Tải bản đầy đủ (.docx) (210 trang)

Thực trạng hoạt động định giá doanh nghiệp tại Công ty Thẩm định giá và đại lý thuế Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.2 MB, 210 trang )

Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính
LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đây là bài viết của em, các số liệu, kết quả nêu trong
luận văn là trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập.
Tác giả
Tạ Thị Hường

1
Sinh viên: Tạ Thị Hường

1

Lớp: CQ54/16.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính
MỤC LỤC

2
Sinh viên: Tạ Thị Hường

2

Lớp: CQ54/16.01



Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

DANH MỤC VIẾT TẮT

Chữ viết tắt

Diễn giải

BĐS

Bất động sản

CTTĐ

Chiết khấu dòng tiền

CKDT

Công tác thẩm định

GTDN

Giá trị doanh nghiệp

MMTB

Máy móc thiết bị


TSVH

Tài sản vơ hình

TSHH

Tài sản hữu hình

KQHĐKD

Kết quả hoạt động kinh doanh

VBQPPL

Văn bản quy phạm pháp luật

SXKD

Sản xuất kinh doanh

3
Sinh viên: Tạ Thị Hường

3

Lớp: CQ54/16.01


Luận văn tốt nghiệp


Học viện Tài chính

DANH MỤC BẢNG , SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy hoạt động của Công ty Thẩm định giá và đại lý
thuế Việt Nam...................................................................................................
Bảng 2.1.8(I): Bảng báo cáo tài chính của Công ty giai đoạn 2014 – 2015.....
Bảng 2.1.8(II): Bảng báo cáo KQHĐKD của Công ty giai đoạn 2014 – 2015
Bảng 2.1.8(III): Bảng báo cáo tài chính của Công ty giai đoạn 2016 – 2017..
Bảng 2.1.8(IV): Bảng báo cáo KQHĐKD của Công ty giai đoạn 2016- 2017
Bảng 2.1.8(V): Bảng báo cáo tài chính của Công ty giai đoạn 2018...............
Bảng 2.1.8(II): Bảng báo cáo KQHĐKD của Công ty giai đoạn 2018............

4
Sinh viên: Tạ Thị Hường

38
42
43
43
44
44
45

4

Lớp: CQ54/16.01


Luận văn tốt nghiệp


Học viện Tài chính
LỜI MỞ ĐẦU

1, Sự cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Ngành thẩm định giá nói chung hay thẩm định GTDN nói riêng đã xuất
hiện từ sớm và phát triển mạnh mẽ trên thế giới nhưng ở Việt Nam tuổi đời còn
non trẻ, hệ thống lý ḷn chưa hồn thiện. Mặt khác, GTDN có một vai trò quan
trọng đối với các chủ thể trong nền kinh tế. Đối với nhà đầu tư, GTDN là căn cứ
quan trọng giúp chủ đầu tư đánh giá và đưa ra quyết định đầu tư, hợp tác kinh
doanh với các doanh nghiệp. Đối với nhà quản trị DN, các thông tin về GTDN là
công cụ hữu hiệu giúp chính bản thân các doanh nghiệp đánh giá hoạt động kinh
doanh và giá trị thực tế của doanh nghiệp mình và đối thủ, từ đó xây dựng chiến
lược kinh doanh phù hợp. Đối với nhà nước, GTDN là cơ sở thông tin quan
trọng để các cấp lãnh đạo tiến hành quản lý nền kinh tế vĩ mơ hay nắm được tình
hình hoạt động sản xuất kinh doanh để có chính sách quản lý cụ thể đối với từng
doanh nghiệp như thu thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài sản, các loại thuế
khác. Đặc biệt, trong thời kỳ nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế như hiện
nay, các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng phát huy vai trò của mình trong việc
giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu ngành, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Do đó, thẩm định GTDN đang là vấn đề “nóng” mà các chủ thể kinh tế quan tâm
để đưa ra các chính sách đầu tư, góp vốn, mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
Trong tình hình thực tế nêu trên, các công ty kinh doanh dịch vụ thẩm
định giá đều phải đối mặt với những thuận lợi và khó khăn nhất định từ điều
kiện thị trường. Và Công ty Thẩm định giá và đại lý thuế Việt Nam- nơi em
đang thực tập cũng khơng nằm ngồi số đó. Là một trong những doanh nghiệp
hàng đầu trong lĩnh vực thẩm định giá, Công ty Thẩm định giá và đại lý thuế
Việt Nam có bề dày kinh nghiệm gần 10 năm cũng như phong cách hoạt động
riêng nhưng cũng chưa thể coi là hồn thiện, có mặt mạnh và cũng có những
điểm ́u cần hồn thiện để đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của thị trường.

Trong thời gian thực tập tại công ty, thông qua việc tìm hiểu, học hỏi cũng như
5
Sinh viên: Tạ Thị Hường

5

Lớp: CQ54/16.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

phân tích chi tiết các hợp đồng định giá, cùng với những tài liệu đã thu thập và
tham khảo được, em xin chọn nghiên cứu đề tài: “Thực trạng hoạt động định
giá doanh nghiệp tại Công ty Thẩm định giá và đại lý thuế Việt Nam” với
mong muốn được hiểu phần nào về thực tế các nghiệp vụ định giá tại cơ sở, để
từ đó đưa ra một số ý kiến đóng góp với hi vọng giúp ích cho doanh nghiệp hoàn
thiện hoạt động định giá doanh nghiệp nói riêng và trong lĩnh vực thẩm định giá
nói chung.
Em xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo công ty, anh Nguyễn Tuấn Duy –
giám đốc Công ty tại Hà Nội các anh chị trong phòng nghiệp vụ định giá tại
Công ty Thẩm định giá và đại lý thuế Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi nhất
để em có thể tiếp cận thực tế với các nghiệp vụ định giá cũng như các tài liệu,
các cơ sở vật chất kĩ thuật tại Công ty để em có thể thực tập một cách tốt nhất.
Và em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Thạc sĩ – Giảng viên Nguyễn Thị
Tuyết Mai đã tận tình hướng dẫn em hồn thành chun đề này. Một lần nữa em
xin chân thành cảm ơn!
2, Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
-


Mục đích nghiên cứu:
+ Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng hoạt động thẩm định GTDN của Công ty
Thẩm định giá và đại lý thuế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, từ đó đưa ra ưu
điểm, nhược điểm của quá trình này để tìm ra giải pháp hoàn thiện và nâng cao chất
lượng của CTTĐ GTDN tại Cơng ty nói riêng và tồn lĩnh vực định giá nói chung.
+ Nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học của bản thân, mở rộng hiểu
biết để thực hành ứng dụng cho công việc sau này.

