Tải bản đầy đủ (.doc) (96 trang)

Tăng cường hoạt động tài chính thông qua phân tích tài chính tại Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (446.23 KB, 96 trang )

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nước nhà từ một nền kinh tế dựa vào nông nghiệp là chủ yếu sang một nền
kinh tế có tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ cao, dựa trên nền tảng của kinh tế
tri thức và xu hướng gắn với nền kinh tế toàn cầu. Chính sự chuyển dịch này
đã tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi cho nhiều ngành kinh tế phát triển. Song
cũng làm phát sinh nhiều vấn đề phức tạp, đặt ra cho các doanh nghiệp những
yêu cầu và thách thức mới, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự vận động, vươn
lên để vượt qua những thử thách, tránh nguy cơ bị đào thải bởi quy luật canh
tranh khắc nghiệt của cơ chế thị trường.
Trong bối cảnh kinh tế như thế, các doanh nghiệp muốn đứng vững trên
thương trường cần phải nhanh chóng đổi mới, trong đó đổi mới về quản lý tài
chính là một trong các vần đề được quan tâm hàng đầu và có ảnh hưởng trực
tiếp đến sự sống còn của nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Bởi lẽ, để hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả thì nhà quản lý cần phải nhanh
chóng nắm bắt những tín hiệu của thị trường, xác định đúng nhu cầu về vốn,
tìm kiếm và huy động nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu kịp thời, sử dụng vốn
hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất. Muốn vậy các doanh nghiệp cần phải nắm được
các nhân tố ảnh hưởng, mức độ xu hướng tác động của từng nhân tố đến tình
hình tài chính doanh nghiệp. Điều này chỉ thực hiện được trên cơ sở phân tích
tài chính.
Việc thường xuyên phân tích tình hình tài chính sẽ giúp nhà quản lý
doanh nghiệp thấy rõ thực trạng hoạt động tài chính, từ đó có thể nhận ra
những mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp nhằm làm căn cứ để hoạch định
phương án hành động phù hợp cho tương lai và đồng thời đề xuất những giải
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
1
Chuyên đề tốt nghiệp
pháp hữu hiệu để ổn định và tăng cường tình hình tài chính giúp nâng cao
chất lượng doanh nghiệp.


Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, trong thời gian thực
tập tại Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện, em quyết định đi sâu nghiên cứu
đề tài sau:
“Tăng cường hoạt động tài chính thông qua phân tích tài chính tại
Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện”
Nội dung đề tài tập trung nghiên cứu tình hình tài chính tại Công ty, để
thấy rõ xu hướng, tốc độ tăng trưởng và thực trạng tài chính của Công ty, trên
cơ sở đó đề xuất những giải pháp và kiến nghị giúp cải thiện tình hình tài
chính và giúp Công ty hoạt động hiệu quả hơn.
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
2
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
CỦA DOANH NGHỆP KINH DOANH TIỀN TỆ
1.1. Quản lý tài chính trong doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm về quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Quản lý tài chính luôn luôn giữ một vị trí trọng yếu trong hoạt động
quản lý của doanh nghiệp, nó quyết định tính độc lập, sự thành bại của doanh
nghiệp trong quá trình kinh doanh. Đặc biệt trong xu thế hôi nhập khu vực và
quốc tế, trong điều kiện cạnh tranh đang diễn ra khốc liệt trên phạm vi toàn
thế giới, quản lý tài chính trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Bất kỳ ai liên
kết, hợp tác với doanh nghiệp cũng sẽ được hưởng lợi nếu như quản lý tài
chính của doanh nghiệp có hiệu quả, ngược lại, họ sẽ bị thua thiệt khi quản lý
tài chính kém hiệu quả.
Quản lý tài chính là sự tác động của nhà quản lý tới các hoạt động tài
chính của doanh nghiệp. Nó được thực hiện thông qua một cơ chế. Đó là cơ
chế quản lý tài chính doanh nghiệp. Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp
được hiểu là một tổng thể các phương pháp, các hình thức và công cụ được
vận dụng để quản lý các hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong những

điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Quản lý tài chính là một hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với mọi hoạt
động khác của doanh nghiệp. Quản lý tài chính tốt có thể khắc phục được
những khiếm khuyết trong các lĩnh vực khác. Một quyết định tài chính không
được cân nhắc, hoạch định kỹ lưỡng có thể gây nên tổn thất khôn lường cho
doanh nghiệp và cho nền kinh tế. Hơn nữa, do doanh nghiệp hoạt động trong
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
3
Chuyên đề tốt nghiệp
một môi trường nhất định nên các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ góp
phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Bởi vậy, quản lý tài chính doanh nghiệp
tốt có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính quốc
gia.
1.1.2. Nội dung cơ bản về quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Các quan hệ tài chính doanh nghiệp được thể hiện trong cả quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để tiến hành sản xuất kinh doanh, nhà
doanh nghiệp phải xử lý các quan hệ tài chính thông qua phương thức giải
quyết ba vấn đề quan trọng sau đây;
Thứ nhất: nên đầu tư dài hạn vào đâu và bao nhiêu cho phù hợp với
loại hình sản xuất kinh doanh đã lựa chọn. Đây chính là chiến lược đầu tư dài
hạn của doanh nghiệp và là cơ sở để dự toán vốn đầu tư.
Câu hỏi này liên quan đến bên trái Bảng Cân đối kế toán. Giải đáp cho
vấn đề này là dự toán vốn đầu tư – đó là quá trình kế hoạch hoá và quản lý
đầu tư dài hạn của doanh nghiệp. Trong quá trình này, nhà quản lý tài chính
phải tìm kiếm cơ hội đầu tư sao cho thu nhập do đầu tư mang lại lớn hơn chi
phí đầu tư. Điều đó có nghĩa là, giá trị hiện tại các dòng tiền do tài sản tạo ra
phải lớn hơn giá trị hiện tại các khoản chi phí hình thành các tài sản đó. Tất
nhiên, việc lựa chọn loại tài sản và cơ cấu tài sản hoàn toàn tuỳ thuộc vào đặc
điểm của từng loại hình kinh doanh. Nhà quản lý không phải chỉ quan tâm tới
việc sẽ nhận được bao nhiêu tiền mà còn phải quan tâm tới việc khi nào nhận

