Tải bản đầy đủ (.pdf) (43 trang)

LUẬN VĂN: Tìm hiểu bản chất của thuế GTGT, đánh giá tình hình thực hiện ở Việt Nam trong những năm vừa qua pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (464.81 KB, 43 trang )


z













LUẬN VĂN:

Tìm hiểu bản chất của thuế GTGT, đánh
giá tình hình thực hiện ở Việt Nam trong
những năm vừa qua













Phần I: lời mở đầu.
Thuế là nguồn thu ổn định của Nhà nước, là công cụ phân phối thu nhập quốc
dân, thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế và là công cụ bảo vệ kinh tế trong nước,
cạnh tranh với nước ngoài.
Từ năm 1999 trở về trước, chúng ta đã sử dụng thành công cơ chế thuế cũ, tuy
nhiên trong tình hình mới , do xu hướng toàn cầu hoá chung của thế giới, cơ chế thuế
hiện hành ở Việt Nam đã lộ rõ một số mặt bất cập, dẫn đến khó khăn về quản lý, điều
hành thuế và thất thu Ngân sách quốc gia.
Vì vậy việc áp dụng một số luật thuế mới trong giai đoạn này là hết sức cần
thiết. Trong đó thuế giá trị gia tăng (GTGT) đã có những đóng góp quan trọng cho
tiến trình cải cách chính sách thuế của Nhà nước.
Trên thế giới, thuế GTGT (hay còn gọi là VAT) đã có lịch sử lâu đời (bắt đầu
xuất hiện năm 1917) và qua quá trình kiểm nghiệm ở nhiều nước trên thế giới, nó đã
thể hiện được tính ưu việt của mình so với các loại thuế tương đương. Mặc dù vậy
một số nước cũng đã áp dụng không thành công thuế GTGT do chưa chuẩn bị kỹ cơ
sở hạ tầng cho một có chế thuế mới cũng như do chưa nắm bắt rõ bản chất loại thuế
này.
Chính vì vậy mục đích của đề án này là tìm hiểu bản chất của thuế GTGT,
đánh giá tình hình thực hiện ở Việt Nam trong những năm vừa qua và đề xuất những
biện pháp xử lý thuế trong thời gian tới nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ thống thuế ở
Việt Nam.






Phần II. Những vấn đề chung về thuế giá trị gia tăng.
I./ Thuế giá trị gia tăng (GTGT).

1./ Khái niệm.
Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ
phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
2./ Sự ra đời và phát triền của thuế GTGT.
Năm 1954 thuế GTGT lần đầu tiên ra đời tại Pháp dưới hình thức thuế đánh
vào giai đoạn sản xuất. Đến năm 1968, thuế này được nhập vào thuế lưu thông đánh
vào dịch vụ và thuế địa phương đánh vào lưu thông bán lẻ thành một loại thuế thống
nhất chung thu ở giai đoạn bán lẻ (viết tắt theo tiếng Pháp là TVA). Từ đó đến nay do
tính ưu viết của mình, thuế GTGT ngày càng được sử dụng rộng khắp ở nhiều nước
trên thế giới. Thuế GTGT được sớm áp dụng ở Châu âu, chỉ hơn hai mươi năm sau
khi ra đời hình thức sơ khai đầu tiên, nó đã được coi là một trong những điều kiện tiên
quyết để gia nhập khối EC (năm 1977).
Tính đến năm 1995, trên thế giới có tới hơn 100 nước áp dụng thuế GTGT.
Riêng Châu á kể từ năm 80 trở lại đây đã có sự gia tăng vượt bậc về số lượng các
thành viên sử dụng VAT. Đầu tiên là Triều Tiên (1977), tiếp đến là Indonexia (1985),
Đài Loan (1986), Philipine (1988), Mông Cổ (1993), Trung Quốc (1994) và Việt Nam
(1999).
Việc áp dụng một phương pháp tính thuế mới ở một quốc gia không phải là
vấn đề đơn giản, hệ thống thuế ảnh hưởng trực tiếp đến ngân sách và vấn đề phát triển
kinh tế của quốc gia đó. Chính vì vậy, không chỉ ở những nước đang phát triển mà ở
một số nước kinh tế phát triển, do những quan điểm khác nhau trong việc nghiên cứu
nên quyết định áp dụng thuế GTGT kéo dài trong nhiều năm như:
Nhật Bản đưa ra đề nghị áp dụng GTGT từ những năm 1955 đến năm 1986
nhưng tháng 4 năm 1989 mới thực hiện.
Newzeland: Phản đối kịch liệt thuế GTGT vào đầu những năm 80 nhưng đã

ban hành GTGT tháng 5 năm 1986.
Hy Lạp đồng ý chuyển sang GTGT khi ra nhập EC năm 1981 với tư cách một
thành viên chính thức, nhưng đến tháng 1 năm 1987 mới ban hành GTGT.
Canada ban đầu cũng rất phản đối việc ban hành GTGT thay thế cho thuế bán

lẻ đang được lưu hành ở các bang song đến tháng 1 năm 1991, GTGT đã được ban
hành.
Thuỵ Sỹ đã phản đối đề nghị ban hành GTGT thay thế cho bán lẻ hiện hành.
Song tháng 1 năm 1995, Thuỵ Sỹ đã ban hành GTGT.
3./ Tại sao lại chọn thuế GTGT.
(1) thuế GTGT ra đời là một chu cầu tất yếu đối với nền kinh tế khi cơ cấu
thuế cũ không còn đáp ứng được nhu cầu trong tình hình mới. Nói chung các yêu cầu
đó có thế chia thành bốn dạng sau:
Thứ nhất: Thuế doanh thu hiện hành không đáp ứng được yêu cầu thu và quản
lý, có nhiều bất hợp lý (như trùng lặp, quá phức tạp gây tâm lý nặng nề, hiệu quả
không cao).
Thứ hai: Do quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, yêu
cầu mở rộng lưu thông hàng hoá giữa các nước đòi hỏi bãi bỏ, giảm thuế ở cửa khẩu
đối với xuất nhập khẩu hàng hoá là rất quan trọng, nó giúp kích thích các nghành sản
xuất dịch vụ trong nước, khuyến khích xuất khẩu những tiềm lực quốc gia và góp
phần thúc đẩy những mặt hàng thiết yếu. Trong xu thế hiện nay, không thể tồn tại nền
kinh tế đóng, hoặc gần như đóng do những rào cản thuế quan bất hợp lý. Thuế GTGT
ra đời đã phần nào đáp ứng được những yêu cầu trên.
Thứ ba: Tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước và có điều kiện thu hẹp các
loại thuế khác. Đa số các cơ chế thuế hiện hành của các nước khi chưa áp dụng thuế
GTGT đều cồng kềnh, phức tạp và có nhiều sự chồng chéo, điều đó gây khó khăn cho
việc quản lý thuế của Nhà nước (như tính thuế, thu thuế, giải quyết các trường hợp
quá hạn thuế, miễn thuế ) cũng như việc kinh doanh của người dân. Tình trạng này dễ

dàng gây ra tâm lý ngại thuế, tránh thuế làm thất thu cho Ngân sách một khoản không
nhỏ. Để giải quyết các vấn đề trên cần phải có một cơ chế thuế mới phù hợp và rõ
ràng đối với tất cả mọi người, và thuế GTGT là một giải pháp.
Thứ tư: Sự phát triển của kinh tế đòi hỏi sửa đổi hệ thống thuế cho phù hợp.
Chúng ta đã biết rằng mỗi một thời kỳ phát triển kinh tế cần phải có một hệ thống
chính sách quản lý cho phù hợp, không có một cơ chế nào dúng cho mọi lúc mọi nơi.

