Tải bản đầy đủ (.doc) (67 trang)

Xác định trị giá thuế hàng nhập khẩu ở cục hải quan TP Hà Nội.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (382.51 KB, 67 trang )

Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
2.7. Tăng cường công tác kiểm tra sau thông quan, điều tra chống
buôn lậu. .................................................................................................. 54
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
WCO : Tổ chức hải quan thế giới
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
1
Chuyên đề tốt nghiệp
GVA : Hiệp định trị giá hải quan 1994
ASEAN : Hiệp hội các nước Đông Nam Á
GATT : Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
C/O : Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa
TCHQ : Tổng cục hải quan
HQHN : Hải quan Hà Nội
GTT22 : Hệ thống cơ sở dữ liệu giá
KTSTQ : Kiểm tra sau thông quan
BTC : Bộ Tài chính
CP : Chính phủ
QĐ : Quyết định
NĐ : Nghị định
TT : Thông tư
KTTT : Kiểm tra thu thuế
TGTT : Trị giá tính thuế
PTPL : Phân tích phân loại
USD : Đô la Mỹ
UBND : Uỷ ban nhân dân
TP : Thành phố
MỞ ĐẦU
Trong xu thế phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế của thế kỷ 21,


Hải quan là một trong những lĩnh vực quan trọng, có ảnh hưởng sâu sắc
đến tiến trình hội nhập. Ngành Hải quan đang thực hiện những sứ mệnh
quan trọng nhằm góp phần tạo thuận lợi cho thương mại, thu hút đầu tư
nước ngoài, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách, bảo vệ an ninh quốc gia
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
2
Chuyên đề tốt nghiệp
và cộng đồng. Trong hoạt động quản lý nhà nước về hải quan trên lĩnh
vực xác định trị giá tính thuế, với mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi cho
thương mại và hội nhập, trong khi vẫn phải duy trì một hệ thống kiểm
soát xuất nhập khẩu đầy đủ, Hải quan đang đứng trước những thách thức
to lớn để vừa tạo “thuận lợi” cho thương mại vừa đảm bảo “tuân thủ”.
Trước năm 2003, nguyên tắc xác định trị giá dựa trên bảng giá tối
thiểu đã phát huy một số tác dụng trong đấu tranh, chống gian lận thương
mại qua giá, đồng thời cũng bộc lộ nhược điểm cơ bản là tính áp đặt,
không phù hợp với thực tiễn giao dịch thương mại quốc tế. Từ ngày
1/1/2004, Việt Nam đã chính thức triển khai thực hiện xác định trị giá hải
quan theo Hiệp định về thực hiện điều VII Hiệp định chung về thuế quan
và thương mại. Đây là Hiệp định mang tính kỹ thuật cao đòi hỏi cơ quan
hải quan và doanh nghiệp phải hiểu biết đầy đủ, chính xác và thống nhất.
Thực tế cho thấy, cả phía cơ quan Hải quan và doanh nghiệp đều
bộc lộ những hạn chế: cán bộ hải quan còn lúng túng trong việc áp dụng
các phương pháp xác định trị giá do chưa thực sự hiểu sâu nghiệp vụ,
phía doanh nghiệp còn mơ hồ về cách xác định trị giá tính thuế nên
không hiểu hết quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Do vậy việc nghiên cứu
vấn đề xác định trị giá tính thuế là hết sức quan trọng, giúp các bên có
liên quan tính đúng, tính đủ số thuế phải nộp, góp phần đẩy nhanh quá
trình thông quan, đưa hàng hóa vào lưu thông.
Với mục tiêu gắn liền lý luận với thực tiễn, qua quá trình thực tập
tại Cục Hải quan TP Hà Nội, được sự giúp đỡ của Phòng nghiệp vụ,

Phòng trị giá, được khảo sát thực tế tại Chi cục Hải quan Bưu điện, đặc
biệt là sự góp ý tận tình của Thạc sỹ Nguyễn Quang Huy em đã chọn đề
tài: “Xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu ở Cục Hải quan TP Hà
Nội: thực trạng và giải pháp hoàn thiện” với mong muốn đề xuất một số
giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác xác định trị giá tính thuế ở
Cục Hải quan TP Hà Nội.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, các phụ lục
và danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề gồm có 3 chương:
Chương I: Khái quát về công tác xác định trị giá tính thuế hàng
nhập khẩu ở Cục hải quan TP Hà Nội
Chương II: Thực trạng hoạt động xác định trị giá tính thuế hàng
nhập khẩu ở Cục Hải quan TP Hà Nội.
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
3
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện công tác xác
định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu ở Cục hải quan TP Hà Nội.
Do kiến thức và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên chuyên đề
thực tập của em không thể tránh khỏi thiếu sót, em rất mong nhận được
sự góp ý của các giảng viên để chuyên đề của em được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ Nguyễn Quang Huy cùng các
cô chú, anh chị tại Cục Hải quan TP Hà Nội đã nhiệt tình hướng dẫn,
giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
Em xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ
HÀNG NHẬP KHẨU Ở CỤC HẢI QUAN TP HÀ NỘI
1. Giới thiệu tổng quan về Cục hải quan TP Hà Nội.
1.1. Quá trình phát triển của Cục hải quan TP Hà Nội.
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48

4
Chuyên đề tốt nghiệp
Ngày 02/4/1955, Bộ trưởng Bộ Công thương (ông Phan Anh) đã ký
Nghị định số 34/BCT/KB/NĐ thành lập Sở Hải quan Hà Nội, trực thuộc
Sở Hải quan Trung ương. Sau khi thực dân Pháp rút khỏi các khu vực tập
kết, Bộ Công thương đã ra Nghị định số 154/BCT/KB/NĐ ngày
22/6/1955 sáp nhập Sở Hải quan Hà Nội vào Sở Hải quan Trung ương.
Đến những năm 1965 -1975, là giai đoạn đế quốc Mỹ leo thang, Thủ đô
Hà Nội phải tiếp nhận số lượng rất lớn hàng viện trợ qua tuyến đường sắt
liên vận quốc tế, Sở Hải quan Trung ương đã triển khai tổ chức Phòng
Hải quan Hà Nội để theo dõi, quản lý toàn bộ hoạt động hải quan trên địa
bàn thành phố Hà Nội. Sau chiến thắng lịch sử 30/04/1975, Hà Nội là thủ
đô của nước Việt Nam thống nhất, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan
đã ký Quyết định số 101/TCHQ/TCCB ngày 03/8/1985 thành lập Cục
Hải quan thành phố Hà Nội trực thuộc Tổng cục Hải quan để thống nhất
quản lý toàn bộ các đơn vị Hải quan trên địa bàn Hà Nội.
Cục Hải quan Hà Nội có địa bàn hoạt động rộng, có nhiều khu
công nghiệp, khu công nghệ cao quy mô lớn, với nhiều doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài. Hàng hóa xuất nhập khẩu theo nhiều đường khác
nhau (hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ), đa dạng về loại
hình xuất nhập khẩu (kinh doanh, gia công, sản xuất xuất khẩu, chế xuất,
tạm nhập - tái xuất…)
Sau 55 năm xây dựng và trưởng thành, Hải quan TP Hà Nội đã có
những nỗ lực phấn đấu kiên cường, bền bỉ, liên tục. Ghi nhận những nỗ
lực phấn đấu trên, Nhà nước đã tặng thưởng Hải quan TP Hà Nội những
phần thưởng cao quý: Huân chương Độc lập hạng ba (năm 2010), Huân
chương Lao động hạng ba (năm 1990), Huân chương Lao động hạng nhì
(năm 2000), Huân chương Lao động hạng nhất (năm 2005); Chính phủ
tặng cờ thi đua xuất sắc năm 1998, 2002, 2008; nhiều tập thể, cá nhân
Cục Hải quan TP Hà Nội được nhà nước tặng thưởng Huân chương