được và nhận được như thế nào. Đánh giá quy mô, thời hạn và rủi ro của các
dòng tiền trong tương lai là vấn đề cốt lõi của quá trình dự toán vốn đầu tư.
Thứ hai: nguồn vốn đầu tư mà doanh nghiệp có thể khai thác là nguồn
nào?
Vấn đề này liên quan đến bên phải Bảng Cân đối kế toán, liên quan đến
cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Cơ cấu vốn của doanh nghiệp thể hiện ở tỷ
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
4
Chuyên đề tốt nghiệp
trọng của nợ và vốn của chủ (vốn tự có) do chủ nợ và cổ đông cung ứng. Nhà
quản lý tài chính phải cân nhắc, tính toán để quyết định doanh nghiệp nên vay
bao nhiêu? Một cơ cấu giữa nợ và vốn của chủ như thế nào là tốt nhất? Nguồn
vốn nào là thích hợp đối với doanh nghiệp?
Thứ ba: nhà doanh nghiệp sẽ quản lý hoạt động tài chính hàng ngày
như thế nào? Đây là quyết định tài chính ngắn hạn và chúng liên quan chặt
chẽ tới quản lý tài sản lưu động của doanh nghiệp. Hoạt động tài chính ngắn
hạn gắn liền với các dòng tiền nhập quỹ và dòng tiền xuất quỹ. Nhà quản lý
tài chính cần phải xử lý sự lệch pha giữa các dòng tiền. Quản lý ngắn hạn các
dòng tiền không thể tách rời với vốn lưu động ròng của doanh nghiệp. Vốn
lưu động ròng được xác định là khoản chênh lệch giữa tài sản lưu động và nợ
ngắn hạn. Một số vần đề về quản lý tài sản lưu động sẽ được làm rõ như:
doanh nghiệp nên nắm giữ bao nhiêu tiền và dự trữ? Doanh nghiệp sẽ tài trợ
ngắn hạn bằng cách nào? Mua chịu hay vay ngắn hạn và trả tiền ngay? Nếu
vay ngắn hạn thì doanh nghiệp nên vay ở đâu và vay như thế nào?
Ba vấn đề trên không phải là tất cả mọi vấn đề về tài chính doanh
nghiệp, nhưng đó là ba vấn đề lớn nhất và quan trọng nhất. Quản lý tài chính
doanh nghiệp thực chất là nghiên cứu cách thức giải quyết ba vấn đề đó.
1.2. Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm về phân tích tài chính trong doanh nghiệp.
Để tiến hành hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp phải hội tụ đủ các

nguồn lực cần thiết như: vốn, lao động, nguyên vật liệu … Các yếu tố nguồn
này lại không phải là vô hạn, chúng có giá do đó nếu sử dụng không hợp lý,
kém hiệu quả sẽ nảy sinh rủi ro mất khả năng thanh toán thậm chí phá sản.
Muốn tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra tính
khoa học, hiệu quả trong việc huy động, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động
sản xuất kinh doanh. Các nhà quản lý doanh nghiệp luôn phải cập nhật tình
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
5
Chuyên đề tốt nghiệp
hình hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là tình hình tài chính của doanh
nghiệp, từ đó tăng cường công tác quản lý và hoạt động tài chính cho doanh
nghiệp, luôn sẵn sàng phương án kinh doanh thích hợp, phương án xử lý rủi
ro kịp thời là điều kiện sống còn cho bất cứ doanh nghiệp nào. Do đó, để làm
được như vậy cần phải tiến hành hoạt động phân tích tài chính.
Phân tích hiểu theo nghĩa chung nhất là đánh giá, xem xét, nghiên cứu
các sự vật hiện tượng trong mối quan hệ hưu cơ, biện chứng giữa các bộ phận
cấu thành của sự vật, hiện tượng đó. Trên cơ sở đó nhận thức được bản chất,
tính chất và hình thức phát triển của các sự vật, hiện tượng đang nghiên cứu.
Khi hoạt động sản xuất kinh doanh chưa phát triển, thông tin cho quản
lý chưa nhiều, chưa phức tạp, do đó công việc phân tích được tiến hành đơn
giản, chỉ là những phép tính cộng trừ, kiểm điếm, đánh giá, nhìn lại mình
trong quá khứ để phục vụ cho việc ra quyết định trong tương lai. Như vậy
công việc phân tích kinh tế chỉ là một trong những phần việc của người quản
lý, phục vụ riêng cho người quản lý.
Khi xã hội phát triển, nền kinh tế được mở rộng và các mối quan hệ
kinh tế ngày càng đa dạng, phong phú đòi hỏi con người (các nhà quản lý
cũng như các đối tượng sử dụng thông tin kinh tế khác) cần nhận thức được
tính chất, hình thức phát triển của các sự kiện, hiện tượng kinh tế. Đáp ứng
yêu cầu này phân tích kinh tế được ra đời và trở thành một hệ thống lý luận
độc lập và ngày càng phát triển.

