Tải bản đầy đủ (.doc) (26 trang)

Báo cáo thực tập tổng hợp về Viện quản lý kinh tế trung ương.doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (129.67 KB, 26 trang )

LỜI NÓI ĐẦU
Khi nền kinh tế nước ta phải đối mặt với những khó khăn to lớn:
trong khi nhiều tiềm năng chưa được phát huy thì sản xuất trì trệ, đình
đốn; đầu tư giảm mạnh; hoàng hóa khan hiếm; lạm phát ngày một gia
tăng; nhiều lao động không có việc làm hoặc thiếu việc làm; đời sống của
nhân dân không được cải thiện, thậm chí có mặt còn giảm sút; tình hình
xã hội có nhiều diễn biến phức tạp;… Nhìn một cách tổng thể khi đó nền
kinh tế thiếu động lực phát triển; một bộ phận không nhỏ người lao động
và cán bộ quản lý bộ phận không nhỏ người lao động và cán bộ quản lý
không quan tâm tới việc phát triển sản xuất, kinh doanh, do vậy năng suất
lao động vốn đã thấp lại càng giảm sút, làm cho nền kinh tế ngày càng
suy thoái.
Trước tình hình trên, Đảng và Nhà nước đã quyết định thành lập
Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương và giao cho Viện nhiệm vụ
tổng kết tình hình thực tế, nghiên cứu lý luận, tìm ra những định hướng
và giải pháp phá bỏ những cái lỗi thời của cơ chế quản lý cũ, xây dựng cơ
chế quản lý mới phù hợp với tình hình thực tế của đất nước và xu thế
chung của thờ đại nhằm từng bước xoay chuyển tình thế, tạo ra động lực
mới cho phát triển đất nước. Việc còn có nhiệm vụ tổ chức đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ trung cao cấp của trung ương, tỉnh và huyện nhằm trang bị
cho số cán bộ này những kiến thức mới về quản lý kinh tế và truyền đạt
những tư tưởng mới của Đảng và nhà nước về đổi mới kinh tế và quản lý
kinh tế.
Viện đã đưa ra những nghị quyết và những quyết định mang tính
đột phá mạnh mẽ vào cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp và
đã thực sự góp phần quan trọng tạo ra động lực mới cho phát triển kinh tế
xã hội của đất nước.
Từ những năm mới chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước, viện được chính phủ giao chủ trì xây dựng 6 dự án
luật trình Quốc Hội xem xét và ban hành, đó là: Luật công ty, luật doanh
nghiệp tư nhân; luật khuyến khích đầu tư trong nước; luật doanh nghiệp


nhà nước; luật hợp tác xã; luật phá sản doanh nghiệp. Cùng với các Luật
1
khác, những luật này góp phần vào việc hình thành và hoàn thiện môi
trường pháp lý cho các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế tuy chỉ thực
hiện đến năm 1990 nhưng đã có những đóng góp tích cực vào sự nghiệp
đổi mới của đất nước. Hơn 10000 cán bộ chủ chốt trong bộ máy nhà nước
từ cấp trung ương đến cấp huyện, doanh nghiệp nhà nước và một số
trường đại học, viện nghiên cứu khoa học đã đước bồi dưỡngnâng cao
kiến thức tại trường quản lý kinh tế trung ương và tại Liên xô(cũ). Những
tư tưởng cốt lõi của Lênin trong chính sách kinh tế mới và những tư
tưởng đổi mới của Đảng và Nhà nước ta về kinh tế và quản lý kinh tế đã
được đội ngũ cán bộ thống nhất nhân thức đúng đắn, sâu sắc. Kết quả này
đã góp phần tạo ra những thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới
của đất nước ta.
2
I- Lịch sử hình thành, chức năng và nhiệm vụ của
Viện quản lý kinh tế Trung ương.
1- Lịch sử hình thành của Viện.
Ngay sau khi miền Bắc được giải phóng Đảng đã tập trung sức
lãnh đạo khôi phục, cải tạo nền kinh tế và bắt đầu công cuộc xây dựng
cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội thông qua kế hoạch 5 năm lần thứ
nhất (1961 – 1965 ). Thành tựu đạt được là rất to lớn, song từ cuối
1965 chiến tranh lan rộng ra miền Bắc đã buộc chúng ta phải chuyển
hướng vừa phát triển kinh tế vừa chiến đấu bảo vệ miền Bắc XHCN,
chi viện cho tiền tuyến lớn, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Mặc dù đạt được những thành tựu to lớn, nhưng ngay từ giữa những
năm 60 chúng ta đã nhận thấy những vướng mắc, trì trệ trong quản lý,
đã bắt đầu phê phán phương thức tổ chức quản lý hành chính – cung

