của cách uống chè ướp hương hoa. Các loại hoa để ướp chè cũng phải




15
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
là thứ hoa qúi, thanh tao như hoa ngâu, hoa sói, hoa sen, hoa nhài, hoa cúc,...
Đặc biệt chè ướp hương sen là thứ chè quí, mỗi cân chè ngon ướp từ 100 120 bông sen hồ Tây, phải là thứ sen chưa bóc cánh. Ở Hà Nội hiện nay cịn
kkhoảng 30 gia đình làm loại chè này.
Khi nền kinh tế thị trường phát triển nhất là khu vực thị trường Hà
Nội có sự tràn ngập của nhiều loại nước uống, nước giải khát, cái phong
thái, cái thanh tao trong cách uống chè của người Hà Nội đã mai một. Nhận
thấy điểm này mà thành phố Hà Nội đã thực hiện chủ trương của nhà nước,
xây dựng thủ đô văn minh, hiện đại nhưng vẫn giữ gìn và phát huy những
giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp đã có trong tiềm thức của người dân.

Nay để gợi cho người tiêu dùng những nét văn hoá truyền thống, trở về với
cội nguồn trở về với phong thái tĩnh lặng khoan thai trong cách uống chè của
người xưa mà chè “trở về”với hàng loạt những của hàng vừa bán chè khô
vừa bán trà thơm ngon nổi tiếng: hàng cô Dầu ở chợ Đồng Xuân, quán Nghệ
sĩ ở Đinh Tiên Hoàng, quán Thăng Long ở Hàng Gai, quán Dung Phi ở Cầu
Gỗ, quán Bạch Ngọc sau đền Bà Triệu, các quán trà tuần ở khu tập thể
Thanh Xuân ...
Nét đặc trưng trong phong cách uống trà của người Hà Nội là những
qn nước trà bình dân. Có một thống kê chưa đầy đủ về các quán hiện nay
ở Hà Nội là khoảng trên dưới con số một ngàn có thể khẳng định ở thủ đô
không phố không đường, không bến tàu xe nào là khơng có dăm 3 qn chè.
Ngay cả những phố trọng điểm như phố Tràng Thi, Tràng Tiền, hàng Khay
cũng khơng thể khơng có những qn chè chén .Những quán chè vỉa hè Hà
Nội thật đơn giản mộc mạc và tràn đầy bụi bặm phố xá.Với người Hà Nội ưa
chuộng nhất vẫn là các sản phẩm chè mộc, ngày trước thời bao cấp khi các
loại nước giải khát khơng phong phú như hiện nay thì chè năm xu vẫn là thứ
nước uống khoái khẩu của tất cả các tầng lớp nhân dân, có lẽ vì đã ăn sâu
vào tiềm thức nên chè qn cóc là khơng thể thiếu . Ngồi cách uống chè
nóng người dân cịn uống chè đá .Những quán cóc vỉa hè vừa là chỗ để mọi




16
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
người tâm tình nói chuyện, vừa là chỗ để cho mọi người giải khuây trao đổi
các vấn đề về chính trị, thời sự .Khơng giống như một truyền thống nào
nhưng những quán cóc vỉa hè -quán nước bụi lại giống như một điều gì đó
khi nhớ về Hà Nội .

Tuy có nét khác biệt trong phong cách thưởng thức chè nhưng tựu
chung lại chè vẫn là thứ nước uống số một của người dân miền Bắc, họ
không chỉ uống chè vào buổi sáng mà uống chè bất cứ khi nào trong ngày.
Song buổi sáng sớm khi mọc trời chưa rạng, được coi là thời điểm tốt nhất
để thưởng thức cái tinh t của chè. Uống chè có nhiều hình thức : Độc ẩm,
song ẩm, tam ẩm. Người xưa có câu “trà tam tửu tứ” hay “trà ngon phải có
bạn hiền”. Những giờ phút thưởng thức chè là những lúc gia đình bạn bè
quây quần chia sẻ với nhau những vần thơ, những triết lí của cuộc
sống.Phong cách uống chè của người dân Bắc rất cầu kì, chè ngon khơng chỉ
phụ thuộc vào loại chè mà còn phụ thuộc vào cách pha chế. Một số nơi rất
cầu kì chọn nước pha chè là nước mưa, đun bằng than củi, ấm pha chè phải
là ấm nung có hình hài nhỏ, trước khi pha cả ấm cả chén được nhúng vào
nước sôi cho có độ nóng, chè được rót vào chén tống sau đó từ chén tống
mới chiết ra chén quân, với các loại chè ngon khi vừa rót ra hương thơm bay
ngào ngạt .
Như vậy, truyền thống uống chè của người dân miền Bắc và người
dân Hà Nội mang phong cách rất đặc trưng. Đây là cơ sở hay là nền tảng để
các cơng ty chè Việt nam có thể tơn vinh quảng cáo nhãn hiệu chè thơng
qua các trương trình “mùa xn tơn vinh văn hố dân tộc”, “tuần văn hoá
chè” hoặc mở các quán chè Việt mang phong cách trà đạo Việt nam ở các
khu vực thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phịng, Việt trì đồng thời thực hiện
phát triển mở rộng ra khu vực thị trường miền Trung và miền Nam .
Trong chiến lược phát triển của mình các cơng ty phải đặc biệt trú
trọng sự phù hợp của văn hoá tiêu dùng của từng vùng .
Đối với người miền Nam