Sự ra đời của phân tích kinh tế cùng với vai trò ngày càng quan trọng
của tài chính trong doanh nghiệp đã thúc đẩy hình thành lý luận về phân tích
tài chính.
Tài chính doanh nghiệp bản chất là các mối quan hệ phân phối dưới
hình thức giá trị gắn liền với việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của
doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh. Xét về hình thức tài chính doanh
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
6
Chuyên đề tốt nghiệp
nghiệp phản ánh sự vận động và chuyển hoá của các nguồn lực tài chính trong
quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ doanh nghiệp.
Phân tích tài chính là tổng hòa các phương pháp cho phép đánh giá tình
hình tài chính đã qua và hiện nay cũng như dự đoán tình hình tài chính của
doanh nghiệp trong tương lai. Từ đó giúp cho nhà quản trị đưa ra được các
quyết định quản lý chuẩn xác. Đồng thời giúp các đối tượng quan tâm đưa ra
được các quyết định hợp lý, phù hợp với mục tiêu mà họ đã lựa chọn.
1.2.2. Sự cần thiết phải tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp đặc biệt là các
doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ phải có một lượng vốn nhất định bao gồm
vốn cố định, vốn lưu động, và các loại vốn chuyên dùng khác. Nhiệm vụ của
doanh nghiệp là phải tổ chức huy động và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả
nhất trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tài chính, tín dụng và pháp luật.
Thường xuyên tiến hành phân tích tài chính sẽ giúp doanh nghiệp và các cơ
quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng hoạt động tài chính, xác định đúng
đắn các nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài
chính. Từ đó có các giải pháp hữu hiệu để ổn định, tăng cường sự vững mạnh
của hệ thống tài chính doanh nghiệp.
- Đối với nhà quản lý doanh nghiệp: Phân tích tài chính giúp nhà quản
lý đánh giá được tình hình tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh, từ đó có thể đưa ra các dự báo tài chính, các quyết định tài

chính một cách phù hợp. Mặt khác, thông qua phân tích tài chính
nhà quản lý có thể kiểm soát kịp thời mọi hoạt động, đề ra các biện
pháp có thể khai thác có hiệu quả các tiềm năng, đồng thời khắc
phục được các tồn tại và vướng mắc trong doanh nghiệp.
- Đối với các nhà đầu tư: Thông qua phân tích tài chính có thể đánh
giá được khả năng thanh toán, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
7
Chuyên đề tốt nghiệp
doanh và khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Thông qua phân tích
các chỉ tiêu, các nhà đầu tư có thể thấy được hiệu quả đồng vốn
mình bỏ ra có sinh lời hay không, doanh nghiệp đã và sẽ sử dụng số
vốn đó như thế nào, mức độ rủi ro đồng vốn của các nhà đầu tư bỏ
ra cao hay thấp, từ đó giúp các nhà đầu tư có quyết định đúng đắn
về vấn đề cho vay vốn, thu hồi nợ hay đầu tư vào doanh nghiệp.
- Đối với các nhà quản lý Nhà nước: Phân tích tình hình tài chính
doanh nghiệp giúp cho các nhà quản lý đánh giá được điểm mạnh
yếu của doanh nghiệp từ đó có thể đưa ra cơ chế chính sách tài
chính thích hợp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp quản lý và hoạt
động kinh doanh, hướng dẫn trợ giúp các doanh nghiệp phát huy lợi
thế, khắc phục yếu điểm, tăng tích luỹ cho doanh nghiệp cũng như
cho nền kinh tế quốc dân.
Xuất phát từ vai trò tầm quan trọng của phân tích tình hình tài chính đối
với các đối tượng sử dụng thông tin mà việc phân tích tài chính doanh nghiệp
là hết sức cần thiết và không thể thiếu được trong điều kiện kinh tế thị trường
hiện nay.
1.2.3. Phương pháp phân tích tài chính.
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và
biện pháp tiếp cận, nghiên cứu các sự vật, hiện tượng, các mối quan hệ bên
trong và bên ngoài doanh nghiệp, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính,

các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết nhằm đánh giá tình hình tài chính
doanh nghiệp.
Về lý thuyết thì có rất nhiều phương pháp phân tích nhưng trên thực tế
người ta thường sử dụng hai phương pháp là phương pháp so sánh và phương
pháp tỷ lệ.
1.2.3.1. Phương pháp so sánh
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
8
Chuyên đề tốt nghiệp
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong phân tích kinh tế,
được áp dụng từ khâu đầu tới khâu cuối của quá trình phân tích từ khi sưu tầm
tài liệu đến khi kết thúc phân tích. Đây là phương pháp tương đối đơn giản và
hiệu quả. Khi sử dụng phương pháp so sánh cần chú ý đến điều kiện so sánh,
tiêu thức so sánh và kỹ thuật so sánh.
• Điều kiện so sánh:
+ Phải tồn tại ít nhất hai đại lượng hoặc hai chỉ tiêu.
+ Các đại lượng, các chỉ tiêu phải thống nhất về nội dung và phương
pháp tính toán, thống nhất về thời gian và đơn vị đo lường.
• Tiêu thức so sánh: Tuỳ thuộc vào mục đích của cuộc phân tích,
người ta có thể lựa chọn một trong các tiêu thức sau đây:
+ Để đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu đặt ra: tiến hành so sánh tài
liệu thực tế đạt được với tài liệu kế hoạch, dự toán hoặc định mức.
+ Để xác định xu hướng cũng như tốc độ phát triển: tiến hành so sánh
giữa số liệu thực tế kỳ này với số liệu thực tế kỳ trước.
+ Để xác định vị trí, sức mạnh của công ty: tiến hành so sánh giữa số
liệu của công ty với các doanh nghiệp khác cùng loại hoặc với giá trị trung
bình của ngành kinh doanh.
Số liệu của kỳ trước được chọn làm căn cứ so sánh được gọi là gốc so
sánh.
• Về kỹ thuật so sánh:

+ So sánh về số tuyệt đối: là việc xác định chênh lệch giữa trị số của
chỉ tiêu kỳ phân tích với trị số chỉ tiêu kỳ gốc. Kết quả so sánh cho thấy sự
biến động về số tuyệt đối của hiện tượng kinh tế đang nghiên cứu.
+ So sánh về số tương đối: là xác định số % tăng giảm giữa thực tế so
với kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích.
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Khi phân tích báo cáo tài chính có thể sử dụng phương pháp phân tích
theo chiều dọc hoặc phân tích theo chiều ngang.
+ Phân tích theo chiều ngang là việc so sánh cả về số tuyệt đối và số
tương đối trên cùng một hàng (cùng một chỉ tiêu) trên báo cáo tài chính, qua
đó thấy được sự biến động của từng chỉ tiêu.
+ Phân tích theo chiều dọc là việc xem xét, xác định tỷ trọng của từng
chỉ tiêu trong tổng thể quy mô chung, qua đó thấy được mức độ quan trọng
của chỉ tiêu trong tổng thể.
1.2.3.2. Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp này được dựa trên ý nghĩa, chuẩn mực của các tỷ lệ đại
lượng tài chính trong các quan hệ tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ
yêu cầu phải xác định được các định mức để nhận xét đánh giá tình hình tài
chính trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với tỷ lệ tham chiếu.
Trong phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp thì tỷ lệ tài chính đợc
phân chia thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng phản ánh những nội dung cơ bản
theo mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực kinh doanh tiền tệ có những nhóm chỉ tiêu tài chính như sau: nhóm
chỉ tiêu về khả năng thanh toán, nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính, nhóm chỉ
tiêu về khả năng huy động vốn, sử dụng vốn, nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh
lời …
Khi phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp ta nên kết hợp cả hai
phương pháp trên để có thể thu được kết quả chính xác nhất, thấy rõ thực chất

hoạt động tài chính cũng như xu hướng biến động của từng chỉ tiêu tài chính
qua các giai đoạn.
1.2.4. Nội dung phân tích tài chính trong doanh nghiệp
1.2.4.1. Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp qua bảng
cân đối kế toán.
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Đánh giá khái quát tình hình tài chính là việc xem xét, nhận định về
tình hình tài chính của doanh nghiệp. Công việc này sẽ cung cấp cho người sử
dụng thông tin biết được tình hình tài chính của doanh nghiệp là bình thường,
tốt hay xấu. Việc đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trước hết dựa
vào bảng cân đối kế toán.
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh một
cách tổng quát toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại một thời điểm
nhất định dưới hình thái giá trị theo hai cách phân loại là tài sản và nguồn
hình thành tài sản.
Các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán được phản ánh dưới hình thái
giá trị và tuân theo nguyên tắc cân đối là tổng tài sản phải bằng tổng nguồn
vốn.
Phần tài sản phản ánh số vốn và kết cấu các loại vốn của đơn vị hiện có
tại thời điểm lập báo cáo đang tồn tại dưới hình thái vật chất như tài sản cố
định, vật liệu, sản phẩm, hàng hoá …; các khoản đầu tư tài chính hoặc dưới
hình thức nợ phải thu ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh.
Phần tài sản thể hiện số vốn đang thuộc quyền sở hữu, quản lý, sử dụng của
doanh nghiệp.
Phần nguồn vốn phản ánh các nguồn hình thành tài sản của doanh
nghiệp. Tỷ lệ và kết cấu của từng nguồn trong tổng số nguồn vốn hiện có
phản ánh khả năng tài chính của doanh nghiệp, tính ổn định, chất lượng hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Phần nguồn vốn thể hiện trách

nhiệm pháp lý về mặt vật chất của doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư, cổ
đông, ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các đơn vị kinh tế khác, với khách
hàng và với cán bộ công nhân viên.
Đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu
trên bảng cân đối kế toán ta đánh giá trên các mặt sau:
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
11
Chuyên đề tốt nghiệp
• Thứ nhất: Xem xét sự biến động của tổng tài sản cũng như từng
loại tài sản qua việc so sánh số cuối kỳ với đầu năm cả về số tuyệt
đối và số tương đối của tổng tài sản, của từng loại tài sản. Qua đó, ta
có thể thấy được sự biến động của quy mô kinh doanh, năng lực
kinh doanh của doanh nghiệp.
Mỗi loại tài sản đều có vai trò riêng nên khi xem xét sự biến động của
tài sản ta cần chú ý đến tác động của nó tói quá trình kinh doanh. Cụ thể là:
- Sự biến động của tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn ảnh hưởng đến
khả năng ứng phó với các khoản nợ đến hạn.
- Sự biến động của hàng tồn kho chịu ảnh hưởng lớn của quá trình
sản xuất kinh doanh từ khâu dự trữ sản xuất đến khâu bán hàng.
- Sự biến động của khoản phải thu chịu ảnh hưởng của công việc
thanh toán và chính sách tín dụng của doanh nghiệp. Điều này ảnh
hưởng tới việc quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Sự biến động của tài sản cố định cho thấy quy mô và năng lực sản
xuất hiện có của doanh nghiệp.
• Thứ hai: Xem xét cơ cấu vốn có hợp lý hay không? Cơ cấu vốn đó
tác động thế nào đến quá trình kinh doanh?
Để làm được điều này, trước hết phải xác định tỷ trọng của từng loại tài
sản trên tổng tài sản, so sánh tỷ trọng từng loại giữa số cuối kỳ với số đầu
năm để biết được sự biến động của cơ cấu vốn.