cấp và đề ra nhiều phong trào như Ba xây, Ba chống, Cải tiến quản lý
HTX nông nghiệp vòng I, vòng II,… Nhà nước cũng đã mời các
chuyên gia cố vấn của CHDC Đức sang giúp đỡ, nhằm khắc phục các
vướng mắc, trì trệ trong quản lý, song do những điều kiện khách quan
và chủ quan, công cuộc cải cách kinh tế đã không đạt được tiến bộ
mong muốn và cấp thiết. Sau khi miền Nam được giải phóng, đất
nước thống nhất, với khí thế phấn khởi hào hùng của cả dân tộc, cả
nước bước vào XHCN với kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976 – 1980 ),
song chỉ một thời gian ngắn sau đó tình hình kinh tế lại lâm vào tình
thế khó khăn, bế tắc. Do vậy nhiệm vụ nghiên cứu quản lý kinh tế đã
được đặt ra.
Đại hội IV đã đề ra nhiệm vụ “… Tổ chức lại nền sản xuất xã hội
trong phạm vi cả nước, cải tiến phương thức quản lý kế hoạch hóa làm
chính, kiện toàn bộ máy quản lý kinh tế…”, “… thực hiện một sự
chuyển biến sâu sắc trong tổ chức và quản lý kinh tế trong cả nước…”
Thực hiện chủ trương của Đại hội trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng
và phát triển kinh tế, Trung ương Đảng và Chính phủ thấy cần thiết
phải có một cơ quan riêng không bị cuốn hút vào công việc điều hành
hàng ngày, chuyên nghiên cứu, nhận xét, đánh giá khách quan quá
trình này và kiến nghị các biện pháp khả thi, hữu hiệu nhằm quản lý
3
ngày một tốt hơn nền kinh tế. Từ yêu cầu đó, Trung ương Đảng và
chính phủ đã lần lượt thành lập một số nhóm, tổ gồm những cán bộ
biệt phái từ các Bộ, ngành, và sau này là Ban thư và Chính phủ. Nhiều
đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Chính phủ đã trực tiếp phụ
trách các tổ chức nghiên cứu đó như Thủ tướng Phạm Văn Đồng, phó
thủ tướng Lê Thanh Nghị, Phó thủ tướng Nguyễn Duy Trinh…
Trước đòi hỏi ngày càng bức xúc của thực tiễn, yêu cầu cấp bách
phải nghiên cứu có luận cứ về phương thức quản lý kinh tế mới nên đã
thúc đẩy việc chuyển Ban nghiên cứu cải tiến quản lý kinh tế thành