Vấn đề quản lý thuế cũng không nằm ngoài quy luật ấy.
(2) Như vậy thuế GTGT ra đời trước hết để đáp ứng tình hình mới, sau một
thời gian được áp dụng và kiểm nghiệm, thuế GTGT được đại đa số các nước trên thế
giới thừa nhận về những ưu điểm nổi bật của nó ở các mặt sau:
a. Khắc phục được một số mặt hạn chế của thuế doanh thu hiện hành.
Có khả năng mang lại nguồn thu lớn cho Ngân sách Nhà nước. Kinh nghiệm của các
nước: Indonexia, Newzeland, Bồ Đào Nha và Tuinidi đã chứng minh rõ điều này. Đại
đa số các nước áp dụng thuế GTGT, khoản thu từ số thuế này thường đảm bảo từ 12%
đến 30% tổng số thu của Ngân sách Nhà nước (tương đương khoảng 5% đến 10%
tổng sản phẩm quốc dân).
b. Tính trung lập: Với điều kiện số lượng đối tượng được miễn hạn chế và
sự vận dụng thuế suất 0% chỉ hạn chế đối với hoạt động xuất khẩu, GTGT là một thứ
thuế trung lập và không dẫn đến bất kỳ một sự méo mó nào. Điều này thể hiện tính ưu
việt của thuế GTGT so với các loại thuế được nó thay thế.
c. Tính đơn giản: Tính đơn giản của thuế GTGT bắt nguồn từ cơ chế đánh
thuế và khấu trừ thuế của nó. Đối tượng nộp thuế GTGT sẽ thu số GTGT khi bán
hàng và khấu trừ số thuế GTGT đã nộp khi mua vật tư, hàng hoá đầu vào, số chênh
lệch còn lại nộp vào Ngân sách Nhà nước. (Việc tính thuế căn cứ vào các hoá đơn bán
hàng và mua hàng).
II. Nội dung chủ yếu của thuế GTGT.
1./ Xác định phạm vi áp dụng.

Về đối tượng chịu thuế: GTGT là loại thuế đánh vào sử dụng, có nghĩa là
đánh vào người tiêu dùng, người nộp thuế là người kinh doanh, người chịu thuế là
người tiêu dùng trực tiếp và gián tiếp nộp thuế thông qua người kinh doanh.
Đối tượng nộp thuế: Tất cả các thể nhân và các pháp nhân có cung cấp hoặc
nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Một số nước dùng doanh thu để giới hạn đối tượng nộp thuế. Ví dụ: Không
phải là đối tượng nộp GTGT, đối với các doanh nghiệp có mức doanh thu hàng năm
thấp hơn:

+ 200.000 pê xô (Philipines).
+ 200.000 Sek (Thuỵ Điển).
+ 30.000 Can D (Canada).
+ 100.000 DDK (Đan Mạch).
+ 1.000.000 Sin D (Singapore).
+ 60.000 D (Indonexia).
Có nước áp dụng hình thức thu khoán đối với đối tượng kinh doanh vừa và
nhỏ. Như vậy, việc xác định đối tượng nộp thuế là để nhằm giới hạn đối tượng nộp
thuế, loại trừ bớt số lượng lớn về quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ.
Trong giai đoạn chuyển đổi từ thuế doanh thu sang áp dụng GTGT, thường có
ba hình thức triển khai áp dụng GTGT.
Hình thức thứ nhất: áp dụng GTGT toàn bộ, có nghĩa là áp dụng đối với các
đối tượng nộp thuế hoạt động ở tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, buôn bán và
bán lẻ. Điển hình áp dụng hình thức này là các nước: Thuỵ Điển, Pháp, Thái Lan,
Hungari.
Hình thức thứ hai: áp dụng GTGT từng phần, tức là áp dụng đến từng khâu
của quá trình luân chuyển sản phẩm hàng hoá. Ví dụ: Indonexia, Nhà nước ban hành
đạo luật từ năm 1983, nhưng do trình độ quản lý của cán bộ nghành thuế và nhận thức

của người nộp thuế nên đến năm 1985, đạo luật thuế mới được thi hành và thực hiện
theo từng bước như sau:
+ Năm 1985: Đối tượng nộp thuế là những người sản xuất.
+ Năm 1989: Mở rộng phạm vi áp dụng đối với các đại lý bán buôn.
+ Năm 1993: Mở rộng phạm vi áp dụng đối với các cửa hàng bán lẻ.
Hình thức thứ ba: Thực hiện thí điểm GTGT đối với một số nghành. Điển hình
áp dụng hình thức này là Trung Quốc. GTGT được ban hành và thực hiện thí điểm từ
năm 1980 đến 18/9/1994 được ban hành chính thức. Bước thí điểm chỉ áp dụng với
các sản phẩm: xe đạp, quạt điện, kim khí, máy móc thiết bị, phụ tùng, động cơ, thép.
Năm 1986 mở rộng diện đối với các sản phẩm công nghiệp nhẹ, vật liệu xây dựng,
khoáng sản kim loại.

Qua tổng kết đánh giá của các nước, trong ba hình thức tiến hành GTGT, hình
thức toàn bộ là hiệu quả nhất. Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏi phải có sự chuẩn bị rất
đầy đủ về luật, các văn bản hướng dẫn luật, trình độ hiểu biết của người nộp thuế,
trình độ quản lý của từng cơ quan thuế, chứng từ hoá đơn, ý thức chấp hành luật
Hình thức áp dụng GTGT ở từng khâu kết quả bị hạn chế, còn hình thức áp
dụng thí điểm ở phạm vi hẹp, ở một số ngành là không đem lại kết quả.
2./ Các hình thức tính thuế GTGT.
ở các nước đã thực hiện GTGT hiện nay áp dụng một trong hai phương pháp
khấu trừ theo hoá đơn và phương pháp tính chênh lệch theo báo cáo kế toán.
a./ Phương pháp khấu trừ theo hoá đơn:
Đây là phương pháp được hầu hết các nước áp dụng do: Tính thuế dựa vào hoá
đơn đảm bảo xác định thuế có cơ sở để kiểm tra thuế. Có thể áp dụng chính sách thuế
với nhiều thuế suất (nếu thu thuế theo chênh lệch chỉ có thể áp dụng một thuế suất).
Có thể tính GTGT thu thuế theo thời gian ấn định một tháng, hai tháng hay một quí.
b./ Phương pháp thu GTGT trên chênh lệch theo báo cáo kế toán:

Phương pháp này xác định thuế phải dựa trên số liệu báo cáo kế toán của đơn
vị áp dụng phương pháp này sẽ có những vấn đề sau:
Thứ nhất: Các xí nghiệp coi GTGT chỉ là thuế bổ xung đánh vào lợi nhuận,
còn các nhân viên của họ thì coi đó là lại thêm một thứ thuế nữa đánh vào quĩ tiền
lương.
Thứ hai: Báo cáo chỉ kêt thúc một lần trong năm, vậy là tất cả các khoản thanh
toán GTGT phải dựa vào kết toán năm.
Thứ ba: Khó kiểm tra thuế phải nộp từng kỳ so với phương pháp sử dụng hoá
đơn và không có cơ sở để tiến hành các cuộc kiểm tra chéo thuế giữa đơn vị mua và
bán.
Mô hình GTGT Nhật Bản được sử dụng theo phương pháp này (1/4/1989):
Thu GTGT trên cơ sở báo cáo kế toán với một thuế suất là 3% và đã quyết định điều
chỉnh lên 5% để thi hành từ tháng 4/1997. Nhật Bản không phát hành hoá đơn áp
dụng riêng đối với thuế GTGT vì các doanh nghiệp phản ứng, theo phương pháp tính

thuế hiện hành các doanh nghiệp tự tính và nộp thuế. Các doanh nghiệp nhỏ không
phải nộp thuế GTGT.
3. Thuế suất.
Thông thường, để đạt được số thu tương đương so với số thu hiện hành của
thuế doanh thu mà nó thay thế, GTGT phải có mức thuế suất cao hơn (thường là gấp
ba lần thuế suất doanh thu). Vì GTGT chỉ đánh vào giá trị tăng thêm của hàng hoá
hay sản phẩm qua mỗi lần luân chuyển hàng hoá (danh mục các nước áp dụng thuế
GTGT và thuế suất GTGT).
Có hai cơ chế thuế suất được áp dụng:
+ Cơ chế một thuế suất (không kể thuế suất 0% áp dụng với xuất khẩu và một
số mặt hàng thiết yếu (nếu có). Trong số 100 nước thì có 44 nước áp dụng GTGT với
cơ chế một thuế suất, trong đó Đan Mạch là một nước có mức thuế suất cao nhất
(32%). Nhật, Singapore la nước có mức thuế suất thấp nhất (3%).

+ Cơ chế nhiều thuế suất (không kể thuế suất 0%).
Trong số các nước còn lại áp dụng GTGT với có chế nhiều thuế suất thì số
lượng thuế suất giao động từ 2 đến 5 (trường hợp Colombia 5 thuế suất). Thuế suất
thấp nhât la 1% (Bỉ, Thổ Nhĩ Kỳ), 2% (Nam Triều Tiên) và thuế suất cao nhất là 50%
(Senegal), 45% (Trung Quốc), 38% (ý) và 36% (Hy Lạp). Phần lớn các nước áp dụng
cơ chế ba thuế suất. Chỉ có một số nước áp dụng 4 và 5 thuế suất: Bỉ- Colombia.
Mô hình thuế suất của khối EC: Qui định ngoài thuế suất 0% áp dụng cho xuất
khẩu, hệ thống thuế suất chỉ gồm 2 thuế suất: Một mức thuế suất thấp nhưng không
thấp hơn 5%; Một mức thuế suất cao thường hơn 15%.
Qui định về thuế suất 0% và miễn thuế: thuế suất 0% được áp dụng trong đại
đa số các nước chủ yếu đối với hoạt động xuất khẩu. Đối tượng áp dụng thuế suất 0%
tức là được thoái trả lại số GTGT đã chịu trên hàng đầu vào, biện phấ này được đánh
giá là hữu hiệu nhất đối với việc xuất khẩu.
Một số nước áp dụng thuế suất 0% đối với các mặt hàng và dịch vụ khác nhau
như Thuỵ Điển (đối với báo chí xuất bản hàng ngày, xang máy bay phản lực), Canada
(đối với lương thực thực phẩm, các d

ịch vụ tài chính quốc tế.
Đan Mạch và Trung Quốc không sử dụng thuế suất 0%.
Miễn thuế (không áp dụng) GTGT: Các đối tượng được miễn thuế khác với
các đối tượng được hưởng thuế suất 0% ở chỗ họ không có quyền khấu trừ đầu vào
thuế đầu vào đã nộp. Qui định miễn chịu thuế có thể xuất phát từ nhiều lý do: Về kinh
tế, xã hội, về tránh sự đánh thuế chồng chéo, về kỹ thuật: khó xác định giá trị tăng
thêm như: Các dịch vụ về tài chính tín dụng, dịch vụ vận tải quốc tế về hàng không,
đường sắt.
Ví dụ : Thuỵ Điển qui định 29 mặt hàng và dịch vụ được miễn chịu thuế.
Đan Mạch qui định 14 mặt hàng và dịch vụ được miễn chịu thuế.
Đức qui định 5 mặt hàng và dịch vụ được miễn chịu thuế.
4./ Quản lý GTGT.

Đăng ký thuế: Các đối tượng nộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ đầu tiên là đăng
ký thuế tại cơ quan thuế địa phưong nơi đặt cơ quan điều hành thường trú của mình
theo mẫu thống nhất do cơ quan thuế cung cấp. Một số nước sử dụng mã số đăng ký
thuế cũ (thuế doanh thu) và thêm vào đuôi của dãy số đăng ký một số bổ xung để chỉ
rõ là số đăng ký GTGT. Riêng Nhật Bản không sử dụng hệ thống mã hoá số đăng ký
trong công tác quản lý GTGT.
Nộp thuế: Đa số các nước áp dụng GTGT thực hiện nộp thuế theo cơ chế tự kê
khai tính và nộp thuế theo mẫu in sẵn do cơ quan thực hiện cung cấp. Nộp tờ khai và
thanh toán thuế theo định kỳ hàng tháng, quí (tuỳ theo chế độ nộp thuế qui định cho
từng loại đối tượng).
Việc thoái thuế: Phần lớn được giao cho cơ quan thu thuế, trong trường hợp số
thuế được khấu trừ lớn (xuất khẩu hàng hoá hoặc mua sắm tài sản giá trị lớn, đối
tượng kinh doanh có quyền kê khai đề nghị cơ quan thuế thoái trả số tiền đã trả khâu
trước. Cơ quan thuế kiểm tra và thoái trả tiền thuế đã trả ngay một lần hoặc thoái trả
dần trong một thời gian tuỳ theo qui định của từng nước và khả năng ngân sách mỗi
nước. Theo cách này cơ quan thuế thường có một tài khoản thu GTGT và sử dụng
nguồn thu để thoái thuế, khoản còn lại nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Việc khấu trừ thuế GTGT: Các nước áp dụng khấu trừ theo hoá đơn đầu vào và
cho khấu trừ toàn bộ số phát sinh từng kỳ, khi tính thuế GTGT phải nộp. Hầu hết các
nước cho áp dụng khấu trừ thuế đầu vào của tài sản cố định nhằm khuyến khích đầu
tư, cũng có nước không cho áp dụng như Trung Quốc.