Lao động, Huân chương Chiến công và các danh hiệu khen thưởng của
Chính phủ, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan, UBND các tỉnh, thành
phố... Đảng bộ Cục Hải quan TP Hà Nội được nhận cờ " Đảng bộ trong
sạch vững mạnh tiêu biểu 5 năm 2001-2004 " của Thành ủy Hà Nội. Các
tổ chức đoàn thể quần chúng: Công đoàn, Đoàn thanh niên, Phụ nữ liên
tục đạt danh hiệu tổ chức cơ sở vững mạnh, xuất sắc.
1.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Cơ cấu tổ chức bộ máy của Cục hải quan TP Hà Nội như sau:
- Lãnh đạo Cục gồm có: Cục trưởng và 5 Phó cục trưởng
- Khối cơ quan Cục gồm: 11 Phòng và tương đương
+ Văn phòng
+ Phòng Tổ chức Cán bộ - Đào tạo
+ Phòng Tài vụ - Quản trị
+ Phòng Nghiệp vụ
+ Phòng Tham mưu xử lý vi phạm và thu thập, xử lý thông tin nghiệp vụ
hải quan
+ Phòng Trị giá tính thuế
+ Trung tâm dữ liệu và công nghệ thông tin
+ Phòng Kiểm tra - Thanh Tra
+ Đội kiểm soát hải quan
+ Đội kiểm soát phòng chống ma túy
+ Chi cục Kiểm tra sau thông quan
- Khối Các đơn vị Chi cục Hải quan cửa khẩu và tương đương gồm 12
Chi cục:
Các Chi cục Hải quan đóng trên địa bàn TP Hà Nội:
+ Chi cục Hải quan cửa khẩu Sân bay quốc tế Nội Bài xem tiếp
+ Chi cục Hải quan Bưu điện TP Hà Nội xem tiếp

+ Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội xem tiếp
+ Chi cục Hải quan quản lý hàng đầu tư, gia công xem tiếp
+ Chi cục Hải quan Gia Lâm xem tiếp
+ Chi cục Hải quan Gia Thụy (ICD Gia Thụy) xem tiếp
+ Chi cục Hải quan ga Đường sắt quốc tế Yên Viên xem tiếp
+ Chi cục Hải quan Khu công nghiệp Bắc Thăng Long xem tiếp
+ Chi cục Hải quan Hà Tây xem tiếp
Các Chi cục hải quan đóng trên địa bàn của các tỉnh gồm:
+ Chi cục Hải quan Phú Thọ (ICD Thụy Vân) xem tiếp
+ Chi cục Hải quan Bắc Ninh xem tiếp
+ Chi cục Hải quan Vĩnh Phúc
1.3. Chức năng, nhiệm vụ các phòng ban.
1.3.1. Chức năng.
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Cục Hải quan thành phố Hà Nội là đơn vị trực thuộc Tổng cục Hải
quan, có chức năng tổ chức thực hiện pháp luật của Nhà nước về Hải
quan và các quy định khác của pháp luật có liên quan trên địa bàn TP Hà
Nội và các tỉnh Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái, Hòa Bình...
- Chịu sự lãnh đạo, quản lý trực tiếp và toàn diện của Tổng cục Hải
quan và Bộ Tài chính.
- Chịu sự lãnh đạo, kiểm tra của Thành uỷ, UBND TP Hà Nội về
việc thực hiện đường lối, chính sách, nghị quyết của Đảng, pháp luật nhà
nước và các hoạt động khác có liên quan ở địa phương.
- Phối kết hợp với các Sở, Ban, Ngành, đoàn thể, cộng đồng doanh
nghiệp, nhân dân TP Hà Nội và các tỉnh thuộc địa bàn quản lý để hoàn
thành nhiệm vụ được giao.
- Phối kết hợp với các Cục Hải quan tỉnh, thành phố khác để tạo
thuận lợi và thực hiện nhiệm vụ được giao.

1.3.2. Nhiệm vụ
1/ Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn và triển khai thực hiện các quy
định của Nhà nước về Hải quan trên địa bàn hoạt động của Cục Hải quan.
2/ Thanh tra, kiểm tra các đơn vị thuộc Cục Hải quan trong việc
thực hiện chính sách, pháp luật về Hải quan theo quy chế hoạt động của
Thanh tra Hải quan.
3/ Xử lý vi phạm hành chính hoặc khởi tố đối với các vụ buôn lậu,
vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới theo quy định của pháp luật.
4/ Kiến nghị với Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan những vấn đề
cần sửa đổi, bổ sung các quy định của Nhà nước đối với hoạt động xuất
khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, chính sách thuế đối với
hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
5/ Tổ chức nghiên cứu, tiếp nhận và triển khai ứng dụng tiến bộ
khoa học, công nghệ và phương pháp quản lý Hải quan hiện đại vào các
hoạt động của Cục Hải quan.
6/ Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước, tổ chức hữu quan,
đơn vị trên địa bàn để thực hiện nhiệm vụ được giao.
7/ Tổ chức tuyên truyền và hướng dẫn thực hiện chính sách, pháp
luật về Hải quan trên địa bàn.
8/ Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế về Hải quan theo phân cấp
hoặc ủy quyền của Tổng cục trưởng, Bộ trưởng Bộ Tài chính.
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
7
Chuyên đề tốt nghiệp
9/ Tổng kết, thống kê, đánh giá tổng hợp tình hình và kết quả các
mặt công tác của Cục Hải quan; thực hiện báo cáo theo quy định của
Tổng cục Hải quan.
10/ Được ký các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, giải thích các vấn đề
thuộc phạm vi quản lý của Cục Hải quan theo quy định của Tổng cục
trưởng.

11/ Đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công
chức của Cục Hải quan theo quy định của Nhà nước và theo phân cấp
quản lý cán bộ.
12/ Quản lý, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, phương tiện, trang
bị kỹ thuật và kinh phí hoạt động của Cục Hải quan theo đúng quy định
của nhà nước.
13/ Thu thập và xử lý thông tin nghiệp vụ hải quan.
14/ Thực hiện các nhiệm vụ khác được giao.
2. Nội dung công tác xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu tại
Cục hải quan TP Hà Nội.
2.1. Nội dung quy trình kiểm tra, xác định trị giá tính thuế hàng nhập
khẩu tại Cục hải quan TP Hà Nội.
Quy trình kiểm tra, xác định trị giá tính thuế được thực hiện theo
hướng dẫn của Tổng cục hải quan, các bước gồm: kiểm tra trị giá tính
thuế khai báo; tham vấn; xác định trị giá tính thuế; cập nhật các kết quả
kiểm tra, xác định trị giá tính thuế vào chương trình cơ sở dữ liệu giá tại
cơ quan hải quan. Trong đó phân định nhiệm vụ, trách nhiệm của từng bộ
phận đối với nghiệp vụ kiểm tra, xác định trị giá tính thuế.
2.1.1. Hướng dẫn thực hiện quy trình tại Cục hải quan TP Hà Nội
Căn cứ vào Quyết định số 1636/QĐ-TCHQ ngày 4/8/2008 của
Tổng cục trưởng Tổng cục hải quan, Cục hải quan TP Hà Nội đã hướng
dẫn các Chi cục triển khai thực hiện thống nhất, tuân thủ quy trình quy
định và phân cấp thẩm quyền quản lý theo các nội dung sau:
- Chi cục trưởng tổ chức quán triệt đến lãnh đạo Chi cục, lãnh đạo
đội và công chức làm công tác giá nghiên cứu kỹ quy trình trong đó lưu ý
thêm ba trường hợp mặt hàng nhập khẩu có nghi vấn, vẫn chấp nhận trị
giá khai báo nhưng đồng thời phải chuyển các nghi vấn sang bộ phận
kiểm tra sau thông quan để tiếp tục làm rõ. Trong đó có hai trường hợp
thuộc nhiệm vụ của công chức hải quan làm nhiệm vụ tại khâu kiểm tra
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48