17

Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Phong cách của người dân miền Nam có gì đó cởi mở, quan điểm
sống rất nổi bật chứ khơng kín đáo kiểu thanh tao như của người Bắc, cho
nên sở thích và phong cách uống chè của người dân miền Nam thường
khơng cầu kì. Đa phần người dân miền Nam thích chè uống hoa nhài, hoa
sói, hoa ngâu để tăng thêm hương thơm cho mỗi chén chè. Đặc biệt nơi đây
có khí hậu ơn đới rất thuận lợi để phát triển loại chè có vị hoa quả, nhất là
trong vùng Cần Thơ, Long An cho nên có các loại chè có vị hoa quả mang
nét đặc trưng của vùng. Người miền Nam thường uống cafe vào các buổi
sáng do đó uống chè chỉ đống vai trị thứ yếu, người ta dùng chè để
uốngđệm nên khơng có gì cầu kì trong cách uống , chè ngon ít hay ngon
nhiều khơng quan trọng .
Phong cách uống chè của người miền trung nhất là ở Huế, lại thể
hiện sự giao hoà giữa hai miền Nam Bắc, người Huế vừa uống chè nóng,
vừa uống chè đá, xong lại thiên về chè nóng hơn. Chè dùng của người Huế
vừa ướp hoa vừa không ướp hoa, nhưng sở thích có thêm hương hoa vẫn là
phần nhiều .Ở miền Trung chè được trồng ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị,
Thừa Thiên Huế . Có lẽ khơng có nơi đâu người dân lại thích uống chè xanh
như ở Nghệ An, việc buôn chè xanh đã trở thành phường hội .Cũng như
nhiều vùng nông thôn nước ta, nước chè xanh xứ Nghệ được sử dụng như
một chất keo đặc biệt gắn bó tình cảm bà con lân bang làng xóm .Sau một
ngày lao động vất vả, ăn cơm tối xong người ta nhóm họp nhau để uống chè
xanh và trao đổi chuyện trò . Để đêm nào cũng được uống chè ngon các gia
đình thường luân phiên nhau nấu .
Qua những nét khác biệt trong phong cách uống chè của người dân
Việt ở các miền, đòi hỏi các công ty hay những người làm công tác nghiên
cứu thị trường phải hiểu rõ những nét đặc trưng này từ đó mới đưa ra những
sản phẩm mới và hình thức phân phối phù hợp .





18
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí

Dự kiến nhu cầu tiêu dùng chè trong cả nước

Đơn vị (ngànn
vị (ngàn: Tấnn
Thị trường
Cả nước
A.Phân theo khu vực
- Thành thị
- Nông thôn
B. Phân theo lãnh thổ
- Đồng bằng Sông Hồng
- Miền núi và trung du Bắc
- Khu bốn cũ
- Duyên hải miền Trung
- Tây Nguyên
- Đông Nam Bộ
- ĐB sông Cửu long
C. Theo cơ cấu sản phẩm
- Chè khô
- Chè tươi