Giá trị từng loại vốn (nguồn vốn)
Tỷ trọng từng loại vốn = x 100
Tổng vốn (nguồn vốn)
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
12
Chuyên đề tốt nghiệp
Trước khi đưa ra bất kỳ nhận xét nào về sự biến động tỷ trọng các loại
tài sản ta phải xét tới tính chất ngành nghề kinh doanh cảu doanh nghiệp, tác
động của từng loại tài sản tới quá trình kinh doanh, hiệu quả sản xuất kinh
doanh trong kỳ. Để xác định như thế nào là một cơ cấu vốn hợp lý cho các
doanh nghiệp là điều rất khó khăn. Mỗi doanh nghiệp phải dựa vào tình hình,
khả năng huy động vốn thực tế cảu doanh nghiệp mà mình xác định ra một cơ
cấu hợp lý nhất, chi phí sử dụng vốn là thấp nhất trong khi vẫn đạt được hiệu
quả mong muốn.
Cơ cấu vốn có tác động rất lớn tới quá trình sản xuất kinh doanh. Một
doanh nghiệp có được một cơ cấu vốn hợp lý, tránh ứ đọng vốn, dư thừa vốn
hay thiếu hụt vốn là một doanh nghiệp có công tác quản trị tài chính tốt, thể
hiện tình trạng tài chính lành mạnh.
• Thứ ba: Khái quát xác định mức độ độc lập về mặt tài chính của
doanh nghiệp qua việc so sánh từng loại nguồn vốn cuối kỳ so với
đầu năm cả về số tuyệt đối và số tương đối, xác định tỷ trọng từng
loại nguồn vốn trên tổng nguồn, so sánh chúng giữa cuối kỳ và đầu
năm.
Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao và có xu hướng tăng thì
cho thấy khả năng đảm bảo về mặt tài chính của công ty là cao, mức độ phụ
thuộc của công ty vào các chủ nợ là thấp và ngược lại.
Các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ đóng vai trò trung gian tài chính
huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trên thị trường để cho vay. Đối với các doanh
nghiệp loại này nguồn vốn chủ sở hữu là điều kiện pháp lý cơ bản đồng thời
là yếu tố tài chính quan trọng nhất trong việc đảm bảo các khoản nợ đối với

khách hàng. Chính vì vậy quy mô vốn tự có là yếu tố quyết định quy mô huy
động vốn (huy động vốn <= 20 lần vốn tự có theo pháp lệnh về ngân hàng
trước kia).
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
13
Chuyên đề tốt nghiệp
Khả năng an toàn của vốn tự có (nguồn vốn chủ sở hữu) hay khả năng
chịu đựng được các rủi ro của các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ có thể
đánh giá thông qua:
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
14
Chuyên đề tốt nghiệp
Chỉ số 1:
Vốn tự có
H1 =
Tổng số tiền huy động
Theo pháp lệnh của ngân hàng nhà nước trước đây, các yếu tố tín dụng
không được huy động quá 20 lần vốn tự có, nghĩa là H1>=5%
Chỉ số 2:
Vốn tự có
H2 =
Tổng giá trị tài sản có
Trong quá trình đổi mới tổ chức và quản lý của các trung gian tài chính,
Thống đốc ngân hàng nhà nước đã ban hành “Quy chế đảm bảo an toàn kinh
doanh tiền tệ tín dụng đối với các tổ chức tín dụng”, trong đó quy định “tổ
chức tín dụng phải duy trì thường xuyên tỉ lệ tối thiểu giữa vốn tự có với tổng
giá trị tài sản có ở mức 5% nghĩa là H2> hoặc =5%.” Chỉ số 2 xác định độ an
toàn của vốn tự có đối với quy mô hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng
(Quyết định số 107/QĐ-NHS ngày 09-06-1992).
1.2.4.2. Đánh giá khái quát tình hình tà chính của doanh nghiệp qua báo

cáo kết quả kinh doanh
Để đánh giá khái quát tình hình tài chính của công ty thì ngoài việc
đánh giá thông qua bảng cân đối kế toán ta cần xem xét báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp,
phản ánh tổng quát tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh cũng như tình
hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với nhà nước
trong một thời kỳ nhất định. Số liệu trên báo cáo này cung cấp thông tin tổng
hợp về phương thức kinh doanh, về việc sử dụng tiềm năng vốn, lao động, kỹ
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
15
Chuyên đề tốt nghiệp
thuật, kinh nghiệm quản lý và chỉ ra rằng các hoạt động kinh doanh đó đem
lại lợi nhuận hay gây ra tình trạng lỗ vốn. Nội dung của báo cáo kết quả kinh
doanh có thể thay đổi theo từng thời kỳ tuỳ theo yêu cầu quản lý của Nhà
nước nhưng luôn phản ánh được những nội dung cơ bản như doanh thu, giá
vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, lãi, lỗ …
Khi phân tích báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cần xem
xét các vấn đề cơ bản sau đây:
• Thứ nhất: Xem xét sự biến động của từng chỉ tiêu trên phần lãi, lỗ
giữa kỳ này với kỳ trước qua việc so sánh cả số tương đối và số
tuyệt đối. Đăc biệt chú ý đến doanh thu, doanh thu thuần, lợi nhuận
trước thuế, lợi nhuận sau thuế. Đồng thời xem xét lợi nhuận từ hoạt
động kinh doanh tăng giảm là do tác động của nhân tố nào dựa vào
phương thức kinh tế:
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh = Doanh thu thuần - Trị
giá vốn hàng bán – Chi phí bán hàng – Chi phí quản lý doanh nghiệp
• Thứ hai: Nên tính toán các chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng các
khoản chi phí để đi đến kết luận doanh nghiệp sử dụng tiết kiệm hay
lãng phí.

