Tải bản đầy đủ (.pdf) (79 trang)

vấn đề xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc miền núi phía bắc nước ta

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (660.47 KB, 79 trang )










LUẬN VĂN:

Vấn đề xây dựng ý thức bảo vệ môi
trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc
miền núi phía Bắc nước ta







mở đầu

1. Lý do chọn đề tài
Lý luận và thực tiễn đã khẳng định rằng: tự nhiên - xã hội - con người là một
chỉnh thể thống nhất. Con người là một bộ phận của tự nhiên, con người và xã hội loài
người chỉ có thể tồn tại và phát triển được trong mối quan hệ mật thiết và gắn bó hài hòa với
môi trường tự nhiên. Môi trường sống vừa là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển; vừa là nơi
diễn ra các hoạt động như: lao động, nghỉ ngơi, hưởng thụ, cảm nhận văn hóa và thẩm mỹ
mang tính đặc trưng của con người với tư cách là một thực thể sinh học - xã hội. Nói cách
khác, ý nghĩa đặc biệt quan trọng - không thể thay thế - của môi trường đối với con người và


xã hội loài người là ở chỗ, nó không chỉ là nguồn cung cấp các giá trị vật chất, mà còn tạo
nên những giá trị văn hóa, tinh thần. Tuy nhiên, không phải bao giờ và ở đâu con người cũng
nhận thức một cách tự giác và đầy đủ những ý nghĩa, vai trò của môi trường sinh thái đối với
cuộc sống. Do hàng loạt những lý do khác nhau, cả khách quan và chủ quan, con người - một
cách vô tình hay hữu ý, đã và đang hủy hoại ngày càng nhiều hơn môi trường sống của mình.
Tính nghiêm trọng của vấn đề này đã vượt ra ngoài phạm vi quốc gia, khu vực: trở thành
một trong những vấn đề mang tính toàn cầu. Trước những hồi chuông cảnh tỉnh về nguy
cơ khủng hoảng, mất cân bằng sinh thái đã dóng lên, nếu con người không sớm có những
biện pháp tích cực nhằm điều chỉnh có ý thức những hành vi, hoạt động của mình theo
hướng "thân thiện" môi trường chắc chắn sẽ phải trả giá đắt và mọi sự hối hận, tiếc
nuối - khi đó sẽ trở nên quá muộn màng.
Mặc dù mới đang bước vào chặng đường đầu của quá trình "tăng tốc", đẩy mạnh
nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội, song Việt Nam đã phải đối mặt với những thách thức
to lớn về mặt môi trường sinh thái. Tất nhiên, khía cạnh nổi trội, tính chất và mức độ của
các vấn đề môi trường biểu hiện khác nhau trên mỗi vùng lãnh thổ khác nhau, trong đó
đáng chú ý nhất là khu vực miền núi phía Bắc. Do những đặc điểm tự nhiên điển hình
(chiếm diện tích lớn, địa hình nghiêng dần về phía đông và bị chia cắt mạnh…), có thể
nói rằng môi trường miền núi phía Bắc nước ta có vị trí, ý nghĩa đặc biệt quan trọng,



không chỉ trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực này, mà còn
liên quan chặt chẽ tới sự phát triển của các vùng hạ lưu thuộc đồng bằng Bắc Bộ, trong
đó có Thủ đô Hà Nội. Thực tế cho thấy, sự phát sinh cũng như tính chất nghiêm trọng của
hàng loạt vấn đề liên quan đến môi trường sống ở khu vực miền núi phía Bắc đã tiệm cận
đến mức báo động đỏ. Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng đó
được xác định là do trình độ dân trí còn thấp, người dân ở các vùng này đang phải chịu
ảnh hưởng nặng nề của những phong tục, tập quán, lối sống cũ, lạc hậu không còn phù
hợp và những áp lực mạnh mẽ của nhịp sống hiện đại vừa mới thâm nhập vào đây. ý
thức, tư tưởng của người dân chưa theo kịp với những thay đổi cơ bản trong các điều kiện

kinh tế - xã hội, trong đó đặc biệt là ý thức bảo vệ môi trường (hay còn được gọi là ý thức
sinh thái). Điều này được biểu hiện cụ thể ở những hành vi ứng xử không còn phù hợp
của con người đối với môi trường sống xung quanh mình. Có thể khẳng định rằng, mọi
sự cố gắng để cải thiện, bảo vệ môi trường sống ở miền núi phía Bắc sẽ khó đạt được
hiệu quả như mong muốn, chừng nào còn chưa tạo ra được sự chuyển biến tích cực, cách
mạng trong nhận thức của người dân. Bởi vì, Ph. Ăngghen đã nhận xét: Tất cả cái gì thúc
đẩy con người hành động, đều tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ. Điều đó cho thấy,
việc nghiên cứu: Vấn đề xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các
dân tộc miền núi phía Bắc nước ta hiện nay để hướng đến một sự phát triển bền vững là
rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng cả về phương diện lý luận, lẫn phương tiện thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ giá trị vô cùng to lớn của môi trường đối với sự tồn tại, phát triển
của con người và xã hội loài người, bảo vệ môi trường trở thành vấn đề chung của toàn
cầu và là khẩu hiệu hành động của thời đại. Chính vì vậy, nhiều cuộc hội nghị, hội thảo
khoa học ở các cấp độ quốc tế, khu vực và quốc gia về bảo vệ môi trường đã được tiến
hành, nhiều tổ chức, các công ước quốc tế, nghị định thư và chương trình nghiên cứu môi
trường được xây dựng, triển khai hoạt động.
ở Việt Nam, vấn đề bảo vệ môi trường được Đảng, Nhà nước và các nhà khoa
học đặc biệt quan tâm, nhất là kể từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới và đẩy mạnh



công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cùng với sự ra đời của Luật bảo vệ môi trường (năm
1993), hàng loạt văn bản dưới luật liên quan đến vấn đề này được ban hành và tổ chức
thực hiện trên phạm vi cả nước. Đặc biệt, tại Hội nghị khoa học toàn quốc về môi trường
được tổ chức lần thứ nhất vào năm 1998 và nhiều hội nghị, hội thảo cấp quốc gia khác,
các nhà khoa học và lãnh đạo Sở Khoa học - Công nghệ - Môi trường các địa phương đã
phân tích khá chi tiết hiện trạng môi trường với những biểu hiện đa dạng của nó, đề xuất
những giải pháp nhằm ngăn chặn thảm họa môi trường có thể xảy ra. Chỉ thị về "Tăng
cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của Bộ

Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 6/1998 đã góp
phần tích cực vào việc đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường ở nước ta.
Ngoài ra, có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về môi trường được đăng tải
dưới các hình thức bài tạp chí, sách chuyên khảo Có thể kể đến một số công trình của
các tác giả sau: "Môi trường sinh thái, vấn đề và giải pháp" của Phạm Thị Ngọc Trầm,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997; "Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự
phát triển xã hội" của tập thể tác giả do Hồ Sĩ Quý chủ biên, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội,
2001; "Môi trường và ô nhiễm" của Lê Văn Khoa, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995; "Sinh
thái và môi trường" của Nguyễn Văn Tuyên, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1997
Các công trình trực tiếp bàn đến những vấn đề môi trường của khu vực miền núi
phía Bắc hầu như còn rất ít. Có thể nêu một số công trình của các tác giả sau: "Một số
vấn đề văn hóa sinh thái ở miền núi phía Bắc nước ta hiện nay" của Trần Thị Hồng Loan,
Tạp chí Triết học, số tháng 6/ 2002; các báo cáo khoa học của Hoàng Hữu Bình về "Các
tộc người miền núi phía Bắc Việt Nam với môi trường", của Lê Trọng Cúc về "Hiện
trạng và giải pháp phát triển vùng núi phía Bắc Việt Nam", của Vương Duy Quang về
"Quan hệ xã hội truyền thống của người H'Mông với vấn đề bảo vệ và phát triển vùng
núi cao phía Bắc Việt Nam" (Được đăng tải trong "Tuyển tập các báo cáo khoa học tại
Hội nghị môi trường toàn quốc 1998", Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1999).
Tuy nhiên, các vấn đề liên quan đến môi trường miền núi phía Bắc Việt Nam
được tiếp cận và giải quyết dưới góc độ kinh tế - xã hội hơn là từ một góc độ có tính khái



quát, toàn diện hơn, góc độ triết học - xã hội. Hơn nữa, một mảng rất quan trọng của vấn
đề trên là ý thức bảo vệ môi trường sinh thái của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc
hiện nay như thế nào, có đáp ứng được yêu cầu không còn chưa được nghiên cứu đầy
đủ, hệ thống. Có thể nói, mọi hậu quả về mặt môi trường sinh thái ngày nay, xét đến
cùng, là do sự kém hiểu biết của con người gây ra. Từ đó suy ra, mọi sự cố gắng và nỗ
lực của con người nhằm giải quyết vấn đề này chỉ đạt hiệu quả đích thực và thành công
khi tất cả họ - không trừ một ai - thực sự có ý thức tham gia bảo vệ môi trường sinh thái.

Vì vậy, góp phần vào việc giải quyết vấn đề môi trường sinh thái ở vùng núi phía Bắc từ
khía cạnh xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc khu vực
này là cần thiết. Đó cũng là lý do chủ yếu để chúng tôi chọn và triển khai đề tài này trong
luận văn thạc sĩ triết học của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích:
Từ bình diện triết học xã hội, luận văn làm rõ thực trạng ý thức của đồng bào các
dân tộc miền núi phía Bắc trong việc bảo vệ môi trường, đồng thời đưa ra một số giải
pháp cơ bản, có tính định hướng đối với việc xây dựng ý thức bảo vệ môi trường cho
đồng bào các dân tộc ở vùng lãnh thổ này.
- Nhiệm vụ: Với mục đích trên, luận văn phải giải quyết các nhiệm vụ sau:
+ Một là, dựa trên quan điểm mác-xít về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã
hội và ý thức xã hội, luận văn phân tích và làm rõ ý nghĩa, tính tất yếu của việc xây dựng
ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho nhân dân hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
+ Hai là, phân tích thực trạng ý thức của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc
nước ta trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, chỉ ra những nguyên nhân cơ bản dẫn đến
thực trạng đó.
+ Ba là, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng ý thức bảo vệ môi
trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu



- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài vấn đề xây dựng thức
bảo vệ môi trường trong đời sống xã hội và phát triển kinh tế hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn là xây dựng ý thức bảo
vệ môi trường của đồng bào các dân tộc vùng núi phía Bắc.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn được triển khai dựa trên cơ sở những quan điểm của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện của Đảng về vấn đề môi

trường sống; đồng thời có sự kế thừa kết quả nghiên cứu điều tra của các nhà khoa học đi
trước có liên quan đến đề tài luận văn.
- Phương pháp nghiên cứu: Để giải quyết các nhiệm vụ của luận văn, qua đó đạt
được mục đích đã đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, lôgic
và lịch sử, đối chiếu, so sánh trên cơ sở phép biện chứng duy vật.
6. Đóng góp mới của luận văn
- Thông qua việc phân tích những vấn đề môi trường đặt ra, luận văn góp phần
làm rõ thêm sự yếu kém trong ý thức của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc đối với
yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái và một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó.
- Luận văn góp phần xác định và luận chứng một số giải pháp cơ bản nhằm xây
dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái của đồng bào dân tộc các tỉnh miền núi phía Bắc
nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương 6 tiết.



Chương 1
Một số vấn đề lý luận về môi trường
và ý thức bảo vệ môi trường

1.1. Môi trường và vai trò của nó đối với cuộc sống của con người
1.1.1. Khái niệm về môi trường
Nhân loại hiện đã và đang phải đối mặt với hàng loạt vấn đề cấp bách
mang tính toàn cầu. Một trong số đó là vấn đề môi trường sống. Những tình trạng
đáng báo động như nạn cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường sống,
suy giảm tính đa dạng sinh học và mất cân bằng sinh thái đang đe dọa trực tiếp sự
tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người. Vì vậy, nhiều tổ chức quốc
tế, nhiều nguyên thủ quốc gia và các nhà khoa học trên khắp thế giới đã lên tiếng

cảnh báo về mức độ nghiêm trọng, sự tiếp tục gia tăng theo chiều hướng xấu của
những vấn đề môi trường.
Vậy, khái niệm môi trường là gì? Trước hết, cần phải khẳng định rằng,
đây là một khái niệm rộng và tương đối phức tạp. Chính vì vậy, tùy thuộc vào
cách nhìn nhận mối quan hệ của thực thể (sinh thể) với các điều kiện xung quanh
và phạm vi xem xét, nghiên cứu, khái niệm môi trường được hiểu theo nhiều
nghĩa khác nhau:
Thứ nhất, môi trường được hiểu là toàn bộ thế giới vật chất, với tất cả sự
đa dạng, muôn màu muôn vẻ của nó và luôn tồn tại khách quan. Môi trường hiểu
theo nghĩa như vậy thường được gọi là môi trường toàn cầu, môi trường trái đất
và những điều kiện bao quanh trái đất. Nó bao gồm khí quyển, thủy quyển và
thạch quyển (địa quyển).
Thứ hai, môi trường được hiểu là môi trường sống, là phần của thế giới
vật chất đã và đang tồn tại sự sống, hay còn được gọi là sinh quyển. Môi trường



sống bao gồm trong đó những điều kiện vô cơ và hữu cơ liên quan trực tiếp hoặc
gián tiếp đến sự tồn tại, phát triển của các sinh thể.
Thứ ba, môi trường sống còn được hiểu là môi trường sống của con
người và xã hội loài người. Nó bao gồm sinh quyển và những điều kiện xã hội.
Nói cách khác, đó là môi trường tự nhiên - xã hội, hay môi trường tự nhiên -
người hóa, môi trường sinh thái nhân văn.
Trên thực tế, cho đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, cả trên
thế giới và ngay tại Việt Nam, bàn đến các khía cạnh của vấn đề này và đề xuất
những cách định nghĩa khác nhau về khái niệm môi trường. Năm 1981, Tổ chức
giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra một định nghĩa về khái niệm
này như sau: Môi trường bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và nhân tạo,
trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác những tài
nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo để thỏa mãn những nhu cầu của mình. ở nước