Viện. Do đó, ngày 14 tháng 07 năm 1977 Bộ chính trị Ban chấp hành
Trung ương khóa 4 ra Quyết định 209 – NQ – NS/TW thành lập Viện
nghiên cứu quản lý kinh tế của Trung ương Đảng và Chính Phủ và cử
đồng chí Nguyễn Văn Trâm làm viện trưởng, đồng chí Đoàn Trọng
Truyến làm phó Viện trưởng. Tiếp theo ngày 10/11/1977 Ban bí thư ra
Quyết định số 04 QĐ/TW quy định nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế
công tác của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW. Căn cứ vào Điều
53 của Hiến pháp năm 1959, điều 3 của Luật tổ chức Hội đồng Chính
Phủ và theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc
hội đã ban hành Quyết nghị số 215 – NQ/QHK6 ngày 17/4/1978 phê
chuẩn việc thành lập Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, cơ
quan ngang Bộ của Hội đồng chính phủ.
2- Chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của Viện.
Căn cứ vào quyết nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng
chính phủ đã ban hành Nghị định số 111 – CP ngày 18/5/1978 Quy
định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Viện nghiên cứu quản lý
kinh tế TW. Theo đó, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW có các
quyền hạn và nhiệm vụ chính sau:
• Nghiên cứu hệ thống quản lý kinh tế XHCN trong cả nước, nhằm
vào nhũng vấn đề chung và quan trọng nhất là: tổ chức lại nền sản
xuất xã hội, cải tiến phương thức quản lý kinh tế lấy kế hoạch làm
chính; kiện toàn bộ máy quản lý kinh tế.
Dự thảo các đề án về quản lý kinh tế có nội dung tổng hợp, liên
quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực để trình Hội đồng Chính phủ.
4
Cộng tác với các Bộ, Tổng cục và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành
phố theo một chương trình phân công và phối hợp chung.
Phát biểu ý kiến với Hội đồng Chính phủ về những đề án quản lý
kinh tế do các Bộ, Tổng cục và địa phương trình ra Hội đồng Chính
phủ.

• Tổng kết thực tiễn quản lý kinh tế ở nước ta nghiên cứu vận dụng
các quy luật kinh tế vào công cuộc xây dựng và quản lý kinh tế
trong quá trình phát triển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN;
nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức và quản lý kinh tế của các nước
XHCN anh em và các nước khác, xây dựng khoa học về quản lý
kinh tế XHCN ở nước ta.
• Tổ chức việc bồi dưỡng cán bộ cao cấp của Nhà nước về quản lý
kinh tế; hướng dẫn các Viện, các trường bồi dưỡng cán bộ về quản
lý kinh tế của các Bộ, các tỉnh và thành phố.
• Thực hiện việc hợp tác và trao đổi kinh nghiệm về công tác nghiên
cứu quản lý kinh tế với các tổ chức hữu quan ở nước ngoài, theo
đúng đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và những quy định
của Nhà nước.
• Hướng dẫn, giúp đỡ về nội dung và phương pháp nghiên cứu đối
với các tổ chức nghiên cứu quản lý kinh tế của các Bộ, Tổng cục
và địa phương.
• Quản lý tổ chức cán bộ, biên chế, kinh phí và tài sản của Viện theo
chính sách và chế độ chung của Nhà nước.
Để thực hiện chức năng nhiệm vụ trên, cơ cấu tổ chức của Viện
theo Nghị đinh số 111 – CP gồm có:
- Ban nghiên cứu tổng hợp.
- Ban nghiên cứu quản lý công nghiệp(gồm cả xây dựng – giao
thông vận tải).
- Ban nghiên cứu quản lý nông nghiệp (gồm cả lâm nghiệp, ngư
nghiệp và thủy lợi).
- Ban nghiên cứu quản lý lưu thông phân phối
- Ban quản lý bồi dưỡng cán bộ cao cấp.
- Văn phòng,
5
Và hội đồng khoa học quản lý kinh tế làm chức năng tư vấn về khoa

