Tải bản đầy đủ (.doc) (28 trang)

Đánh giá tác động của các nhân tố đến thu ngân sách nhà nước Việt Nam trong thời gian qua. Xu hướng thay đổi thu NSNN khi Việt Nam gia nhập WTO

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (259.51 KB, 28 trang )

ĐỀ TÀI BÁO CÁO
Đánh giá tác động của các nhân tố đến
thu ngân sách nhà nước Việt Nam trong
thời gian qua. Xu hướng thay đổi thu
NSNN khi Việt Nam gia nhập WTO
1
MỤC LỤC
Lời nói đầu
2
I/ Cơ sở lý thuyết
3
1. Ngân sách nhà nước là gì?
3
2. Thu ngân sách nhà nước
3
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước
4
II/ Thực trạng tác động của các nhân tố đến thu ngân sách nhà nước
Việt Nam thời gian qua
6
1. Tổng quan về thu ngân sách nhà nước Việt Nam thời gian qua
6
2. Tác động của các nhân tố tới thu ngân sách nhà nước Việt Nam
9
a. Thu nhập GDP bình quân đầu người
9
b. Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế
11
c. Khả năng xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên
11
2


d. Mức độ trang trải các khoản chi phí
13
e. Tổ chức bộ máy thu nộp
15
f. Các nhân tố khác
16
III/ Xu hướng thu ngân sách nhà nước khi Việt Nam gia nhập WTO
17
1. Cam kết và tác động của những cam kết khi gia nhập WTO ảnh
hưởng tới thu chi ngân sách nhà nước
17
2. Thực trạng
19
IV/ Giải pháp
25
V/ Kết luận
27
LỜI NÓI ĐẦU
Ngân sách Nhà nước (NSNN) được xem là khâu chủ đạo của hệ thống
tài chính thể hiện những quan hệ tài chính giữa Nhà nước với các chủ thể
trong xã hội và gắn liền với việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà
3
nước như điều tiết kinh tế vĩ mô, ổn định trật tự xã hội và các hoạt động an
sinh xã hội khác.
Nội dung bài thảo luận đề cập đến các vấn đề về khái niệm, đặc điểm và
phân loại NSNN. Trên cơ sở đó, đưa ra các đánh giá về hoạt động thu NSNN
của Việt Nam hiện nay và những yếu tố tác động tới hoạt động thu NSNN
của Việt Nam trên cơ sở những số liệu thực tế lấy từ những năm gần đây.
Ngoài ra, trong bài còn chỉ ra xu hướng thay đổi của hoạt động thu
NSNN từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, một số

tồn tại của hoạt động thu NSNN và đề xuất một số giải phải nhằm cải thiện
tình hình thu NSNN của Việt Nam. Vì vậy, nhóm 1 chúng tôi xin trình bày
bài thảo luận với đề tài:
“Đánh giá tác động của các nhân tố đến thu ngân sách nhà nước Việt
Nam trong thời gian qua. Xu hướng thay đổi thu NSNN khi Việt Nam gia
nhập WTO”.
I/ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1. Ngân sách Nhà nước là gì?
Ngân sách Nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị
phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập
4
trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính
Quốc gia nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của
Nhà nước.
2. Thu ngân sách Nhà nước
a) Khái niệm
Thu ngân sách Nhà nước là việc Nhà nước sử dụng quyền lực của mình
để huy động, tập trung một phần nguồn lực tài chính quốc gia để hình thành
quỹ tiền tệ cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
b) Đặc điểm
Thu ngân sách Nhà nước có 2 đặc trưng cơ bản:
• Thu ngân sách Nhà nước là một hình thức phân phối nguồn tài chính
quốc gia giữa Nhà nước với chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực Nhà
nước nhằm giải quyết hài hòa các mối quan hệ về lợi ích kinh tế. Sự phân
phối này là một tất yếu khách quan xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển
của bộ máy Nhà nước cũng như yêu cầu thực hiện các chức năng của bộ
máy Nhà nước.
• Thu ngân sách nhà nước gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận
động của các phạm trù giá trị khác nhau như giá cả, thu nhập, lãi suất,…
trong đó, chỉ tiêu quan trọng biểu hiện thực trạng của nền kinh tế có ảnh

hưởng đến quy mô và mức độ động viên của thu ngân sách Nhà nước là tổng
sản phẩm quốc nội. Sự vận động của các phạm trù giá trị này vừa tác động
đến sự tăng giảm mức thu, vừa đặt ra yêu cầu nâng cao tác dụng điều tiết các
công cụ thu ngân sách Nhà nước.
c) Phân loại thu ngân sách Nhà nước
i. Căn cứ theo nội dung kinh tế của các khoản thu
- Thu thuế
- Thu phí, lệ phí
5
- Thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước: thu từ lợi tức từ hoạt động
góp vốn liên doanh, cổ phần của Nhà nước, thu hồi tiền cho vay (cả
gốc và lãi) của Nhà nước, thu hồi vốn đầu tư của Nhà nước tại các cơ
sở kinh tế - bán hoặc đấu giá doanh nghiệp nhà nước.
- Thu từ hoạt động sự nghiệp: thu từ bán sản phẩm sản xuất thử nghiệm
của đơn vị, bán sách do trường in ấn,…
- Thu từ bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước.
- Thu từ vay nợ và viện trợ không hoàn lại
- Thu khác: phạt, tịch thu, tịch biên tài sản,…
ii. Căn cứ theo tính chất phát sinh của các khoản thu
- Thu thường xuyên
- Thu không thường xuyên
iii. Căn cứ theo tính cân đối của ngân sách Nhà nước
- Thu trong cân đối
- Thu ngoài cân đối
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách Nhà nước
• Thu nhập GDP bình quân đầu người: Tổng GDP phản ánh quy
mô của nền kinh tế, từ đó quyết định đến tổng thu NSNN, còn GDP bình
quân đầu người là một chỉ tiêu phản ánh trình độ tăng trưởng và phát triển
của nền kinh tế, phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của một
nước. GDP bình quân đầu người là một yếu tố khách quan quyết định mức