8
Chuyên đề tốt nghiệp
chi tiết hồ sơ giá, thuế và một trường hợp thuộc nhiệm vụ của công chức
hải quan làm nhiệm vụ tại khâu phúc tập.
- Mặt hàng thuộc danh mục mặt hàng quản lý rủi ro và mặt hàng
ngoài danh mục mặt hàng quản lý rủi ro nhưng thuộc danh mục mặt hàng
trọng điểm cần tập trung quản lý tại đơn vị do Cục trưởng Cục hải quan
TP Hà Nội quyết định, có nghi vấn về mức giá nhưng trị giá khai báo
thấp hơn không quá 5% so với cơ sở dữ liệu giá tại thời điểm kiểm tra thì
giao các Chi cục trưởng căn cứ thực tế lô hàng nhập khẩu, các thông tin
dữ liệu về hàng hóa nhập khẩu, doanh nghiệp nhập khẩu,… để quyết định
việc áp dụng khoản đảm bảo và tổ chức tham vấn đối với lô hàng đó.
- Về mối liên hệ giữa bộ phận giá (phòng trị giá tính thuế, bộ phận
kiểm tra tại khâu thông quan và bộ phận phúc tập tại các Chi cục) và bộ
phận kiểm tra sau thông quan: Cục hải quan TP Hà Nội đã quy định việc
phối hợp chặt chẽ giữa bộ phận trị giá và kiểm tra sau thông quan trong
mục tiêu ngăn ngừa và chống gian lận thương mại qua giá tại “Kế hoạch
tổ chức và phối hợp chống gian lận thương mại qua giá giai đoạn
2008-2010” được ban hành kèm theo công văn số 1587/HQHN-TGTT
ngày 1/9/2008 của Cục.
- Về thực hiện chế độ báo cáo công tác quản lý giá trong nội bộ
Cục hải quan TP Hà Nội: ngoài các báo cáo đột xuất theo vụ việc hoặc
yêu cầu cụ thể khác, Cục hải quan TP Hà Nội yêu cầu các Chi cục thực
hiện thống nhất chế độ báo cáo về công tác quản lý giá gồm: báo cáo đề
xuất xây dựng Danh mục các mặt hàng trọng điểm cần tập trung quản lý,
báo cáo số liệu giá tính thuế, báo cáo theo mẫu của Bộ tài chính, báo cáo
xây dựng dữ liệu giá những mặt hàng quản lý rủi ro, báo cáo đề xuất điều
chỉnh các mức giá trong danh mục điều chỉnh quản lý rủi ro về giá…
2.1.2. Quy trình, sơ đồ kiểm tra trị giá được thực hiện tại Cục
Cục Hải quan TP Hà Nội đã ban hành sơ đồ kiểm tra trị giá tính

thuế hàng nhập khẩu để thực hiện thống nhất trong toàn Cục như sau:
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
9
Hàng hóa nhập khẩu
Phân luồng thủ tục hải quan theo các tiêu chí rủi ro
Hàng thuộc danh mục quản lý rủi ro về giá được đưa vào tiêu chí rủi ro để phân luồng thủ tục
Chi cục kiểm tra giá trong thông
quan
Không đủ
cơ sở bác bỏ
giá khai báo
SƠ ĐỒ KIỂM TRA TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG NHẬP
Luồng xanh
Gồm hàng ngoài danh mục
quản lý rủi ro về giá
Chi cục kiểm tra giá sau khi hàng đã thông
quan
Nếu không sai
phạm thì
chuyển sang
quy trình thủ
tục hải quan
bình thường
Nếu có sai
phạm, xử
lý theo
quy định
và xác
định giá
Nếu có nghi

vấn, chuyển
sang kiểm
tra sau thông
quan
Nếu không sai
phạm, không
nghi vấn, chấp
nhận giá khai
báo
Nếu có sai
phạm, xử
lý theo
quy định
và xác
định giá
Trong danh mục quản lý rủi ro về
giá
Có nghi vấn
hồ sơ, không
nghi vấn giá
khai báo, chấp
nhận giá khai
báo
Có nghi
vấn hồ sơ,
có nghi
vấn giá
khai báo
Không
nghi vấn

hồ sơ, có
nghi vấn
giá khai
báo
Có đủ cơ sở
bác bỏ giá
khai báo
Chuyển
KTSTQ
Tham vấn Tham vấn
Tham vấn
Chuyển
KTSTQ
Cục trưởng

Chi cục trưởng QĐ
Chuyên đề tốt nghiệp
Quy trình kiểm tra trị giá, tham vấn được thực hiện cụ thể như sau:
* Đối với hàng luồng xanh: Sau khi thông quan hàng hoá, cán bộ
phúc tập thực hiện kiểm tra hồ sơ, kiểm tra mức giá, đối chiếu với các
nguyên tắc, phương pháp xác định trị giá do doanh nghiệp khai báo và xử
lý như sau:
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
10
Luồng vàng, đỏ
Gồm cả hàng hóa trong và ngoài danh mục
quản lý rủi ro về giá
Nếu

nghi

vấn
Ngoài danh mục quản lý rủi ro về giá
Chuyên đề tốt nghiệp
- Trường hợp phát hiện các sai phạm về hồ sơ, về mức giá khai báo
thì xử lý hành vi sai phạm theo quy định đồng thời xác định lại giá tính
thuế theo đúng trình tự, nguyên tắc và các phương pháp xác định trị giá,
ra thông báo để doanh nghiệp biết và nộp thuế bổ sung theo quyết định
điều chỉnh.
- Trường hợp nghi ngờ về hồ sơ, về mức giá khai báo nhưng chưa
đủ cơ sở để kết luận hành vi sai phạm thì chuyển hồ sơ sang Chi cục kiểm
tra sau thông quan để tiếp tục xác minh hoặc kiểm tra sau thông quan để
kết luận cụ thể.
* Đối với hàng luồng vàng, luồng đỏ: Trước khi thông quan hàng
hoá, công chức bước 2 kiểm tra chi tiết hồ sơ, kiểm tra mức giá khai báo,
đối chiếu với các nguyên tắc, phương pháp xác định trị giá do doanh
nghiệp khai báo và xử lý như sau:
- Trường hợp phát hiện các sai phạm về hồ sơ, về mức giá khai báo
thì xử lý hành vi sai phạm theo quy định đồng thời xác định lại giá tính
thuế theo đúng trình tự, nguyên tắc và các phương pháp xác định trị giá,
ra thông báo để doanh nghiệp biết và nộp thuế bổ sung theo quyết định
điều chỉnh.
- Trường hợp nghi ngờ về hồ sơ, nghi ngờ về mức giá khai báo
nhưng chưa đủ cơ sở để kết luận hành vi sai phạm thì yêu cầu doanh
nghiệp tham vấn trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai để
cung cấp bổ sung các chứng từ, tài liệu và giải trình các nghi ngờ của cơ
quan Hải quan. Trong quá trình tham vấn, doanh nghiệp không chứng
minh, giải trình được các nghi ngờ thì cơ quan hải quan sẽ bác bỏ trị giá
khai báo, xác định lại giá tính thuế theo đúng trình tự, nguyên tắc và các
phương pháp xác định trị giá, ra thông báo để doanh nghiệp biết và nộp
thuế bổ sung theo quy định.

