Tải bản đầy đủ (.doc) (78 trang)

Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của dự án chi trả dịch vụ môi trường rừng tại tỉnh Sơn La

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (916.55 KB, 78 trang )

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
PES : Chi trả dịch vụ môi trường
MTR : Môi trường rừng
ES : Dịch vụ môi trường
WWF: Tổ chức bảo vệ động vật hoang dã
GĐGR: Giao đất giao rừng
NN & PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
ADB : Ngân hàng phát triển châu Á
DANIDA: Cơ quan phát triển quốc tế của Đan Mạch
IUCN: Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế
WB : Ngân hàng thế giới
CDM: Cơ chế phát triển sạch
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tên đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án chi trả dịch vụ
môi trường tại tỉnh Sơn La”
2. Lý do lựa chọn đề tài:
Các hệ sinh thái tự nhiên đóng một vai trò rất quan trọng đối với sự sống và
tồn tại của con người, đặc biệt là hệ sinh thái rừng. Rừng không chỉ cung cấp
nguyên vật liệu như gỗ, củi cho một số ngành sản xuất mà còn giúp duy trì và
bảo vệ môi trường sống, đóng góp vào sự phát triển bền vững của mỗi quốc
gia trên thế giới. Tuy nhiên, do sự phát triển quá nhanh của xã hội mà không
có chiến lược bảo vệ rừng khiến nguồn tài nguyên này đang bị suy giảm một
cách nghiêm trọng. Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến suy
thoái môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu.
[
Trong những năm gần đây, nhận thức về giá trị, vai trò của rừng ngày càng
được nâng cao, đặc biệt là sự tiếp cận với những cách nghĩ mới về những lợi
ích mà rừng đem lại. Đó không còn là những giá trị trừu tượng mà đã được


xem là một loại hàng hoá, có thể đem trao đổi và mua bán trên thị trường.
Chính vì vậy, dịch vụ môi trường rừng đã ra đời và đang trở thành một biện
pháp quản lý hiệu quả ở nhiều nước trên thế giới.
Nghiên cứu này được thực hiện với mong muốn mang đến cái nhìn cụ thể
hơn về các lợi ích mà cơ chế chi trả dịch vụ môi trường đem lại. Từ đó, nhận
thức rõ hơn về kinh nghiệm thực hiện của các nước trên thế giới và rút ra bài
học kinh nghiệm cho việc áp dụng PES tại Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu kỹ hơn về khái niệm dịch vụ môi trường, bên cung cấp dịch vụ
và cơ chế hoạt động của PES.
Tìm hiểu về hiện trạng các dự án bảo vệ rừng đã thực hiện và các điều
kiện để áp dụng PES tại Việt Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực hiện với phạm vi là tỉnh Sơn La, cụ thể là tại hai
huyện thí điểm Mộc Châu và Phù Yên, dựa trên Quyết định 380/QĐ – TTg
ngày 10 tháng 4 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ. Đối tượng nghiên cứu
là dịch vụ giữ nước, phòng hộ đầu nguồn của rừng và lợi ích của các bên
tham gia vào dự án. Mặt khác, đề tài cũng xem xét các dự án chi trả môi
trường đã thực hiện ở các nước khác trên thế giới để đúc kết các kinh nghiệm
cho việc triển khai tại Việt Nam.
[
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, tôi đã sử dụng một số phương pháp
sau:
- Phương pháp thu thập và tổng hợp thông tin, số liệu: các thông tin được
thu thập từ sách, báo, các quy định của Chính phủ, dự thảo thực hiện đề án
chi trả dịch vụ môi trường và các tài liệu trên internet.
- Phương pháp lượng giá các giá trị dịch vụ môi trường: tính toán các lợi ích
do dịch vụ môi trường đem lại.
- Phương pháp tổng hợp số liệu bằng bảng tính Excel.

- Phương pháp tham vấn chuyên gia: trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi
4
đã tham vấn ý kiến của một số chuyên gia về PES về tài liệu và các vấn đề
còn vướng mắc.
6. Cấu trúc đề tài
Chuyên đề tốt nghiệp gồm có 4 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phân tích hiệu quả dự án chi
trả dịch vụ môi trường rừng
Chương II: Dự án chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Sơn La
Chương III: Phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án chi trả dịch vụ môi
trường rừng
Chương IV: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của dự án
chi trả dịch vụ môi trường rừng
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÂN TÍCH HIỆU
QUẢ DỰ ÁN CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG
1.1. Khái quát chung về chi trả dịch vụ môi trường
1.1.1. Khái niệm về dịch vụ môi trường
Dịch vụ môi trường (Environmental Services) là những dịch vụ và chức
năng được cung cấp bởi hệ sinh thái và có những giá trị nhất định về kinh tế.
Các nhóm dịch vụ môi trường bao gồm:
• Chức năng phòng hộ đầu nguồn
• Bảo vệ đa dạng sinh học
• Bảo vệ cảnh quan thiên nhiên
• Hấp thụ Các - bon
5
Dịch vụ môi trường rừng là việc cung ứng và sử dụng bền vững các giá trị
sử dụng của môi trường rừng như điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống bồi
lắng lòng hồ, ngăn chặn lũ lụt, lũ quét, cảnh quan, đa dạng sinh học…(Điều 4
chương I, Quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10 tháng 4