ta, một số tác giả, từ những góc độ tiếp cận khác nhau, cũng đã đưa ra quan niệm
của mình về vấn đề này. Chẳng hạn, khi bàn đến khái niệm môi trường, có ý kiến
cho rằng, đứng về mặt địa sinh học thì "môi trường là tất cả các yếu tố chung
quanh, bao gồm các nhân tố vô sinh và hữu sinh ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián
tiếp đến cuộc sống, sự phát triển và sự sinh sản của các sinh vật". Song, tác giả
của quan điểm trên cũng nhấn mạnh rằng, đối với "môi trường của con người" thì
cần phải được hiểu theo nghĩa rộng hơn. Nó bao gồm toàn bộ hệ thống tự nhiên
và những gì do con người sáng tạo ra như các hệ sinh thái nhân tạo, những nhóm
và những hội môi trường văn hóa trong đó con người sống và khai thác bằng
lao động của mình, những nguồn lợi tự nhiên và nhân tạo cho phép thỏa mãn
những nhu cầu của con người [xem: 23, tr. 7].
Cũng có ý kiến cho rằng, môi trường là tất cả các yếu tố xung quanh gồm
vô sinh, hữu sinh, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống con người,
đến sự tồn tại phát triển của các sinh vật sống. Môi trường bao gồm hai mặt: Môi
trường tự nhiên và môi trường xã hội [xem: 46, tr. 142].



Tác giả khác, khi xác định nội dung của khái niệm môi trường, lại nhấn
mạnh đến mối quan hệ giữa môi trường và cơ thể sinh vật sống trong môi trường
đó. Theo ý kiến này, hiểu theo nghĩa rộng thì môi trường bao gồm tất cả những gì
ở xung quanh một đối tượng và có mối quan hệ nhất định với nó. Nếu đối tượng
đó là một cơ thể sinh vật thì môi trường là tất cả những gì trực tiếp hay gián tiếp
ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển và sự tồn tại của cơ thể đó. Ngược lại,
cơ thể đó cũng luôn tác động trở lại đến môi trường. Vì vậy, cơ thể sống và môi
trường có mối quan hệ qua lại với nhau, tạo thành một thể thống nhất [xem: 13,
tr. 240-245]. Một quan niệm khác cho rằng: "Môi trường là một tập hợp các điều
kiện vật lý và sinh học bên ngoài mà sinh vật tồn tại trong đó. Môi trường của
con người bao gồm cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội, công nghệ, kinh tế chính
trị, đạo đức, văn hóa, lịch sử và mỹ học" [42, tr. 16].

Dựa vào những cách hiểu trên và từ góc độ triết học xã hội, theo chúng
tôi, có thể định nghĩa khái niệm môi trường như sau: Môi trường là một khái
niệm dùng để chỉ toàn bộ những điều kiện bao quanh một thực thể (sinh thể) hay
một nhóm thực thể nào đó, giữa những điều kiện bao quanh và thực thể luôn tồn
tại những mối quan hệ, ảnh hưởng và tác động lẫn nhau. Đối với con người và
xã hội loài người, các điều kiện bao quanh đó không chỉ là những điều kiện tự
nhiên mà còn bao gồm cả các điều kiện xã hội. Như vậy, nói đến bảo vệ môi
trường là nói đến môi trường sinh thái nhân văn - môi trường sống của con người
và xã hội loài người. Con người ở đây phải được hiểu trên cả hai mặt: là một thực
thể tự nhiên có những nhu cầu sống như mọi sinh vật khác, đồng thời là một thực
thể xã hội, mà xã hội chính là một bộ phận không thể tách rời của giới tự nhiên.
Tóm lại, có thể thấy rằng, khái niệm môi trường sống của con người và
xã hội loài người rất rộng, trong đó bao hàm cả các điều kiện tự nhiên lẫn những
điều kiện xã hội. Thực tế, con người - theo đúng nghĩa của từ này - không chỉ sống
bằng những nhu cầu mang tính bản năng tự nhiên, hơn thế, còn tồn tại, phát triển
trong hàng loạt mối quan hệ xã hội đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, với phạm
vi của một luận văn, vấn đề môi trường mà chúng tôi đề cập đến ở đây trước hết



và chủ yếu giới hạn ở khía cạnh các điều kiện tự nhiên. Nói cách khác, với tư
cách là một khái niệm công cụ, khái niệm môi trường được sử dụng trong luận
văn chủ yếu theo nghĩa là môi trường tự nhiên.
1.1.2. Vai trò của môi trường đối với đời sống của con người và xã hội
loài người
Như chúng ta đã biết, tự nhiên, con người và xã hội là các yếu tố thống
nhất trong một chỉnh thể không tách rời. Trong hệ thống đó, khó có thể xác định
rằng yếu tố nào là quan trọng nhất. Trên thực tế, mỗi yếu tố đều có vị trí và vai
trò nhất định. Trong mối quan hệ chặt chẽ và sự tác động qua lại giữa xã hội và
tự nhiên, yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng rất to lớn đối với sự tồn tại, phát triển của

con người cũng như của xã hội loài người. Trái lại, sự tác động của các yếu tố
con người và xã hội ngày càng đóng vai trò quan trọng, mang tính quyết định đối
với sự biến đổi, chiều hướng biến đổi (tích cực hay tiêu cực, phù hợp hay không
phù hợp với quy luật khách quan) của tự nhiên. Và do vậy, sự tác động của con
người và xã hội đến tự nhiên còn quyết định luôn cả sự tồn tại, phát triển của
chính bản thân mình.
Có thể hiểu một cách khái quát rằng, "tự nhiên là môi trường sống của
con người và xã hội loài người, là điều kiện đầu tiên, thường xuyên và tất yếu
của quá trình sản xuất ra của cải vật chất, là một trong những yếu tố cơ bản nhất
của tồn tại xã hội" [39, tr. 68].
Đối với con người và xã hội loài người, môi trường tự nhiên có một giá
trị vô cùng to lớn, không thể thay thế: Nó vừa là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát
triển, vừa là nơi con người lao động và hưởng thụ những giá trị văn hóa vật chất
và tinh thần do sự lao động đó tạo nên. Theo sự phân tích, đánh giá của
UNESCO, môi trường tự nhiên - đối với con người - có ba chức năng cơ bản:
Thứ nhất, môi trường tự nhiên là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên cần
thiết đối với sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người.