học quản lý kinh tế cho Viện trưởng.
Đến năm 1980, nhằm tạo thuận lợi cho việc thống nhất chỉ đạo,
Ban bí thư Trung ương khóa IV đã Quyết định để Viện thôi trực thuộc
Ban bí thư chỉ còn trực thuộc Chính phủ nhung chức năng nhiệm vụ
của Viện giữa nguyên không thay đổi. Trong những năm qua lần lượt
các đồng chí sau đây đã được cử vào các chức vụ Lãnh đạo Viện
nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương.
Các đồng chí Viện trưởng:
Nguyễn văn Trân ( 1978 – 1989 ).
Đoàn Duy Thành ( 1991 – 1992 ).
Đoàn Đỗ ( quyền Viện trưởng ) từ 1989 – 1991.
Lê Đăng Doanh (từ 1993).
Các đồng chí phó Viện trưởng:
Đoàn trọng Truyến ( Từ 1978 – 1981 ).
Đoàn Đỗ ( 1981 – 1989 ).
Dương bạch Liên ( 1982 – 1986 ).
Lê Đăng Doanh ( 1991 – 1993 ).
Nguyễn Văn Bích ( từ 1989).
Nguyễn Văn Huy ( 1991 – 1994 ).
Đặng Đức Đạm ( 1995 – 1998 ).
Trần Xuân Lịch ( từ 1998 ).
Lê Xuân Bá ( từ 1998).
Các đồng chí cố vấn cấp cao:
Nguyễn Chân.
Ngô Duy Cảo.
Trần Việt Phương
Ngày 27/10/1992 Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 07
– CP giao cho Ủy ban Kế hoạch nhà nước ( nay là Bộ kế hoạch và
Đầu tư) quản lý viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương. Đến ngày
29/11/1995, căn cứ vào Nghị định số 75 – CP ngày 1/11/1995 của

Chính Phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của
Bộ kế hoạch và Đầu tư, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban
6
hành Quyết định số 17 – BKH/TCCB (ngày 29/11/1995) quy định
chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Viện nghiên cứu quản lý
kinh tế TW ( trong Bộ kế hoạch và Đầu tư).
Các chức năng, nhiệm vụ của Viện hiện nay được quy định là:
• Dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ kế hoạch và Đầu tư, phối hợp
với các đơn vị trong bộ, các ngành, các địa phương xây dựng các
đề án chính sách kinh tế, cơ chế quản lý kinh tế và kế hoạch hóa,
các dự án luật, pháp lệnh và văn bản dưới luật thuộc lĩnh vực quản
lý kinh tế do Nhà nước giao, trên cơ sở tổng kết thực tiễn kinh tế và
quản lý kinh tế trong nước, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về
quản lý kinh tế tầm vĩ mô và vi mô.
Tổ chức nghiên cứu đề xuất và thí điểm áp dụng những cơ chế
chính sách, mô hình tổ chức quản lý kinh tế mới, đáp ứng yêu cầu của
thực tế kinh tế - xã hội.
• Nghiên cứu lý luận và phương pháp luận khoa học quản lý kinh tế,
từng bước góp phần xây dựng chương trình cải cách kinh tế và phát
triển khoa học kinh tế ở Việt Nam.
• Hợp tác nghiên cứu với các tổ chức và cơ quan trong nước và
ngoài nước trên lĩnh vực quản lý kinh tế; thực hiện công tác tư vấn
về quản lý kinh tế và bồi dưỡng, đào tạo cán bộ (kể cả trên đại học
khi có điều kiện).
• Tổ chức quan lý các hoạt động của Câu lạc bộ Giám đốc Trung
ương và thực hiện những nhiệm vụ khác theo sự phân công của Bộ
trưởng Bộ kế hoạch và Đầu tư.
Cơ cấu tổ chức của Viện hiện nay bao gồm các phòng ban:
 Ban nghiên cứu chính sách vĩ mô.
 Ban nghiên cứu cải cách và phát triển doanh nghiệp.