năm 2008). Trong đó, giá trị môi trường rừng được hiểu là giá trị mà rừng
làm lợi cho môi trường, do bản thân các khu rừng tạo ra nhưng không chỉ
được sử dụng bới những người quản lý, bảo vệ và phát triển rừng mà còn bởi
toàn xã hội. Với việc xem xét đến các đến các dịch vụ môi trường rừng thì các
giá trị này được xem xét như một loại hàng hoá công cộng, có thể do cả xã
hội sử dụng mà người làm rừng không quản lý và điều tiết được quá trình
khai thác và sử dụng chúng.
Các loại dịch vụ môi trường rừng trong dự án thí điểm tại tỉnh Sơn Là
gồm:
• Dịch vụ về điều tiết và cung ứng nguồn nước;
• Dịch vụ bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, chống bồi lắng lòng hồ;
• Dịch vụ về du lịch.
1.1.2. Khái niệm chi trả dịch vụ môi trường
Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (Payment for Ecosystem Services - PES) hay
còn được gọi là chi trả cho dịch vụ môi trường (Payment for Environmental
Services) được xem là cơ chế nhằm thúc đẩy việc tạo ra và sử dụng các dịch
vụ sinh thái bằng cách kết nối người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch
vụ hệ sinh thái.
Một khái niệm hẹp hơn về chi trả môi trường được đưa ra năm 2005 là: “
Chi trả dịch vụ môi trường là một giao dịch trên cơ sở tự nguyện mà ở đó dịch
vụ môi trường được xác định cụ thể (hoặc hoạt động sử dụng đất để đảm bảo
có được dịch vụ này) đang được người mua (tối thiểu một người mua) mua
của người bán (tối thiểu một người bán) khi và chỉ khi người cung cấp dịch vụ
6
môi trường đảm bảo được việc cung cấp dịch vụ môi trường này”. (Wunder
2005, p9)
Trong quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ có quy định chi
tiết hơn về khái niệm chi trả dịch vụ môi trường được áp dụng cho hoạt động
trồng rừng. Theo đó, chi trả dịch vụ môi trường rừng là quan hệ kinh tế giữa
người sử dụng các dịch vụ môi trường rừng trả tiền cho người cung ứng dịch

vụ môi trường rừng.
1.1.3. Thiết lập kế hoạch chi trả dịch vụ môi trường
Chi trả dịch vụ môi trường (PES) thực chất là một cơ chế chi trả dựa trên
việc người sử dụng hay người cung cấp có được lợi ích từ các dịch vụ sinh
thái, từ đó dẫn đến việc bảo vệ và quản lý chúng. Cơ chế này cần có sự thiết
lập rõ ràng để đảm bảo nó hoạt động thực sự hiệu quả trong một thời gian dài
và có khả năng nhân rộng trên toàn thế giới. Theo Wunder (2005) các tiêu chí
của PES là:
• Tự nguyện trong giao dịch
• Các dịch vụ môi trường cần được xác định rõ
• Có ít nhất một người cung cấp dịch vụ môi trường
• Có ít nhất một người mua dịch vụ môi trường
• Nếu và chỉ với điều kiện là người cung cấp dịch vụ môi trường phải
bảo đảm việc cung cấp dịch vụ môi trường (mang tính điều kiện).
Dựa trên tiêu chí này, dự án chi trả dịch vụ môi trường được xây dựng thông
qua ba bước, bao gồm:
• Nhận dạng và xác định các dịch vụ môi trường
• Xem xét giá trị kinh tế của các dịch vụ môi trường. Trong bước này ta
sẽ xác định giá cho các dịch vụ. Việc tính toán các giá trị kinh tế có thể
dựa trên việc gán số lượng và giá trị bằng tiền cho hàng hoá và dịch vụ
được cung cấp bởi môi trường tự nhiên, dù có hay không giá thị trường
vẫn rất hữu ích trong việc giúp ta tính toán.
7
• Thiết lập kế hoạch chi trả.
1.1.4. Nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường
Hai nguyên tắc cơ bản của PES là:
• Tạo ra động lực tài chính hiệu quả thúc đẩy cá nhân và cộng đồng cung
cấp các dịch vụ môi trường;
• Chi trả các chi phí cho việc cung cấp các dịch vụ của họ. Việc chi trả
này có thể dưới hình thức là tiền hoặc hiện vật.

Cụ thể hơn, với việc chi trả cho dịch vụ môi trường rừng, Điều 7 chương I,
Quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định như sau:
• Việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trực tiếp do người được chi
trả và người phải chi trả thực hiện trên cơ sở hợp đồng thoả thuận theo
nguyên tắc thị trường.
• Mức tiền chi trả sử dụng dịch vụ môi trường rừng gián tiếp do Nhà
nước quy định được công bố công khai và điều chỉnh khi cần thiết.
• Các tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền
sử dụng dịch vụ môi trường rừng cho người được chi trả dịch vụ môi
trường rừng và không thay thế cho thuế tài nguyên nước hoặc các
khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật.
• Đối với tổ chức kinh doanh, tiền chi trả cho việc sử dụng dịch vụ môi
trường rừng được tính vào giá thành sản phẩm của bên sử dụng dịch vụ
môi trường rừng.
1.1.5. Các hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng
Có hai hình thức thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng:
• Chi trả dịch vụ môi trường rừng trực tiếp: là việc người sử dụng dịch
vụ môi trường rừng (người phải chi trả) trả tiền trực tiếp cho người
cung ứng dịch vụ môi trường (người được chi trả).
• Chi trả dịch vụ môi trường rừng gián tiếp: là việc người sử dụng dịch
8
vụ môi trường rừng chi trả gián tiếp cho người cung ứng dịch vụ môi
trường rừng thông qua một số tổ chức và thực hiện theo quy định.
(Điều 6 chương I, Quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ)
1.2. Nền tảng cơ bản của cơ chế chi trả dịch vụ môi trường
1.2.1. Nguyên tắc người được hưởng lợi phải trả tiền
Trong các mô hình quản lý môi trường cũng như các giải pháp quản lý
môi trường trước đây, chúng ta thường hay sử dụng nguyên tắc người gây ô
nhiễm phải trả tiền (Polluter pays). Cơ chế này yêu cầu những người gây ra
các tác động có hại đến môi trường phải có trách nhiệm chi trả và cải tạo lại