- Trường hợp sau khi tham vấn, cơ quan hải quan không đủ cơ sở,
căn cứ để bác bỏ trị giá khai báo nhưng vẫn nghi ngờ thì chuyển hồ sơ
sang Chi cục kiểm tra sau thông quan để tiếp tục xác minh hoặc kiểm tra
sau thông quan để kết luận cụ thể.
2.2. Điều kiện để được áp dụng các phương pháp xác định trị giá tính
thuế hàng nhập khẩu
Trong trường hợp mà người khai hải quan không xác định được trị
giá tính thuế, xác định sai trị giá hoặc không có đủ bằng chứng chứng
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
11
Chuyên đề tốt nghiệp
minh tính xác thực của trị giá tính thuế thì cơ quan hải quan có quyền xác
định trị giá tính thuế. Việc xác định trị giá tại Cục Hải quan TP Hà Nội
tuân theo trình tự áp dụng sáu phương pháp: Phương pháp trị giá giao
dịch của hàng hóa nhập khẩu; Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa
giống hệt; Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự; Phương
pháp khấu trừ; Phương pháp tính toán; Phương pháp suy luận. Sơ đồ thể
hiện các phương pháp trên được trình bày tại các phụ lục từ 1 đến 6. Cục
hải quan TP Hà Nội đã hướng dẫn điều kiện áp dụng các phương pháp
xác định trị giá tính thuế như sau:
2.2.1. Điều kiện áp dụng phương pháp xác định trị giá tính thuế theo trị
giá giao dịch
a. Người mua không bị hạn chế quyền định đoạt hoặc sử dụng hàng
hoá sau khi nhập khẩu, ngoại trừ các hạn chế sau:
- Hạn chế về việc mua bán, sử dụng hàng hoá theo quy định của
pháp luật Việt Nam, như: các quy định về việc hàng hóa nhập khẩu phải
dán nhãn mác bằng tiếng Việt, hàng hóa nhập khẩu có điều kiện, hoặc
hàng hóa phải chịu một hình thức kiểm tra trước khi được thông quan…
- Hạn chế về nơi tiêu thụ hàng hóa sau khi nhập khẩu.
- Những hạn chế khác nhưng không làm ảnh hưởng đến trị giá của

hàng hoá: những hạn chế này là một hoặc nhiều yếu tố có liên quan trực
tiếp hay gián tiếp đến hàng hóa nhập khẩu, nhưng không làm tăng hoặc
giảm giá thực thanh toán cho hàng hóa đó.
b. Giá cả hoặc việc bán hàng không phụ thuộc vào những điều kiện
hay các khoản thanh toán mà vì chúng không thể xác định được trị giá
của hàng hoá cần xác định trị giá tính thuế.
c. Sau khi bán lại hàng hoá, chuyển nhượng hoặc sử dụng hàng hóa
nhập khẩu, người nhập khẩu không phải trả thêm bất kỳ khoản tiền nào từ
số tiền thu được do việc định đoạt hoặc sử dụng hàng hoá mang lại,
không kể các khoản điều chỉnh cộng.
d. Người mua và người bán không có mối quan hệ đặc biệt hoặc
nếu có thì mối quan hệ đó không ảnh hưởng đến trị giá giao dịch.
Theo thống kê của Hải quan Hà Nội thì trên 90% lô hàng nhập
khẩu được áp dụng phương pháp trị giá giao dịch.
2.2.2. Điều kiện áp dụng phương pháp trị giá tính thuế của hàng hoá nhập
khẩu giống hệt
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
12
Chuyên đề tốt nghiệp
Khi không thể xác định trị giá tính thuế theo phương pháp trị giá
giao dịch thì phải áp dụng phương pháp tiếp theo là trị giá tính thuế của
hàng hóa nhập khẩu giống hệt. Điều kiện áp dụng:
a. Lô hàng nhập khẩu giống hệt được xuất khẩu đến Việt Nam vào
cùng ngày hoặc trong vòng 60 ngày trước hoặc sau ngày xuất khẩu của lô
hàng đang được xác định trị giá tính thuế.
b. Lô hàng nhập khẩu giống hệt có giao dịch mua bán ở cùng cấp
độ hoặc đã được điều chỉnh về cùng cấp độ bán buôn hoặc bán lẻ; có
cùng số lượng hoặc đã được điều chỉnh về cùng số lượng với lô hàng
đang được xác định trị giá tính thuế.
c. Lô hàng nhập khẩu giống hệt có cùng khoảng cách và phương

thức vận chuyển hoặc đã được điều chỉnh về cùng khoảng cách và
phương thức vận chuyển giống như lô hàng đang được xác định trị giá
tính thuế.
2.2.3. Điều kiện áp dụng phương pháp trị giá tính thuế của hàng hoá nhập
khẩu tương tự
Khi không đủ điều kiện để áp dụng hai phương pháp đầu tiên thì
phải áp dụng trị giá tính thuế của hàng hóa tương tự. Điều kiện áp dụng:
a. Điều kiện về thời gian xuất khẩu: Lô hàng nhập khẩu tương tự
được xuất khẩu đến Việt Nam vào cùng ngày hoặc trong vòng 60 ngày
trước hoặc sau ngày xuất khẩu của lô hàng đang được xác định trị giá tính
thuế.
b. Điều kiện mua bán:
b.1. Điều kiện về cấp độ thương mại và số lượng:
b.1.1. Lô hàng nhập khẩu tương tự phải có cùng điều kiện về cấp
độ thương mại và số lượng với lô hàng nhập khẩu đang được xác định trị
giá tính thuế.
b.1.2. Nếu không tìm được lô hàng nhập khẩu nêu tại điểm b.1.1.
thì lựa chọn lô hàng nhập khẩu có cùng cấp độ thương mại nhưng khác
nhau về số lượng, sau đó điều chỉnh trị giá giao dịch của lô hàng nhập
khẩu tương tự về cùng số lượng với lô hàng đang xác định trị giá tính
thuế.
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
13
Chuyên đề tốt nghiệp
b.1.3. Nếu không tìm được lô hàng nhập khẩu nêu tại điểm b.1.1.
và b.1.2. thì lựa chọn lô hàng nhập khẩu khác nhau về cấp độ thương mại
nhưng cùng số lượng, sau đó điều chỉnh trị giá giao dịch của lô hàng nhập
khẩu tương tự về cùng cấp độ thương mại với lô hàng đang xác định trị
giá tính thuế.
b.1.4. Nếu không tìm được lô hàng nhập khẩu nêu tại điểm b.1.1.,

b.1.2., b.1.3. thì lựa chọn lô hàng nhập khẩu khác nhau cả về cấp độ
thương mại và số lượng, sau đó điều chỉnh trị giá giao dịch của lô hàng
nhập khẩu tương tự về cùng cấp độ thương mại và số lượng với lô hàng
đang xác định trị giá tính thuế.
b.2. Điều kiện về quãng đường và phương thức vận tải, bảo hiểm:
Lô hàng nhập khẩu tương tự có cùng khoảng cách và phương thức vận
chuyển hoặc đã được điều chỉnh về cùng khoảng cách và phương thức
vận chuyển giống như lô hàng đang được xác định trị giá tính thuế. Nếu
có sự chênh lệch đáng kể về phí bảo hiểm thì điều chỉnh về cùng điều
kiện bảo hiểm với lô hàng đang xác định trị giá tính thuế.
2.2.4. Điều kiện áp dụng phương pháp xác định trị giá tính thuế theo
phương pháp khấu trừ.
Khi không đủ điều kiện để áp dụng ba phương pháp trên thì hải
quan Hà Nội sẽ áp dụng phương pháp khấu trừ. Phương pháp xác định trị
giá tính thuế theo phương pháp khấu trừ sẽ được áp dụng khi:
- Hàng hoá nhập khẩu sau khi gia công, chế biến còn nguyên trạng
như khi nhập khẩu.
- Hàng hoá nhập khẩu sau khi gia công, chế biến vẫn giữ nguyên
đặc điểm, tính chất, công dụng như khi nhập khẩu, là hàng hoá được bán
ra trên thị trường Việt Nam.
Trường hợp sau khi gia công, chế biến hàng hoá nhập khẩu không
còn nguyên trạng như khi nhập khẩu, nhưng vẫn có thể xác định được
chính xác giá trị tăng thêm do quá trình gia công, chế biến thì trị giá tính
thuế vẫn được xác định theo phương pháp này.
2.2.5. Điều kiện áp dụng phương pháp xác định trị giá tính thuế theo
phương pháp tính toán
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
14
Chuyên đề tốt nghiệp
Khi không thể áp dụng bốn phương pháp nêu trên thì phải áp dụng