 Ban nghiên cứu chính sách hội nhập kinh tế quốc tế.
 Ban nghiên cứu chính sách phát triển kinh tế nông
thôn.
 Ban nghiên cứu khoa học quản lý kinh tế.
 Hội đồng khoa học.
 Ban nghiên cứu khoa học quản lý.
7
 Trung tâm tư vấn, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản
lý.
 Tạp trí quản lý kinh tế.
 Trung tâm thông tin và tư liệu.
 Văn phòng viện.
Ngoài ra Viện còn trực tiếp quản lý hoạt động của Câu
lạc bộ Giám đốc Trung ương.
Ban lãnh đạo của Viện hiện nay:
Viện trưởng: TS Đinh Văn Ân.
Các phó Viện trưởng: TS Lê Xuân Bá.
Trần xuân Lịch.
TS Nguyễn Xuân Trình.
II- Những hoạt động của Viện quản lý kinh tế Trung
ương trong những năm qua.
Sự ra đời của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương là để đáp
ứng những đòi hỏi của sự nghiệp quản lý kinh tế ở nước ta; được thùa
hưởng những kết quả và kinh nghiệm nghiên cứu của các tổ chức tiền
thân, gắn bó và bám sát cuộc sống đầy năng động của đất nước, biết
tập hợp các lực lượng nghiên cứu trong nước và sớm tham gia vào quá
trình hợp tác, trao đổi kinh nghiệm với chuyên gia của các tổ chức
quốc tế và nước ngoài, do đó Viện đã thực thi được nhiệm vụ Nhà
nước giao và làm được một số việc rất cơ bản.
1- Những thành tựu của Viện đã đạt được trong các năm qua.

Do bám sát thực tế, tổng kết những sáng kiến tự phát từ cơ sở, kết
hợp với tam khảo kinh nghiệm nước ngoài Viện đã mạnh dạn đề xuất
sáng kiến “đổi mơi”. Điều này không phải do trình độ lý luận cao siêu
hay một sáng tạo gì ghê gớm; chúng ta chỉ biết là không thể làm như
cái cũ, không thể chấp nhận cái cũ phải “đổi mới”. Khái niệm “đổi
mới” quản lý kinh tế đưa ra từ đó (11/1978). Mặt khác chúng ta cũng
tiếp thu được thông tin từ bên ngoài, chủ yếu từ kinh nghiệm của Liên
Xô, về thực hiện chính sách kinh tế mới (NEP). Nội dung dự thảo đề
cương “thực hiện một sự chuyển biến sâu sắc trong tổ chức và quản lý
kinh tế” đã thể hiện rất nhiều sự “đổi mới”. Và cũng chính Viện đã
8
chủ động kiến nghị với Chính phủ và đước Thủ tướng chấp nhận
chuẩn bị báo cáo trình ra Hội nghị lần thứ 6 của BCH TW (khóa IV),
khởi đầu cho thời ký đổi mới kinh tế ở nước ta.
Được Đảng và Chính phủ giao chủ trì nghiên cứu nhiều đề án lớn
về đổi mới quản lý trong các lĩnh vực kinh tế quan trọng nhằm cụ thể
hóa chủ trương của các nghị quyết Trung ương, Nghị quyết Đại hội
Đảng ví dụ một số đề án quan trọng như: đề án của BCT khóa IV
quyết định ra Nghị quyết 26- NQ/TW (1980) về công tác phân phối
lưu thông; Quyết định 25,26-CP (1981) cụ thể hóa Nghị quyết TW 6
khóa IV (1979) về cải tiến quản lý xí nghiệp; Các đề án nhằm cụ thể
hóa Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI như đề án về đổi mới quản lý
kinh tế nông nghiệp, cơ chế chính sách đối với khu vực ngoài quốc
doanh để Bộ chính trị khóa VI ban hành Nghị quyết 10 và 16-NQ/TW
(1988), đề án về đổi mới quản lý xí nghiệp quốc doanh để Chính phủ
ban hành quyết định số 217-HĐBT, đề án về chính sách đối với kinh
tế cá thể và doanh nghiệp tư nhân trong nông lâm, ngư nghiệp để
Chính phủ ban hành Nghị định số 170-CP(1980) và 6 dự án Luật trình
Quốc hội ban hành trong thời gian nhiệm kỳ Đại hội VII của Đảng.
Ngoài ra còn có nhiều đề án khác mà Viện được giao chủ trì hoặc