động viên của NSNN. Do đó, khi xác định mức độ động viên thu nhập vào
NSNN mà thoát ly chỉ tiêu này thì sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đến các
vấn đề tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của nền kinh tế.
• Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế: Đây là chi tiêu
phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển nền kinh tế nói chung và hiệu quả
của các doanh nghiệp nói riêng. Tỷ suất lợi nhuận bình quân càng lớn sẽ
6
phản ánh khả năng tái tạo và mở rộng các nguồn thu nhập trong nền kinh tế
càng lớn, từ đó đưa tới khả năng huy động cho NSNN. Đây là yếu tố quyết
định đến việc nâng cao tỷ suất thu NSNN. Do vậy, khi xác định tỷ suất thu
Ngân sách cần căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế để
đảm bảo việc huy động của Ngân sách Nhà nước không gây khó khăn về
mặt tài chính cho các hoạt động kinh tế.
• Khả năng khai thác và xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên
(dầu mỏ và khoáng sản): Đối với các nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên
dồi dào phong phú thì việc khai thác và xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại
nguồn thu to lớn cho Ngân sách Nhà nước. Kinh nghiệm của các nước cho
thấy, nếu tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm trên 20% tổng kim
ngạch xuất khẩu thì tỷ suất thu Ngân sách sẽ cao và có khả năng tăng nhanh.
Với cùng một điều kiện phát triển kinh tế, quốc gia nào có tỷ trọng xuất
khẩu dầu mỏ và khoáng sản lớn thì tỷ lệ động viên vào NSNN cũng lớn hơn.
• Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước: Mức độ
trang trải các khoản chi phí của Nhà nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như
quy mô tổ chức của bộ máy Nhà nước và hiệu quả hoạt động của bộ máy đó,
những nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà Nhà nước đảm nhận trong từng giai
đoạn lịch sử, chính sách sử dụng kinh phí của Nhà nước. Khi các nguồn tài
trợ khác cho chi phí hoạt động của Nhà nước không có khả năng tăng lên,
việc tăng mức độ chi phí của Nhà nước sẽ đòi hỏi tỷ suất thu của Ngân sách
cũng tăng lên. Các nước đang phát triển thường rơi vào tình trạng nhu cầu
chi tiêu của NSNN vượt quá khả năng thu, nên các Chính phủ thường phải

vay nợ để bù đắp bội chi.
• Tổ chức bộ máy thu nộp: Tổ chức bộ máy thu nộp có ảnh hưởng
đến chi phí và hiệu quả hoạt động của bộ máy này. Nếu tổ chức hệ thống cơ
quan thuế, hải quan, kho bạc Nhà nước gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống lại
7
thất thu do trốn, lậu thuế thì đây sẽ là yếu tố tích cực làm giảm tỷ suất thu
NSNN mà vẫn thỏa mãn được các nhu cầu chi tiêu của NSNN.
II/ THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐẾN THU
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM THỜI GIAN QUA
1. Tổng quan về thu ngân sách nhà nước Việt Nam thời gian qua
Theo Bộ Tài chính, trong tổng thu ngân sách năm 2006, nguồn thu
trong nước ước đạt 132.000 tỷ đồng, thu từ dầu khí khoảng 63.400 tỷ đồng,
từ thuế XNK 40.000 tỷ đồng và viện trợ không hoàn lại khoảng 2.500 tỷ
đồng. Ngoài ra, khoảng 8.000 tỷ đồng trong ngân sách nhà nước năm 2005
cũng sẽ được chuyển sang năm 2006.
Trong số nguồn thu ngân sách trong nước (không kể thu từ dầu thô)
thì thu từ kinh tế quốc doanh đạt 42.243 tỷ đồng, doanh nghiệp FDI là
27.807 tỷ đồng, còn lại là thu từ các loại thuế…
Bộ Tài chính cũng ước tính thu ngân sách đạt mức là 1.600.000 tỷ
đồng trong giai đoạn 2006- 2010, vẫn chủ yếu từ xuất khẩu dầu thô, thuế
XNK, nộp ngân sách của các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.
Năm 2005, dự toán thu ngân sách là 183.000 tỷ đồng, với tổng chi là
229.750 tỷ đồng ( thâm hụt ngân sách là 40.750 tỷ đồng). Dự toán ngân sách
nhà nước năm 2006 với tổng các nguồn thu ước đạt 237.900 tỷ đồng, tăng
13% so với thực hiện năm 2005.
Bảng cân đối ngân sách nhà nước từ năm 2005 - 2010
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tổng thu 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00
Thu trong nước 52.49 52.03 55.17 55.13 60.96 63.32
8