Phần III. Tình hình áp dụng thuế GTGT trên thế giới và bài học kinh

nghiệm từ những nước đã áp dụng.
I./ Tình hình áp dụng thuế GTGT ở một số nước.
1./ Thuỵ Điển: Là một nước đi đầu trong việc áp dụng thuế GTGT (1969).
Trước khi thực hiện GTGT, Thuỵ Điển đã thực hiện cơ chế thuế doanh thu với một
thuế suất 10% áp dụng chủ yếu đối với hàng hoá, dịch vụ chịu thuế. Mục tiêu của sự
chuyển đổi là khuyến khích hàng xuất khẩu và thực hiện hoàn thuế đối với hoạt động
xuất khẩu.
Quá trình chuyển đổi thuế ở Thuỵ Điển được tiến hành qua hai giai đoạn:
- Mùa xuân năm 1968 Bộ Tài Chính giải trình trước Quốc hội và các
doanh nghiệp về kế hoạch, nội dung chuyển đổi cơ chế nộp thuế.
- Mùa thu năm 1968 được Quốc hội thông qua và ban hành năm 1969 với
những nội dung cơ bản:
Thứ nhất: Các đối tượng nộp thuế doanh thu đều chuyển sang nộp GTGT. Thời
kỳ đó có 160.000 đối tượng nộp thuế doanh thu. Các dịch vụ không phải nộp thuế,
200.000 hộ nông dân năm ngoài cơ chế GTGT.
Thứ hai: áp dụng tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nộp khâu
trước.
Thứ ba: Thuế suất lúc đầu áp dụng một mức thuế là 10% như thuế doanh thu
nhưng do cơ chế khấu trừ nên làm giảm số thuế GTGT. Để bù đắp nguồn thu, Thuỵ

Điển đã tăng phí bảo hiểm 1% trên tổng quĩ lương. Trong quá trình thực hiện Thuỵ
Điển cũng đã điều chỉnh thuế suất và bổ sung thêm mức thuế vào.
Thứ tư: Đối với những đầu tư trang thiết bị, máy móc khi thực hiện GTGT
cung được khấu trừ.
Thứ năm: Không qui định cho miễn giảm GTGT vì không thể dùng chính sách
thuế GTGT để trợ cấp.
2./ Philipines: Khi Chính phủ mới ra đời (tháng 12 năm 1986) việc cải cách

sửa đổi hệ thống thuế là việc làm trước tiên của nước này. Chương trình thuế năm
1986 bao gồm 29 khâu cải cách phải tiến hành và đã được soạn thảo. Một trong
những cải cách về cơ cấu đưa ra trong chương trình là ban hành thuế GTGT. Được
thể chế hoábăng Lệnh số 273, có hiệu lực thi hành từ 1/1/1988. Như vậy, để ban hành
thuế GTGT, Philipines đã trải qua quá trình nghiên cứu và chuẩn bị.
Ngày 1/1/1988, Philipines bắt đầu thực hiện GTGT. Có thể tóm tắt ở mấy điểm
sau:
- Thuế GTGT được xây dựng dể hợp lý hoá hệ thống đánh thuế hàng hoá
và dịch vụ chịu thuế, để đơn giản hoá việc quản lý thuế và làm cho hệ thống thuế
Philipines công băng hơn.
- Thuế GTGT được áp dụng trên diện rộng hàng hoá và một số dịch vụ,
trên từng hoạt động bán hay nhập khẩu những hàng hoá dịch vụ đó.
- Thuế suất qui định một mức là 10% đánh trên tổng giá bán hay tổng số
tiền nhận được từ bán hàng hoá hay dịch vụ, thay cho thuế doanh thu đối với người
sản xuất gồm 4 thuế suất: 0%, 10%, 20%, 30%, thuế trên dịch vụ: 15 thuế suất từ 0%
đến 30%. Tuy nhiên, có miễn thuế đối với một số hoạt động kinh doanh được áp dụng
để khuyến khích một số hoạt động như sản xuất nông sản, giảm bớt ảnh hưởng đến
giá cả một số mặt hàng như dầu lửa, và để đơn giản việc quản lý thuế đối với doanh
nghiệp nhẹ và các dịch vụ tài chính.
- Thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu.
- áp dụng tính thuế theo phương pháp khấu trừ và cho khấu trừ đối với tài
sản dùng trong thương mại hoặc kinh doanh.

Kết quả thu thuế GTGT của Philipines được biểu hiện qua ba năm (bảng kèm
theo) đã cho thấy tỉ lệ về số thu VAT so với số thu CP, GDP, GNP đều tăng sau 10 và
20 năm áp dụng cơ chế thuế mới.
Năm Số thu
từ
Số thu
từ thuế

Số thu
của CP

GDP GNP % số thu
VAT/số
% số thu
VAT/số
Số thu
VAT/
Số thu
VAT/

VAT thu thuế thu CP GDP GNP
1 2 3 4 5 1/2 1/3 1/4 1/5
1988 13 90 113 826 823 14,5 11,8 1,6 1,6
1989 20 122 154 964 961 16,7 13,3 2,1 2,1
1990 12 69 79 527 527 17,1 14,8 2,2 2,2
3./ Trung Quốc: Là nước có chủ trương nghiên cứu ban hành thuế GTGT từ
năm 1980, sau 4 năm nghiên cứu, ngày 18/9/1984 chính thức ban hành. Trung Quốc
đã tiến hành theo phương pháp thí điểm. Sau đây đề cập một số nhận xét của chuyên
gia thuế Trung Quốc từ 28/6 đến 12/7/1993 do đồng chí Trần Xuân Thắng - Tổng cục
trưởng Tổng cục thống kê dẫn đầu).

Chương trình thí điểm về thuế GTGT ở Trung Quốc đã gặp nhiều vướng mắc
do các nguyên nhân chủ yếu:
a. Chưa chuẩn bị kỹ về chế độ hướng dẫn thực hiện và xử lý các trường
hợp vướng mắc thực tế.
b. GTGT chỉ thực hiện cho một số sản phẩm ở khâu sản xuất, chưa thực
hiện ở khâu lưu thông, dịch vụ, vì vậy, trong quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn
vướng mắc, không xử lý triệt để, chính xác, chưa đạt được mục đích của GTGT là
khắc phục triệt để thu thuế trùng lặp.
Bên cạnh đó, GTGT của Trung Quốc có quá nhiều thuế suất, mức chênh lệch
giữa các thuế suất cao từ 43% đến 12%. Vì vậy, khi thực hiện khấu trừ thuế phức tạp,
căn cứ không chính xác, gây ra vận dụng tuỳ tiện, không kiểm soát được chặt chẽ việc
khấu trừ tiền thuế ở cơ quan cấp dưới.
Để khắc phục tình trạng này, đảm bảo thẹc hiện đơn giản, dễ kiểm soát, hiện
nay Trung Quốc thực hiện khoán mức khấu trừ thuế cho các sản phẩm đầu vào, bước
đầu có nhiều mức, nay thực hiện thống nhất một mức 7%.
Do thu theo phương pháp khấu trừ chung cho một mức thoát ly hoá đơn, nên
phạm vi khấu trừ thuế rộng thực tế có khi thuế thu thấp vì trong số thuế được khấu trừ