-

Nhiệm vụ nghiên cứu: Đề tài được thực hiện với ba nhiệm vụ chính là:
+ Hệ thống hóa lý luận về định giá doanh nghiệp;
+ Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động định giá doanh nghiệp tại
Công ty Thẩm định giá và đại lý thuế Việt Nam;

6
Sinh viên: Tạ Thị Hường

6

Lớp: CQ54/16.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

+ Cùng với đó là việc đề xuất một số giải pháp giúp nâng cao chất lượng và
hướng tới sự chuyên nghiệp hơn cho hoạt động định giá doanh nghiệp tại

Công ty Thẩm định giá và đại lý thuế Việt Nam.
3, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
-

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: đề tài tập trung nghiên cứu về các hoạt động

-

thẩm định giá trị doanh nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu: tập trung vào Công ty Thẩm định giá và đại lý thuế Việt
Nam.
4, Phương pháp nghiên cứu :
- Phương pháp chung: Đề tài vận dụng phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, nghiên cứu các sự vật, hiện
tượng trong mối quan hệ biện chứng với nhau.
- Phương pháp cụ thể: Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu thực tế
về các hoạt động thẩm định giá trị doanh nghiệp tại Công ty Thẩm định giá và
đại lý thuế Việt Nam trong những năm gần đây, phương pháp tổng hợp và phân
tích tài liệu lý luận chung, phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp chuyên
gia và phương pháp diễn dịch quy nạp….
5, Tổng quan về tình hình nghiên cứu :
Hoạt động định giá doanh nghiệp ở Việt Nam mới được biết đến từ năm
1992, tuổi đời còn non trẻ nên các hoạt động trên thị trường chưa đa dạng, nền
tảng kinh nghiệm cũng như cơ sở lý luận và hệ thống pháp lý vẫn chưa hồn
thiện, vì vậy nhìn chung còn ít cơng trình nghiên cứu. Một số đề tài nghiên cứu
về lĩnh vực thẩm định GTDN tiêu biểu có thể kể đến hiện nay là:



Luận văn Ths. kinh tế “Hoàn thiện quy trình, phương pháp định giá doanh




nghiệp tại Cơng ty TNHH Kiểm Toán Việt” của tác giả Lê Thị Oanh năm 2014;
Ḷn văn Ths. kinh tế “Hồn thiện quy trình và phương pháp định giá trị tài sản



tại công ty cổ phần dầu khí Việt Nam” của tác giả Võ Đức Hạnh năm 2012;
Luận án tiến sỹ “Hoàn thiện kế toán định giá doanh nghiệp trong bối cảnh tái
cấu trúc tại các DNNN Việt Nam” của tác giả Lý Lan Yên năm 2015;
7
Sinh viên: Tạ Thị Hường

7

Lớp: CQ54/16.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

Các đề tài trên mới chỉ đưa ra cơ sở lý luận về phương pháp, quy trình
thẩm định GTDN nói chung. Với hệ thống văn bản pháp luật mới năm 2017 về
thẩm định GTDN như nghị định 126/2017/NĐ-CP và thông tư 122/2017/TTBTC ban hành tiêu chuẩn thẩm định giá số 12 hướng dẫn xác định GTDN thì
các tài liệu ở trên vẫn chưa cập nhật được. Đề tài luận văn “Thực trạng hoạt
động thẩm định giá trị doanh nghiệp tại Công ty Thẩm định giá và đại lý thuế
Việt Nam” của em đã cập nhật thông tin Luật mới nhất, đánh giá thực trạng hiện
tại của hoạt động thẩm định GTDN tại công ty cũng như vấn đề chung của lĩnh

vực thẩm định GTDN, từ đó kiến nghị một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt
động thẩm định giá.
6, Kết cấu đề tài :
Đề tài gồm có 3 chương và được sắp xếp như sau:
CHƯƠNG 1: Lý luận chung về thẩm định giá trị doanh nghiệp.
CHƯƠNG 2: Thực trạng hoạt động thẩm định giá trị doanh nghiệp tại
Công ty Thẩm định giá và đại lý thuế Việt Nam.
CHƯƠNG 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện hoạt động thẩm định
giá trị doanh nghiệp tại Công ty Thẩm định giá và đại lý thuế Việt Nam.

8
Sinh viên: Tạ Thị Hường

8

Lớp: CQ54/16.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH GIÁ TRỊ
DOANH NGHIỆP
I. Doanh nghiệp
1.1. Khái niệm doanh nghiệp
Có nhiều định nghĩa và khái niệm khác nhau về doanh nghiệp. Theo Luật
Doanh nghiệp 2005, “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản,
có cơ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp
luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Kinh doanh là thực

hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến
tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Như vậy, có thể thấy rằng doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành
lập nhằm sản xuất cung ứng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ trên thị trường với
mục đích sinh lời.
1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của doanh nghiệp rất phong phú
và đa dạng nhưng nhìn chung các doanh nghiệp có những đặc điểm chủ yếu là:


Doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất ra sản phầm hàng hố
dịch vụ cho xã hợi
Q trình hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là quá trình

kết hợp và biến đổi các yếu tố đầu vào tạo thành các kết quả đầu ra là sản phẩm
dịch vụ đem lại giá trị mới. Chính sự tạo ra giá trị mới này đưa đến sự tăng trưởng
kinh tế, phồn thịnh cho xã hội và củng cố vị thế, hình ảnh và sự phát triển của
doanh nghiệp.


Doanh nghiệp là mợt đơn vị phân phới
Trong q trình hoạt động, khi tiêu thụ các sản phẩm đầu ra, doanh nghiệp

có một khoản thu nhập và trên cơ sở đó thực hiện việc phân phối cho các tác nhân
9
Sinh viên: Tạ Thị Hường

9

Lớp: CQ54/16.01



Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình như: trả lương cho người lao động,
thanh toán cho người cung ứng, trả lãi vay, nộp thuế, chia cổ tức...; Như vậy doanh
nghiệp là khâu đầu của việc phân phối lần đầu và các chính sách phân phối của
doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng lớn đến rất nhiều đối tượng.