Bộ


2000
40.000

2010
60.000

22.000
18.000

38.000
22.000

11.900
6000
5.100
4000
1000
4000
8000

18.000
8.500
7.000
6.500
2000
6500
11.500

38.500
1500


58.000
2000




19
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí

(Số liệu nghiên cứu của hiệp hội chè Việt Nam)
1.Cạnh tranh chè :
a.Cạnh tranh trong công tác thu mua nguyên liệu :
Nguyên liệu chè là yếu tố chủ yếu cho quá trình sản xuất, do vậy
muốn phát triển hiệu quả thì các cơng ty phải xây dựng gắn với việc tổ chức
và phát triển vùng nguyên liệu .Tuy vậy, đối với ngành chè Việt nam chỉ có
một số cơng ty ,chủ yếu là các công ty liên doanh mới thực hiện được bao
sản phẩm, xây dựng và phát triển nông trường chè cung ứng nguyên liệu cho
nhu cầu chế biến như nông trường chè Vân Lĩnh của công ty liên doanh chè
phú bền ,nông trường chè Mộc Châu,nông trường Sơng Bơi Lạc Thuỷ –Hồ
Bình, nơng trường chè Bảo Lộc Lâm Đồng...Thơng qua việc giao khốn hộ
nơng dân hướng dẫn kĩ thuật canh tác, chăm sóc thu hoạch chè tốt .Nhưng
không hẳn thuận lợi như vậy, thấy việc tham gia sản xuất và kinh doanh chè
có lài mà trong thời gian gần đây, trên mối vùng chè sự xuất hiện của quá
nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, đầu tư các nhà máy các
xưởng chế biến để sản xuất chè .Để đảm bảo có chè sản xuất các công ty này
thường xuyên tự động tăng giá để thu hút thêm người bán chè cho mình,do
vậy sở chế biến chè lớn nhỏ ,vào giữa vụ chè thường xảy ra tình trạng tranh
mua cướp bán, ví dụ như ở vùng chè tập chung của Phú Thọ có 35 cơ sở chế

biến chè lớn nhỏ vào giữa vụ chè thường diễn ra tình trạng tranh mua cướp
bán nguyên liệu che đã đẩy giá mua và giá bán 1 kg chè nguyên liệu lên tới
2500-2600 đ .người trồng chè tha hồ mà bán nguyên liệu chè, thậm chí dùng
cả liềm mà giật cả cộng dài lá già kèm theo những đọt chè làm ảnh hưởng
đến chất lượng chè thành phẩm, không xuất và bán được hàng . Trước tình
hình đó lại có nhiều cơ sở chế biến chè qui mơ nhỏ đóng cửa, giá nguyên
liệu lại giảm xuống 1600, 1400, 1200 đ /1 kg , một số cơ sở chế biến còn
khách hàng ra giá cho người trồng chè phải thu hái theo phẩm cấp .




20
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Để tránh tình trạng xảy ra hiện tượng như vậy, Chính Phủ ra quyết
định số 80/2002QĐ-ttg qui định rõ ràng “khuyến khích các doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế kí kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm nơng sản
hàng hoá với người sản xuất, nhằm gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ
nơng sản hàng hố để phát triển sản xuất và ổn định”
Đến hết năm 2000 cả nước có 133 nhà máy và xưởng chế biến chè với
cơng xuất 6 tấn /ngày trở lên trong đó 125 nhà máy chế biến chè búp tươi
với tổng công suất 1436 tấn tươi /ngày (năng lực chế biến 194.000-226000
tấn chè tươi / năm khoảng 50 ngàn tấn chè khô ).Trong tổng số 133 nhà máy
chế biến chè công nghiệp có 7 nhà máy chế biến chè đen theo cơng nghệ
CTC tổng công suất 150 tấn tươi /ngày tương đương với 5000 tấn khơ/ năm
chiếm 10,4% , có 23 nhà máy chế biến theo công nghệ của Đài Loan, Trung
Quốc , Nhật Bản (công suất 234tấn tươi/ ngày tương đương với 7100 tấn
khô / năm, chiếm tỉ lệ 16,3% ) . Còn lại là khoảng 103 nhà máy chế biến
theo công nghệ OTD tổng công suất 1052 tấn tươi/ ngày tương đương với

3800 tấn khô / năm chiếm 73,3 % tổng công suất chế biến chè công nghiệp.
Trong những năm qua có thêm 7 nhà máy chế biến chè đen hiện đại mới
được xây dựng và lắp đặt thiết bị của Ấn Độ tổng công suất 190 tấn tươi /
ngày (trong dó có 90 tấn tươi / ngày chế biến theo công nghệ CTC ) và một
dây truyền sản xuất chè xanh Nhật Bản tại Mộc Châu công suất là 700 tấn
khô/ ngày .
Như vậy, trong những năm qua công nghiệp chế biến chè phát triển
khá mạnh, đáp ứng nhu cầu chè búp tươi sản xuất ra tăng do tăng năng suất
và mở rộng sản xuất theo Quyết định số 43/QĐ-TTg .

Tổng diện tích chè cả nước(ha)
Diện tích chè kinh doanh(ha)
Diện tích chè trồng mới(ha)

1999
77.142
70.192
4350

2000
81.692
70.192
4.550

2001
104.000
92.500
2.800

2002

104.000
104.000





×