có phần thuế chưa được tính nộp Ngân sách.
Một trong những điều kiện tiên đề để thực hiện thành công GTGT là thực hiện
cơ chế giá thị trường. Nhưng hiện nay Nhà nước Trung Quốc vẫn quản lý giá hơn 100
mặt hàng, vì vậy, quá trình thực hiện GTGT của Trung Quốc gặp khó khăn.
Thực hiện GTGT ở khâu sản xuất của Trung Quốc gặp nhiều khó khăn, phức
tạp. Để việc quản lý, thực hiện GTGT có hiệu quả, Trung Quốc phân ra từng đối
tượng để có biện pháp thu thuế: Xí nghiệp qui mô nhỏ thu khoán, Xí nghiệp có qui
mô lớn và vừa thu căn cứ vào sổ sách kế toán. Thực tế hiện nay GTGT chỉ áp dụng
trong các xí nghiệp quốc doanh.
II./ một số nước kinh tế phát triển vẫn chưa áp dụng thuế GTGT.
Cho dù GTGT là một loại thuế có nhiều ưu điểm nhưng cho đến nay có một sô
nước kinh tế phát triển chưa áp dụng. Chúng ta sẽ nghiên cứu những nguyên nhân của

vấn đề trên thông qua phân tích tình hình hai nước đại biểu là Mỹ và Austraylia
Hoa Kỳ (Mỹ): Là một nước có nền kinh tế phát triển bậc nhất thế giới. Một
cường quốc có ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều lĩnh vực trên thế giới, tuy nhiên, cho đến
nay Mỹ vẫn chưa chấp nhận GTGT. Vì vậy đau là những lý do ngăn cản con đường
GTGT xâm nhập vào Mỹ?
Về cơ bản Mỹ thoả mãn với hệ thống thuế doanh thu khâu bán lẻ cấp bang và
liên bang hiện hành. Thuế suất doanh thu bán lẻ cấp bang tương đối thấp, trung bình
khoảng 4,6%, diện đánh thuế cũng tương đối hạn chế. Ví dụ: ở Mỹ có 29 bang không
đánh thuế lương thực thực phẩm, 25 bang miễn thuế cho hầu hết các dịch vụ. Cơ chế
thuế hiện hành của Mỹ không gây trở ngại lắm cho hoạt động sản xuất dịch vụ trong
nước. Chính vì vậy, nước Mỹ chưa thực sự có nhu cầu về một cơ chế thuế mới.
Tuy nhiên, Mỹ cũng đã quan tâm đến GTGT trong thời gian tương đối dài (20
năm qua), và trong cuộc tranh luận gần đây, các chuyên gia đã nêu ra một số lý do để
Mỹ ban hanh GTGT là:
- GTGT sẽ thay thế 1 phần thuế đánh trên quĩ lương (bảo hiễm xã hội)

(52 tỷ USD).
- GTGT se thay thế 1 phần thuế thu nhập công ty (28 tỷ USD).
- Một lý do nữa được đưa ra năm 1983 là GTGT còn có thể tài trợ cho
quốc phòng (thực tế là để tăng số thu cho Ngân sách).
Năm 1984, một sự thảo nữa được đưa ra với ý đồ dùng GTGT để thay thế cho
thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập công ty và thuế thừa kế, thuế suất GTGT là
15%. GTGT sẽ là động lực tạo nguồn thu chủ yếu cho Ngân sách. Năm 1985, Mỹ đưa
ra một dự thảo về mô hình GTGT nữa, áp dụng theo phương án trực tiếp.
Nói chung, các phương án đưa ra nhằmban hành GTGT cuối cùng cũng chỉ là
để tăng số thu cho Ngân sách. Dù vậy các Nghị sĩ đã bác bỏ việc ban hành GTGT với
nhứng lý do chủ yếu sau:
a. Lo sợ về tính luỹ thoái của GTGT.
b. Lo lắng về việc GTGT gây lạm phát.
c. Cán bộ thuế bang và quận (địa phương) lo sợ về việc ban hành GTGT

sẽ xâm phạm đến nguồn thu của họ.
d. Cả cơ quan thuế bang và liên bang đều lo ngại việc áp dụng GTGT sẽ
tác động về phương diện quản lý.
Autralia: Autralia cũng là một trong những nước OECD đến nay chưa chấp
nhận GTGT vì một số lý do như sau:
a. Lo sợ về chi phí quản lý cao.
b. Lo sợ về khả năng trốn thuế tăng.
c. Những yêu cầu về hoàn thuế khai tăng thêm có thể là một lỗ hổng cũng
nghiêm trọng tương đương như lập hoá đơn sai.
d. Chi phí cho việc cưỡng chế thuế tăng. Lo sợ về tính luỹ thoái.
Như vậy, những lý do chủ yếu của việc chưa ban hành thuế GTGT ở Mỹ và

Autralia là các lý do mang màu sắc chính trị chứ không phải về kinh tế, do đặc thù
của các nước đó (quan hệ liên bang và bang đang ổn định, họ không muốn có sự xáo
trộn đễ dàng gây nên tình hình mất ổn định chung).
III./ bài hoc kinh nghiểmut ra từ các nước đã tính thuế GTGT.
Qua nghiên cứu kinh nghiệm của các nước áp dụng GTGT cà hội thoả, trao đổi
kinh nghiệm với các chuyên gia thuế GTGT của các tổ chức quốc tế và một số nước
có thể rut ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
1. Thuế GTGT là một loại thuế có nhiều ưu điểm cần nghiên cứu áp dụng
nhằm góp phần thúc dẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển theo cơ chế thị
trường, mở rộng kinh tế đối ngoại, tạo nguồn thu ổn định và phát triển cho Ngân sách
quốc gia. Nhưng không thể và không nên áp dụng thí điểm thuế GTGT trong phạm vi
hẹp ở một số nghành và một số đơn vị.
2. Nội dung chính sách thuế GTGT ban hành phải được nghiên cứu kỹ, qui
định cụ thể làm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện được rõ ràng, thống nhất. Phải tuân
thủ các nguyên tắc cơ bản của thuế GTGT với sự vận dụng và qui định phù hợp với
từng nước.
- Củng cố chế độ hoá đơn, chứng từ, hạch toán, kế toán, nhưng không thể
đợi đến lúc thực hiện đầy đủ hoá đơn chứng từ mới áp dụng GTGT, vì việc áp dụng

GTGT cũng thúc đẩy việc sử dụng hoá đơn chứng từ.
- Cần làm tốt công tác tuyên truyền và hướng dẫn chế độ thuế này để mọi
đối tượng, mọi người đều hiểu và thực hiện đúng.
- Công tác đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý thuế GTGT cho cán bộ
thuế phải được quan tâm và chuẩn bị trưóc.
- Phải từng bước hiện đại hoá trang thiết bị công cụ quản lý thuế, trong
đó trang bị hệ thống máy vi tính là quan trọng để nâng cao hiệu quả công tác quản lý
thuế nói chung, và thuế GTGT nói riêng.
- Đồng thời với việc ban hành thuế GTGT cần sửa đổi hệ thống thuế
đồng bộ nhằm xác định rõ phạm vi , mục tiêu điều chỉnh của từng loại thuế (thuế xuất

nhập khẩu, thuế TTĐB ). Mức thuế và chính sách thuế cần có tính ổn định không
nên thay đổi luôn.
- Cần nhận thức đúng và đầy đủ tác động có thể xẩy ra trong giai đoạn
đầu áp dụng GTGT để có phương án xử lý, trong đó vấn đề điều hành Ngân sách,
quản lý giá cả là vấn đề quan trọng.