Thứ hai, nó là nơi thu nhận các hoạt động của con người nhằm phục vụ
cho các nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần cho con người.
Thứ ba, môi trường tự nhiên còn là nơi đồng hóa các chất thải do kết quả
của các hoạt động đó [xem: 23, tr. 7].
Thực tế cho thấy, con người muốn tồn tại và phát triển không thể không
cần đến những điều kiện cần thiết đối với sự sống như nước, ánh sáng, không
khí, thức ăn Xã hội loài người cũng không thể phát triển nếu không có những
nguồn tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản và các nguồn nguyên vật liệu quan
trọng khác. Chỉ có tự nhiên mới có khả năng cung cấp cho con người tất cả
những điều kiện vật chất cần thiết đó. Quan hệ giữa con người với môi trường tự

nhiên, do vậy, là "quan hệ máu thịt". Môi trường là cơ sở tự nhiên của đời sống
con người, là tiền đề của nền sản xuất xã hội; mặc dù không giữ vai trò quyết
định song nó có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển xã hội. Trong "Bản thảo
kinh tế - triết học năm 1844", khi đánh giá vị trí, vai trò của tự nhiên đối với sự
phát triển của con người và xã hội, C. Mác đã khẳng định:
Công nhân không thể sáng tạo ra cái gì nếu không có giới tự
nhiên, nếu không có thế giới hữu hình bên ngoài. Đó là vật liệu, trong
đó lao động của anh ta được thực hiện, trong đó hoạt động lao động
của anh ta triển khai, từ đó và nhờ đó, lao động của anh ta sản xuất ra
sản phẩm. Giới tự nhiên cung cấp cho lao động tư liệu sinh hoạt theo
nghĩa là không có vật để cho lao động tác động vào thì lao động
không thể sống được; mặt khác, chính giới tự nhiên cũng cung cấp tư
liệu sinh hoạt theo nghĩa hẹp hơn, nghĩa là cung cấp tư liệu để tồn tại
về thể xác cho bản thân người công nhân [20, tr. 130].
Sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại trong thời
đại ngày nay đã mang lại cho con người những khả năng và sức mạnh to lớn, cho
phép con người có thể tạo ra những vật liệu mới, mà nguyên liệu để sản xuất vốn
không có sẵn trong tự nhiên. Tuy nhiên, xét đến cùng, những thành phần để tạo



nên những vật liệu mới đó cũng không thể lấy từ đâu khác ngoài giới tự nhiên.
Điều đó chứng minh rằng, tự nhiên luôn đóng vai trò là tiền đề, điều kiện tiên
quyết cho sự tồn tại và phát triển của con người. Dẫu rằng khi xã hội loài người
còn ở trong giai đoạn tiền sử, mông muội hay đã phát triển đến trình độ văn
minh, hiện đại như ngày nay (và sẽ tiếp tục phát triển hơn nữa) thì vai trò đó của
tự nhiên vẫn không thể thay thế, không bị mất đi.
Như vậy, tự nhiên là môi trường sống không thể thay thế của con người
và xã hội loài người - đó là điều chắc chắn và không có gì phải bàn cãi. Song, cần
phải thấy là vai trò đó của tự nhiên có tính lịch sử cụ thể. Nghĩa là vai trò của tự

nhiên không phải là bất biến trong mỗi giai đoạn, mỗi thời đại khác nhau của tiến
trình lịch sử; trái lại, nó có thay đổi cùng với sự vận động, phát triển của xã hội
loài người, trước hết là sự phát triển của lực lượng sản xuất. Trong giai đoạn mà
lực lượng sản xuất của xã hội còn lạc hậu, thấp kém , giàu có và phong phú và
đa dạng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất đai, khoáng sản có ảnh
hưởng rất lớn, thậm chí đóng vai trò hàng đầu đối với sự phát triển của xã hội.
Song, kể từ khi xã hội loài người bước vào nền văn minh công nghiệp và hậu
công nghiệp, trong đó khoa học, kỹ thuật và công nghệ phát triển và dần dần trở
thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì sự phát triển của xã hội bắt đầu diễn ra theo
một hướng mới, tiến bộ hơn. Nhờ có sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ
thuật và công nghệ, con người đã làm nên những điều kỳ diệu, biến cái tưởng
chừng như không thể trở thành cái có thể. Sự phát triển của xã hội, do vậy, dường
như ít phụ thuộc hơn vào sự giàu có hay nghèo nàn các nguồn tài nguyên. Thực tế
cho thấy, nhiều nước công nghiệp như Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước Tây
Âu, mặc dù rất nghèo tài nguyên và không có được những điều kiện tự nhiên thuận
lợi khác, song, dựa vào nền khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, họ đã đạt
được tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao và trở thành nhóm nước đứng đầu thế
giới về nhiều tiêu chí kinh tế - xã hội như mức độ giàu có, thu nhập bình quân
đầu người. Trái lại, có nhiều nước khác, tuy được thiên nhiên ưu đãi về nhiều



mặt như khoáng sản, khí hậu, vị trí địa lý nhưng lại vẫn chưa thoát khỏi tình
trạng nghèo nàn, lạc hậu.
Nhưng, như vậy cũng không có nghĩa là vai trò của tự nhiên đối với cuộc
sống con người và sự phát triển của xã hội loài người đang bị thu hẹp dần. Thực
ra, dù rằng xã hội có phát triển tới trình độ hiện đại đến đâu chăng nữa, con
người cũng không thể tách khỏi tự nhiên, biệt lập với tự nhiên; không thể gạt tự
nhiên đứng bên lề cuộc sống của mình. Trái lại, xã hội càng phát triển, con người
càng cần đến tự nhiên, càng gắn bó với nó nhiều hơn. "Bởi lẽ, những thành phần

vốn có của tự nhiên không những là những yếu tố cần thiết đối với sự sống của
con người, mà còn là những nguồn tài lực vô cùng tận cho sự phát triển của xã
hội, nếu như con người biết khai thác và sử dụng nó một cách khôn khéo, hợp lý"
[39, tr. 72].
Tự nhiên vừa là nguồn cung cấp tài nguyên, vừa là nơi thu nhận các hoạt
động của con người nhằm cải biến những tài nguyên đó thành các giá trị vật chất
và tinh thần phục vụ sự tồn tại, phát triển của con người, xã hội. Như chúng ta đã
biết, với các loài động vật khác chỉ biết lấy từ tự nhiên những sản phẩm có sẵn
như một hành vi kiếm sống mang tính bản năng, tự nhiên. Trái lại, con người là
một một sản phẩm hoàn thiện nhất của tự nhiên, là loại động vật cao cấp, có ý
thức. Con người, như quan niệm của triết học mác-xít, vừa là một thực thể tự
nhiên, vừa là một thực thể xã hội. Con người không chỉ biết sử dụng những sản
phẩm sẵn có của tự nhiên như giai đoạn sơ khai trong lịch sử hình thành và phát
triển, mà còn tác động vào tự nhiên, cải tạo tự nhiên vì những lợi ích của mình.
Do vậy, tự nhiên còn là môi trường diễn ra các hoạt động sống của con người,
trước hết là hoạt động lao động sản xuất, và nhờ vậy, con người duy trì được sự
tồn tại, phát triển của chính bản thân mình.
Tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất, các yếu tố tự nhiên, con người và xã
hội luôn liên hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau. Hoạt động của con người là một



quá trình "trao đổi chất" thường xuyên giữa con người với tự nhiên. Trong tác
phẩm "Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844", C. Mác viết:
Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người. Con người
sống bằng giới tự nhiên. Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của
con người, thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình
thường xuyên giao tiếp để tồn tại. Nói rằng đời sống thể xác và tinh
thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua
chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vì con