Chỉ tiêu 1:
Trị giá vốn hàng bán
Tỷ suất giá vốn hàng bán = x 100
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết trong tổng số doanh thu thuần thu được, doanh
nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng giá vốn hàng bán. Tỷ suất này càng nhỏ
thường cho thấy việc quản lý các khoản chi phí trong giá vốn hàng bán của
doanh nghiệp là tốt. Doanh nghiệp đã tiết kiệm chi phí vật tư nguyên liệu, nếu
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
16
Chuyên đề tốt nghiệp
chất lượng sản phẩm vẫn thỏa mãn yêu cầu của khách hàng, được khách hàng
chấp nhận thể hiện ở quy mô doanh thu thì đây là thành tích trong quản lý chi
phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ta tiến hành so sánh tỷ số này với
kỳ gốc hay so sánh với các doanh nghiệp trong cùng ngành hoặc chỉ số bình
quân của ngành, nếu chỉ số của doanh nghiệp lớn hơn có nghĩa là doanh
nghiệp chưa sử dụng hợp lý chi phí là đội giá vốn hàng bán lên. Điều này rất
không có lợi trong cạnh tranh hoặc sẽ ảnh hưởng xấu tới lợi nhuận hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu 2:
Chi phí bán hàng
Tỷ suất chi phí bán hàng
trên doanh thu thuần = x 100
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này phản ánh để thu được 100 đồng doanh thu thuần
doanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí bán hàng. Tỷ suất chi phí bán
hàng trên doanh thu thuần càng nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp đã tiết kiệm được
chi phí bán hàng.
Chỉ tiêu 3:
Chi phí quản lý doanh nghiệp

Tỷ suất chi phí quản lý trên
Doanh thu thuần = x 100
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết để thu được 100 đồng doanh thu thuần doanh
nghiệp phải chi ra bao nhiêu đồng chi phí quản lý. Cũng giống như 2 chỉ tiêu
trên, tỷ suất chi phí quản lý doanh nghiệp trên doanh thu thuần càng nho
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
17
Chuyên đề tốt nghiệp
thường cho thấy hiệu quả quản lý các khoản chi phí quản trị doanh nghiệp
càng cao và ngược lại.
Nghiên cứu các tỷ suất trên sẽ giúp ta thấy được tìuh hình quản lý, sử
dụng, phân bổ chi phí mới có thể tìm ra khâu phát sinh chi phí bất hợp lý làm
ảnh hưởng không tốt tới tình hình tài chính chung của doanh nghiệp và có
phương pháp xử lý kịp thời.
1.2.4.3. Đánh giá khái quát tình tài chính thông qua thực trạng huy động và
sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Điểm khác nhau cơ bản trong nguồn vốn của các tổ chức tài chính với
các tổ chức phi tài chính là tổ chức tài chính chủ yếu kinh doanh băng nguồn
vốn huy động từ các thành phần kinh tế còn các doanh nghiệp phi tài chính thì
kinh doanh bằng nguồn vốn tự có là chính. Vì vậy, khi phân tích tình hình tài
chính của một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ ta phải nghiên cứu tình trạng
huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp, để thấy được tính ổn định của
doanh nghiệp, sự phát triển về quy mô hoạt động hay chính là sự ổn định tài
chính của doanh nghiệp.
Tiền gửi là bộ phận quan trọng nhất trong tài sản nợ của mỗi tổ chức tài
chính. Trạng thái và động thái tiền gửi là một trong những biểu hiện rõ rệt
nhất cho tình trạng huy động vốn. Sự ổn đinh của tiền gửi được biểu hiện ở
tốc độ tăng tiền gửi, còn sự ổn định cho vay biểu hiện ở tốc độ tăng các khoản
cho vay. Cho vay một mặt là hoạt động cơ bản tạo ra lợi nhuận trong kinh

doanh tiền tệ, mặt khác là một trong các yếu tố quyết định đầu tư và tăng
trưởng kinh tế.
Tổng tiền gửi - Tổng tiền gửi
cuối năm đầu năm
Tốc độ tăng tiền gửi
hàng năm (%) = x 100
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
18
Chuyên đề tốt nghiệp
Tổng tiền gửi đầu năm
Tổng cho vay - Tổng cho vay
cuối năm đầu năm
Tốc độ tăng cho vay
hàng năm (%) = x 100
Tổng cho vay đầu năm
Chúng ta có sử dụng công thức trên để tính cụ thể tốc độ từng loại tiền
gửi như tốc độ tăng tiền gửi ngắn hạn, trung hạn, dài hạn; tốc độ tăng tiền gửi
không kỳ hạn, có kỳ hạn … hay các loại cho vay khác. Như vậy giúp ta biết
được xu hướng phát triển, sự ổn định của các loại tiền gửi, các khoản cho vay.
Nhân tố quyết định đến ổn định tiền gửi là tỷ lệ tiết kiệm, niềm tin của
người gửi, khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hang và lợi nhuận thu được từ tiền
gửi. Bên cạnh đó tốc độ tăng tiền gửi còn bị phụ thuộc bởi khả năng lựa chọn
của người gửi tiền và tập quán tiết kiệm trong dân cư. Tốc độ tăng cho vay
chủ yếu phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Nền kinh tế có tốc
độ tăng trưởng cao thì nhu cầu vốn càng lớn. Ngoài ra, sự can thiệp của Chính
phủ vào hoạt động của các trung gian tài chính cũng là nhân tố thúc đẩy tín
dụng tăng nhanh.
Nếu tốc độ tăng tiền gửi nhanh hơn tốc độ cho vay trong một thời gian
dài, có thể đẩy doanh nghiệp vào tình huống dư thừa vốn, không cho vay
được trong khi vẫn phải trả chi phí cho các khoản tiền gửi. Hệ quả là doanh