Phần IV. Sự cần thiết phải áp dụng thuế GTGT.
I./ những tồn tại của hên thống thuế hiện hành.
Trong quá trình thực hiện, hệ thống chính sách thuế hiện hành đã được sửa đổi,
bổ xung nhiều lần đáp ứng yếu cầu của tình hình thực tế. Nhưng cho đến nay, nền
kinh tế nước ta đã có những bước phát triển theo cơ chế thị trường, khu vực kinh tế
Nhà nước được sắp xếp tổ chức lại, bước đầu hoạt động có hiệu quả; khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh phát triển đa dạng dưới nhiều hình thức, các xí nghiệp hoạt động
theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày càng tăng. Chính trong bối cảnh này,
hệ thống chính sác thuế đã bộc lộ những khuyếm khuyết về các mặt:
- Chưa bao quát hết các nguồn thu đã, đang và sẽ phát sinh trong nền
kinh tế thị trường như: lãi cổ phần, lãi tiền gửi, thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần,
thu nhập từ chuyển nhượng tài sản; chưa bao quát hết các hoạt động dich vụ.
- Trong mỗi loại thuế phải cùng một lúc vừa thực hiện mụctiêu bảo đảm

nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước và thực hiện mục tiêu nhiều chính sách khác, do
đó, làm cho nội dung chính sách thuế phức tạp, gây khó khăn trong quá trình thực
hiện cả đối với cán bộ thuế cũng như đối tượng nộp thuế.
- Về mặt kỹ thuật, hệ thống thuế hiện hành cũng như trong từng sắc thuế
còn quá phức tạp, trùng lặp, nhất là thuế doanh thu, nên hiệu quả chưa cao, còn gây
tâm lí chồng chéo nặng nề.
- Trong chính sách còn có những điểm chưa phù hợp với thông lệ quốc
tế, do đó, có thêt trở thành những cản trở trong quá trình mở rộng quan hệ hợp tác
kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới (đặc biệt là chính sách thuế trong
việc thu hút đầu tư nước ngoài cũng như trong nước.
II./ sự cần thiết phải cải cách hệ thống chính sách thuế.
Những thành tựu đã đạt được trong 10 năm đổi mới đã tạp tiền đề đưa kinh tế
nước ta sang một giai đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, đồng thời ngày
càng mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực trong nước và trên

thế giới. Phương hướng phát triển kinh tế với các nước trong kỳ 1996 - 2000 như nới
trên đặt ra yêu cầu phát triển kinh tế mở rộng hợp tác trong thời gian tới. Vì vậy cải
cách thuế là một điều tất yếu nhằm mục đích:
Thứ nhất: Khắc phục những nhược điểm của hệ thống thuế hiện hành, tạo sự
thích ứng của nó trong cơ chế thị trường, bảo đảm yêu cầu động viên vào Ngân sách
mà Đại hội lần thứ VII của Đảng đã đề ra cho những năm tới: ;àm cho thuế thực sự là
một công cụ có hiệu lực của Nhà nước trong giai đoạn mới, thúc đẩy sản xuất phát
triển và tăng trưởng kinh tế của đất nước theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước.
Thứ hai: Làm cho hệ thống chính sách thuế cũng như từng sắc thuế tiến tới
những yếu tố tương đồng với thuée các nước và phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo
điều kiện mở rộng quan hệ hợp tác, giao lưu kinh tế giữa nước ta với các nước trong
khu vực và thế giới.
III./ Sự cần thiết phải áp dụng thuế GTGT ở Việt Nam.
Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển sang cơ chế thị

trường có sự điều tiết của Nhà nước. Hoạt động cà vận hành của thị trường chưa thật
linh hoạt, nhiều doanh nghiệp có trình độ công nghệ, kỹ thuật cũng như trình độ quản
lý thấp, năng suất lao động thấp, khả năng cạnh tranh kém, chưa thích nghi và điều
chỉnh nhanh nhạy để phù hợp với chính sách kinh tế mới. Vì vậy việc áp dụng thuế
GTGT trong giai đoạn này là hết sức cần thiết. Thuế GTGT có những ưu điểm nổi bật
có thể khắc phục được phần nào khó khăn khi thực hiện luật thuế cũ:
Thứ nhất: Thuế GTGT có thể khắc phục được nhược điểm của thuế doanh thu
là không thu trùng lắp thuế nên có tác động tích cực đối với sản xuất dịch vụ. Đồng
thời việc thực hiện thuế GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệpcòn đòi hỏi các doanh
nghiệp của tất cả các thành phần kinh tế phải tăng cường quản lý như: ghi chép ban
đầu, mở sổ sách kế toán và mua, bán hàng hoá có hoá đơn chứng từ, đổi mới công
nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm để đủ sức cạnh tranh trong tình hình mới.
Về lưu thông hàng hoá, tuy trong bối cảnh nền kinh tế giảm phát kéo dài,

nhưng vì thuế GTGT chỉ điều tiết trong phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ
nên sẽ thúc đẩy việc lưư thông hàng hoá thuận lợi.
Thứ hai: Thuế GTGT sẽ khuến khích đầu tư trong nước, mở rộng quy mô sản
xuất, kinh doanh, đổi mới công nghệ hiện đại. Thuế GTGT không đánh vào hoạt động
đầu tư tài sản cố định, toàn bộ số thuế GTGT phải trả lại khi mua sắm tài sản cố định
sẽ được Nhà nước cho khấu trừ hoặc hoàn lại cho doanh nghiệp. Đồng thởitong quá
trình trực hiện, Chính phủ còn có những biện pháp khuyến khích thêm như đối với
những công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành bàn giao.
Năm 1998 sang năm 1999 mới thanh toán thì được nộp thuế theo mức thuế
như cũ. Từ 01/09/1999 đã giảm 50% mức thuế GTGT cho xây dựng, lắp đặt. Nhờ đó
số vốn đầu tư sẽ tăng lên.
Thứ ba: Thuế GTGT sẽ góp phần khuyến khích xuất khẩu, mở rộng thị trường
tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh hàng hoá xuất
khẩu, giải quyết nhu cầu ngày càng tăng của xã hội.
Thuật thuế GTGT qui định hàng hoá xuất khẩu được hưởng thuế xuất 0% và
được hoàn thuế GTGT đầu vào nên đã khuyến khích xuất khẩu và tạo điều kiện để

hàng hoá Việt Nam có thể cạnh tranh về giá cả so với hàng hoá tương tự của các nước
trên thị trường quốc tế.
Thứ tư: Việc thực hiện thuế GTGT đối với hàng hoá nhập khẩu sẽ góp phần
bảo hộ hàng hoá sản xuất trong nước. Kết hợp với cơ chế điều hành xuất nhập khẩu
hàng hoá năm 1999, thuế GTGT sẽ góp phần hạn chế tiêu dùng, nhất là hàng tiêu
dùng cao cấp từ nước ngoài, thực hiện tiết kiệm cho sản xuất. Đối với vật tư, nguyên
vật liệu nhập khẩu vẫn thực hiện thu thuế GTGT khi hàng nhập về, nhưng đã có xem
xét điều chỉnh giảm thuế nhập khẩu để ổn định sản xuất trong nước.
Thư năm: Thuế GTGT còn góp phần cơ cấu lại nền kinh tế từ sản xuất thay thế
nhập khẩu chuyển mạnh sang sản xuất hướng xuất khẩu. Thuế GTGT sẽ khuyến
khích việc sản xuất, xuất khẩu những mặt hàng nước ta có thế mạnh như nông sản,
lâm sản, thuỷ sản bằng các qui định cụ thể như không thu thuế GTGT đối với hàng