Doanh nghiệp là một tổ chức sớng
Q trình hoạt động của doanh nghiệp là q trình vận động không ngừng

để thực hiện các mục tiêu của nó. Nhiều nhà kinh tế cho rằng: "Doanh nghiệp là
mợt tở chức sống, giống như con người". Điều đó đòi hỏi khi nhìn nhận đánh giá
một doanh nghiệp phải đặt nó trong trạng thái vận động. Trong nền kinh tế thị
trường, mỗi doanh nghiệp đều hoạt động nhằm nhiều mục tiêu khác nhau. Các mục
tiêu chung nhất của doanh nghiệp là:
- Mục tiêu lợi nhuận
Lợi nhuận là kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp
thu được. Đó là phần chênh giữa thu nhập và chi phí bỏ ra để tạo ra số thu nhập đó.
Lợi nhuận là phần giá trị tăng thêm mà nhà đầu tư thu được. Vì thế lợi nhuận trở
thành mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp, là sự mong đợi của chủ sở hữu nó.
- Mục tiêu cung ứng
Sản xuất hàng hố không phải nhằm thoả mãn tiêu dùng cho chính người
sản xuất mà là để cung ứng cho khách hàng. Đó cũng là một mục tiêu của doanh
nghiệp, nó thể hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp với xã hội và nhờ thực hiện mục
tiêu này mà doanh nghiệp mới thực hiện được mục tiêu lợi nhuận.

- Mục tiêu phát triển bền vững
Sự mong đợi của người đầu tư không chỉ dừng lại ở chỗ lợi nhuận mà là
lợi nhuận phải ngày càng nhiều hơn và bền vững. Do vậy doanh nghiệp phải hướng
10
Sinh viên: Tạ Thị Hường

10

Lớp: CQ54/16.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

tới sự phát triển. Xem xét đánh giá một doanh nghiệp không chỉ ở quá khứ hiện tại
mà phải xem xét cả triển vọng tương lai.
Qua các đặc trưng của doanh nghiệp cho thấy: Doanh nghiệp được xem
như như một thực thể sống bao gồm nhiều bộ phận cấu thành và vận động không
ngừng nhằm tối đa hóa giá trị cho chủ sở hữu.
1.3. Giá trị doanh nghiệp
Để có khái niệm về thẩm định GTDN, trước hết cần có cái nhìn tổng quan về
giá trị và giá trị doanh nghiệp. Vậy giá trị là gì?
Thứ nhất, theo quan điểm của Các Mác, giá trị được xác định bởi hai mặt
lượng và chất:
+ Chất của giá trị là lao động của người sản xuất hàng hóa. Nói một cách
cụ thể hơn, là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong
hàng hóa.
+ Lượng của giá trị được tính theo thời gian lao động xã hội cần thiết.
Như vậy xét trên cơ sở quan niệm của triết học, doanh nghiệp được xem

như một thực thể, tổ hợp kết tinh lao động của một tập thể sử dụng thời gian lao
động cần thiết để tạo ra hàng hóa nhất định (có thể là hữu hình hoặc vơ hình)
Thứ hai, theo quan điểm của nhà đầu tư hiện đại, GTDN là toàn bộ lợi
ích mà một doanh nghiệp mang lại cho chủ sở hữu trong q trình sản xuất kinh
doanh.
Bên cạnh đó dựa trên góc độ thị trường chứng khốn thì GTDN chính
là tổng giá trị cổ phần mà doanh nghiệp có được đối với cơng ty cổ phần.
Mỗi khái niệm có một cách khái qt và định nghĩa riêng, tuy nhiên, nhìn
chung có thể hiểu : GTDN chính là biểu hiện bằng tiền về các khoản thu nhập
mà doanh nghiệp có thể mang lại cho nhà đầu tư trong quá trình hoạt động
sản xuất kinh doanh.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp
1.4.1. Các yếu tố thuộc về môi trường kinh doanh:
11
Sinh viên: Tạ Thị Hường

11

Lớp: CQ54/16.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

Môi trường kinh doanh (MTKD) là yếu tố về cơ bản vượt khỏi tầm kiểm
soát của doanh nghiệp. Để tồn tại và phát triển được thì doanh nghiệp phải tìm
cách thích nghi với mơi trường. Môi trường kinh doanh được chia làm hai loại:
 Môi trường kinh doanh tổng quát: gồm có môi trường kinh tế, môi
trường chính trị, môi trường văn hóa – xã hội và môi trường ỹ thuật.

- Môi trường kinh tế
Doanh nghiệp bao giờ cũng tồn tại trong một bối cảnh kinh tế cụ thể. Bối
cảnh kinh tế đó được nhìn nhận thơng qua hàng loạt chỉ tiêu vĩ mơ như: tốc đọ
tăng trường, chỉ số giá cả, tỷ giá ngoại tệ, tỷ suất đầu tư, các chỉ số trên thị
trường chứng khốn… Mặc dù mơi trường kinh tế mang tính chất như yếu tốc
khách quan nhưng ảnh hưởng của chúng tới GTDN lại là sự tác động trực tiếp.
Mỗi sự thay đổi nhỏ của yếu tố này bao giờ cũng ảnh hưởng tới sự đánh
giá về doanh nghiệp: nền kinh tế luôn tăng trưởng với tốc độ cao, phản ánh nhu
cầu đầu tư và tiêu dùng ngày càng lớn. Chỉ số giá chứng khoán phản ảnh đúng
quan hệ cũng cầu, đồng tiên ổn định, tỷ giá và lãi suất có tính kích thích đàu tư
sẽ trở thành cơ hội tốt cho doanh nghiệp mở rộng quy mô SXKD. Ngược lại, sự
suy thoái kinh tế, giá chứng khoán ảo, lạm phát phi mã… là biểu hiện môi
trường tồn tại của doanh nghiệp đang bị lung lay tận gốc. Mọi sư đánh giá về
doanh nghiệp, trong đó có GTDN sẽ bị đảo lộn hồn tồn.
- Mơi trường chính trị
Sản xuất kinh doanh chỉ có thể ổn định và phát triển trong mơi trường có
sự ổn định về chính trị ở mức độ nhất định. Chiến tranh sắc tộc, tôn giáo, mafia
và những yếu tố trật tự an toàn xã hội khác bao giờ cũng tác động xấu tới mọi
mặt đời sống xã hội chứ khơng riêng gì SXKD.
Các ́u tố của mơi trường chính trị có sự gắn bó chặt chẽ, tác động trực
tiếp đén SXKD bao gồm:
- Tính đầy đủ, đồng bộ, rõ ràng và chi tiết của hệ thống luật pháp.
- Quan điểm tư tưởng của Nhà nước đối với SXKD thông qua hệ thống các văn
bản pháp quy như: Quan điểm về sản xuất, đàu tư, tiêu dung… thể hiện trong
luật thuế, luật cạnh tranh, luật sở hữu trí tuệ…
12
Sinh viên: Tạ Thị Hường