môi trường. Tuy nhiên, thực tế cho thấy cơ chế này cũng có một số hạn chế
nhất định vì người gây ô nhiễm thường không muốn trả tiền hoặc không khắc
phục các thiệt hại về môi trường.
Trái với các cơ chế quản lý trước đây, PES không hoạt động theo cơ chế
người đây ô nhiễm phải trả tiền mà hướng tới một cơ chế khác là người được
hưởng lợi từ dịch vụ môi trường sẽ trả tiền cho việc thụ hưởng đó. Các nhà
kinh tế đã tiến hành nhiều nghiên cứu và chỉ ra rằng, sẽ hiệu quả hơn nếu trả
tiền để con người giữ gìn môi trường hơn là bắt họ phải chi trả cho những
thiệt hại môi trường mà họ đã gây ra. Một ví dụ cụ thể là, thay vì phạt những
người dân ở vùng thượng lưu vì đã chặt phá rừng gây ra lũ lụt cho vùng hạ
lưu thì chi trả cho họ một khoản tiền để họ giữ các khu rừng đó và đem lại lợi
ích cho dân ở vùng hạ lưu. Những người ở hạ lưu trước đây không phải trả
tiền cho bất cứ lợi ích nào họ nhận được từ môi trường rừng thì nay họ sẽ chi
trả một phần cho các lợi ích mà họ được hưởng.
Đây là một cách tiếp cận rất mới của PES, coi dịch vụ môi trường là hàng
hoá và nếu ta nhận được lợi ích từ hàng hoá thì hiển nhiên ta phải trả tiền để
được tiêu dùng nó. Dựa trên cách tiếp cận này, các giá trị của dịch vụ môi
trường, đặc biệt là dịch vụ môi trường rừng sẽ được đánh giá một cách chính
xác hơn.
9
1.2.2. Sự sẵn lòng chi trả (Willingness to pay – WTP)
WTP là thước đo độ thoả mãn, đồng thời là thước đo lợi ích và là đường
cầu thị trường tạo nên cở sở xác định lợi ích đối với xã hội từ việc tiêu thụ
hoặc bán một mặt hàng cụ thể.
Nền tảng của PES chính là việc những người cung cấp dịch vụ môi trường
sẽ nhận được một khoản tiền cho việc họ chấp nhận bảo vệ môi trường (tính
điều kiện) và mức chi trả này phụ thuộc vào sự thoả thuận với bên nhận được
lợi ích từ các lợi ích từ môi trường. Mặc dù nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra các
đặc điểm khác của PES, ví dụ PES là một cơ chế giao dịch tự nguyện giữa ít
nhất một người cung cấp và một người sử dụng đối với các hàng hoá dịch vụ

môi trường, thì tính điều kiện vẫn là đặc điểm rõ nhất phân biệt PES với các
cách tiếp cận trước đây.
Nhà kinh tế học Ronald Coase cũng đưa ra quan điểm rằng cơ sở của PES
là dựa trên sự thoả thuận lợi ích giữa hai bên thông qua việc mặc cả để đưa ra
một mức giá hợp lý. Thông qua việc thoả thuận, hai bên có thể đạt được mức
lợi ích mà mình mong muốn đối với các dịch vụ môi trường. Mô hình dưới
đây cho thấy các ảnh hưởng lợi ích lẫn nhau của hai bên.
Đường thẳng AB là đường lợi ích cận biên của những người ở vùng
thượng lưu (ở đây là chủ rừng) đối với việc chặt cây. Có thể nhận thấy lợi ích
cận biên của họ giảm dần khi chặt thêm cây, nguyên nhân có thể do giá cả của
gỗ hoặc những cây có giá trị cao đã bị chặt phá trước. Đường thẳng OD biểu
diễn mức chi phí biên của người ở vùng hạ lưu, chi phí này ngày càng tăng
lên cùng với việc nhiều cây bị mất đi. Hai đường này cắt nhau tại E, là điểm
mà lợi ích của hai bên là như nhau, tương ứng với mức giá là P. Đây là mức
giá mà những người ở hạ lưu sẵn lòng chi trả và những người chủ rừng sẵn
sàng chấp nhận.
10
Hình 1.1: Ảnh hưởng lợi ích lẫn nhau của hai bên tham gia
Mức chi trả này đã được đề cập đến khá nhiều trong các nghiên cứu về
PES. Một cách khác để hiểu về mức sẵn lòng chi trả được đưa ra trong một
nghiên cứu của World Bank năm 2003
Hình 1.2: Mô hình xác định mức chi trả dịch vụ môi trường
11
Trong mô hình này có thể thấy: nguồn thu nhập từ việc chặt phá rừng và
sử dụng các cánh rừng đầu nguồn là lợi ích của những người chủ rừng nhưng
lại là chi phí của những nhà máy thuỷ điện và cư dân ở hạ lưu. Phần màu
xanh nhạt biểu diễn cho phần lợi ích của người chủ rừng như khai thác gỗ,
buôn bán động vật hoang dã…Ngược lại phần diện tích màu đỏ cho thấy chi
phí hay thiệt hại của các nhà máy thuỷ điện khi rừng bị chặt phá, ví dụ như
các thiệt hại về kinh tế do giảm năng suất hay thiên tai, lũ lụt. Do đó, những