do người sản xuất bán ra, cho khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với các cơ sở chế
biến, thương mại mua các mặt hàng, hoàn thuế đầu vào cho các cơ sở xuất khẩu các
mặt hàng này nếu có hoá đơn GTGT đầu vào
Thứ sáu: Thuế GTGT không làm tăng giá cả hàng hoá. Bản chất thuế GTGT
không làm tăng giá vì nó thay thế thuế doanh thu đã được kết cấu vào trong giá. Điều
này cũng đòi hỏi các Bộ, Nghành địa phương phải có biện pháp quản lý hướng dẫn
kịp thời và đúng đắn việc thực hiện thuế GTGT. Tránh tình trạng một số doanh
nghiệp hay hộ kinh doanh chưa hiểu rõ, có thể sẽ cộng thêm thuế vào giá cũ để bán
làm giá cả hàng hoá tăng thêm.



Phần V. Đánh giá tình hình triển khai thực hiện thuế GTGT ở Việt Nam.
Thực hiện chương trình cải cách thuế bước II, Quốc hội đã thông qua hai luật
thuế mới: Luật thuế Giá trị gia tăng (thuế gián thu), Luật thuế thu nhập (thuế trực thu)
và sửa đổi bổ xung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt: Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Đồng thời sửa đổi, bổ xung các luật thuế có liên quan như: Luật Nhân sách, Luật

khuyến khích đầu tư trong nước để thực hiện đồng bộ các luật thuế mới.
Với nhận thức rằng việc triển khai thực hiện các Luật thuế mới được thi hành
từ 01/01/1999, có tác động nhiều mặt đến tình hình kinh tế xã hội, nên thời gian đầu
không tránh khỏi những khó khăn và lại càng khó khăn hơn khi kinh tế nước ta đang
bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực, thiên tai lại liên
tiếp sảy ra.
Ba yêu cầu phải đạt được khi thực hiện triển khai các luật thuế mới:
- Bảo đảm công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của các doanh nghiệp, các
hộ kinh doanh trong nền kinh tế, giúp các doanh nghiệp ổn định được hoạt động sản
xuất, kinh doanh, tăng cường hạch toán kinh tế, nâng cao năng lực quản lý, nâng cao

cao khả năng cạnh tranh trong nước, trên thị trường quốc tế.
- Bảo đảm không ảnh hưởng lơn đến kế hoạch thu của Ngân sách Trung
ương trong những năm đầu thực hiẹen. Tạo điều kiện để Ngân sách địa phương ổn
định nguồn thu, nâng dần tỷ lệ các địa phương cân đối Ngân sách và có đóng góp cho
Ngân sách Trung ương.
- Bảo đảm ổn định thị trường trong nước, tránh gây ra những biến động
mạnh về giá cả, đặc biệt là giá vật tư, hàng hoá quan trọng dùng cho sản xuất và tiêu
dùng thiết yếu để ổn định sản xuất và không ảnh hưởng đến đời sống nhân dân.
Nghị quyết số 18/1998/QH10 ngày 25/11/1988: "Chính phủ cần tập chung chỉ
đạo thực hiện các luật thuế mới, nhất là luật thuế GTGT. Để chủ động giải quyết kịp
thời những khó khăn cho các doanh nghiệp khi thực hiện Luật thuế GTGT nhằm ổn
đinhj và phát triển sản xuất, kinh doanh. Quốc hội cho phép Chính phủ trong thời gian
đầu thực hiện được áp dụng quy định tại Điều 28 Luật thuế GTGT để giảm thuế đối
với hoạt động thương mại, dịch vụ du lịch, ăn uống, và không khống chế mức giảm
tối đa 50% số thuế GTGT phải nộp. Sau một thời gian thực hiện, Chính phủ trình
UBTVQH sửa đổi bổ sung các mức thuế suấttheo qui định tại Điều 8 của Luật thuế
GTGT và báo cáo Quốc hội trong kỳ họp gần nhất.
I./ những kết quả đạt được sau hơn hai năm thực hiện.
Trong hai năm đầu tiên triển khai các Luật thuế mới tuy gặp nhiều khó khăn,

nhưng với tinh thần chủ động, lại được sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Bộ chính trị,
của UBTVQH, và sự điều hành thướng xuyên, cụ thể của Chính phủ, cùng với sự cố
gắng của các nghành, các cấp, của các cơ quan đoàn thể, sự hưởng ứng của các đối
tượng nộp thuế, sự đồng tình của nhân dân, sự nỗ lực của nghành tài chính, nghành
thuế, đến nay sau một năm thực hiện các Luật thuế mới đã đi vào cuộc sống, sản xuất
kinh doanh giữ được ổn định, bước đầu các Luật thuế mới đã phát huy được tác dụng
trên các mặt.

1./ Về sản xuất kinh doanh.

Với việc thực hiện Luật thuế GTGT tạo điều kiện cho giá thành các công trình
đầu tư xây dựng cơ bản giảm khoảng 10% so với trước đâu. toàn bộ thuế GTGT của
công trình xây dựng cơ bản được hạch toán riêng không tính vào giá công trình như
thuế doanh thu, vì vậy chi phí khấu hao tài sản cũng giảm thấp hơn. Các doanh nghiệp
xây dựng mua sắm tài sản cố định có thuế GTGT đều được khấu trừ hoặc hoàn thuế.
Mặt khác khi nhập khẩu thiết bị máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng, loại
trong nước chưa sản xuất được để đầu tư thành tài sản cố định theo dự án, thì không
thuộc diện chịu thuế GTGT trong thời gian ba ngày kể từ ngày nộp tờ khai. Từ khi
thực hiện Gnhị định só 78?NĐ-CP giảm 50% mức thuế GTGT đối với sản phẩm xây
dựng cơ bản thì mức thuế GTGT các doanh nghiệp xây lắp còn phải nộp sau khi khấu
trừ đầu vào bình quân chỉ còn khoảng 1% đến 2%, thấp hơn so với mức 4% khi nộp
thuế doanh thu, thậm chí còn được hoàn thuế.
Thực hiện thuế GTGT còn thuc đẩy sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hoá
phát triển do thuế GTGT chỉ thu trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ qua các
khâu sản xuất, lưu thông đến khâu tiêu dùng cuối cùng với hai phương pháp tính thuế
(phương pháp khấu trừ thuế, và phương pháp trực tiếp). Đã khắc phục nhược điểm
của thuế doanh thu là thuế trùng lên thuế, đã thuc đẩu chuyên môn hoá, hiệp tác sản
xuất, nhất là trong lĩnh vực sản xuất có khí như: sản xuất, lắp ráp xe đạp, xe máy, ô tô,
điện, điện tử
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp cũng có qui định chế độ khuyến khích đối với