(Không kể thu từ dầu
thô)
Thu từ doanh nghiệp
nhà nước 17.12 16.58 15.94 16.43 18.96 20.05
Thu từ doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước
ngoài
8.36 9.25 9.94 10.52 11.45 11.26
Thu từ khu vực công,
thương nghiệp và dịch
vụ ngoài quốc doanh
7.42 7.90 9.87 10.44 10.81 12.53
Thuế sử dụng đất
nông nghiệp
0.06 0.04 0.04 0.02 0.02 0.01
Thuế thu nhập đối với
người có thu nhập cao
1.85 1.85 2.35 3.10 3.24 4.71
Lệ phí trước bạ 1.23 1.20 1.80 1.78 2.18 2.26
Thu phí xăng dầu 1.73 1.42 1.41 1.08 2.03 1.88
Thu phí, lệ phí
1.84 1.78 1.28 1.60 1.73 1.38
Các khoản thu về nhà
đất
7.78 7.35 10.74 9.17 9.43 8.51
Các khoản thu khác 2.79 2.45 1.80 0.99 1.11 0.73
Thu từ dầu thô 29.16 29.82 24.37 21.31 13.68 12.39
Thu từ hải quan 16.70 15.32 19.11 21.82 23.89 23.30
Thuế xuất, nhập
khẩu, thuế tiêu thụ

đặc biệt hàng nhập
khẩu; Thu chênh lệch
giá hàng nhập khẩu
10.36 9.40 12.15 14.38 17.42 13.22
Thuế giá trị gia tăng 6.33 5.92 6.96 7.44 6.47 10.08
9
hàng nhập khẩu
Thu viện trợ không
hoàn lại
1.65 2.83 1.35 1.74 1.47 0.99
Tổng thu NSNN năm 2011 ước đạt 674500 tỷ đồng, đạt 113,4% dự
toán, tăng xấp xỉ 21% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó:
Thu nội địa ước 390000 tỷ đồng, đạt 102% dự toán năm, tăng 16,6%
so với cùng kỳ 2010 (trong đó: tính đến hết tháng 11/2011, thu từ kinh tế
quốc doanh đạt 89,1% dự toán, tăng 12,1% so với cùng kỳ. Thu khu vực
công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 98,7% dự toán, tăng
23,7% so cùng kỳ. Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 94,0%
dự toán, tăng 15,3% so với cùng kỳ. Thuế thu nhập cá nhân đạt 119,7% dự
toán, tăng 45,4% so với cùng kỳ; các khoản thu từ nhà và đất đạt 135,9% dự
toán, tăng 7,8% so với cùng kỳ,…). Theo yêu cầu hỗ trợ các gia đình và
doanh nghiệp vượt qua bất ổn năm 2011, đã có hàng loạt các chính sách
miễn giảm, gia hạn thời gian nộp thuế của một số sắc thuế như: thu nhập cá
nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp (giảm 30% số thuế phải nộp năm 2011 đối
với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động trong lĩnh vực ưu tiên,…).
Thu từ dầu thô cả năm 2011 ước 100000 tỷ đồng; đạt 144,3% dự toán,
tăng 35,9% so với cùng kỳ.
Theo số liệu của tổng cục Hải quan, thu NSNN từ xuất khẩu ước
186833 tỷ đồng, đạt 99% dự toán năm, tăng 19,3% so với cùng kỳ năm
2010, bất chấp chính sách hạn chế nhập khẩu và giảm, miễn thuế đối với
nhập khẩu xăng đầu những tháng đầu năm. Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu

tăng do nhiều nguyên nhân, trong đó có tác động từ tăng kim ngạch xuất
nhập khẩu hàng hóa, thay đổi tỷ giá đồng Việt Nam và các giải pháp nhằm
chống thất thu thuế của Bộ Tài chính.
10
Thu NSNN cả năm 2011 ước tính có thể tăng 23,4% so với năm 2010.
Đây là con số cao thứ nhì trong 5 năm gần đây (chỉ thấp hơn mức 27,2% so
với năm 2008). Tuy nhiên cũng phải lưu ý là nếu tính đến tỷ lệ lạm phát cao
năm 2011 thì kết quả này không thực sự nổi trội so với các năm gần đây.
2. Tác động của các nhân tố tới thu ngân sách nhà nước Việt Nam
a) Thu nhập GDP bình quân đầu người
So với các nước trong ASEAN, thu nhập trung bình của người Việt
Nam vẫn còn ở khoảng cách rất xa, dù được cải thiện nhiều do đổi mới và
mở cửa cách đây hơn một phần tư thế kỷ.
Tính theo tỷ giá hối đoái, GDP đầu người của Việt Nam tăng từ mức
114 USD năm 1991 lên 1.061 USD năm 2010.
Biểu đồ tăng trưởng GDP từ năm 2001 - 2010
11
Theo số liệu về tổng sản phẩm trong nước (GDP) vừa được Bộ Kế
hoạch và Đầu tư công bố cho thấy, tốc độ tăng GDP của Việt Nam từ đầu
năm đến nay có nhiều cải thiện và tăng dần qua từng Quý. Cụ thể, tốc độ
tăng trưởng GDP Quý III/2012 ước đạt khoảng 5,35%, tuy thấp hơn so với
cùng kỳ các năm trước nhưng mức tăng này cao hơn mức tăng 4% của Quý I
và mức tăng 4,66% của Quý II đã thể hiện sự cố gắng lớn của nền kinh tế
trong điều kiện phải tập trung mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ
mô.
• Theo tổng hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Vốn đầu tư toàn xã hội
thực hiện sáu tháng đầu năm nay của cả nước theo giá hiện hành ước
đạt 431,7 nghìn tỷ đồng, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước và
bằng 34,5% GDP
• Tổng thu ngân sách nhà nước 9 tháng qua ước đạt 498.490 tỷ đồng,

tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2011. Tổng thu ngân sách Nhà nước từ
đầu năm đến 15/10/2012 ước tính đạt 523,4 nghìn tỷ đồng.
12
=> Sự tăng lên của GDP bình quân đầu người sẽ kéo theo sự tăng thêm của
thu ngân sách nhà nước.
b) Tỷ suất lợi nhuận bình quân
Kinh tế Việt Nam trong những năm qua cũng chịu nhiều sức ép quay
lại vòng xoáy thứ hai kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra ở Mỹ và
lan tỏa, tạo suy giảm kinh tế toàn cầu, tiêu biểu là từ đầu năm 2012 tới nay:
• Tổng chi và thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/10/2012 ước
tính đạt 678,6 nghìn tỷ đồng và 523,4 nghìn tỷ đồng. Đều giảm đáng
kể so với cùng kỳ năm ngoái.
• Tỷ suất doanh lợi nhỏ hơn 1, ngân sách nhà nước thâm hụt.
=> Nền kinh tế càng phát triển thì tỷ suất doanh lợi càng lớn (tức thu NS
càng lớn hơn chi NS) làm cho ngồn tài chính càng lớn, nâng cao tỷ suất thu
cho NSNN.
c) Khả năng xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên
Đối với các nước có nguồn tài nguyên dồi dào phong phú thì việc khai
thác và xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn lợi lớn cho Ngân sách nhà
nước.
Vai trò của các nguyên nhiên liệu có nguồn gốc từ tài nguyên thiên
nhiên rất quan trọng đối với cuộc sống của mỗi con người, của từng địa
phương và quốc gia, là lực đẩy và đóng góp lớn vào tăng trưởng, sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm, định vị và củng cố nền kinh tế của
đất nước trong mối quan hệ của khu vực và quốc tế. Xuất khẩu tài nguyên
thiên nhiên đem lại nguồn thu ngân sách lớn cho nước ta. Hai loại tài nguyên
có đóng góp lớn nhất cho NSNN là dầu mỏ và khoáng sản. Với cùng một
13
điều kiện phát triển kinh tế, quốc gia nào có tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và
khoáng sản lớn thì tỷ lệ động viên vào NSNN cũng lớn.

• Dầu mỏ
Dầu thô đóng góp lớn cho NSNN nước ta. Ở Việt Nam, tỷ trọng xuất
khẩu dầu thô không cao như nhiều nước, song tỷ lệ động viên vào NSNN
cũng đạt trên 20% và đóng góp đáng kể vào việc tăng tỷ lệ động viên vào
NSNN.
Thu Ngân sách từ dầu thô của Việt Nam từ năm 2005 – 2010 (theo %)
2005 2006 2007 2008 2009 2010
29.16 29.82 24.37 21.31 13.68 12.39
Trong 8 tháng đầu năm 2012, kim ngạch xuất khẩu của ngành đạt 5,5
tỷ USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ, chiếm 7,5% tổng kim ngạch xuất khẩu
cả nước, đồng thời đóng góp vào ngân sách Nhà nước khoảng 70,8 tỷ đồng,
chiếm 16,9%.
Trong những năm trước đây, ngành luôn dẫn đầu về mức đóng góp
vào ngân sách nhà nước. Mặc dù tổng kim ngạch xuất khẩu đang giảm dần
song ngành dầu khí Việt Nam vẫn là đơn vị duy trì mức đóng góp khoảng
18-22% tổng GDP cả nước. 6 tháng đầu năm 2012, tổng doanh thu của PVN
đạt 380,6 nghìn tỷ đồng và nộp ngân sách 81,2 nghìn tỷ đồng.
Tuy nhiên sản lượng dầu khí khai thác hàng năm ở mức thấp, bình quân
khoảng 24 triệu tấn. Trong 5 tháng đầu năm 2012, PVN chỉ khai thác được
10,86 triệu tấn dầu khí. Trong khi đó, trữ lượng khai thác ở Việt Nam đang
đứng thứ 4 về dầu mỏ và thứ 7 về khí đốt trong khu vực Châu Á Thái Bình
14
Dương (Theo BP, 2010), đồng thời đứng thứ 25 và 30 trên thế giới. Chính vì
vậy, Việt Nam có hệ số trữ lượng/sản xuất (R/P) rất cao, trong đó R/P dầu
thô là 32,6 lần (đứng đầu khu vực Châu Á-TBD và thứ 10 thế giới) và R/P
khí đốt là 66 lần (đứng đầu Châu Á - TBD và thứ 6 thế giới). Điều này cũng
cho thấy tiềm năng phát triển của ngành trong tương lai còn rất lớn.
• Tiềm năng khoáng sản ở Việt Nam
Nằm ở khu vực Đông Nam Châu Á, Việt Nam là nước có nguồn tài
nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng, là nguồn nguyên liệu, tiềm năng