nhà máy này sẽ sẵn sàng bỏ ra một số tiền để trả cho người chủ rừng nhằm
duy trì các khu rừng đầu nguồn và lợi ích của họ và mức tiền này phải nhỏ
hơn phần thiệt hại về kinh tế nhưng không là giảm bớt lợi ích của người chủ
rừng. Phần chi trả ở đây được thể hiện bằng màu xanh lá cây. Ví dụ, khi các
khu rừng đầu nguồn bị chặt phá, chủ rừng thu nhập được 100 triệu đồng, đồng
thời các nhà máy thuỷ điện sẽ bị thiệt hại 1 tỷ đồng. Nếu rừng được các nhà
máy này sẽ giảm được thiệt hại là 500 triệu đồng, thì họ sẵn sàng chi trả một
mức tiền nhỏ hơn 500 triệu để duy trì rừng đầu nguồn. Lúc này mức chi trả
hợp lý sẽ lớn hơn 100 triệu đồng và nhỏ hơn 500 triệu đồng. Tóm lại, mức chi
trả sẽ được xác định dựa trên cơ sở:
Thu nhập của chủ rừng < Mức chi trả dịch vụ môi trường rừng < Mức lợi ích
nhà máy thuỷ điện nhận được từ dịch vụ môi trường rừng.
1.3. Nội dung chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
1.3.1. Căn cứ xây dựng chính sách
1.3.1.1. Cơ sở pháp lý
Căn cứ theo hệ thống pháp luật hiện hành, Pháp lệnh số 38/2001/PL-
UBTVQH 10 ngày 28/08/2001 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về phí và lệ
phí có quy định về việc thu phí đối với 12 lĩnh vực. Trong lĩnh vực nông
nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản đã có các quy định về phí thuỷ lợi, phí kiểm
12
dịch động, thực vật; phí kiểm tra vệ sinh thú ý, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản…
Riêng trong lĩnh vực môi trường có phí bảo vệ môi trường đối với nước thải,
khí thải, chất thải rắn, tiếng ồn, khai thác tài nguyên. Như vậy, Pháp luật Việt
Nam đã có sự quan tâm đúng đắn đến vấn đề bảo vệ môi trường, tạo cơ sở
tiền đề cho việc bổ sung, xây dựng các chính sách mới, đáp ứng được xu
hướng phát triển chung của đất nước và thế giới.
Hướng tới việc phát triển bền vững, Quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ ra đời ngày 10/04/2008 đã quy định rõ về việc cần thiết phải
xây dựng thí điểm cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng tại một số tỉnh, sau
đó rút kinh nghiệm và nhân rộng mô hình này trên cả nước. Hiện nay, chính

sách này được áp dụng cho các cơ sở sản xuất được hưởng lợi từ dịch vụ môi
trường rừng thuộc lưu vực sông Đồng Nai, sông Đà và các chủ rừng ở vùng
đầu nguồn lưu vực hai con sông nói trên thuộc hai tỉnh Lâm Đồng và Sơn La.
Ngoài những căn cứ pháp lý kể trên, còn phải kể đến một số Nghị định
cũng như các báo cáo dự án trồng và phát triển rừng như:
• Kế hoạch số 1660/KH-BNN-PC ngày 12/06/1008 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn về kế hoạch tổ chức triển khai Quyết định 380/
QĐ-TTg ngày 10/04/2008 của Thủ tướng Chính phủ.
• Nghị định số 05/2008/NĐ-CP ngày 14/01/2008 của Chính phủ về Quỹ
bảo vệ và phát triển rừng.
• Báo cáo kết quả rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng tại tỉnh Sơn La theo
chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày 5/12/2005 về việc rà soát, quy hoạch
lại 3 loại rừng trên phạm vi toàn quốc.
• Báo cáo kết quả thực hiện giao đất giao rừng tỉnh Sơn La giai đoạn
2001 -2006 (Chi cục kiểm lâm tỉnh Sơn La, 2008).
1.3.1.2. Cơ sở khoa học và thực tiễn
13
Nhiều nghiên cứu hiện nay đã đánh giá giá trị của rừng theo quan điểm
kinh tế, nghĩa là lượng hoá các lợi ích mà rừng mang lại cho cuộc sống con
người qua các con số chứ không còn đơn thuần là kể ra những lợi ích đó. Dựa
trên chính các kết quả này, giá trị dịch vụ môi trường rừng ngày càng được
thừa nhận rộng rãi hơn. Các nghiên cứu thực hiện trên phạm vi thế giới đã chỉ
ra cơ cấu cho các loại dịch vụ môi trường rừng là: hấp thụ các-bon chiếm
27%; bảo tồn đa dạng sinh học chiếm 25%; phòng hộ đầu nguồn chiếm 21% ;
bảo vệ cảnh quan chiếm 17% và các giá trị khác chiếm 10%.
Thực tiễn tại Việt Nam cũng cho thấy những tín hiệu đáng mừng của việc
thay đổi trong nhận thức của con người về các giá trị của dịch vụ môi trường
rừng. Rừng không chỉ là nguồn tài nguyên quý giá mà còn có chức năng bảo
vệ cho các khu vực hạ lưu, vì thế Việt Nam đã xác định cần thiết phải xây
dựng một cơ chế quản lý rừng hiệu quả hơn thay thế cho các phương pháp