người là một bộ phận của giới tự nhiên [20, tr. 135].
Thực tế cho thấy, kể từ bắt đầu lịch sử của mình và cho đến chừng nào
còn tồn tại, xã hội loài người phải:
Gắn bó với tự nhiên nhờ có các dòng vật chất, năng lượng và
thông tin, nhờ có sự kết hợp giữa lao động với thiên nhiên. Thông qua
quá trình hoạt động thực tiễn, trước hết là quá trình lao động sản xuất
ra của cải vật chất, con người đã nhận được các dòng vật chất, năng
lượng và thông tin từ môi trường tự nhiên, biến đổi chúng cho phù
hợp với nhu cầu sống của mình, với sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Nền sản xuất xã hội là phương thức trao đổi chất đặc thù giữa xã hội
và tự nhiên, thông qua chu trình sinh học [39, tr. 72].
Thông qua quá trình sản xuất, con người đã tác động vào tự nhiên, khai
thác và lấy đi từ tự nhiên những nguồn tài nguyên cần thiết, cải biến chúng phục
vụ nhu cầu sống của bản thân mình cũng như sự phát triển
của xã hội. Do vậy, sản xuất là một biểu hiện đặc trưng của mối liên hệ chặt chẽ
giữa tự nhiên và xã hội. Trong sự tác động đó, lao động của con người, một mặt,
là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt con người với con vật, xã hội loài người
với thế giới động vật; mặt khác, là yếu tố cơ bản nhất tạo nên sự thống nhất, gắn
kết hữu cơ giữa xã hội và tự nhiên. Nhận xét về ý nghĩa của lao động - hành vi
đầu tiên và quan trọng nhất của con người, C. Mác nhấn mạnh rằng: "Lao động



trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong
đó, bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm
tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên" [18, tr. 266].
Không chỉ là nguồn cung cấp năng lượng vật chất cho sự tồn tại, phát
triển của con người và xã hội, môi trường tự nhiên còn là không gian diễn ra các
hoạt động sống quan trọng khác của con người như nghỉ ngơi, cảm nhận và
hưởng thụ những giá trị văn hóa thẩm mỹ, những nét đẹp cũng như sự tinh tế của

tạo hóa. Sống trong một môi trường tự nhiên hài hòa và đa dạng, con người sẽ có
một đời sống tinh thần phong phú, trong sáng. Nó làm cho con người thấy cuộc
sống có ý nghĩa và đáng yêu hơn.
Trong quá trình trao đổi chất giữa con người và tự nhiên, con người
không chỉ nhận từ tự nhiên những nguồn năng lượng cần thiết cho sự tồn tại, phát
triển của mình và xã hội mà còn thải vào tự nhiên các chất thải của hoạt động sản
xuất, sinh hoạt. Nói cách khác, môi trường tự nhiên không chỉ là nguồn cung cấp
các điều kiện sống mà còn đóng vai trò là nơi đồng hóa các phế thải do con người
thải ra. Người ta không thể hình dung được rằng, giả sử lượng chất thải khổng lồ
do các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người, từ trước tới nay, không được
xử lý mà cứ tích tụ lại thì cuộc sống của con người sẽ ra sao. May mắn thay, điều
đó đã không xảy ra, ít nhất là cho đến nay. Bản thân tự nhiên có cơ chế tự điều
chỉnh và làm sạch của nó. Chính là nhờ chức năng quan trọng này của môi
trường tự nhiên mà con người và xã hội loài người đã không phải sống ngập
chìm bên cạnh hàng loạt chất thải bỏ.
Cũng cần phải thấy rằng, tác động của con người, xã hội đối với tự nhiên
càng mạnh thì sự phụ thuộc của nó vào tự nhiên càng lớn. Đây là vấn đề có tính
quy luật của sự tác động qua lại giữa tự nhiên và xã hội. Thực tế cho thấy, từ chỗ
nhận thức chưa đúng về vai trò của tự nhiên, coi tự nhiên là kho của cải vô tận có
thể mặc sức sử dụng, con người đã tác động mạnh mẽ vào tự nhiên thông qua
hoạt động sản xuất và để lại những hậu quả to lớn nhiều khi không thể lường



trước mức độ cũng như tính chất nghiêm trọng của nó. Trong quá trình sản xuất,
tiêu dùng , hoạt động của con người không được kiểm soát chặt chẽ, điều chỉnh
phù hợp với quy luật khách quan. Do vậy, sự gia tăng các hoạt động của con
người đã tạo nên một sức ép vô cùng lớn đối với tự nhiên, vượt khỏi khả năng
chịu đựng của nó. Điều này thể hiện ở chỗ, với trình độ phát triển như hiện nay,
nền sản xuất xã hội có thể sử dụng hầu hết toàn bộ các nguồn vật chất vốn có của

sinh quyển, biến chúng thành nguyên liệu sản xuất và các dạng sản phẩm tiêu
dùng trong xã hội. Không một dạng vật chất nào mà nhận thức của con người
biết tới lại không được khai thác, huy động. Mặt khác, xét từ góc độ sinh thái
học, hiệu quả mà nền sản xuất xã hội - dù đạt được trình độ phát triển cao như
hiện nay, mang lại vẫn rất thấp. Trên thực tế, nền sản xuất xã hội đã sử dụng một
cách hết sức lãng phí những nguồn tài nguyên thiên nhiên, kể cả những nguồn tài
nguyên có thể và không thể tái tạo được. Đồng thời, nền sản xuất xã hội lại đổ vào
tự nhiên một lượng phế thải quá lớn, hơn nữa, còn độc hại và nguy hiểm. Sự phát
triển của hoạt động sản xuất, và do đó, của hoạt động tiêu dùng trong xã hội, một
mặt, đã khiến cho nhiều loại tài nguyên quý giá - vốn được tạo hóa tích lũy từ hàng
triệu năm, đứng trước nguy cơ cạn kiệt, khan hiếm; mặt khác, gây ra tình trạng ô
nhiễm, mất cân bằng sinh thái.
Như vậy, có thể nói rằng, sự mở rộng, đẩy mạnh các hoạt động sản xuất
của con người cả về quy mô, cường độ dựa trên sự phát triển ngày càng cao của
lực lượng sản xuất xã hội đã mang lại cho xã hội những lợi ích vật chất to lớn,
như lượng tài nguyên khai thác được ngày càng nhiều, nền kinh tế tăng trưởng
ngày càng nhanh và với tốc độ cao. Đó là những kỳ tích không thể phủ nhận
trong tiến trình chinh phục, cải biến tự nhiên vì lợi ích vật chất của con người.
Nhưng, cũng không phải là quá cực đoan khi cho rằng, bắt đầu từ chỗ tạo ra
những cái được gọi là kỳ tích ấy, con người và xã hội loài người đồng thời phải
đối mặt với sự tiềm tàng của những hiểm họa, nguy cơ và thách thức nghiệt ngã,
nếu không nói là bi kịch, của sự phát triển theo kiểu "tước đoạt", "bóc lột" tự
nhiên.