quý cả quốc gia.
Qua kết quả điều tra địa chất, tham dò khoáng sản, đã phát hiện gần
5.000 mỏ và điểm quặng với 60 loại khoáng sản khác nhau. Trong đó một số
loại khoáng sản có trữ lượng lớn tầm cỡ thế giới như bauxite, titan, đất hiếm
và đá vôi,…trữ lượng tiềm năng dầu khí vào khoảng 6 tỷ tấn, khí vào
khoảng 4.000 tỷ mét khối, đóng góp của ngành khai khoáng chiếm 10 – 11%
GDP mỗi năm.
Không những thế, vào năm 2009, doanh thu từ xuất khẩu khoáng sản
đạt khoảng 8,5 tỷ USD, trong đó từ dầu thô đạt 6,2 tỷ USD, chiếm tỷ trọng
khá lớn trong thu ngân sách nhà nước, khoảng 25%.
Công nghiệp khai thác khoáng sản ở Việt Nam mặc dù còn kém phát
triển nhưng cũng đã góp một phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển
kinh tế - xã hội, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
d) Mức độ trang trải các khoản chi phí của NN
Nợ công có phạm vi rộng hơn nợ nước ngoài. Nó bao gồm nợ của
chính phủ và toàn bộ nợ của doanh nghiệp quốc doanh, gồm cả nợ nước
ngoài lẫn nợ trong nước, cũng như nợ của doanh nghiệp tư nhân mà nhà
15
nước bảo lãnh. Việc bao gồm nợ của doanh nghiệp quốc doanh vào nợ công
là dựa trên tiêu chuẩn quốc tế đã được chấp nhận rộng rãi với lý do là nhà
nước không thể hay khó lòng về mặt chính trị xóa trách nhiệm đối với nợ
của các doanh nghiệp do chính chính phủ dựng lên.
Theo Ngân hàng Thế giới,Việt Nam có tỷ lệ nợ công trên GDP vào
năm 2010 là 51.3 %, so với 49 % năm 2009. Nợ nước ngoài chiếm 60 %
tổng số nợ công trên, tức là 31 % GDP tăng thêm 2 % so với năm 2009. Như
vậy nợ công của Việt Nam nằm vào ranh giới của ngưỡng an toàn 50 %.
Nợ nước ngoài bao gồm cả nợ của chính phủ, nợ của doanh nghiệp
quốc doanh và ngoài quốc doanh. Tổng số nợ nước ngoài năm 2009 là 37 tỷ
USD, trong đó 27.8 tỷ là nợ của chính phủ (gồm cả nợ do nhà nước bảo

lãnh) và 9,2 tỷ là nợ doanh nghiệp quốc doanh và tư nhân không được nhà
nước bảo lãnh. Tỷ lệ nợ nước ngoài trên GDP của nền kinh tế là 39.0%, còn
tỷ lệ nợ của chính phủ là 29.3% vào năm 2009.Nhưng điều này chưa đáng lo
ngại vì thường thì nợ của chính phủ từ các nguồn vay chính thức, như từ các
tổ chức quốc tế và chính phủ các nước phát triển cao đều có lãi suất rất thấp
và thời gian chưa phải trả nợ có thể kéo dài đến 10 năm hay dài hơn nhiều.
Tỷ lệ nợ này cao thì áp lực chi trả thấp và nước vay mượn có thể tính toán
trước về khả năng trả vì lãi suất cố định. Trường hợp Việt Nam là rất thuận
lợi. Vào năm 2009, tỷ lệ vay chính thức lên tới 86% và phần vay tư nhân là
14%. Hơn nữa, 72% tổng số nợ này chịu lãi suất thấp dưới 6 %, trong đó
60% số nợ có lãi suất dưới 3%.
Với lãi suất thấp như thế, năm 2009, tổng số lãi và vốn gốc phải trả là
1,3 tỷ USD. Và như thế, vào năm 2009 khi nhà nước vay thêm được 5,1 tỷ
US thì sau khi trả nợ và phí còn đem về được 3,3 tỷ USD. Trong việc trả nợ
số nợ hiện nay trong thời gian sau này thì năm phải trả cao nhất là 2,1 tỷ
USD vào năm 2016. Như vậy, việc trả nợ sẽ không phải là mối quan ngại
16
nếu như nợ không tiếp tục tăng mạnh như hiện nay, và nếu như thiếu hụt
thương mại với nước ngoài lớn như hiện nay được giải quyết.
e) Tổ chức lại bộ máy thu nộp
Tổ chức bộ máy thu nộp có ảnh hưởng trực tiếp đến thu NSNN .
Tổ chức bộ máy gọn nhẹ đạt hiệu quả cao, chống được thất thu do
chốn lậu thuế sẽ là nhân tố tích cực làm giảm tỉ suất thu mà vẫn thỏa mãn
được nhu cầu chi của NSNN.
Thu NSNN đang đứng trước vấn đề thâm hụt trầm trọng, nhiều yếu tố
giảm thu NSNN đang xuất hiện làm cho khả năng mất cân đối thu chi NSNN
cả năm trở thành thách thức lớn nhất đối với nền kinh tế.
Chính sách tài khóa của Việt Nam chưa thực sự nuôi dưỡng nguồn thu
một cách hợp lí. Việt Nam mới xây dựng chính sách thu nhưng làm thế nào
để có nguồn thu thì chính sách chưa đề cập đến một cách thỏa đáng nên