nghiệp buộc phải giảm tốc độ tăng tiền gửi bằng cách giảm lãi suất huy động
hay tăng tín dụng thông qua nới lỏng các điều kiện cho vay. Cả hai biện pháp
bày đều có khả năng làm mất uy tín, niềm tin hay tăng rủi ro cho doanh
nghiệp. Ngược lại, giả sử tốc độ tăng tiền gửi thấp hơn nhiều so với tốc độ
tăng cho vay thì đơn vị dễ lâm vào tình trạng thiếu vốn cho vay, buộc phải
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
19
Chuyên đề tốt nghiệp
tăng lãi suất để thu hút tiền gửi, song để làm được điều này là rất khó khăn.
Chính vì vậy, tốc độ tăng tiền gửi và cho vay đều đặn không có đột biến và
khoảng cách giữa hai tốc độ này không quá lớn là đảm bảo cho ổn định tài
chính doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ.
Ngoài tốc độ tăng các khoản tiền gửi và cho vay doanh nghiệp còn phải
quan tâm tới tỷ lệ vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn, do
nó ảnh hưởng rất lớn tới khả năng chi trả của doanh nghiệp.
Tỷ lệ vốn ngắn hạn Tổng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn
được sử dụng để cho vay = x100
trung và dài hạn Tổng vốn ngắn hạn
1.2.4.4. Phân tích tài chính thông qua nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh
toán.
Khả năng thanh toán là khả năng doanh nghiệp có thể chi trả các khoản
nợ khi chúng đến hạn. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp thường được
các nhà đầu tư, chủ nợ xem xét đầu tiên vì nó thể hiện doanh nghiệp có thể
tiếp tục sản xuất kinh doanh hay đã lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính.
Để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp người ta thường sử dụng
các hệ số sau:
Hệ số 1:
Tổng tài sản
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát =
Tổng nợ phải trả

Hệ số khả năng thanh toán tổng quát thể hiện mối quan hệ giữa tổng tài
sản doanh nghiệp đang quản lý với tổng nợ phải trả (bao gồm cả nợ ngắn hạn
và nợ dài hạn). Hệ số này < 1 là báo hiệu doanh nghiệp lâm vào khu vực nguy
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
20
Chuyên đề tốt nghiệp
hiểm có nguy cơ phá sản, tống số tài sản hiện có (tài sản lưu động, tài sản cố
định) không đủ trả nợ. Hệ số này phải ít nhất là > 1, tuy nhiên còn phụ thuộc
vào từng doanh nghiệp cụ thể mới có thể đánh giá hệ số bao nhiêu là hợp lý.
Khi hệ số này quá cao thì cũng cần phải xem xét vì có nghĩa là doanh nghiệp
đã đầu tư quá nhiều vào tài sản hoặc có quá nhiều tiền mặt tồn quỹ, nhiều
khoản nợ phải đòi … dẫn đến tăng chi phí hoạt động không cần thiết, giảm lợi
nhuận của doanh nghiệp.
Hệ số 2:
TSLĐ và đầu tư ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán hiện hành =
Nợ ngắn hạn
Hệ số 3:
Tiền + tương đương tiền
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa các khoản tiền mặt và những
khoản xem như tiền mặt với số nợ ngắn hạn (bao gồm các khoản nợ ngắn hạn,
trung và dài hạn đến hạn trả tiền) của doanh nghiệp. Hệ số này có ý nghĩa hết
sức đặc biệt khi làm ăn với các bạn hàng cần quay vòng vốn nhanh. Doanh
nghiệp cũng hết sức quan tâm tới hệ số này vì nó thể hiện số tiền mặt và
tương đương tiền mặt mà daonh nghiệp có thể đảm bảo bao nhiêu phần trăm
số nợ ngắn hạn ngay lập tức. Giống hai hệ số trên, hệ số này càng cao càng
tốt, tuy nhiên nếu quá cao doanh nghiệp có thể lâm vào tìn trạng ứ đọng vốn,
quay vòng vốn chậm, giảm hiệu quả sử dụng vốn.

Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
21
Chuyên đề tốt nghiệp
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ cũng như các ngân hàng
khi muốn đánh giá khả năng thanh toán người ta lại sử dụng một chỉ số khác
tuy nhiên về bản chất thì cũng như vậy.
Khả năng thanh toán của một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ có thể
xét theo nhiều góc độ khác nhau. Theo nghĩa hẹp, khả năng thanh toán bao
gồm khoản dự trữ tiền mặt để sẵn sàng đáp ứng cho những nhu cầu rút tiền
bất ngờ của nhân dân. Khả năng thanh toán còn chỉ ra những khái niệm rộng
hơn. Thanh khoản còn là tình trạng tiền mặt sẵn sàng để chi trả hay cho vay.
Đánh giá khả năng thanh toán của một tổ chức tín dụng là một lĩnh vực
khó. Về cơ bản đây chính là xem xét khả năng giải quyết được vấn đề nguồn
vốn vào lúc cần thiết.
Tài sản có động
Khả năng thanh toán tức thì = x 100
Tài sản nợ dễ biến động
Trong đó:
• Tài sản có động là tài sản có thể chuyển đổi thành tiền. Theo quy
định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tài sản có động bao gồm:
Tiền mặt tồn quỹ; vàng bạc tồn kho; tiền gửi không kì hạn ở Ngân
hàng Nhà nước; tiền gửi không kì hạn ở các tổ chức tín dụng trong
và ngoài nước; các hợp đồng cam kết được vay; tín phiếu kho bạc.
• Tài sản nợ dễ biến động là loại tài sản dễ bị rút ra bất cứ lúc nào,
đặc biệt khi gặp khó khăn về tài chính. Tài sản nợ dễ biến động bao
gồm: Tiền gửi không kì hạn của nhân dân; tiền gửi không kì hạn của
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
22
Chuyên đề tốt nghiệp
các tổ chức tín dụng khác; vay ngắn hạn các tổ chức tín dụng; các