Tóm lại, môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với cuộc sống của
con người, với sự phát triển bền vững của các cộng đồng, các quốc gia. Đáng tiếc
là, không phải bao giờ và ở đâu con người cũng ý thức một cách đúng đắn và đầy
đủ vai trò không thể thay thế của tự nhiên. Quan niệm mới về sự phát triển, trong

đó nguyên tắc chủ đạo là sự đồng tiến hóa giữa con người và tự nhiên, đòi hỏi
trong quá trình mưu cầu hạnh phúc của mình, con người không chỉ khai thác tự
nhiên mà nhiệm vụ không kém phần quan trọng, thậm chí có ý nghĩa quyết định
sự sống còn, là cần phải biết giữ gìn, bảo vệ môi trường tự nhiên; tạo lập môi
trường nhân tạo phù hợp với quy luật khách quan của sự phát triển xã hội và tự
nhiên, phù hợp với nhu cầu của cuộc sống con người; xây dựng mối quan hệ hài
hòa giữa tự nhiên và xã hội vì lợi ích chung, lâu dài của xã hội loài người. Để
biến quan niệm mới về sự phát triển trở thành hiện thực, trước hết con người cần
phải có ý thức bảo vệ môi trường sinh thái.
1.2. ý thức bảo vệ môi trường và ý nghĩa của việc xây dựng ý thức
bảo vệ môi trường
1.2.1. ý thức xã hội và ý thức bảo vệ môi trường
Để có sự nhận thức đúng đắn về ý thức bảo vệ môi trường, trước hết, cần
phải trở lại với những quan niệm của triết học mác-xít về các khái niệm cơ bản
như ý thức, ý thức xã hội.
theo quan niệm của triết học mác-xít, ý thức là sản phẩm đặc biệt của sự
tác động qua lại giữa hai hệ thống vật chất: con người và thế giới hiện thực khách
quan. ý thức chỉ có thể là ý thức của con người, được hình thành và phát triển
thông qua lao động và ngôn ngữ. Nói cách khác, nguồn gốc trực tiếp quyết định
sự ra đời và phát triển của ý thức chính là thực tiễn xã hội. C. Mác và Ph.
Ăngghen đã khẳng định rằng, "ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là
tồn tại được ý thức và tồn tại của con người là quá trình sinh sống hiện thực của
con người" [19, tr. 37]. ý thức chính là sự phản ánh tự giác hiện thực khách quan,
hay nói như Lênin, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.



Vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng vào nghiên
cứu lĩnh vực đời sống xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã chỉ ra
rằng, ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, ý thức xã hội bao gồm

những quan điểm, tư tưởng, tình cảm, truyền thống nảy sinh từ tồn tại xã hội và
phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định. Giữa tồn tại
xã hội và ý thức xã hội có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau.
Trong đó, tồn tại xã hội đóng vai trò là cái thứ nhất, quyết định ý thức xã hội.
Nghĩa là, khi tồn tại xã hội thay đổi, sớm hay muộn, ý thức xã hội cũng thay đổi
theo. Về vấn đề này, trong Lời tựa cuốn "Góp phần phê phán khoa kinh tế chính
trị", C. Mác viết: "Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình
sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung. Không phải ý thức của con
người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của
họ" [16, tr. 15]. ý nghĩa đặc biệt quan trọng rút ra từ luận điểm khoa học trên đây
của
C. Mác là ở chỗ, người ta chỉ có thể truy tìm và giải thích đúng đắn được nguồn
gốc hay nguyên nhân của ý thức xã hội từ trong chính những điều kiện sinh hoạt
vật chất đã sản sinh ra nó.
Khi khẳng định vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã
hội, triết học Mác cũng nhấn mạnh rằng, ý thức xã hội không phụ thuộc vào tồn
tại xã hội một cách thụ động mà có tính độc lập tương đối của nó. Điều này được
biểu hiện qua các khía cạnh sau:
Một là, ý thức xã hội có thể "vượt trước" sự phát triển của tồn tại xã hội.
Sự phản ánh vượt trước này sẽ mang ý nghĩa tích cực, sáng tạo nếu phản ánh
được cái lôgíc khách quan của tồn tại xã hội; ngược lại, sẽ là ảo tưởng, duy ý chí
khi sự phản ánh đó chỉ là cảm nhận chủ quan, không dựa trên cơ sở lôgíc của
hiện thực.
Hai là, ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội. Sự lạc hậu
của ý thức xã hội hoặc là do ý thức xã hội không phản ánh kịp sự phát triển của



tồn tại xã hội, hoặc là do sức ỳ của tâm lý xã hội (thói quen, phong tục, tập quán,
lối sống ).

Ba là, ý thức xã hội có tính kế thừa.
Bốn là, giữa các hình thái ý thức có sự tương tác và ảnh hưởng lẫn
nhau.
Năm là, ý thức xã hội có sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội thông
qua ý thức cá nhân của con người.
Dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa con người với xã hội và giữa con người
với tự nhiên, triết học mác-xít đã phân loại ý thức xã hội thành các hình thái khác
nhau. Cụ thể, đó là các hình thái: chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, ý thức
thẩm mỹ, ý thức tôn giáo và khoa học. Một vấn đề đặt ra ở đây là, ý thức bảo vệ
môi trường (hay ý thức sinh thái) là gì, nó có phải là một hình thái của ý thức xã
hội không và biểu hiện của nó như thế nào trong thực tiễn đời sống xã hội?
Hiện nay, trong các công trình nghiên cứu khoa học, các văn bản liên
quan đến môi trường, chúng ta thường gặp các thuật ngữ như ý thức sinh thái, ý
thức bảo vệ môi trường Theo chúng tôi, các thuật ngữ, khái niệm này là ngang
bằng, tương đương nhau về mặt nội dung. Có thể hiểu ý thức bảo vệ môi trường
(hay ý thức sinh thái) là sự nhận thức một cách tự giác của con người về tự nhiên
và thái độ, trách nhiệm của con người đối với môi trường sinh thái được hình
thành trên cơ sở những tri thức, sự hiểu biết của con người về tự nhiên và vị trí,
vai trò của con người trong mối quan hệ với tự nhiên
Cần phải thừa nhận rằng rằng, cho đến nay, việc xác định ý thức bảo vệ
môi trường (hay ý thức sinh thái) có phải là một hình thái ý thức xã hội hay
không vẫn đang là một vấn đề rất phức tạp. Trong hệ thống các hình thái của ý
thức xã hội mà triết học Mác - Lênin đưa ra không có ý thức sinh thái. Song, có
lẽ cũng không nên vì thế mà cho rằng nó không phải là một dạng thức, một hình
thái của ý thức xã hội. Bởi vì, một mặt, những vấn đề môi trường chỉ mới nảy



sinh trong khoảng giữa thế kỷ XX; mặt khác, triết học Mác - Lênin, như các nhà
kinh điển khẳng định, luôn luôn là một hệ thống mở, đòi hỏi phải được thường