nguồn thu giảm sụt cũng có phần do chính sách tài khóa tạo ra. Trong khi đó
thực hiện chính sách tài khóa chưa nghiêm túc, đôi lúc còn chưa thực hiện
tốt các quy định tài chính việc chậm nộp thuế, thất thu thuế vẫn còn, chi tiêu
lãng phí, thực hành tiết kiệm chưa cao, nên dẫn tới việc thu NSNN chưa
đạt mục tiêu đề ra.
Nguyên nhân khác là do cơ chế tài chính rườm rà, phức tạp nên giải
nên giải ngôn của các dự án, công trình gặp nhiều khó khăn gây tổn hại tăng
trưởng kinh tế. Trước vấn đề trên để đạt được mục tiêu ngân sách cần tiếp
tục kiềm chế lạm phát giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện chính sách
tài khóa linh hoạt.
17
Chi phí thời gian thực hiện các quy định về thuế cho thấy, mỗi năm
doanh nghiệp phải mất 1959,2 giờ (tương đương khoảng 244,9 ngày) để thực
hiện các nghĩa vụ thuế của mình.
Thuế thu nhập doanh nghệp đã giảm từ 32% xuống 28% thuế suất
thuế GTGT đã giảm từ 4 mức xuống còn 3 mức và 2 mức.
f) Các nhân tố khác
Tính đến hết tháng 12-2008, tổng số nợ thuế hơn 16 nghìn tỉ đồng,
trong đó nợ có khả năng thu hồi là 10547,7 tỉ đồng, nợ chờ xử lí là 3692,3 tỉ
đồng và nợ khó thu 2048,9 tỉ đồng.
Vay nợ trong và ngoài nước. Việc vay nợ nước ngoài quá nhiều sẽ kéo
theo vấn đề phụ thuộc nước ngoài cả về chính trị lẫn kinh tế sẽ làm giảm dự
trữ ngoại hối quá nhiều khi trả nợ dẫn đến khủng hoảng tỷ giá. Vay nợ trong
nước sẽ làm tăng lãi suất, và cái vòng “nợ - trả - lãi – bội chi” sẽ làm tăng
mạnh các khoản nợ công chúng và kéo theo gánh nặng chi trả của ngân sách
nhà nước cho kì sau. Việc vay nợ sẽ làm tăng nguồn thu NSNN nhưng vay
quá nhiều thì sẽ làm bội chi NSNN.
Nhà nước phát hành thêm tiền vào lưu thông làm tăng nguồn thu
ngân sách nhà nước. Nhưng việc phát hành quá nhiều vào lưu thông lớn hơn
lượng tiền cần thiết trong lưu thông thì sẽ gây ra lạm phát. NSNN là do thiếu

hụt các nguồn đối ứng để đầu tư cho phát triển gây tăng trưởng nóng và
không cân đối với khả năng tài chính quốc gia.
Tăng các khoản thu dặc biệt là thuế sẽ làm tăng nguồn thu ngân sách
nhà nước. Việc tăng thuế có thể sẽ bù đắp việc thâm hụt ngân sách nhà nước
và giảm bội chi ngân sách nhà nước. Tuy nhiên nếu tăng thuế không hợp lí
sẽ làm giá cả hàng hoá tăng gây ảnh hưởng đến lãi suất. Các tác động chung
của nền kinh tế, hoạt động thu NSNN ở nhiều ngành, lĩnh vực quan trọng
18
giảm: cụ thể khu vực kinh tế trung ương tháng 5 giảm 45,4%, khu vực kinh
tế địa phương giảm 41,5%, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài giảm
1,5%.
Năm 2009 là năm có nhiều khó khăn, thách thức lớn đối với nền kinh
tế nước ta. Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động
trực tiếp đến kinh tế trong nước, làm cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và
xuất khẩu giảm sút, ảnh hưởng đến việc làm và đời sống nhân dân. Trong
bối cảnh đó, Chính phủ đã đề ra những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn
suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Cùng
với sự nỗ lực của các ngành, các cấp, cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể
nhân dân; các chính sách và giải pháp kích thích kinh tế đề ra đã được thực
hiện khẩn trương, đồng bộ và phát huy hiệu quả, giúp thực hiện thành công
mục tiêu ngăn chặn suy giảm kinh tế. Từ quý II/2009, tình hình kinh tế đã có
chuyển biến tích cực, tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước, nâng mức tăng
trưởng GDP cả năm đạt 5,32%, góp phần duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và
bảo đảm an sinh xã hội.
III/ XU HƯỚNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC KHI VIỆT NAM
GIA NHẬP WTO
1. Cam kết và tác động của những cam kết khi gia nhập WTO ảnh
hưởng tới thu chi ngân sách nhà nước
Tác động trực tiếp của hội nhập được thể hiện qua yêu cầu thay đổi
chính sách tài chính để phù hợp với yêu cầu của các cam kết quốc tế, bao