12


Lớp: CQ54/16.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

- Năng lực hành pháp của chính phủ và ý thức chấp hành pháp luật của công dân
và các tổ chức. Pháp luật đã ban hành nhưng không hiện thực, tệ nạn buôn lậu,
trốn thuế, hàng giả… là biểu hiện một môi trường chính trị gây bất lợi cho sản
xuất.
- Có thể thấy rằng, cũng như môi trường kinh tế, môi trường chính trị có vai trò
như những điều kiện thiết yếu, tối thiểu để doanh nghiệp có thể hoạt động, và do
vậy, đánh giá về doanh nghiệp bao giờ cũng phải nhìn nhận trước hết từ các yếu
tố này.
- Môi trường văn hóa – xã hợi.
+ Mơi trường văn hóa được đặc trưng bởi những quan niệm, hệ tư tưởng của
cộng đồng về lối sống, đạo đức…; quan niệm về “chân, thiện, mỹ”, về nhân
cách, văn minh xã hội; được tể hiện trong tập quán sinh hoạt và tiêu dùng.
+ Môi trường xã hội thể hiện ở số lượng và cơ cấu dân cư, giới tính, độ tuổi, mật
độ, sự gia tăng dân số, thu nhập bình quân đầu người và hàng loạt các vấn đè
mới nảy sinh như ô nhiễm môi trường, tài nguyên cạn kiệt…
- Môi trường khoa học – công nghệ
+ Sự tác động của KHCN đang làm thay đổi căn bản các điều kiện về quy trình
và phương thức tổ chức SXKD trong các doanh nghiệp. Sản phẩm sản xuất ra
ngày càng đa dạng, phong phú, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong đời sống
vật chất và tinh thần. Hàm lượng tri thức có khuynh hướng chiếm ưu thế tuyệt
đối trong giá bán sản phẩm.
 Môi trường đặc thù
So với môi trường tổng quát, môi trường đặc thù bao gồm các yếu tố tác

động đến doanh nghiệp mang tính trực tiếp và rõ ràng hơn. Hơn nữa với các ́u
tố này, doanh nghiệp còn có thể kiểm sốt chúng ở một mức độ nhất định. Thuộc
môi trường đặc thù có yếu tố về khách hàng, nhà cung cấp, hãng cạnh tranh và
các cơ quan nhà nước.
- Quan hệ doanh nghiệp – khách hàng:
Thị trường là yếu tố quyết định đến đầu ra của sản phẩm của doanh
nghiệp. Khác hàng của doanh nghiệp có thể là các cá nhân, doanh nghiệp khác

13
Sinh viên: Tạ Thị Hường

13

Lớp: CQ54/16.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

hoặc Nhà nước. Họ có thể là khách hàng hiện tại hoặc khách hàng trong tương
lai.
Thông thường khác hàng sẽ chi phối hoạt động của doanh nghiệp, nhưng
cũng có những trường hợp khách hàng lại bị lệ thuộc vào khả năng cung cấp của
doanh nghiệp. Do vậy muốn đánh giá đúng khả năng phát triển, mở rộng SXKD
của doanh nghiệp, cần xác định tính chất, mức độ bền vững và uy tín của doanh
nghiệp trong quan hệ với khác hàng. Uy tín tốt của doanh nghiệp với khác hàng
có được khơng phải một sớm một chiều, do nhiều yếu tố hinh thành. Để đánh
giá chúng người ta thường kể đến: Sự trung thành và thái độ của khách hàng, số
lượng và chất lượng khách hàng, tiếng tăm và các mối quan hệ tốt, khả năng

phát triển các mối quan hệ đó.
- Quan hệ doanh nghiệp – nhà cung cấp:
Doanh nghiệp thường phải trông đợi sự cung cấp từ phía bên ngồi các
loại hàng hóa, nguyên vật liệu, dịch vụ điện, nước, thông tin, tư vấn… Tính ổn
định của nguồn cung cấp có ý nghĩa quan trọng đảm bảo cho sản xuất và tiêu thụ
được thực hiện theo yêu cầu mà doanh nghiệp định ra.
- Các hãng cạnh tranh
Được sự ủng hộ của Nhà nước trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, mức độ
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường trong và ngoài nước ngày càng
trở nên quyết liệt hơn. Sự quyết liệt trong môi trường cạnh tranh được coi là mối
nguy cơ trực tiếp đến sự tồn tại của doanh nghiệp.
- Các cơ quan Nhà nước
Trong cơ chế thị trường, về cơ bản doanh nghiệp được quyền chủ động
hoàn toàn đối với SXKD. Tuy nhiên, sự hoạt động của doanh nghiệp luôn phải
được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan Nhà nước như: Th́, thanh
tra, cơng đồn… Các tổ chức này có bổn phận kiểm tra, giám sát, đảm bảo cho
sự hoạt động của doanh nghiệp không vượt ra khỏi những quy ước xã hội thể
hiện trong các luật.
1.4.2. Các yếu tố nội tại doanh nghiệp

14
Sinh viên: Tạ Thị Hường

14

Lớp: CQ54/16.01


Luận văn tốt nghiệp


Học viện Tài chính

 Hiện trạng tài sản trong doanh nghiệp

Khi xác định GTDN, bao giờ người ta cũng quan tâm ngày đến hiện trạng
tài sản của doanh nghiệp vì 2 lý do chủ yếu:
- Tài sản của một doanh nghiệp là biểu hiện yếu tố vật chất cần thiết, tối thiểu
đối với quá trính SXKD. Số lượng, chất lượng, trình độ kỹ thuật và tính đồng bộ
của các loại tài sản là yếu tố quyết định đến số lượng và chất lượng sản phẩm
mà doanh nghiệp sản xuất ra. Tức là khả năng cạnh tranh và thu lợi nhuận của
doanh nghiệp phụ thuộc một cách trực tiếp và có tính chất quyết định vào các
yếu tố này.
- Giá trị các tài sản của doanh nghiệp là một căn cứ đảm bảo rõ ràng nhất về
GTDN, vì thay cho việc dự báo các khoản thu nhập tiềm năng, người sở hữu có
thể bán chúng bất cứ lúc nào để nhận về một khoản thu nhập từ những tài sản
đó.
Từ 2 lý do này mà thực tế, khi vận dụng các phương pháp người ta thường đánh
giá cao những phương pháp có liên quan trực tiếp đến việc xác định giá trị tài
sản DN.