xuyên bổ sung và phát triển.
Trở lại vấn đề trên, chúng tôi tán thành với quan điểm của một số tác giả
khi cho rằng, xét về mặt nội dung, ý thức sinh thái chính là sự phản ánh của tồn
tại sinh thái, tức là sự phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên ở một
giai đoạn lịch sử nhất định, song, do mối quan hệ giữa con người với tự nhiên là
một lĩnh vực rộng, bao trùm lên nhiều phương diện, khía cạnh khác của đời sống
xã hội, nên ý thức sinh thái không phải là một hình thái ý thức xã hội ngang bằng
với các hình thái ý thức xã hội khác như chính trị, đạo đức, khoa học , mà là
một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội, bao quát các hình thái ý thức xã hội
khác [43, tr. 20]. ý thức sinh thái là một bộ phận của ý thức xã hội, vì về bản
chất, chúng đều có chung đối tượng phản ánh là tồn tại xã hội và về hình thức
phản ánh, ý thức sinh thái cũng bao gồm cả tư tưởng, tri thức, tình cảm của con
người khi phản ánh hiện thực sinh thái.
Trong đời sống xã hội, ý thức bảo vệ môi trường biểu hiện trên những
khía cạnh cơ bản sau:
Một là, khía cạnh chính trị. Như chúng ta đã biết, môi trường sống là
ngôi nhà chung của con người, xã hội loài người. Những vấn đề môi trường hiện
nay - dù là lớn hay nhỏ, dù xảy ra ở nơi này hay nơi khác, đã và đang tác động
một cách trực tiếp hay gián tiếp đến mỗi người, mỗi cộng đồng và quốc gia, dân
tộc. Vì thế, nó là một vấn đề mang tính chất toàn cầu và bảo vệ môi trường trở
thành mối quan tâm chung của tất cả mọi người, của các tổ chức xã hội và các
quốc gia trên thế giới. Thực tế cho thấy, nếu những vấn đề môi trường sinh thái
tiếp tục gia tăng cả về phạm vi, quy mô và tính chất nghiêm trọng mà không
được ngăn chặn, khắc phục kịp thời sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc
sống con người, đến sự tồn tại và phát triển của cả cộng đồng, quốc gia. Do đó,



nhiệm vụ bảo vệ môi trường sinh thái trở thành mục tiêu và định hướng cho hoạt
động chính trị của toàn nhân loại, không loại trừ một quốc gia nào.

Khía cạnh chính trị của ý thức bảo vệ môi trường sinh thái không chỉ tác
động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế, xã hội mà nó liên quan trực tiếp đến sự hình
thành, phát triển của chính bản thân ý thức bảo vệ môi trường. Quan niệm mới về
sự phát triển bền vững, trong đó nguyên tắc cơ bản là sự đồng tiến hóa giữa con
người và tự nhiên, đòi hỏi con người phải chú ý, quan tâm nhiều hơn đến khía
cạnh chính trị của ý thức sinh thái. Bởi lẽ, đó là một trong những cơ sở quan
trọng tham gia vào sự điều chỉnh hoạt động của con người theo hướng tích cực,
tự giác vì mục tiêu bảo vệ, gìn giữ và "chung sống thân thiện" với môi trường
sinh thái.
Hai là, khía cạnh pháp luật trong ý thức bảo vệ môi trường sinh thái.
Trong bối cảnh môi trường sống của con người đã và đang đứng trước nguy cơ bị
khủng hoảng, mất cân bằng sinh thái , cần thiết phải có những quy định thống
nhất, chặt chẽ nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong quá trình tác động
vào môi trường tự nhiên. Trên bình diện quốc tế, những quy định chung đó là các
công ước giữa các nước về môi trường (ví dụ như Công ước chung về thay đổi khí
hậu của Liên hợp quốc, Công ước về đa dạng sinh học ); ở cấp độ quốc gia là các
văn bản pháp luật (Luật bảo vệ môi trường năm 1993, Luật tài nguyên nước (1998),
Luật khoáng sản năm 1996 ).
Pháp luật có vai trò hết sức quan trọng đối với việc bảo vệ môi trường, là cơ
sở, công cụ pháp lý để nhà nước quản lý và điều tiết các hoạt động bảo vệ môi
trường vì lợi ích chung của các cộng đồng dân cư, của toàn xã hội. Bằng pháp
luật, với những quy định được thể hiện dưới hình thức văn bản và có hiệu lực
khác nhau, nhà nước điều chỉnh việc bảo vệ môi trường, đáp ứng yêu cầu của quá
trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền được sống trong môi trường
trong sạch của mỗi người, mỗi cộng đồng và toàn dân tộc. ở đây, ý thức pháp luật
của công dân về bảo vệ môi trường có tầm quan trọng đặc biệt, nó thể hiện sự



nhận thức của mỗi người và thái độ của họ đối với các quy định chung của pháp

luật.
Ba là, khía cạnh đạo đức của ý thức bảo vệ môi trường. ý thức bảo vệ
môi trường không chỉ biểu hiện trên các phương diện chính trị, pháp luật, mà còn
thông qua mặt đạo đức (đạo đức sinh thái) của đời sống xã hội. Đạo đức sinh thái
được hình thành trực tiếp từ mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, là một
dạng đặc thù của đạo đức xã hội. Đạo đức sinh thái là một hệ thống các nguyên
tắc, chuẩn mực quy định và điều chỉnh hành vi ứng xử của con người đối với tự
nhiên. Trong lịch sử, nhiều quan điểm đạo đức khác nhau đã xuất hiện và dẫn
đến sự tồn tại của các quan điểm đạo đức sinh thái khác nhau. Quan niệm đạo
đức duy sinh thái ở phương Tây cho rằng cần phải tôn trọng toàn bộ sự sống và
những yếu tố bảo đảm cho sự sống, hay toàn bộ cộng đồng sinh vật cùng với
những điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của nó. Theo quan
niệm của trường phái này, hành động của con người là tốt nếu nó bảo vệ sự ổn
định, toàn vẹn và vẻ đẹp của cộng đồng sinh vật; ngược lại, hành động của con
người là xấu nếu nó phá vỡ trạng thái cân bằng, thống nhất vốn có của tự nhiên
[xem: 4, tr. 64]. Quan niệm đạo đức sinh thái truyền thống ở phương Đông lại
dựa trên quan niệm "Thiên - Địa - Nhân nhất thể". Giá trị lớn nhất đồng thời
cũng là sự thể hiện có tính phổ biến nhất của đạo đức sinh thái truyền thống là
cái thiện. Đó cũng là cơ sở của triết lý sống hài hòa với thiên nhiên, theo cách
"nương nhờ", "thuận" theo thiên nhiên.
Dựa trên sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, của khoa học kỹ
thuật và công nghệ và đặc biệt là sức mạnh của con người, xã hội hiện đại đã
phát triển về mọi phương diện, với tốc độ nhanh chóng chưa từng thấy trong lịch
sử. Tuy nhiên, đó cũng là lúc mà hoạt động của con người bắt đầu làm cho tự
nhiên - cái "thân thể vô cơ" của mình bị tổn thương trước những áp lực nặng nề,
vượt khỏi sức chịu đựng của nó. ý thức được điều đó, nhiều tổ chức quốc tế,
nhiều nhà khoa học đã gióng lên những hồi chuông cảnh tỉnh con người về
những hậu quả môi trường sinh thái. Sự "trừng phạt", "trả thù" của tự nhiên buộc