gồm:
• Khi gia nhập WTO, Việt Nam cam kết ràng buộc với toàn bộ biểu
thuế nhập khẩu hiện hành, vậy nhiều mặt hàng nhập khẩu sẽ giảm
thuế, kéo theo ngân sách nhà nước sẽ bị giảm. Tuy nhiên điều gì cũng
19
có 2 mặt “được và mất”, khi gia nhập WTO thực hiện một nền kinh tế
mở, nước ta sẽ có nhiều cơ hội, có nhiều nguồn vốn đầu tư nước
ngoài, từ đó có thể đẩy mạnh phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, dưới tác
động trực tiếp của cắt giảm thuế, tính ổn định và bền vững của thu
ngân sách sẽ bị ảnh hưởng. Số thu từ khu vực kinh tế trong nước, nhất
là từ các doanh nghiệp nhà nước sẽ bị ảnh hưởng mạnh do tác động
của cạnh tranh quốc tế và quá trình cải cách doanh nghiệp. Bên cạnh
đó, sự chuyển dịch cơ cấu và những thay đổi thị trường trong quá
trình hội nhập cũng sẽ thay đổi nguồn thu.
• Tác động đến thu ngân sách thông qua việc thực hiện cắt giảm thuế
quan theo lộ trình, thực hiện nguyên tắc tối huệ quốc và nguyên tắc
đối xử quốc gia, tuân thủ Hiệp định giá hải quan theo qui định của
WTO.
• Tác động đến chi ngân sách thong qua việc cắt giảm các khoản trợ cấp
trực tiếp đối với các doanh nghiệp theo yêu cầu của Hiệp định trợ cấp
thong qua cải cách tiền lương, trợ cấp, bảo hiểm xã hội cũng như việc
cải cách cơ cấu chi thường xuyên và chi đầu tư từ NSNN. Ngoài ra,
hội nhập kinh tế quốc tế yêu cầu hệ thống NSNN phải đảm bảo công
khai minh bạch hóa chính sách và đượ thực hiện theo lộ trình có thể
dự đoán trước để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh
nghiệp.
• Tác động, ảnh hưởng gián tiếp của hội nhập đến NSNN được thể hiện
qua tác động, ảnh hưởng đến nền kinh tế thông qua tăng trưởng, cơ
cấu kinh tế, tiêu dùng – tiết kiệm – đầu tư, thương mại và hệ thống
kinh tế vi mô, đặc biệt là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Tốc

độ tăng trưởng, sự biến động cơ cấu kinh tế, sự thay đổi các tỷ lệ tiết
kiệm- tiêu dùng- đầu tư hiệu quả sản xuất, kinh doanh của khu vực
DN… làm thay đổi cả mức độ và cơ cấu thu ngân sách, cụ thể là số
20
thu và cơ cấu các loại thuế như thuế VAT, tiêu thụ đặc biệt, nhập
khẩu, thu nhập, thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân…
• Theo cam kết, VN phải mở cửa 110 phân nghành dịch vụ cho các
thành viên WTO. Những cam kết này liên quan đến chế độ đầu tư,
hình thức thành lập doanh nghiệp, thuê đất, các biện pháp về thuế, trợ
cấp cho doanh nghiệp trong nước… Chúng ta chưa cho phép các công
ty nước ngoài hiện diện tại Việt Nam dưới hình thức chi nhánh ( ngoại
trừ điều đó được cho phép theo cam kết trong từng ngành cụ thể).
2. Thực trạng
Việc thực hiện các cam kết với WTO thì làm giảm các khoản thu
chính của ngân sách nhà nước.
Nếu phân tích, đánh giá cụ thể đối với từng ngành hàng, từng lĩnh
vực, từng doanh nghiệp thì có thể thấy, sau khi gia nhập WTO cũng có tác
động nhưng chưa nhiều. Đánh giá nền kinh tế thì không chỉ dựa vào một vài
ngành mà phải dựa trên tổng quan. Sau 5 tháng gia nhập WTO, cả nền kinh
tế chưa chịu tác động lớn.
Số thu ngân sách là hiệu quả của nền kinh tế. Số thu tăng có nghĩa là
hiệu quả của nền kinh tế tăng và ngược lại. Nếu so với cùng kỳ năm 2006,
trái ngược với các dự báo, giảm thuế khi gia nhập WTO không làm giảm
nguồn thu từ thuế, thu ngân sách thực tế đã tăng trong năm 2007 với mức
đóng góp nhiều hơn của nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu đến tổng ngân
sách. Điều này một phần là do giảm thuế của Việt Nam theo cam kết WTO
là tương đối nhỏ và được thực hiện dần dần, do đó chỉ tác động đến một số ít
ngành. Quan trọng hơn, tăng nhập khẩu đã dẫn đến mức thuế được áp dụng
cho diện thu thuế lớn hơn. Chính phủ cũng thự hiện các cải cách mạnh mẽ
về thủ tục hải quan và chính sách thuế trong năm trước và tiếp tục phát huy