đầu tư các cơ sở sản xuất mới thành lập được miễn thuế hai năm đầu, được giảm 50%
trong hai năm sau nữa. Nếu đầu tư vào những lĩnh vực, nghành nghề, vùng kinh tế
được ưu đãi đầu tư sẽ được hưởng mức thuế suất thấp hơn so với các dự án khác (đầu
tư trong nước hưởng thuế suất là 15%, 20%, 25%, đầu tư nước ngoài là 10%, 15%,
20%) và còn được ưu đãi miễn giảm thuế thời gian dài hơn. Thời gian được miễn
giảm thuế cao nhất là 13 năm trong dó miễn thuế 4 năm đầu và giảm 50% thuế trong
9 năm tiếp theo. Ngoài ra, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp còn khuyến khích miễn,
giảm thuế đối với các trường hợp đầu tư dây chuyền sản xuất mới, mở rộng qui mô,
đổi mới công nghệ, cải thiện môi trường sinh thái, nâng cao năng lực sản xuất, di
chuyển có sở kinh doanh.

Đối với Nhà nước đã giảm mức thuế chuyển quyền sử dụng đát từ 10% xuống
còn 2% đối với đát sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, đát làm
muối và giảm từ 20% xuống 4% đối với đát ở, đất xây dựng công trình, đất khác. Các
sơ sở kinh doanh chuyển quyền sử dụng đất thuê, không phải nộp thuế chuyển quyền
sử dụng đất. Đối với các cơ sở kinh doanh được Nhà nước giao đất xây dựng nhà ở để
bán, xây dựng kết cấu hạ tầng cho thuê thì đất chuyển quyền được miễn thuế chuyển
quyền sử dụng đất không chịu thuế GTGT tính trên giá đất chuyển quyền. Ngoài ra,
Nhà nước còn giảm lệ phí trước bạ đất từ 2% xuống 1% lam cho thị trường đất đai,
nhà cửa đã có dấu hiệ sôi dộng hơn trước.
Đối với phí, lệ phí đã thống nhất áp dụng một mức thu phí, lệ phí chung cho cả
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước. Giảm lệ
phí cấ giấy phép đặt văn phòng đại diện của nước ngoài từ 5000 USD/lần (tương
đương với 70 triệu đồng Việt Nam) xuống còn 1 triệu đồng/ lần và không thu lệ phí
đối với trường hợp gia hạn giấy phép đặt văn phòng đại diện.
Trong quá trình thực hiện, một số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh những
mặt hàng, dịch vụ gặp khó khăn do thuế GTGT cao hơn thuế doanh thu nhưng chưa
chuyển đổi kịp cho phù hợp với có chế thuế mới và chịu sự ảnh hưởng lớn của cuộc
khủng hoảng tài chính, tiền tệ trong khu vực như: than, cơ khí (trừ sản phẩm cơ khí
tiêu dùng), luyện cán, kéo kim loại, máy vi tính, oá chất cơ bản, hoá dược, vận tải,

bốc xếp, xây dựng, lắp đặt, khách sạn, ăn uống, du lịch, đã được UBTVQH, Chính
phủ, Bộ tài chính thực hiện các biện pháp xử lý, tháo gữo khó khăn như: giảm mức
thuế nhập khẩu của 569 mặt hàng là vật tư, nguyên liệu phục vụ sản xuất trong nước
với số thuế giảm gần 1000 tỷ đồng, giảm mức thuế GTGT cho 18 loaih hàng hoá,
dịch vụ mở rộng diện khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo tỷ lệ ấn định đối với một số
mặt hàng
Bằng các nội dung chính sách và biện pháp tháo gõ khó khăn nêu trên, các
Luật thuế mới đã góp phần khuyến khích đầu tư và ổn định sản xuất, kinh doanh.
Trong năm 1999, tuy gặp nhiều khó khăn do số dự án đầu tư trực tiếp của nước
ngoài giảm khoảng 12,3% nhưng tổng số vốn đầu tư vẫn tăng so với năm 1998, trong

đó vốn đầu tư trong nước tăng khoảng 28,6%, vốn ODA tăng khoảng 16%. Thực hiện
các luật thuế mới ngay sau thời gian khủng hoảng kinh tế tài chính tiền tệ nhưng sản
xuất kinh doanh vẫn giữ được ổn định. NĂm 1999, tốc độ tăng trưởng GDP có xu
hướng tăng lên so với năm 1998, cả năm đạt 4,8%. Tình hình tài chính của các doanh
nghiệp vẫn giữ được ổn định và có thể chia ra theo các nhóm như sau:
- Nhóm các doanh nghiệp thực hiện các luật thuế mới thuận lợi hơn do
mức thuế phải nộp thấp hơn so với mức thuế cũ như: điện, xi măng, phân bón, thuốc
trừ sâu, xây dựng, ăn uống, lắp đặt, bưu chính viễn thông, xổ số kiến thiết, khách sạn,
du lịch
- Nhóm các doanh nghiệp thực hiện các luật thuế mới có mức thuế phải
nộp tương đương với mức thuế cũ như: nghành dệt may, da giầy, điện tử, vật liệu xây
dựng (trừ xi măng), đường sữa, bao bì
- Nhóm các doanh nghiệp đang lỗ thực hiện các luật thuế mới giảm lỗ
hoắc có lãi như: Dệt Nam Định, Tổng công ty vật tư Nông nghiệp, kẹo Hải Hà
- Nhóm các doanh nghiệp trước đây lỗ, thực hiện các luật thuế mới vẫn bị
lỗ như: Dệt 8/3, đạm Hà Bắc, cơ khí Hà Nội, bia Đông Nam á, công ty điện tử Đống
Đa, công ty điện tử Hanel
Để khuyến khích xuất khẩu, đại bộ phận hàng hoá xuất khẩu đều được áp dụng
mức thuế suất 0%. Một số loại hàng chịu thuế xuất khẩu như: gạo, than đá, sản phẩm

từ gỗ rừng trồng, bàn ghế, sản phẩm chế biến từ kim loại (dây đồng, dây
nhôm )trong năm 1999 cũng được giamt thuế xuất khẩu để đẩy mạnh xuất khẩu.
Cùng các biện pháp khuyến khích xuất khẩu như cho phép doanh nghiệp xuất khẩu
trực tiếp, thành lập quĩ hỗ trợ xuất khẩu thì việc thực hiện Luật thuế GTGT có tác
dụng rõ nét nhất, trực tiếp đến khuyến khích xuất khẩu. Theo qui định của luật thuế
GTGT hàng hoá xuất khẩu được hưởng thuế suất 0% tức là được hoàn toàn bộ số thuế
GTGT đã nộp ở đầu vào, việc hoàn thuế GTGT đầu vào đối với hàng hoá thực chất là
Nhà nước trợ giá cho hàng hoá xuất khẩu nên đã giúp cho doanh nghiệp xuất khẩu tập
trung được nguồn hàng trong nước để xuất khẩu và có lợi thế hơn trước do giảm được
giá vốn hàng xuất khẩu và vì thế góp phần tăng khả năng cạnh tranh với hàng hoá trên

×