Vị trí kinh doanh:
Vị trí kinh doanh có ý nghĩa quan trọng đối với SXKD. Vị trí kinh doanh

được dặc trưng bởi các yếu tố như địa điểm, diện tích của doanh nghiệp và các
chi nhánh, yếu tố địa hình, thời tiết…
Một doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp thương mại – dịch vụ, được đặt
gần các đô thị, nơi đông dân cư, trung tâm buôn bán lớn và đầu mối giao thơng
quan trọng có thể đem lại rất nhiều lợi thế cho doanh nghiệp. Với vị trí thuận lợi,
doanh nghiệp có thể giảm được nhiều khoản mục chi phí chủ yếu như: vận

15
Sinh viên: Tạ Thị Hường

15

Lớp: CQ54/16.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

chuyển, bảo quản, lưu kho, giao dịch… đồng thời doanh nghiệp sẽ có những
thuận lợi lớn để tiếp cận và nắm bắt nhanh chống nhu cầu, thị hiếu của thị
tường, thực hiện tốt các dịch vụ hậu mãi. Tuy nhiên với vị trí đó, cũng có thể
kéo theo sự gia tăng của những khoản chi phí như thuê văn phòng giao dịch, lao
động, các yêu cầu khắt khe hơn của Nhà nước như xử lý ô nhiễm…


Uy tín kinh doanh:
Uy tín kinh doanh là sự đánh giá của khách hàng về sản phẩm của doanh

nghiệp, nhưng nó lại được hình thành bởi nhiều ́u tố khác nhau bên trong
doanh nghiệp như: chất lượng sản phẩm, trình độ và năng lực QTKD, thái độ
phục vụ của nhân viên…


Trình độ kỹ thuật và tay nghề lao động:
Chất lượng sản phẩm doanh nghiệp một mặt phụ thuộc vào trình độ cơng


nghệ của máy móc thiết bị, mặt khác phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật và tay nghề
người lao động.Trình độ kỹ thuật và sự lành nghề của người lao động khơng chỉ
có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng sản phẩm, mà còn có thể
làm giảm chi phí do việc sử dụng hợp lý nguyên nhiên vật liệu… trong quá trình
sản xuất, giảm chi phí đào tạo – bồi dưỡng, từ đó góp phần nâng cao thu nhập
cho doanh nghiệp.


Năng lực QTKD:
Trong điều kiện ngày nay, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển lâu

dài phải có một bộ máy quản lý SXKD đủ mạnh để có khả năng sử dụng tốt nhất
các nguồn lực, tận dụng mọi tiềm năng và cơ hội nảy sinh, ứng phó linh hoạt với
những biến động của mơi trường. Do đó, năng lực QTKD ln được nhắc tới
như một yếu tố đặc biệt quan trọng tác động tới GTDN.
16
Sinh viên: Tạ Thị Hường

16

Lớp: CQ54/16.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

Tóm lại: GTDN chịu sự tác động của nhiều yếu tố, bao gồm các yếu tố bên
trong và bên ngoài. Các yếu tố đã nêu là cơ sở để xây dựng và lựa chọn những
tiêu chí cho việc đánh giá, căn cứ để các bên thảo luận, xác định phạm vi và

đánh giá có hệ thống từng điểm mạnh và yếu của doanh nghiệp.
II. Thẩm định giá doanh nghiệp
2.1. Khái niệm về thẩm định giá doanh nghiệp:
Khi nghiên cứu về thẩm định giá, giới nghiên cứu học thuật trên thế giới
đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau:
- Theo tự điển Oxford: “ Thẩm định giá là sự ước tính giá trị bằng tiền của
một vật, của một tài sản ”; “ là sự ước tính giá trị hiện hành của tài sản trong
kinh doanh ”.
- Theo giáo sư W.Seabrooke - Viện đại học Portsmouth, Vương quốc Anh:
“ Thẩm định giá là sự ước tính giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ thể bằng
hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định ”.
- Theo Gs. Lim Lan Yuan - Singapore: Thẩm định giá là một nghệ thuật hay
khoa học về ước tính giá trị cho một mục đích cụ thể của một tài sản cụ thể tại
một thời điểm, có cân nhắc đến tất cả những đặc điểm của tài sản cũng như xem
xét tất cả các yếu tố kinh tế căn bản của thị trường bao gồm các loại đầu tư lựa
chọn.
- Theo Pháp lệnh giá số 40/2002/PL-UBTVQH10 năm 2002 của Việt Nam,
trong thẩm định giá được định nghĩa như sau: “ Thẩm định giá là việc đánh giá
hoặc đánh giá lại giá trị của tài sản phù hợp với thị trường tại một địa điểm, thời
điểm nhất định theo tiêu chuẩn của Việt Nam hoặc thông lệ quốc tế ”
Tóm lại: “ Thẩm định giá là việc ước tính bằng tiền với độ tin cậy cao nhất
về lợi ích mà tài sản mang lại cho chủ thể tại một thời điểm nhất định ”.