trong năm đầu gia nhập đã nâng được tỷ lệ thu thuế.
21
Có thể thấy rằng, thu ngân sách của năm nay gặp nhiều khó khăn hơn
các năm trước. Cụ thể: Trong 7 tháng đầu năm 2011, tổng thu ngân sách đạt
386.800 tỷ đồng, bằng 65% dự toán năm; con số này trong năm 2010 ước
tính bằng 57,5%; năm 2009 là 50,9% và năm 2008, tổng thu ngân sách Nhà
nước lên đến 66,7% dự toán năm.
Được biết, nguyên nhân khiến thu ngân sách Nhà nước giảm mạnh là
do tăng trưởng kinh tế bị suy giảm, một số khoản thu lớn từ xuất nhập khẩu,
từ đất đai bị giảm sút
Trong những tháng cuối năm, Tổng cục Thuế sẽ tập trung thực hiện đồng bộ
các biện pháp quản lý thuế, trong đó tăng cường công tác thanh, kiểm tra
chống thất thu thuế và quản lý nợ động thuế, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ
thu ngân sách năm 2012 đề ra.
CÂN ĐỐI DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2010
(Kèm theo Quyết định số 3234/QĐ-BTC ngày 21/12/2009 của Bộ trưởng Bộ
Tài chính về việc công bố công khai số liệu dự toán NSNN năm 2010)
Đơn vị tính: Tỷ đồng
22
STT Chỉ tiêu
Dự toán
Năm 2010
A Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước 461,500
1 Thu nội địa 294,700
2 Thu từ dầu thô 66,300
3 Thu từ xuất khẩu, nhập khẩu 95,500
4 Thu viện trợ không hoàn lại 5,000
B Thu kết chuyển từ năm trước sang 1,000
C Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước 582,200
1 Chi đầu tư phát triển 125,500

2 Chi trả nợ và viện trợ 70,250
3
Chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh, quản lý hành chính
335,560
4 Chi cải cách tiền lương 35,490
5 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100
6 Dự phòng 15,300
D Bội chi ngân sách nhà nước 119,700
Tỷ lệ bội chi so GDP 6.20%
E Nguồn bù đắp bội chi ngân sách nhà nước 119,700
1 Vay trong nước 98,700
2 Vay ngoài nước 21,000
CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2011
(Kèm theo Quyết định số 3212 /QĐ-BTC ngày 08/12/2010 của Bộ trưởng Bộ
Tài chính về việc công bố công khai số liệu dự toán NSNN năm 2011)
Đơn vị tính: Tỷ đồng

STT Chỉ tiêu
Dự toán
năm 2011
A TỔNG THU CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 595,000
23
1 Thu nội địa 382,000
2 Thu từ dầu thô 69,300
3 Thu từ xuất khẩu, nhập khẩu 138,700
4 Thu viện trợ không hoàn lại 5,000
B
THU CHUYỂN NGUỒN NGÂN SÁCH TRUNG
ƯƠNG NĂM 2010 CHUYỂN SANG NĂM 2011

10,000
C TỔNG CHI CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 725,600
1 Chi đầu tư phát triển 152,000
2 Chi trả nợ và viện trợ 86,000
3 Chi thường xuyên 442,100
4 Chi cải cách tiền lương 27,000
5 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100
6 Dự phòng 18,400
D BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 120,600
Tỷ lệ bội chi so GDP 5.3%
E NGUỒN BÙ ĐẮP BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 120,600
1 Vay trong nước 92,600
2 Vay ngoài nước 28,000
CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2012
(Kèm theo Quyết định số 3008/QĐ-BTC ngày 14/12/2011 của Bộ trưởng Bộ
Tài chính về việc công bố công khai số liệu dự toán NSNN năm 2012)

Đơn vị tính: Tỷ đồng
STT Chỉ tiêu
Dự toán
năm 2012
A TỔNG THU CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 740.500
1 Thu nội địa 494.600
2 Thu từ dầu thô 87.000
3 Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu 153.900
4 Thu viện trợ 5.000
24
B
THU CHUYỂN NGUỒN NSTW NĂM 2011 SANG
NĂM 2012

22.400
C TỔNG CHI CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 903.100
1 Chi đầu tư phát triển 180.000
2 Chi trả nợ và viện trợ 100.000
3 Chi thường xuyên 542.000
4 Chi thực hiện cải cách tiền lương 59.300
5 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100
6 Dự phòng 21.700
D BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 140.200
Tỷ lệ bội chi so GDP 4,8%
Khi Việt Nam gia nhập WTO, yêu cầu phải mở cửa thị trường hàng
hóa, gia nhập WTO, Việt Nam đã ràng buộc mức trần cho tất cả các dòng
thuế trong biểu thuế nhập khẩu của mình, chỉ sử dụng thuế nhập khẩu làm
công cụ để bảo hộ, không sử dụng phí, lệ phí và các khoản thu khác nhằm
mục đích thu ngân sách (ngoài thuế nhập khẩu). Trên tinh thần đó, Việt Nam
giảm mức thuế nhập khẩu bình quân từ mức hiện hành 17,4% xuống còn
13,4% trong vòng 5 -7 năm. Mức thuế nhập khẩu bình quân đối với hàng
nông sản giảm từ mức hiện hành 23,5% xuống còn 20,9% và mức thuế nhập
khẩu bình quân đối với hàng phi nông sản giảm từ 16,8% xuống 12,6%. Việt
Nam bảo lưu quyền áp dụng hạn ngạch thuế quan với đường, trứng gia cầm,
thuốc lá và muối. Đối với trợ cấp nông sản, Việt Nam cam kết bãi bỏ hoàn
toàn các loại trợ cấp bị cấm như trợ cấp xuất khẩu, trợ cấp nôi địa hóa và
được quyền hỗ trợ trong nước đối với nông sản ở mức 10% Xem xét tác
động của các cam kết giảm thuế có thể thấy, về tổng thể, việc cắt giảm mức
25

×