trước đây theo quan điểm coi dịch vụ môi trường rừng là một loại hàng hoá.
Đây là cơ sở tiền đề quan trọng để hiểu và tiếp thu “Cơ chế chi trả cho dịch
vụ môi trường”.
1.3.1.3. Tham khảo, kế thừa nghiên cứu và kinh nghiệm của thế giới
Trên thế giới, việc nghiên cứu và triển khai dự án chi trả dịch vụ môi
trường rừng đã được chú ý từ những năm 90 của thế kỷ 20. Rất nhiều nghiên
cứu đã được tiến hành, điển hình như nghiên cứu của Trường Đại học
California, nhằm xác định khái niệm chi trả dịch vụ môi trường rừng, chi trả
cho ai và mức chi trả là bao nhiêu. Các nghiên cứu đã tính toán ra giá trị của
rừng trong việc bảo vệ đất, nước, không khí, đa dạng sinh học làm cơ sở đưa
ra mức chi trả của xã hội đối với dịch vụ môi trường rừng. Đây là cơ sở tiền
đề cho các nước đi sau, như Việt Nam, tham khảo và kế thừa để áp dụng vào
thực tiễn bảo vệ môi trường, cụ thể là cho môi trường rừng.
14
Thực tế cho thấy, PES đã được áp dụng ở rất nhiều nơi trên thế giới như
châu Phi, châu Á, Đông Âu, châu Mỹ Latinh và đã có những thành công nhất
định. Trong đó, Costa Rica là một trong những nước đầu tiên xây dựng và
thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, bao gồm giá trị hấp thụ
Cac – bon, phòng hộ đầu nguồn, đa dạng sinh học và bảo vệ cảnh quan.
Thành công của các nước đi trước là bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong
việc xây dựng và triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng - một
chính sách còn hết sức mới mẻ này.
1.3.2. Nội dung chính sách
1.3.2.1. Đối tượng rừng được đưa vào xác định giá trị dịch vụ môi trường
rừng
• Toàn bộ diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng thuộc quy hoạch rừng
phòng hộ và rừng đặc dụng
• Diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng là rừng sản xuất đủ tiêu chuẩn
phòng hộ thì sẽ xác định giá trị dịch vụ môi trường rừng trong thời gian
chưa khai thác

1.3.2.2. Nguyên tắc xác định giá trị dịch vụ môi trường rừng
• Giá trị dịch vụ môi trường rừng được xác định theo từng loại rừng:
rừng gỗ, rừng hỗn giao, tre nứa (đối với rừng tự nhiên) và rừng đã có
trữ lượng và chưa có trữ lượng (đối với rừng trồng).
• Chỉ xác định những giá trị gián tiếp khả thi và có khả năng tính toán
được (thông qua kết quả nghiên cứu thực té đã được công bố tại Việt
Nam).
1.3.2.3. Đối tượng có nghĩa vụ chi trả giá trị dịch vụ môi trường rừng
• Các tổ chức, các nhân sử dụng trực tiếp các giá trị dịch vụ môi trường
rừng để sản xuất hàng hoá hoặc kinh doanh các sản phẩm được hưởng
15
lợi từ rừng, bao gồm: các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện, nước sinh hoạt,
du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng.
• Các tổ chức, cá nhân có hoạt động gây tác động ảnh hưởng có hại đến
môi trường rừng như khai thác khoáng sản, công trình giao thông và
các hoạt động sản xuất gây ô nhiễm không khí.
1.3.2.4. Đối tượng được hưởng phí chi trả dịch vụ môi trường rừng
• Các ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng được nhận phí chi trả dịch
vụ môi trường rừng để đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng
đặc dụng, rừng phòng hộ.
• Các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao rừng,
khoán bảo vệ rừng là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất.
• Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn được giao
đất, giao rừng sản xuất (rừng trồng và rừng tự nhiên), khi rừng đã đủ
tiêu chuẩn phòng hộ trong thời gian chưa khai thác sẽ được hưởng phí
chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với giá trị phòng hộ do rừng tạo ra.
1.3.2.5. Cơ chế quản lý và sử dụng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng
• Đối với trường hợp chi trả trực tiếp: tiền thu được từ chi trả các dịch vụ
môi trường rừng sau khi thực hiện nghĩa vụ về tài chính theo quy định
của pháp luật, người được chi trả có toàn quyền quyết định việc sử