phương pháp tính toán. Nguyên tắc cơ bản khi áp dụng phương pháp tính
toán là phải căn cứ vào các thông tin hợp pháp, cụ thể và định lượng
được. Nói cách khác, khi tính toán các khoản mục trong trị giá tính toán,
các khoản giá trị đó phải được dựa trên các chứng từ, giấy tờ, bằng chứng
xác thực và hợp pháp, không được sử dụng những trị giá ước tính hay dự
đoán, không có bằng chứng cụ thể để chứng minh. Trên thực tế, phương
pháp trị giá tính toán thường được áp dụng khi người mua và người bán
có mối quan hệ đặc biệt với nhau.
2.2.6. Điều kiện áp dụng phương pháp xác định trị giá tính thuế theo
phương pháp suy luận.
Khi không thể xác định được trị giá tính thuế của hàng hóa nhập
khẩu theo các phương pháp từ một đến năm thì Hải quan Hà Nội sẽ áp
dụng phương pháp thứ sáu là phương pháp suy luận. Phương pháp suy
luận sẽ được áp dụng khi:
- Không có giao dịch bán hàng để xuất khẩu hoặc giao dịch đó
không hoàn toàn là giao dịch bán hàng để xuất khẩu
- Không có hàng hóa giống hệt hoặc hàng hóa tương tự
- Hàng hóa không được bán lại ở nước nhập khẩu
- Người sản xuất không biết hoặc từ chối cung cấp các số liệu về
chi phí liên quan đến sản xuất và bán hàng hóa nhập khẩu.
Tại Cục hải quan TP Hà Nội rất ít khi phải sử dụng đến phương
pháp này để xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu.
2.3. Xây dựng cơ sở dữ liệu để kiểm soát hoạt động xác định trị giá tính
thuế hàng nhập khẩu của doanh nghiệp
Một trong những điều kiện cần thiết và cơ sở pháp lý để tra cứu,
đối chiếu xác định trị giá tính thuế theo GATT là nguồn thông tin dữ liệu
giá. Nguồn tin từ hệ thống dữ liệu trị giá tính thuế (GTT22) là kho dữ liệu
điện tử được cập nhật thường xuyên, trong đó ghi lại tất cả các thông tin
về trị giá khai báo, trị giá tính thuế của các mặt hàng nhập khẩu theo các
tờ khai nhập khẩu. Hệ thống cũng cho phép tham khảo thông tin về các

trường hợp nghi ngờ, gian lận về trị giá, các phương pháp xác định trị giá
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
15
Chuyên đề tốt nghiệp
đã được thực hiện. Có thể nói đây là nguồn thông tin quan trọng nhất, đa
dạng nhất mà cơ quan hải quan có được.
2.3.1. Các nguồn thông tin được sử dụng
Cục hải quan TP Hà Nội đã sử dụng các nguồn thông tin để kiểm
tra, tham vấn và xác định trị giá trong thời gian qua bao gồm:
- Nguồn thông tin dữ liệu về hồ sơ các lô hàng nhập khẩu do doanh
nghiệp khai báo.
- Nguồn thông tin dữ liệu về hồ sơ các lô hàng nhập khẩu do cơ
quan Hải quan điều chỉnh sau tham vấn.
- Nguồn thông tin dữ liệu do cơ quan Hải quan thu thập được như:
Nguồn thông tin trên mạng Internet, nguồn thông tin từ giá bán thị trường
qua khảo sát, nguồn thông tin do các Hiệp hội cung cấp,…
2.3.2. Yêu cầu trong xây dựng cơ sở dữ liệu
Cục hải quan TP Hà Nội yêu cầu các Chi cục trong việc cập nhật
các thông tin vào hệ thống GTT22 như sau: cập nhật đầy đủ, chi tiết,
chính xác và kịp thời các thông tin vào hệ thống GTT22 do người khai
hải quan khai báo hoặc do cơ quan hải quan thu thập được trong quá trình
kiểm tra, tham vấn, xác định giá. Thường xuyên kiểm tra, theo dõi, rà
soát và khắc phục các sự cố gây mất dữ liệu, thiếu dữ liệu do cập nhật,
kết xuất và truyền nhận dữ liệu không đầy đủ, nhất là các Chi cục trong
thời gian tới triển khai thủ tục thông quan điện tử, đồng thời thực hiện
đầy đủ các hướng dẫn về kết xuất, truyền nhận và khai thác dữ liệu.
Tránh tình trạng thiếu dữ liệu đối với loại hình nhập kinh doanh giữa
chương trình GTT22 so với số liệu xuất nhập khẩu. Trường hợp hệ thống
gặp sự cố không thể khắc phục được thì phải báo ngay về Cục bằng văn
bản (fax qua phòng trị giá tính thuế, trung tâm dữ liệu - công nghệ thông

tin) kèm theo màn hình chụp lỗi để có phương án xử lý.
Ngoài ra, Cục yêu cầu chủ động thu thập, phân tích, xử lý các
nguồn thông tin khác ngoài hồ sơ nhập khẩu trong đó ưu tiên những mặt
hàng có thuế suất cao, nhạy cảm, nhiều khả năng gian lận như: ô tô, xe
máy, rượu, bia... Các nguồn thông tin thu thập bao gồm: thông tin giá
chào bán trên mạng Internet, thông tin giá bán thị trường nội địa trên các
bản tin, tạp chí hoặc phối hợp với các cơ quan khác để thu thập như: cơ
quan thuế nội địa, Cục quản lý giá, các công ty thẩm định giá, các hiệp
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
16
Chuyên đề tốt nghiệp
hội doanh nghiệp,... để đối chiếu, so sánh và loại bỏ các thông tin không
phù hợp do doanh nghiệp khai báo trên hệ thống GTT22 trong quá trình
kiểm tra, tham vấn, xác định giá, tránh tình trạng xác định trị giá quá thấp
so với cơ sở dữ liệu hoặc chấp nhận trị giá khai báo do không có thông tin
so sánh, kiểm tra.
Tại các Chi cục, tổ chức phân quyền đến từng bộ phận nghiệp vụ,
từng cán bộ công chức theo đúng chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận,
từng cán bộ công chức đã được lãnh đạo phân công. Chi cục cần tìm hiểu
kỹ để áp dụng đúng các phương pháp thu thập các nguồn thông tin khác
quy định tại điểm b mục 1 phần II Quy chế xây dựng, quản lý, sử dụng cơ
sở dữ liệu giá tính thuế ban hành kèm theo Quyết định số 1102/QĐ-BTC
ngày 21/5/2008 của Bộ tài chính.
Về việc sử dụng thông tin dữ liệu giá để xác định trị giá tính thuế
sau khi bác bỏ trị giá giao dịch: thực hiện đúng theo quy định tại điểm b
mục 3 phần II Quyết định số 1102/QĐ-BTC ngày 21/5/2008 của Bộ
trưởng Bộ tài chính; thực hiện đúng trình tự, nguyên tắc các phương pháp
xác định trị giá tính thuế quy định tại thông tư số 40/2008/TT-BTC.
Thông tin giá thu thập từ các nguồn khác (thị trường, Internet...) phải
được phân tích, đánh giá, tổng hợp, ...theo đúng phương pháp, trình tự