17
Sinh viên: Tạ Thị Hường

17

Lớp: CQ54/16.01



Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

Từ đó có thể thấy, thẩm định giá trị doanh nghiệp: là việc ước tính giá trị
của doanh nghiệp hay lợi ích mà doanh nghiệp mang lại theo một mục đích nhất
định bằng cách sử dụng các phương pháp thẩm định giá phù hợp.
Vậy thẩm định giá doanh nghiệp là quá trình phân tích, đánh giá và
ước lượng một cách chính xác nhất giá trị thị trường của các quyền và lợi ích
mang lại từ hoạt động sản xuất kinh doanh cho chủ doanh nghiệp.
2.2. Vai trị và mục đích của cơng tác thẩm định giá GTDN
2.2.1. Vai trị của cơng tác thẩm định GTDN


Vai trò của CTTĐ GTDN đối với nhà đầu tư và nhà cung cấp:
Trong đầu tư - kinh doanh BĐS, CTTĐ GTDN là căn cứ quan trọng

giúp chủ đầu tư hay nhà cung cấp đánh giá và đưa ra quyết định đầu tư, hợp
tác kinh doanh với các doanh nghiệp này.
Khi tham gia vào bất kỳ thị trường nào thì nhà đầu tư ln mong muốn
đồng vốn của mình khơng những được bảo toàn mà còn phải sinh lời trong
tương lai tương xứng với từng mức độ chấp nhận rủi ro khác nhau hay đối với
nhà cung cấp cũng hy vọng đối tác của mình có uy tín kinh doanh và khả năng
sinh lời tốt, đảm bảo an toàn trong hợp tác kinh doanh. Tại cùng mức rủi ro khi
đầu tư, họ luôn mong muốn nhận được mức lợi nhuận cao nhất. Chính vì vậy,
việc xác định GTDN là một cơ sở quan trọng thể hiện tổng quát về uy tín kinh
doanh, khả năng tài chính và vị thế của doanh nghiệp, để từ đó nhà đầu tư và
nhà cung cấp đưa ra quyết định đầu tư phù hợp. Bên cạnh đó, thơng tin về
GTDN cũng giúp nhà đầu tư đánh giá và dự đoán được một phần tiềm năng phát

triển của doanh nghiệp trong tương lai, từ đó đưa ra chiến lược đầu tư – kinh
doanh phù hợp và hiệu quả nhất.


Vai trị của cơng tác thẩm định GTDN đối với chủ sở hữu :
Các thông tin về công tác thẩm định GTDN là công cụ hữu hiệu giúp
chính bản thân các doanh nghiệp đánh giá hoạt động kinh doanh và giá trị
18
Sinh viên: Tạ Thị Hường

18

Lớp: CQ54/16.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

thực tế của doanh nghiệp mình và đối thủ, từ đó xây dựng chiến lược kinh
doanh phù hợp.
Để định giá GTDN một cách chính xác thì thẩm định viên phải đánh
giá chính xác giá trị toàn bộ tài sản của doanh nghiệp (cả TSHH và TSVH) và
hiệu quả hoạt động của chúng qua từng năm (hay nói cách khác là giá trị dòng
tiền do việc sử dụng tài sản mang lại). Chính vì vậy, kết quả và phương pháp
thẩm định GTDN giúp doanh nghiệp nắm rõ các hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, từ đó có những biện pháp cải tiến quản lý cần thiết nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, kiểm sốt lợi nḥn cho doanh
nghiệp, góp phần ổn định môi trường kinh doanh và hạn chế rủi ro trong kinh
doanh. Bên cạnh đó, các thơng tin do cơng tác thẩm định giá trị cung cấp còn

là cơ sở để doanh nghiệp giải quyết tranh chấp nảy sinh giữa các cổ đông của
doanh nghiệp khi phân chia cổ tức, góp vốn hay vi phạm hợp đồng. Mặt khác,
nội dung cơ bản của quản trị tài chính doanh nghiệp, xét cho cùng là phải
tăng được GTDN mình. Do đó, việc xác định GTDN sẽ giúp chủ sở hữu hay
nhà quản trị doanh nghiệp biết rõ về giá trị thực tế, vị trí và khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp mình và các doanh nghiệp khác , từ đó đưa ra các
quyết định về kinh doanh, về tài chính…một cách đúng đắn nhằm nâng cao
giá trị doanh nghiệp trên thị trường .


Vai trị của CTTĐ GTDN đối với các tở chức trung gian tài chính trên thị
trường:
Kết quả thẩm định GTDN là căn cứ quan trọng giúp các tổ chức trung
gian tài chính đánh giá năng lực kinh doanh của doanh nghiệp và đưa ra
quyết định cho vay tín dụng phù hợp đối với tình hình của từng doanh nghiệp
cụ thể.
Một trong những cơ sở quan trọng để các tổ chức trung gian tài chính trên
thị trường như ngân hàng, đối tác, nhà cung cấp của doanh nghiệp cho doanh
nghiệp vay vốn hoặc hợp tác sản xuất kinh doanh, đầu tư vào doanh nghiệp là :
19
Sinh viên: Tạ Thị Hường

19

Lớp: CQ54/16.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính


xem xét khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai cũng như khả năng
phát triển bền vững của doanh nghiệp. Quá trình xác định giá trị doanh nghiệp
sẽ cung cấp rất nhiều thơng tin về doanh nghiệp, qua đó, họ có thể dễ dàng đưa
ra quyết định trong mối quan hệ tín dụng với doanh nghiệp.


Vai trò của CTTĐ GTDN đối với nhà hoạch định, quản lý kinh tế vĩ mô :
Đối với các nhà hoạch định, quản lý kinh tế vĩ mơ, cơng tác thẩm định
GTDN giúp họ nắm được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và giá trị
doanh nghiệp để có chính sách quản lý cụ thể đối với từng doanh nghiệp như
thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài sản và các loại thuế khác.
Giá cả của các loại chứng khoán được quyết định bởi giá trị thực của
doanh nghiệp có chứng khốc được trao đổi, mua bán trên thị trường. Vì vậy,
trên phương diện quản lý kinh tế vĩ mô, thông tin về GTDN là một căn cứ quan
trọng để các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức, các hiệp hội kinh doanh
chứng khoán đánh giá mức độ ổn định của thị trường, nhận dạng hiện tượng đầu
cơ, thao túng thị trường, thâu tóm quyền kiểm sốt doanh nghiệp….để từ đó có
thể đưa ra các chính sách điều tiết thị trường một cách phù hợp. Ngoài ra, trong
quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, xác định GTDN được coi là một
bước đi quan trọng để các quốc gia tiến hành cải cách DNNN như : cổ phần hóa,
sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể doanh nghiệp hay giao, bán, khoán và
cho thuê doanh nghiệp.
2.2.2. Mục đích của công tác thẩm định GTDN
Trong nền kinh tế thị trường gắn với điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà
nước cũng như trong hoạt động quản trị kinh doanh luôn cần thiết thông tin về
giá trị doanh nghiệp. Và đối với mỗi chủ thể khác nhau thì việc tiếp cận giá trị
doanh nghiệp cũng với những mục đích khác nhau. Cụ thể:
Kết quả thẩm định GTDN được sử dụng cho mục đích: mua, bán, sáp
nhập, liên doanh liên kết, thanh lý doanh nghiệp; đầu tư, góp vốn , mua - bán

chứng khốn của doanh nghiệp; cổ phần hóa, niêm ́t chứng khốn trên thị
20
Sinh viên: Tạ Thị Hường