dụng số tiền này để đầu tư vào việc bảo vệ và phát triển rừng.
• Đối với trường hợp chi trả gián tiếp: tiền thu được từ chi trả dịch vụ
môi trường rừng được sử dụng như sau:
- 10% chi cho các hoạt động của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng
- 90% chi cho các hoạt động của người được chi trả dịch vụ môi trường
rừng. Nếu người được chi trả dịch vụ môi trường rừng là các tổ chức
nhà nước, được sử dụng 10% cho chi phí quản lý, 80% cho việc trả tiền
công khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân, cộng
16
đồng dân cư, thôn bản.
1.4. Kinh nghiệm thực hiện dự án chi trả dịch môi trường
1.4.1. Trên thế giới
PES được áp dụng tại rất nhiều nơi trên thế giới như ở châu Phi, châu Á,
Mỹ Latinh và Đông Âu, một ví dụ điển hình cho việc phát triển PES như một
cơ chế quản lý và bảo vệ rừng hiệu quả chính là Costa Rica. Những người chủ
đất và chủ rừng ở đây được trả tiền cho việc họ cung cấp các dịch vụ môi
trường, tiến hành các hoạt động bảo vệ rừng nhằm duy trì chất lượng cuộc
sống của con người. Chính sách này thiết kế một cơ chế tài chính cũng như
luật pháp khá chặt chẽ nhằm đảm bảo người cung cấp dịch vụ môi trường sẽ
phải thực hiện hết hợp đồng theo thời hạn đã định. Bảng 1.1 là một ví dụ về
các khoản tiền mà những người sử dụng nước phải trả cho dịch vụ môi trường
(ở đây là chức năng phòng hộ đầu nguồn).
Bảng 1.1: Các khoản chi trả của người sử dụng nước tại Costa Rica
17
Tại Jamestown, đảo Rhode, Mỹ, những người nông dân ở đây thường thu
hoạch cỏ trên cánh đồng của họ hai lần một năm. Tuy nhiên việc này đã ảnh
hưởng thói quen của nhiều loài chim ăn cỏ tại đây. Vì vậy các nhà kinh tế từ
trường Đại học Rhode Island và công ty Eco Assets Markets đã vận động các
khoản tiền đầu tư để giúp các loài chim này, số tiền từ 5$ đến 200$ mỗi người
và số tiền này được dùng để bù đắp cho việc giảm năng suất của người nông

dân khi họ được yêu cầu chỉ thu hoạch một vụ trong một năm.
Ngoài ra còn rất nhiều các dự án PES đang được thực hiện tại Mexico,
Nam Phi, Colombia, Nicaragua, Venezuela,…và những dự án này đều do
World Bank hỗ trợ về tài chính hay kỹ thuật.
1.4.2. Tại Việt Nam
Sau khi Luật Đa dạng sinh học được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 4,
ngày 18/10/2008 cùng với sự ra đời của Quyết định 380/QĐ-TTg ngày
10/04/2008 của Thủ tướng Chính phủ, rất nhiều các dự án thí điểm về PES đã
được triển khai tại nhiều địa phương. Các mô hình về PES đã được tổ chức
thực hiện từ năm 2006 – 2009 trong các chương trình do Bộ NN và PTNT
phối hợp với tổ chức Winrock International, chương trình môi trường trọng
điểm và Sáng kiến hành lang bảo tồn đa dạng sinh học do Ngân hàng phát
triển châu Á (ADB) tài trợ từ năm 2006 – 2010. Các tỉnh được chọn thực hiện
thí điểm gồm có Sơn La, Lâm Đồng, Bình Thuận, Ninh Thuận.
Ngoài ra, WWF cũng đang tiến hành các hoạt động đánh giá và tìm cơ hội
cho PES ở tỉnh Quảng Nam và Quảng Trị. Bên cạnh đó, có sự hỗ trợ của Cơ
quan phát triển quốc tế của Đan Mạch (DANIDA), WWF và các đối tác khác
đang tài trợ cho việc giải quyết vấn đề ô nhiễm hồ chứa nước Trị An và hạ
18
lưu sông Đồng Nai dựa trên cơ chế PES. Chi cục kiểm lâm Thừa Thiên Huế
phối hợp cùng WWF cũng đang tiến hành dự án tạo cơ chế tài chính nhằm
bảo vệ cảnh quan tại Vườn quốc gia Bạch Mã, dự kiến sẽ tạo ra nguồn thu lớn
hơn gấp 3 lần so với nguồn thu hiện hành.
Hiện nay, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) còn thực hiện dự
án chi trả dịch vụ môi trường, áp dụng cho các khu vực ven biển. Dự án xây
dựng cơ chế chi trả cho hấp thụ các-bon trong lâm nghiệp, thí điểm tại huyện
Cao Phong, tỉnh Hòa Bình do Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường
Rừng thực hiện cũng đang trong quá trình triển khai.
CHƯƠNG II
DỰ ÁN CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG TẠI TỈNH

SƠN LA
2.1. Giới thiệu đặc điểm chung về tỉnh Sơn La
2.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Sơn La là một tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Bắc của Việt Nam, có toạ độ
địa lý: 20
o
39’ - 20
o
02’ vĩ độ Bắc và 103
o
11’ – 105
o
02’ kinh độ Đông. Phía
Bắc giáp tỉnh Yên Bái, Lào Cai; phía Ðông giáp tỉnh Lai Châu; phía Nam
giáp tỉnh Thanh Hoá và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào; cách thủ đô
Hà Nội 320 km về phía Tây Bắc.
19

Hình 2.1. Sơ đồ hành chính tỉnh Sơn La
Nguồn: www.sfdp.net/docs/images/SonlaMap.gif
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh Sơn La là 1.412.500 ha, chiếm 4,3% diện tích
cả nước. Toàn tỉnh có 11 đơn vị hành chính: có 1 thành phố là thành phố Sơn
La và 10 huyện là Thuận Châu, Mai Sơn, Yên Châu, Mộc Châu, Sông Mã,
Sốp Cộp, Phù Yên, Bắc Yên, Mường La và Quỳnh Nhai.
Sơn La là cầu nối quan trọng của Hà Nội và vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ với vùng Tây Bắc. Với đường biên giới Việt – Lào dài 250 km và 4 tuyến
giao thông quan trọng là đường quốc lộ 6, quốc lộ 37, quốc lộ 43, quốc lộ
279, tỉnh đã có những lợi thế nhất định trong giao lưu phát triển kinh tế - văn
hoá - xã hội với các tỉnh khác và giao lưu quốc tế.