cam kết cho vay nằm ở sổ ngoại bảng.
Chỉ số đo lường khả năng thanh toán tức thì cao chứng tỏ doanh nghiệp
có thanh khoản tốt. Nhưng nếu quá cao, nó sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh
lời của tổ chức tín dụng bởi vì tài sản có động là những tài sản không sinh lời
(khoản dự trữ) hoặc có độ sinh lời thấp. Theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà
nước thì phải duy trì tỷ lệ tối thiểu 1/1 cho 1-3 ngày làm việc tiếp theo.
1.2.4.5. Phân tích tài chính thông qua nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời là kết quả cụ thể nhất của quá trình kinh doanh, mọi
doanh nghiệp trong cơ chế thị trường chỉ có thể tồn tại và đứng vững được
bằng cách kinh doanh có lãi. Đánh giá thu nhập là khâu then chốt trong phân
tích vì thu nhập tạo ra tăng trưởng nội tại tác động đến khả năng huy động
vốn bên ngoài và tạo hình ảnh tốt cho doanh nghiệp trong thị trường tiền tệ.
Để đánh giá chung khả năng sinh lời của doanh nghiệp kinh doanh tiền
tệ, khi phân tích phải tập hợp đúng các khoản thu nhập và chi phí trong kỳ,
loại bỏ các khoản thu không đúng chế độ và các khoản thu bất hợp lý ra khỏi
công thức xác định lợi nhuận. Vì nguồn hình thành vốn kinh doanh chủ yếu là
do huy động vốn thị trường nên cơ cấu thu nhập và chi phí của các doanh
nghiệp kinh doanh tiền tệ không giống các tổ chức kinh tế khác.
Lợi nhuận gộp = Tổng thu nhập - Tổng chi phí
Lợi nhuận ròng = Lợi nhuận gộp - Thuế lợi tức
Lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp đánh giá chất lượng kinh doanh của
doanh nghiệp. Do đó, các chỉ số tài chính về lợi nhuận luôn là điểm hấp dẫn
đối với nhà phân tích.
Thu nhập ròng
• ROA (%) = x 100
Tổng tài sản
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
23
Chuyên đề tốt nghiệp
Chỉ tiêu ROA (thu nhập ròng trên tài sản) phản ánh thu nhập trên tài

sản (tổng tài sản) của ngân hàng, được dùng để đo lường khả năng sinh lợi
tích sản (số lợi nhuận ròng thu được trên một đơn vị tài sản có). Chỉ tiêu ROA
thể hiện khả năng sử dụng linh hoạt các khoản mục tích sản, tỷ lệ này càng
cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tích sản càng cao. Hệ số ROA càng cao chứng
tỏ: kết quả của các hoạt động hữu hiệu; kết quả của các lợi tức kiếm được từ
tích sản. Tuy nhiên, tỷ lệ này càng cao cũng thể hiện mức độ rủi ro càng cao
mang lại từ tích sản mặc dù nó nói lên sự quản lý các tích sản tốt.
Thu nhập ròng
• ROE (%) = x 100
Vốn tự có
Chỉ tiêu này đo lường tính lành mạnh trong hoạt động của một doanh
nghiệp. Hệ số ROE phản ánh lợi nhuận kiếm được từ đơn vị vốn đầu tư.
ROE > ROA chứng tỏ vốn huy động quá lớn so với vốn tự có của một
doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ.
Lợi nhuận ròng
• Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng thu nhập (%) =
Tổng thu nhập
Chỉ tiêu này giúp xác định khả năng mang lại lợi nhuận của một đồng
thu nhập. Tỷ lệ này nên duy trì ở mức > 10%.
Để đánh giá tình hình hoạt động của tổ chức tín dụng người ta thường
sử dụng các đẳng thức thể hiện mối quan hệ giữa các hệ số sinh lời.
Tổng tài sản
ROE = ROA x
Vốn chủ sở hữu
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
24
Chuyên đề tốt nghiệp
Nói cách khác:
Lợi nhuận ròng Lợi nhuận ròng Tổng tài sản
= x

Vốn chủ sở hữu Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu
Tổng doanh thu - Tổng chi phí - Thuế Tổng tài sản
ROE = x
Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu
Mối quan hệ trong các công thức trên cho thấy thu nhập của một tổ
chức tín dụng rất nhạy cảm với phương thức tài trợ tài sản - sử dụng nhiều nợ
hơn (bao gồm cả tiền gửi) hoặc nhiều vốn chủ sở hữu hơn. Thậm chí một tổ
chức tín dụng có ROA thấp có thể đạt được ROE khá cao thông qua việc sử
dụng nhiều nợ (đòn bẩy tài chính).
Lợi nhuận thuần Doanh thu thuần Tổng tài sản
ROE = x x
Doanh thu thuần Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu
Hay ROE = Tỷ lệ sinh lời x Tỷ lệ hiệu quả x Tỷ trọng
hoạt động sử dụng tài sản vốn chủ sở hữu
Trong đó:
- Tỷ lệ sinh lời hoạt động phản ánh hiệu quả quản lý chi phí và các
chính sách định giá dịch vụ.
- Tỷ lệ hiệu quả sử dụng tài sản phản ánh các chính sách quản lý danh
mục đầu tư (đặc biệt là cấu trúc và thu nhập của tài sản).
- Tỷ trọng vốn chủ sở hữu phản ánh các chính sách đòn bẩy tài chính
(các nguồn vốn lựa chọn để tài trợ cho tổ chức).
Nguyễn Kiều Trinh Tài chính công 45
25

×