20

Lớp: CQ54/16.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

trường chứng khoán; vay vốn đầu tư kinh doanh; nộp thuế Nhà nước hay giải
quyết, xử lý tranh chấp trong kinh doanh.
Công tác thẩm định GTDN nhằm giúp cho doanh nghiệp cần thẩm định
giá có những giải pháp cải tiến quản lý cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh hay hoạch định chiến lược phát triển trong tương lai.
Kết quả thẩm định GTDN cũng là cơ sở cho các nhà đầu tư đánh giá
được uy tín kinh doanh, vị thế tín dụng hay mức độ biến động chứng khoán của
doanh nghiệp trên thị trường, để từ đó đưa ra quyết định đầu tư vào các loại
chứng khoán mà doanh nghiệp phát hành trên thị trường tài chính.
Công tác thẩm định GTDN còn là cơ sở để Nhà nước điều hành vĩ mô nền
kinh tế thông qua các chính sách điều tiết giá cả, đặc biệt là đưa ra chính sách hỗ
trợ thúc đẩy doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng phát
triển mạnh mẽ. Có thể nói kết quả thẩm định GTDN là một trong những căn cứ
để soạn thảo, bàn hành luật hỗ trợ doanh nghiệp về chính sách ưu đãi thuế, ưu
đãi tín dụng .
2.3. Cơ sở thẩm định giá doanh nghiệp
Theo tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế số 104 (IVS 104) ban hành năm

2017, cơ sở giá trị của thẩm định GTDN bao gồm cơ sở giá trị thị trường hoặc
cơ sở giá trị phi thị trường.
Giá trị thị trường là số tiền trao đổi ước tính về tài sản vào thời điểm thẩm
định giá, giữa một bên là người bán sẵn sàng bán với một bên là người mua sẵn
sàng mua, sau một q trình tiếp thị cơng khai, mà tại đó, các bên hành động
một cách khách quan, hiểu biết và không bị ép buộc.
Giá trị phi thị trường là số tiền ước tính của một tài sản dựa trên việc đánh
giá yếu tố chủ quan của giá trị nhiều hơn là dựa vào khả năng có thể mua bán tài
sản trên thị trường.
Tại Việt Nam, cơ sở GTDN được xác định trên cơ sở mục đích thẩm định
giá, đặc điểm pháp lý, đặc điểm kinh tế - kỹ thuật và đặc điểm thị trường của
21
Sinh viên: Tạ Thị Hường

21

Lớp: CQ54/16.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

doanh nghiệp cần thẩm định giá, yêu cầu của khách hàng thẩm định giá tại hợp
đồng thẩm định giá (nếu phù hợp với mục đích thẩm định giá) và quy định của
pháp luật có liên quan. Các nội dung khác thực hiện theo quy định tại Tiêu
chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 2 và số 3.
Căn cứ vào triển vọng thực tế của doanh nghiệp, thị trường kinh doanh
của doanh nghiệp, mục đích thẩm định giá và quy định của pháp luật, thẩm định
viên đưa ra nhận định về tình trạng hoạt động, tình trạng giao dịch (thực tế hoặc

giả thiết) của doanh nghiệp cần thẩm định giá sau thời điểm thẩm định giá.
Thông thường cơ sở giá trị của doanh nghiệp là giá trị doanh nghiệp hoạt động
liên tục. Trong trường hợp thẩm định viên nhận định rằng doanh nghiệp sẽ chấm
dứt hoạt động sau thời điểm thẩm định giá thì giá trị của doanh nghiệp sẽ là giá
trị doanh nghiệp hoạt động có thời hạn hoặc giá trị thanh lý. Theo tiêu chuẩn
thẩm định giá quốc tế IVS 2017, cơ sở giá trị doanh nghiệp được cụ thể hóa qua
các khái niệm giá trị sau :
Giá trị đầu tư : Giá trị đầu tư là giá trị của một tài sản đối với một hoặc
một nhóm nhà đầu tư nào đó theo những mục tiêu đầu tư đã xác định.
- Giá trị đầu tư là khái niệm mang tính chủ quan liên quan đến những tài
sản cụ thể đối với một nhà đầu tư riêng biệt, một nhóm các nhà đầu tư hoặc một
tổ chức với những mục tiêu hoặc tiêu chí đầu tư xác định.
- Giá trị đầu tư của một tài sản có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị thị
trường của tài sản đó. Tuy nhiên giá trị thị trường có thể phản ánh nhiều đánh
giá riêng biệt về giá trị đầu tư vào một tài sản cụ thể.
Giá trị hoạt động kinh doanh: Là giá trị doanh nghiệp kỳ vọng tiếp tục
kinh doanh trong tương lai.
Khi giả thiết về giá trị hoạt động kinh doanh liên tục trong thẩm định giá,
thì các thẩm định viên xem xét doanh nghiệp như một đơn vị sẽ tiếp tục hoạt
động mãi mãi. Giả thiết hoạt động kinh doanh liên tục là sự ngược lại với giả
thiết thanh lý. Việc đưa ra giả thiết hoạt động kinh doanh liên tục cho phép
22
Sinh viên: Tạ Thị Hường