Các cánh rừng ở Sơn La đóng vài trò thiết yếu đối với việc phòng hộ đầu
nguồn lưu vực hồ thuỷ điện Hoà Bình và thuỷ điện Sơn La. Ngoài ra còn góp
phần bảo vệ môi trường sinh thái cũng như chiến lược củng cố an ninh quốc
phòng và bảo vệ chủ quyền biên giới.
20
2.1.1.2. Đặc điểm tự nhiên
 Địa hình
Địa hình tỉnh Sơn La bị chia cắt sâu và phức tạp, núi đá cao xen lẫn đồi,
thung lũng, lòng chảo, bồn địa và cao nguyên. Diện tích vùng núi chiếm
khoảng 85% diện tích toàn tỉnh. Độ cao tuyệt đối trung bình từ 600 – 1000m
với 3 hệ thống núi chính chạy song song theo hướng Tây Bắc – Đông Nam.
Độ dốc bình quân trên 25
o
. Sự chia cắt sâu và mạnh, địa thế hiểm trở ở vùng
núi của Sơn La chủ yếu là do đặc điểm kiến tạo địa chất với các đứt gãy điển
hình như đứt gãy sông Đà, Nậm Pìa.
Vùng giữa sông Đà và sông Mã có 2 cao nguyên lớn là cao nguyên Mộc
Châu với độ cao từ 800 – 1000m, diện tích khoảng 2 vạn ha và cao
nguyên Sơn La - Nà Sản nằm ở độ cao 600 – 800m với diện tích khoảng
1,5 vạn ha. Địa hình ở 2 khu vực này tương đối rộng và bằng phẳng, đất
đai tốt, có ưu thế để hình thành vùng sản xuất nguyên liệu lớn và cơ cấu
phát triển đa dạng gồm các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi và
phát triển rừng nguyên liệu.
Bảng 2.1: Cơ cấu sử dụng đất của tỉnh Sơn La
Tổng diện tích
đất
Đất nông nghiệp Đất có rừng Đất không có rừng Đất khác
1.405.500 156.200 363.024 856.227 30.049
100% 11,1 % 25,7 % 60,9 2,9%
Đơn vị tính: ha

(Nguồn: Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội Việt Nam năm 2002)
21
Bên cạnh đó, nằm xen kẽ giữa các cao nguyên là những vùng lòng chảo,
thung lũng với những cánh đồng lúa nước lớn, vừa và nhỏ với quy mô từ 300
– 1000 ha do phù sa các con sông bồi đắp.
 Khí hậu
Sơn La chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi có 2 mùa
rõ rệt. Mùa đông lạnh và khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mùa
hè nóng ẩm và mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 9.
• Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm là 20
o
C – 22
o
C, nhiệt độ thấp
nhất tuyệt đối vào tháng 12 và tháng 1 (0 – 5
o
C). Tổng số giờ nắng
trung bình năm là 1.641 giờ. Trung bình số ngày nắng/tháng là 23 ngày.
• Chế độ mưa: Tổng lượng mưa bình quân là 1.420mm với 118 ngày
mưa/năm. Lượng mưa trung bình tháng là 150mm/tháng. Mùa mưa kéo
dài 6 – 7 tháng (từ tháng 4 đến tháng 9) với lượng mưa chiếm 84 – 92%
tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa lớn, tập trung trong thời gian ngắn
dễ gây ra hiện tượng xói mòn, rửa trôi, trượt lở đất, lũ ống, lũ quét…
gây thiệt hại cho sản xuất, tài sản và đời sống nhân dân. Ngược lại, mùa
khô kéo dài, gây khô hạn, thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt, nhất là
các bản vùng cao, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng các loại cây
trồng.
• Độ ẩm: tương đối trung bình năm là 81%, lượng bốc hơi trung bình
năm là 800mm/năm. Từ tháng 10 đến tháng 5 của năm sau là thời kỳ
lượng bốc hơi cao hơn lượng mưa nhiều lần khiến độ ẩm tầng mặt luôn