con người, muốn tiếp tục tồn tại và phát triển, phải quan tâm hơn đến khía cạnh
đạo đức trong ý thức bảo vệ môi trường, phải hướng tới đạo đức sinh thái mới
nhằm điều chỉnh một cách tự giác hoạt động của mình.
Bốn là, khía cạnh văn hóa thẩm mỹ của ý thức bảo vệ môi trường. Như
trên đã nói, theo quan niệm của triết học mác-xít, con người không chỉ là một
thực thể sinh vật mà hơn thế, còn là một thực thể xã hội và bản chất của nó là
"tổng hòa các mối quan hệ xã hội". Thực tế, để tồn tại và phát triển, con người -
theo đúng nghĩa của từ này - không chỉ có nhu cầu được thỏa mãn về mặt đời
sống vật chất, mặc dầu nó là tiền đề đầu tiên và cơ bản nhất, mà còn có những
nhu cầu về đời sống tinh thần. Chính sự hài hòa và những cái đẹp của thế giới tự
nhiên là một bộ phận không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Có thể nói,
khía cạnh văn hóa thẩm mỹ của ý thức bảo vệ môi trường là một giá trị định
hướng khiến cho hoạt động cải tạo tự nhiên của con người, ngoài ý nghĩa tìm
kiếm lợi ích nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất, còn vươn tới thực hiện lý tưởng
thẩm mỹ theo quy luật của cái đẹp. Nói cách khác, bảo vệ môi trường là hành
động tự giác mang lại những lợi ích toàn diện, cả về vật chất lẫn tinh thần cho
con người.
1.2.2. Vai trò, ý nghĩa của việc xây dựng ý thức bảo vệ môi trường đối với
sự phát triển lâu bền
Như trên đã trình bày, ý thức xã hội có tính độc lập tương đối của nó so
với tồn tại xã hội. Vì thế, nó không chỉ chịu sự quy định của tồn tại xã hội, mà
còn tác động trở lại đối với tồn tại xã hội. Với tư cách là sự phản ánh hiện thực
sinh thái, là một dạng đặc biệt của ý thức xã hội, ý thức bảo vệ môi trường có vai
trò, ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển. Điều này được biểu hiện tập trung
trên một số khía cạnh sau:
Thứ nhất, ý thức bảo vệ môi trường là cơ sở điều khiển một cách tự giác
(có ý thức) mối quan hệ giữa con người và tự nhiên.




Trong quá trình hoạt động thực tiễn, trước hết là hoạt động sản xuất,
con người đã tác động, cải biến tự nhiên một cách mạnh mẽ và thu được từ tự
nhiên lượng của cải vật chất ngày càng nhiều để đáp ứng nhu cầu ngày càng
tăng của con người và xã hội. Với sự giúp đỡ của khoa học kỹ thuật, của các
công cụ ngày càng tinh xảo , sức mạnh chinh phục tự nhiên của con người đã
gia tăng đáng kể. Lôgíc tất yếu là tính thống nhất, cân bằng vốn có của tự nhiên
bị phá vỡ. Hậu quả là tự nhiên đã, đang và sẽ tiếp tục trả thù con người vì
những tác động vô ý thức mà con người gây ra cho nó.
Là một nhà biện chứng duy vật, Ph. Ăngghen cho rằng, trong giới tự
nhiên, không có cái gì xảy ra một cách đơn độc cả; trái lại, giữa các hiện tượng
luôn có mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại lẫn nhau. Vì vậy, theo ông:
Chúng ta không nên quá tự hào về những thắng lợi của chúng
ta đối với giới tự nhiên. Bởi vì cứ mỗi lần ta đạt được một thắng lợi, là
mỗi lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta. Thật thế, mỗi một thắng lợi,
trước hết là đem lại cho chúng ta kết quả mà chúng ta hằng mong
muốn, nhưng đến lượt thứ hai, lượt thứ ba, thì nó lại gây ra những tác
dụng hoàn toàn khác hẳn, không lường trước được, những tác dụng
thường hay phá hủy tất cả những kết quả đầu tiên của nó [17, tr. 654].
Cảnh báo về những hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra, ông viết:
Nếu chúng ta đã phải trải qua hàng nghìn năm lao động mới có
thể, trong một chừng mực nào đó, đánh giá trước được những hậu quả tự
nhiên xa xôi của những hành động sản xuất của chúng ta, thì chúng ta lại
càng phải trải qua nhiều khó khăn hơn nữa, mới có thể hiểu biết được
những hậu quả xã hội xa xôi của những hành động ấy [17, tr. 655-
656].
Từ những quan điểm đúng đắn trên, Ph. Ăngghen đã đưa ra một luận
điểm có tính tổng kết trong mối quan hệ với tự nhiên:




Chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một
kẻ xâm lược đi thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên
ngoài giới tự nhiên, mà trái lại, chúng ta, với tất cả xương thịt, máu
mủ và đầu óc chúng ta, là thuộc về giới tự nhiên, chúng ta nằm trong
lòng giới tự nhiên, và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với tự nhiên
là ở chỗ chúng ta, khác với tất cả các sinh vật khác, là chúng ta nhận
thức được quy luật tự nhiên và có thể sử dụng được những quy luật đó
một cách chính xác [17, tr. 654-655].
Như vậy, có thể khẳng định rằng, để điều khiển được mối quan hệ giữa
con người và tự nhiên, trước hết, con người phải tự giác "nhận thức được quy
luật tự nhiên", và trên cơ sở đó, "sử dụng được những quy luật đó một cách chính
xác" trong quá trình hoạt động thực tiễn của xã hội, trong đó, lĩnh vực cơ bản và
quan trọng nhất là sản xuất vật chất. Trước đây, con người vẫn giữ một quan
niệm cũ cho rằng, tự nhiên là một kho của cải vô tận, có thể mặc sức khai thác,
sử dụng không bao giờ hết. Song, thực tế lại không phải như con người đã lầm
tưởng. Sự cạn kiệt của nhiều nguồn tài nguyên không tái tạo được như đất đai,
khoáng sản, các nguồn năng lượng như than đá, dầu mỏ đã chứng tỏ rằng, các
tài nguyên thiên nhiên dù phong phú, giàu có và trữ lượng lớn đến đâu chăng nữa
cũng không phải là vô hạn. Những tri thức và sự hiểu biết mới, chính xác và
đúng đắn hơn về tự nhiên đã buộc con người phải khai thác, sử dụng tài nguyên
thiên nhiên một cách tiết kiệm và hợp lý hơn. Cũng vậy, cùng với sự phát triển
của nền sản xuất xã hội, con người đã đổ vào tự nhiên một khối lượng lớn mọi
dạng phế thải sản xuất và sinh hoạt, khiến cho cảnh quan môi trường bị biến
dạng, ô nhiễm ngày càng nặng nề và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của
con người. Sự phát triển của khoa học đã cung cấp những cơ sở chứng minh rằng
cơ chế điều chỉnh, sự thống nhất, tính toàn vẹn và trạng thái cân bằng động của
toàn bộ sinh quyển là một chu trình sinh học. Vì thế, con người đang tích cực tìm
những giải pháp hiệu quả để xử lý và giảm thiểu lượng chất thải đổ vào môi
trường, nhất là các loại chất thải độc hại, chất thải rắn có thời gian phân hủy dài.

×