quy định tại Phụ lục Quyết định số 1102/QĐ-BTC ngày 21/5/2008 của
Bộ trưởng Bộ tài chính và trình lãnh đạo phê duyệt trước khi sử dụng;
không sử dụng mức giá tại danh mục quản lý rủi ro, danh mục trọng điểm
hoặc mức giá giả định để xác định trị giá.
2.3.3. Công tác kiểm tra và nâng cấp hệ thống cơ sở dữ liệu
Thời gian vừa qua, Phòng trị giá tính thuế đã phối hợp với Trung
tâm CNTT cài đặt nâng cấp hệ thống GTT22 tại các Chi cục, đồng thời
làm việc với đoàn khảo sát của Tổng cục hải quan tại Cục và Chi cục hải
quan Bắc Hà Nội về việc cài đặt GTT22 mới nâng cấp. Khi xảy ra lỗi cập
nhật tờ khai trị giá còn thiếu tại các Chi cục, trong quá trình các Chi cục
khắc phục, Phòng trị giá đã phối hợp với Trung tâm CNTT để tìm nguyên
nhân báo cáo Tổng cục hải quan.
Phòng trị giá còn thường xuyên kiểm tra, rà soát dữ liệu giá của các
Chi cục trên hệ thống GTT22, từ đó kịp thời chấn chỉnh những sai sót của
các Chi cục trong công tác cập nhật dữ liệu giá. Bên cạnh đó, kịp thời hỗ
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
17
Chuyên đề tốt nghiệp
trợ các Chi cục khi có vướng mắc về công tác giá dưới hình thức văn bản
hoặc cử cán bộ chuyên quản trực tiếp xuống các Chi cục phối hợp làm
việc.
2.4. Giải quyết những vấn đề phát sinh trong khâu xác định trị giá tính
thuế hàng nhập khẩu giữa Cục hải quan TP Hà Nội với doanh nghiệp.
Khi người khai hải quan có khiếu nại về kết quả xác định trị giá
tính thuế của cơ quan hải quan thì khiếu nại của cấp nào thì thủ trưởng
đơn vị cấp đó có trách nhiệm giải quyết lần đầu. Nếu người khai hải quan
vẫn không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại lần đầu của cơ quan
hải quan và có khiếu nại lần hai thì thủ trưởng cấp trên trực tiếp của cấp
giải quyết khiếu nại lần đầu có trách nhiệm ra quyết định giải quyết khiếu
nại lần hai.

Ngoài ra, Cục Hải quan TP Hà Nội cũng tổ chức các Hội nghị tháo
gỡ khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, đại diện
lãnh đạo Hải quan Hà Nội và các đơn vị chức năng của Cục đã tập trung
giải đáp triệt để những vướng mắc của các doanh nghiệp. Nhằm đáp ứng
nhu cầu tìm hiểu của cộng đồng doanh nghiệp, các ý kiến giải đáp vướng
mắc cho doanh nghiệp tại hội nghị sẽ được tập hợp và đăng tải tại
website của Cục Hải quan Hà Nội trong thời gian tới .
Để tránh việc doanh nghiệp lợi dụng, lựa chọn đơn vị địa phương
xem xét quyết định khoản chiết khấu, giảm giá, Chi cục hải quan đã tiến
hành thủ tục hải quan theo quy định đồng thời hướng dẫn doanh nghiệp
thực hiện như sau: đối với hợp đồng ngoại thương được nhập khẩu theo
nhiều chuyến (nhiều tờ khai) có yếu tố chiết khấu, giảm giá, Cục hải quan
TP Hà Nội chỉ xem xét, quyết định khoản chiết khấu, giảm giá nếu doanh
nghiệp khai báo nhập khẩu các lô hàng đó duy nhất tại một Chi cục hải
quan trực thuộc Cục; Kết thúc hợp đồng, doanh nghiệp nộp bản kê khai
và các tài liệu hồ sơ chứng minh đã hoàn thành việc nhập khẩu và thanh
toán toàn bộ hợp đồng, gửi Cục hải quan TP Hà Nội (qua phòng trị giá
tính thuế) để được xem xét, quyết định.
Cục đã triển khai nghiêm túc các văn bản liên quan đến giải quyết
khiếu nại tố cáo, thường xuyên giải quyết kịp thời các khiếu nại của
doanh nghiệp liên quan đến công tác trị giá tính thuế. Trong năm 2009,
Phòng trị giá đã tiếp nhận 7 khiếu nại của doanh nghiệp và đã giải quyết
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
18
Chuyên đề tốt nghiệp
các khiếu nại này theo đúng thẩm quyền và pháp luật, không còn khiếu
nại nào chưa được Phòng giải quyết.
3. Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác xác định trị giá tính thuế
hàng nhập khẩu tại Cục hải quan TP Hà Nội.
3.1. Những nhân tố thuận lợi

Từ Cục đến các Chi cục hải quan đã triển khai được một hệ thống
quản lý công tác giá tính thuế tuân thủ nội dung Hiệp định trị giá GATT
phù hợp với quản lý hiện đại, đang phát triển đúng hướng phù hợp với
yêu cầu phát triển thương mại, hội nhập và hiện đại hóa hải quan.
Các văn bản pháp quy về công tác giá tính thuế, các văn bản hướng
dẫn chỉ đạo công tác giá tính thuế của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan
được triển khai kịp thời, công tác giá ngày càng hoàn thiện.
Hơn nữa, có thể thấy sau khi áp dụng nguyên tắc kiểm tra giá là
quản lý rủi ro về giá căn cứ vào Danh mục mặt hàng quản lý rủi ro về giá
và Danh mục mặt hàng trọng điểm cũng đảm bảo việc quản lý giá thông
thoáng mà vẫn chặt chẽ. Bên cạnh đó, việc triển khai các văn bản hướng
dẫn thực hiện công tác giá từ Cục đến Chi cục thông suốt, kịp thời và rõ
ràng hơn. Các Chi cục cũng đã chú trọng hơn đến việc hướng dẫn, giải
đáp những khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp liên quan đến những
quy định mới về công tác giá. Do đó, việc chấp hành của doanh nghiệp
trong khai báo cũng nghiêm túc hơn, sát với trị giá giao dịch hơn.
Cục Hải quan TP Hà Nội đã rất chú trọng đến công tác đào tạo
nhằm nâng cao nhận thức cho đội ngũ làm công tác giá ngay từ khi bắt
đầu thực hiện Thông tư số 40/2008/TT-BTC. Cục đã nghiêm túc chọn
lựa, xây dựng nên một đội ngũ cán bộ có trình độ, có kinh nghiệm, được
đào tạo đúng chuyên môn làm công tác giá tại Chi cục. Cục đã ra quyết
định công khai danh sách các công chức chuyên trách làm công tác giá tại
từng Chi cục. Mỗi khi có sự điều động luân chuyển giữa các đơn vị trong
Cục thì các công chức mới chuyển đến vẫn được đơn vị tiếp nhận phân
công tiếp tục thực hiện nhiệm vụ làm công tác giá. Với việc xây dựng đội
ngũ cán bộ theo hướng chuyên sâu như vậy, công tác giá đã thật sự đạt
được những kết quả nhất định, có sự thống nhất từ trên xuống dưới, tránh
được tình trạng mỗi đơn vị thực hiện một kiểu như trước đây.
Tại Cục hải quan TP Hà Nội, hệ thống máy móc đang được tăng
cường, các phần mềm nghiệp vụ đang được nghiên cứu điều chỉnh. Hải

SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
19
Chuyên đề tốt nghiệp
quan Hà Nội kết hợp với các chuyên gia thế giới đang xác lập lộ trình
đánh giá lại các cơ sở triển khai phương pháp trị giá hải quan. Các
chương trình nghiên cứu, đánh giá bao gồm: đánh giá hệ thống văn bản
quy phạm pháp luật liên quan đến trị giá hải quan, đánh giá khả năng hiện
đại hóa của hải quan Hà Nội, đánh giá về nhân sự cũng như hệ thống tổ
chức quản lý của hải quan Hà Nội. Sự đầu tư này sẽ mang lại hiệu quả
trong thời gian tới.
Công tác tuyên truyền về trị giá hải quan đang được triển khai
mạnh mẽ thông qua truyền hình, báo Hải quan, website của hải quan Hà
Nội, công khai các văn bản điều hành cho các cá nhân, doanh nghiệp tiếp
cận, tham khảo.
Hệ thống kiểm tra sau thông quan – một lĩnh vực cực kỳ quan
trọng, là hậu phương vững chắc cho áp dụng phương pháp trị giá hải quan
đang được đầu tư phát triển mạnh.
3.2. Những nhân tố không thuận lợi
3.2.1. Từ phía cơ quan hải quan
Theo báo cáo của Phòng trị giá – Cục hải quan TP Hà Nội năm
2009, công tác giá còn gặp một số khó khăn, vướng mắc là:
+ Công tác giá tại một số Chi cục chưa được quan tâm đúng mức
nên vẫn còn tình trạng nhiều sai sót lặp đi lặp lại. Bên cạnh đó, các Chi
cục bố trí cán bộ làm công tác giá chưa theo hướng chuyên sâu nên còn
có hiện tượng cán bộ làm công tác giá bị phân công làm công tác khác.
+ Cán bộ làm công tác giá ở Chi cục chưa chủ động tự đào tạo, còn
phụ thuộc vào chương trình đào tạo của Cục. Khi được đào tạo thì tinh
thần, thái độ học tập còn chưa nghiêm túc. Kỹ năng tham vấn, cập nhật
các thông tin mới về biến động giá cả trên thị trường quốc tế của một số
cán bộ, công chức tại đơn vị còn bị hạn chế.

+ Việc sử dụng thông tin giá chủ yếu căn cứ vào chương trình
GTT22 một phần là do cán bộ công chức chưa chủ động thu thập thông
tin từ nguồn khác một phần là do các thông tin hỗ trợ công tác giá còn
nghèo nàn.
+ Chương trình GTT22 đang trong quá trình hoàn thiện, dẫn tới
hay xảy ra lỗi trong khi chạy, làm ảnh hưởng tới công tác nghiệp vụ. Hệ
thống thông tin dữ liệu tuy đã được nâng cấp, cập nhật kịp thời và đầy đủ
hơn trước đây, nhưng một số trường hợp vẫn còn thiếu thông tin chi tiết
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
20
Chuyên đề tốt nghiệp
để có thể lựa chọn làm lô hàng giống hệt hoặc tương tự ảnh hưởng đến
việc sử dụng làm căn cứ xác định trị giá tính thuế.
+ Các văn bản liên quan đến công tác giá còn chậm, chưa kịp thời,
hay thay đổi, một số nội dung còn chồng chéo, không rõ ràng gây khó
khăn cho cán bộ thực hiện. Nhiều thời điểm thiếu căn cứ pháp lý dẫn đến
tồn tại song song nhiều phương pháp xác định trị giá: Từ ngày 1/1/2004
đến ngày 31/8/2004 tồn tại 3 phương pháp tính thuế: hàng hóa là vật tư
nhập khẩu trực tiếp đưa vào sản xuất, hàng hóa của doanh nghiệp hoạt
động theo Luật đầu tư nước ngoài được xác định giá theo hợp đồng quy
định tại thông tư 08/2002/TT-BTC ngày 23/1/2002; hàng hóa nhập khẩu
từ những nước chưa ký kết với Việt Nam về thực hiện trị giá hải quan
theo WTO thì áp dụng chính sách giá tối thiểu; hàng hóa nhập khẩu từ
những nước đã ký kết với Việt Nam về thực hiện xác định trị giá hải quan
theo WTO thì áp dụng các phương pháp xác định trị giá hải quan theo
WTO.
Hội nhập quốc tế cũng phát sinh một số loại hình xuất nhập khẩu
mới trong khi hệ thống quy định của pháp luật còn đang trong quá trình
xây dựng và hoàn thiện, thường xuyên thay đổi cho phù hợp với thực tiễn
và hội nhập kinh tế quốc tế... Tất cả những thực tế đó khiến cho công tác

kiểm tra, giám sát, quản lý của Cục hải quan TP Hà Nội đối mặt với
không ít khó khăn, phức tạp.
Thêm vào đó, sự phối hợp của các đơn vị trong ngành còn chưa
thống nhất: Kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực giá nói riêng cần phải
tiến hành một số hoạt động điều tra, xác minh. Chức năng, nhiệm vụ,
phạm vi hoạt động của hệ thống kiểm tra sau thông quan bị hạn chế. Mặc
dù lực lượng kiểm soát chống buôn lậu được trang bị rất nhiều thẩm
quyền nhưng hệ thống kiểm tra sau thông quan vẫn chưa xây dựng được
quy chế phối hợp trong thực thi nhiệm vụ.
Quy chế phối hợp với các ngành khác chưa đáp ứng yêu cầu: sự
phối hợp giữa các ngành Kho bạc - Hải quan – Thuế nội địa đã được Bộ
Tài chính quy định tại Quyết định số 1081/QĐ-BTC ngày 6/4/2004. Tuy
nhiên sự phối hợp cũng chỉ dừng lại ở phạm vi trao đổi thông tin thu đòi
nợ thuế, trong khi nhu cầu cần nâng sự phối hợp lên tầm cao mới là phối
hợp trong thực hiện nghiệp vụ chuyên môn nhằm ngăn chặn các hành vi
gian lận của doanh nghiệp.
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
21
Chuyên đề tốt nghiệp
Cơ sở công nghệ thông tin còn thiếu và yếu: thiết bị máy móc còn
sơ sài, chưa đáp ứng được yêu cầu công việc, trang thiết bị hỗ trợ chủ yếu
còn mang tính thủ công, các phần mềm kỹ thuật phục vụ công tác trị giá
hiện nay chưa đồng bộ mà mang tính chắp vá gây khó khăn cho hải quan
trong khai thác dữ liệu: phần mềm quản lý đăng ký tờ khai – hệ thống cơ
sở dữ liệu giá GTT22 – phần mềm cập nhật thông tin kiểm hóa – phần
mềm thống kê hải quan – phần mềm khai hải quan điện tử ... hoạt động
chưa hoàn toàn tương thích và đồng bộ.
3.2.2. Từ phía doanh nghiệp
Hiện nay, Ngành hải quan đang áp dụng cơ chế doanh nghiệp tự kê
khai, tự tính thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Theo đó, doanh