ở mức thấp làm cây cối héo nhiều, do đó trong thời kỳ này không thể
canh tác cây ngắn ngày nếu không tưới tiêu đầy đủ.
• Một số yếu tố khác: Các yếu tố này thường xuất hiện gây ra các tác
động tiêu cực đối với sản xuất và sinh hoạt. Trước hết là sương muối
22
xuất hiện mỗi năm vài đợt vào tháng 12 và tháng 1 gây ảnh hưởng lên
các vùng trong tỉnh. Tuy nhiên một vài năm gần đây tần suất xuất hiện
sương muối có xu hướng giảm đi. Thêm nữa vào mùa mưa thường xảy
ra lũ quét ở những vùng có độ dốc lớn, độ che phủ thực bì thấp. Còn
vào mùa hè thường xuyên có gió Lào mang khí hậu khô và nóng.
 Thuỷ văn
Sơn La có hệ thống sông, suối khá dày nhưng phân bố không đồng đều,
chủ yếu tập trung ở vùng thấp, có đến 97% diện tích tự nhiên thuộc lưu vực
của 2 sông chính là sông Đà và sông Mã. Sông Đà chảy qua địa phận tỉnh dài
253 km, tổng diện tích lưu vực khoảng 9.874 km
2
. Sông Mã chảy qua tỉnh có
độ dài 93 km với diện tích lưu vực là 2.800 km
2
. Thêm vào đó, sông suối ở
Sơn La có độ dốc lớn, do đó tiềm năng thuỷ điện được đánh giá là khá dồi
dào.
 Thổ nhưỡng
Diện tích đất tự nhiên của Sơn La là 1.045.500 ha, trong đó diện tích đất
nông nghiệp là 190.070 ha chiếm 13,52%; diện tích đất lâm nghiệp có rừng là
331.120 ha chiếm 23,55%; diện tích đất chuyên dùng là 22.327 ha chiếm
1,53%; diện tích đất chưa sử dụng và sông suối là 856.227 ha, chiếm 59,02%.
Riêng đối với đất sử dụng cho mục đích lâm nghiệp bao gồm các loại đất sau:
• Đất feralit đỏ vàng (F) và đất mùn feralit trên đỉnh núi (H), các loại đất
này chiếm đến 90% diện tích đất lâm nghiệp của toàn tỉnh.

• Vùng đất có độ dốc cao trên 25% chiếm đến 86%. Tuy vậy 2 cao
nguyên lớn là cao nguyên Mộc Châu và cao nguyên Sơn La – Nà Sản
lại tương đối bằng phẳng và cũng là nơi phân bố của các loại đất có độ
phì nhiêu cao, tầng đất dày như đất đỏ vàng và đất nâu vàng trên đá vôi
rất thích hợp để phát triển một nền nông – lâm nghiệp hàng hoá có quy
23
mô tập trung.
• Độ phì của đất mặc dù bị suy thoái do thảm thực vật bị tàn phá và tập
quán canh tác nương rẫy lạc hậu trước đây nhưng vẫn còn đạt được ở
mức trung bình.
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1.2.1. Nguồn nhân lực
Dân số của tỉnh Sơn La vào khoảng 1.007.511 người, trong đó dân cư sống
tại đô thị chiếm khoảng 11,3% tương ứng với 113.680 người còn lại khoảng
88,7% dân số tập trung ở khu vực nông thôn. Mật độ dân số bình quân là 71
người/km
2
, cao nhất là thành phố Sơn La với mật độ dân số trên 200
người/km
2
. (Theo tài liệu thống kê năm 2006).
Hiện nay tại Sơn La có 12 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó có một
số dân tộc chiếm chủ yếu là Thái (chiếm 54%), H’Mông (chiếm 12,02%),
Kinh (chiếm 18%), Mường (chiếm 8,12%) và một số dân tộc khác.
Năm 2006, số người trong độ tuổi lao động của tỉnh là 541.451 người, chiếm
54% dân số toàn tỉnh. Lao động nông lâm nghiệp chiếm gần 90% còn lao động
trong khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ chế biến khoảng 10%.
Một vấn đề tồn tại trong phát triển dân số của tỉnh là tỉ lệ tăng tự nhiên vẫn
còn cao vào khoảng 1,59%. Cùng với đó là trình độ dân trí chưa được nâng
cao để bắt kịp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện nay. Mặc dù

lực lượng lao động còn ít so với tiềm năng đất đai tự nhiên nhưng lại xuất
hiện tình trạng thiếu việc làm với một tỉ lệ đáng kể, xấp xỉ 11%.
2.1.2.2. Thực trạng kinh tế
• Tăng trưởng kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân chung của
tỉnh giai đoạn 2000 – 2005 là 11,6%, cao hơn mức bình quân của cả
24
nước là 3.1% (tăng trưởng của cả nước đạt 8,5%). Đặc biệt năm 2006
tỉnh đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao, khoảng 13,25%.
GDP cũng tăng lên đáng kể: Năm 2002 đạt mức 1.207,2 tỷ đồng, đến
năm 2005 đã đạt được 2.112 tỷ đồng, tăng gấp 1,75 lần và trong năm
2006 con số này đã lên tới 2.392,8 tỷ đồng. Tuy vậy, thu nhập bình
quân đầu người còn thấp, mới đạt mức 206 USD vào năm 2006, bằng
36% thu nhập bình quân đầu người tính cho cả nước (mức thu nhập
bình quân cả nước là 715 USD).
• Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Những năm gần đây cơ cấu GDP của
tỉnh đã có sự chuyển biến đáng kể đem lại những thay đổi tích cực cho
nề kinh tế. Tỷ trọng đóng góp của các ngành công nghiệp – xây dựng
và các ngành dịch vụ tăng dần lên, đồng thời từng bước giảm dần tỷ
trọng ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trong cơ cấu kinh tế.
Hình 2.2: Sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Sơn La
Cụ thể như sau: tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng đã tăng từ
9,49% lên 18,58%; các ngành dịch vụ tăng từ 29,55% lên mức 38,52%
25

×