tham gia với cơ quan khác nghiên cứu trình cấp trên.
Sớm đề xuất với TW về việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về
kinh tế. Ngay trong bản “dự thảo đề án”(11/1978) Viện đã kiến nghị
cần mở rộng kinh tế đối ngoại và coi kinh tế đối ngoại là bộ phận của
đường lối kinh tế, là một nhân tố tạo cơ cấu kinh tế mới của nước ta,
một cách tốt nhất để sớm phát huy lao động, tài nguyên đất, rừng,
biển, thực hiện công nghiệp hóa. Tính toán kỹ dám dùng biện pháp cởi
mở, mạnh bạo, tìm nhiều cách thu hút đầu tư từ ngoài phát triển nhiều
hình thức hợp doanh và hợp tác, nhiều kiểu trao đổi kinh tế với nước
ngoài. Xuất khẩu lao động tại chỗ bằng con đường gia công cho nước
ngoài. Cho phép các nước ngaòi đặt các đại lý trên đất nước ta để bán
sản phẩm công nghiệp, thiết bị, phụ tùng, vật tư cần thiết cho nền sản
xuất nước ta. Chung vốn với nước ngoài để đầu tư xây dựng một số
công trình công nghiệp thích hợp trên đất nước ta để cùng nhau chia
9
sản phẩm, lợ nhuận… Việc hợp tác kinh tế khoa học – kỹ thuật của ta
trước hết hướng vào khối SEV, vào các nước láng giềng, với các nước
đang phát triển và các nước tư bản. Vừa tranh thủ hợp tác giữa chính
phủ với chính phủ, vừa hợp tác giữa các đoàn thể, các tổ chức kinh tế
xã hội, của nhân dân bằng nhiều con đường, phương thức khác nhau.
Đã đạt được kết quả nhất định trong công tác bồi dưỡng kiến thức
quản lý cho đội ngũ cán bộ trung cao cấp và cán bộ cơ sở trong cả
nước. Thực chất của việc bồi dưỡng này không phải là nâng cao trình
độ quản lý cho cán bộ mà làm xoay chuyển tư duy của họ, trang bị
một số quan điểm mới về quản lý kinh tế, một cách nhìn mới về hiện
trạng kinh tế nước ta.
Trong các kiến nghị về đổi mới kinh tế và quản lý kinh tế Viện
luôn bám sát đường lối của Đảng và coi trọng, đề cao các quy luật
kinh tế khách quan, đặc biệt là quy luật giá trị. Tư tưởng nghiên cứu
của Viện là coi trọng và chú ý đúng mức đến việc tìm tòi, sử dụng quy

luật giá trị gắn với hiệu quả của các hoạt động kinh tế. Giá cả là vấn
đề quan tâm đầu tiên trong các kiến nghị, do hệ thống giá của ta có
nhiều điểm không sát với thực tiễn, phải cải cách nó một cách cơ bản
để tiến tới hệ thống một giá biến động theo quan hệ cung-cầu. Trước
mắt phải điều chỉnh và cải tiến chính sách giá cho phù hợp theo hướng
làm cho giá cả sát với giá trị để thúc đẩy sản xuất và tăng năng suất;
đẩy mạnh thu mua, nắm nguồn hàng, xuất khẩu; bớt bù lỗ, bớt gánh
nặng cho ngân sách. Hỗ trợ cho lưu thông tiền tệ, giảm bội chi tiền
mặt và lạm phát. Một vấn đề khó của nhiều nước trên thế giới cũng
như của nước ta là xử lý vấn đề lạm phát. Ngay từ năm 1978 Viện đã
nêu là phải đánh giá đúng tình hình lạm phát và có biện pháp chống
lạm phát. Tuy nhiên do chưa hiểu thấu đáo nên chúng ta chưa tìm ra
đước các biện pháp hữu hiệu để chống và đẩy lùi lạm phát. Chúng ta
cũng thấy những vấn đề bức xúc trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ, cần
phải có sự đổi mới, nếu không sẽ cản trở sự phát triển sản xuất và ổn
định đời sống. Đồng thời Viện cũng thấy phải sớm đổi mới công tác
kế hoạch hóa cả về nội dung và phương pháp, gắn kế hoạch với thị
trường, sử dụng quan hệ hàng hóa – tiền tệ trong công tác kế hoạch
10

×