nghiệp sẽ tự áp mã hàng hóa, thuế suất và xác định giá tính thuế trên cơ
sở những quy định đã được biết trước. Tuy nhiên, một bộ phận doanh
nghiệp chưa am hiểu các phương pháp xác định trị giá tính thuế theo
Hiệp định nên nhận thức về quyền lợi và nghĩa vụ còn hạn chế. Đa số các
doanh nghiệp chỉ nhận thức về mặt quyền lợi (được áp giá tính thuế theo
trị giá khai báo, không bị áp đặt theo trị giá tối thiểu như trước kia) nhưng
chưa tự giác thực hiện các nghĩa vụ với cơ quan hải quan như: khai báo
trung thực trị giá, cung cấp các thông tin về giá và trả lời các câu hỏi nghi
vấn của cơ quan Hải quan trong quá trình tham vấn. Doanh nghiệp đã gây
ra một số trở ngại làm giảm tiến độ thông quan hàng hóa. Điều này gây
khá nhiều khó khăn cho cán bộ Hải quan khi thực hiện nhiệm vụ.
Doanh nghiệp luôn có xu hướng gian lận và tìm kiếm những kẽ hở,
sử dụng nhiều thủ đoạn gian lận giá tinh vi như khai thấp giá thực tế phải
thanh toán, lợi dụng quy định về hàng khuyến mại, giảm giá để khấu trừ
khoản này ra khỏi trị giá tính thuế hoặc không khai báo một số khoản
phải cộng như phí bảo hiểm, tiền bản quyền, trị giá phần mềm.
Nguyên nhân một phần là do người khai báo không hiểu rõ luật
nên không khai báo đúng hoặc cố tình khai báo thấp đi giá trị lô hàng để
trốn thuế do luật pháp nước ta chưa chặt chẽ lắm. Doanh nghiệp khai báo
không đầy đủ các yếu tố liên quan đến hàng hóa như chi phí bao bì, đóng
gói, phí bản quyền, các chi phí tham gia vào quá trình sản xuất… Các số
liệu này phải rõ ràng, khách quan thì mới đẩy nhanh quá trình làm thủ tục
hải quan và thông quan hàng hóa.
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
22
Chuyên đề tốt nghiệp
Một số hình thức gian lận về trị giá hải quan của doanh nghiệp tại Cục
hải quan TP Hà Nội
* Khai báo thấp trị giá: đây là hình thức gian lận trị giá phổ biến
nhất. Để thực hiện khai báo thấp trị giá, chủ hàng đã sử dụng những

phương pháp như: Lập hóa đơn đôi, lập hóa đơn giả, thanh toán từng
phần, không tính vào, không tiết lộ chi phí hay trị giá các khoản phụ trợ,
không khai báo giá trị các khoản tiền bản quyền hay phí giấy phép hay
các khoản tiền lời từ việc bán lại hàng hóa nhập khẩu....
* Khai báo tăng trị giá: Cố tránh được những quy định về hạn chế
nhập khẩu, cố gắng dự đoán hoặc tránh được việc điều tra về thuế chống
phá giá, khi việc phân loại hàng hóa và mức thuế nhập khẩu căn cứ vào
trị giá và trị giá càng cao thì mức thuế càng giảm, khi giao dịch liên quan
đến giá chuyển tiền và trị giá Hải quan tăng giả tạo để giảm cơ bản thuế
nội địa...
* Mô tả sai hàng hóa trên hóa đơn: Mô tả sai hàng hóa trên hóa
đơn về số lượng hay trọng lượng của hàng hóa, mô tả sai để tránh được
những hạn chế về hạn ngạch hay để trốn thuế chống phá giá, mô tả sai
mục đích sử dụng một hàng hóa khi mục đích sử dụng của hàng hóa
quyết định mức thuế nhập khẩu, mô tả sai để đưa hàng hóa thâm nhập thị
trường nước nhập khẩu khi hàng hóa đó bị hạn chế hay bị cấm nhập khẩu,
thể hiện sai nội dung hàng hóa làm ảnh hưởng đến việc phân loại hàng
hóa và mức thuế nhập khẩu.
* Khai báo sai xuất xứ hàng hóa: Che giấu xuất xứ thực của hàng
hóa bằng việc chuyển tải qua nước thứ ba, để lẫn hàng hóa của một nước
với hàng hóa của một nước khác, từ đó che giấu xuất xứ thật của hàng
hóa.
Nguyên nhân: Nhìn chung, các hình thức gian lận về trị giá hải
quan trong thực tế vô cùng đa dạng và phức tạp. Có thể nêu một vài
nguyên nhân chủ yếu sau:
- Do sự áp dụng mô hình quản lý rủi ro, đơn giản hóa thủ tục hải
quan trong khi chưa có sự chuẩn bị chu đáo, đồng bộ về cơ sở pháp lý
cho việc xác định trị giá hải quan.
- Các cơ sở về thông tin còn thiếu dẫn đến nhiều hạn chế khi đấu
tranh với các hành vi gian lận.

SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
23
Chuyên đề tốt nghiệp
- Kiến thức chuyên sâu về các lĩnh vực như: xuất xứ hàng hóa,
chứng từ vận tải, chứng từ thanh toán… của một số cán bộ hải quan còn
yếu, không phát hiện ra những điều bất hợp lý trong bộ chứng từ khai
báo. Ngoài những nguyên nhân chủ quan từ ngành Hải quan, cần phải kể
đến những nguyên nhân khách quan từ hệ thống các cơ quan khác cũng
như nhận thức của xã hội nói chung về trị giá hải quan. Chính sự phát
triển không đồng bộ giữa các ngành là một trong những nguyên nhân
khiến ngành Hải quan gặp khó khăn trong phát huy khả năng của mình.
CHƯƠNG II
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
24
Chuyên đề tốt nghiệp
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ
HÀNG NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TP HÀ NỘI
1. Thực trạng hoạt động nhập khẩu hàng hóa tại Cục hải quan TP
Hà Nội
Tính chung trong 10 năm, kim ngạch nhập khẩu qua địa bàn quản
lý của Cục Hải quan TP Hà Nội tăng bình quân 32%/năm, lượng hành
khách xuất nhập cảnh tăng 36%/năm, phương tiện xuất nhập cảnh tăng
17%/năm. Từ chỗ chỉ có gần 20 chuyến bay xuất nhập/ngày đến nay
trung bình có khoảng 80 chuyến bay/ngày, làm thủ tục xuất nhập cảnh
24/24h… Áp lực công việc ngày càng lớn, song với sự chỉ đạo của lãnh
đạo Cục, sự sát cánh cùng nhau vượt khó của cán bộ công chức Hải quan
Hà Nội, trong 10 năm gần đây, số thu nộp ngân sách đạt 46.736,8 tỷ
đồng, số thuế thu nộp ngân sách tăng trung bình trên 28%/năm, phần lớn
các năm đều thu đạt và vượt chỉ tiêu được giao. Tính riêng năm 2009,
Cục hải quan TP Hà Nội thu nộp ngân sách gần 11 nghìn tỷ đồng, vượt

24% so với kế hoạch . Kết quả này đã thể hiện sự nỗ lực cao của Hải
quan Hà Nội, nhất là trong bối cảnh địa bàn hoạt động nằm sâu trong nội
địa, không có cảng biển, không có cửa khẩu đường bộ, xe tải vào thành
phố bị hạn chế, thuế suất thuế nhập khẩu giảm theo cam kết AFTA và
WTO.
2. Thực trạng công tác xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu tại
Cục hải quan TP Hà Nội
2.1. Quá trình áp dụng xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu tại
Cục hải quan TP Hà Nội
Cục hải quan TP Hà Nội là một trong những đơn vị đi đầu trong
việc thực hiện chủ trương, chính sách của Nhà nước đối với công tác xác
định trị giá tính thuế. Trước khi áp dụng Hiệp định trị giá GATT, Cục hải
quan TP Hà Nội áp dụng bảng giá tối thiểu được ban hành kèm theo
quyết định số 177/2001/QĐ-TCHQ ngày 14/3/2001 của Tổng cục hải
quan và một số văn bản sửa đổi, bổ sung như quyết định số
594/2001/QĐ-TCHQ ngày 29/6/2001, quyết định số 674/2001/QĐ-
TCHQ ngày 18/7/2001, quyết định số 848/2001/QĐ-TCHQ ngày
11/9/2001, quyết định số 1116/2001/QĐ-TCHQ ngày 1/11/2001, quyết
định số 1202/2001/QĐ-TCHQ ngày 23/11/2001. Đến năm 2002, Hải
SVTH: Trịnh Thị Hà Lớp: Hải quan 48
25

×