22

Lớp: CQ54/16.01


Luận văn tốt nghiệp


Học viện Tài chính

doanh nghiệp được thẩm định giá cao hơn giá trị thanh lý và đưa ra giá trị thực
tế của doanh nghiệp.
Giá trị doanh nghiệp hoạt động liên tục : là giá trị doanh nghiệp đang
hoạt động với giả thiết doanh nghiệp sẽ tiếp tục hoạt động sau thời điểm thẩm
định giá.
Giá trị doanh nghiệp thanh lý: là giá trị doanh nghiệp với giả thiết các tài
sản của doanh nghiệp sẽ được bán riêng lẻ và doanh nghiệp sẽ sớm chấm dứt
hoạt động sau thời điểm thẩm định giá.Trong thanh lý, giá trị của phần lớn tài
sản vơ hình (ví dụ lợi thế thương mại) có chiều hướng bằng khơng, và giá trị của
tất cả tài sản hữu hình thể hiện mơi trường thanh lý. Các chi phí đi kèm với việc
thanh lý (phí bán, hoa hồng, thuế, các chi phí kết thúc hoạt động khác, chi phí
hành chính trong quá trình kết thúc hoạt động, và các khoản lỗ giá trị hàng tồn
kho) cũng được tính và khấu trừ vào giá trị doanh nghiệp ước tính.
Việc áp dụng các phương pháp thẩm định giá doanh nghiệp cần phù hợp
với cơ sở giá trị doanh nghiệp và nhận định của thẩm định viên về trạng thái
hoạt động của doanh nghiệp tại và sau thời điểm thẩm định giá.
2.4. Các nguyên tắc chủ yếu áp dụng trong công tác thẩm định giá doanh
nghiệp
2.4.1. Nguyên tắc sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất


Nội dung nguyên tắc:
Mỗi tài sản có thể sử dụng vào nhiều mục đích và đưa ra các lợi ích

khác nhau, nhưng giá trị của chúng được xác định hay thừa nhận chỉ trong
điều kiện đưa ra được mức sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất.
Trong thẩm định GTDN, việc sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất kết quả

thẩm định GTDN đạt mức hữu dụng tối đa trong những điều kiện kinh tế-xã hội
thực tế phù hợp. Hàng hóa “doanh nghiệp” được sử dụng tối ưu là nền tảng để
xác định giá trị thị trường của nó. Để ước tính được giá trị thị trường của doanh
nghiệp thì thẩm định viên phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý các nguồn lực của
23
Sinh viên: Tạ Thị Hường

23

Lớp: CQ54/16.01


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

doanh nghiệp phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và tình hình chính trị của
một quốc gia để tạo ra hiệu quả cao nhất và tốt nhất, chứ không dựa trên sự sử
dụng hiện tại.


Điều kiện áp dụng nguyên tắc:
Việc sử dụng không được pháp luật chấp nhận hay không thể thực hiện

được về mặt vật chất không được xem là sử dụng cao nhất và tốt nhất. Tuy
nhiên, ngay cả việc sử dụng có thể thực hiện về mặt vật chất và luật pháp cho
phép cũng cần phải có sự đánh giá thích đáng của thẩm định viên về tính hợp lý
của việc sử dụng hiện tại.
Trong một số trường hợp, khi có nhiều loại sử dụng cao nhất và tốt nhất
tiềm năng, thì thẩm định viên phải trình bày các cách sử dụng thay thế nhau và

ước tính các khoản chi phí và thu nhập tương lai từ đó xác định việc sử dụng cao
nhất và tốt nhất của tài sản .


Ý nghĩa của nguyên tắc:
Trong thẩm định giá nói chung cũng như trong thẩm định GTDN nói

riêng, nguyên tắc sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất là nguyên tắc cơ sở và quan
trọng nhất khi áp dụng vào quá trình định giá. Nguyên tắc này được áp dụng
trong hầu hết các phương pháp định giá giá trị doanh nghiệp như phương pháp
tài sản, phương pháp chiết khấu, phương pháp Goodwill vì nó phản ánh tính hữu
dụng và bền vững, khả năng phát triển của doanh nghiệp. Thông qua việc đánh
giá mức độ sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất, thẩm định viên sẽ có được cái
nhìn khái quát về doanh nghiệp cần thẩm định, để từ đó so sánh với chứng cứ thị
trường, lựa chọn phương pháp định giá phù hợp và đưa ra một kết quả thẩm định
chính xác nhất.
2.4.2. Nguyên tắc dự kiến các lợi ích trong tương lai


Nội dung nguyên tắc :
GTDN được quyết định bởi những lợi ích tương lai mà doanh nghiệp

có thể mang lại cho nhà đầu tư.
24
Sinh viên: Tạ Thị Hường

24

Lớp: CQ54/16.01



Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

Khi thẩm định GTDN, thẩm định viên cần quan tâm đến thu nhập dự kiến
trong tương lai kèm theo quan điểm tăng trưởng kỳ vọng, rủi ro liên quan và giá trị
thời gian của đồng tiền thông qua việc thu thập các chứng cứ thị trường gần nhất về
tình hình hoạt động của doanh nghiệp trên thị trường, giá cổ phiếu của doanh nghiệp
biến động như thế nào... Thu nhập được chuyển hóa thành giá trị bằng cách vốn hóa
trực tiếp thu nhập ròng hoặc phân tích dòng tiền chiết khấu, hay phương pháp cổ tức,
trong đó dòng tiền ước tính nhận được trong tương lai chuyển thành giá trị hiện tại
bằng cách áp dụng tỷ suất chiết khấu.


Điều kiện áp dụng nguyên tắc:
Khi áp dụng nguyên tắc này, thẩm định viên phải dự kiến được những lợi

ích và nhất thiết phải dựa vào các khoản lợi ích đó để ước tính giá trị tài sản. Đối
với thẩm định GTDN, thẩm định viên cần phải dự báo các lợi ích trong tương lai
mà doanh nghiệp có thể mang lại cho chủ đầu tư, trên cơ sở đó để ước tính giá
trị hiện tại của doanh nghiệp.
Đồng thời, thẩm định viên phải thu thập những chứng cứ của thị trường ở
thời điểm gần nhất (chứng cứ về giá cả, giá cổ phiếu, tỷ suất sinh lời…) của các
doanh nghiệp tương tự để tiến hành so sánh, phân tích, điều chỉnh và ước tính
giá trị của doanh nghiệp.


Ý nghĩa của nguyên tắc:
Nguyên tắc dự kiến các khoản lợi ích trong tương lai là một sự bổ sung


quan trọng và cũng là một sự kiểm tra tính đúng đắn của sự vận dụng nguyên tắc
sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất. Do đó, trong thẩm định giá nói chung và định
giá GTDN nói riêng, nguyên tắc này thường được kết hợp với nguyên tắc sử
dụng tốt nhất và hiệu quả nhất để có đánh giá chính xác nhất về doanh nghiệp
trong quá trình thẩm định giá.
2.4.3. Nguyên tắc cung cầu

25
Sinh viên: Tạ Thị Hường

25

Lớp: CQ54/16.01


×