Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Báo cáo " Một số vấn đề về thoả ước lao động tập thể " docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (69.87 KB, 5 trang )



nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 27


Cao Thị Oanh *
ừ trớc đến nay, lí luận cũng nh thực
tiễn ở nớc ta đ thừa nhận tội phạm có
thể đợc thực hiện dới một trong hai hình
thức là phạm tội đơn lẻ và đồng phạm.
Trong trờng hợp tội phạm đợc thực hiện
dới hình thức phạm tội đơn lẻ thì tất cả mọi
vấn đề liên quan đến tội phạm chỉ cần xác
định thông qua hành vi của một ngời,
ngợc lại trong trờng hợp tội phạm đợc
thực hiện dới hình thức đồng phạm thì
những vấn đề liên quan lại phải đợc xem
xét nh là kết quả tổng hợp từ hành vi của
nhiều ngời. Chính sự khác biệt về số lợng
ngời thực hiện tội phạm nh vậy đ tạo ra
cho đồng phạm tính nguy hiểm cho x hội
cao hơn so với hình thức phạm tội đơn lẻ.
Do đó, việc xác định trờng hợp phạm tội
cụ thể là phạm tội đơn lẻ hay đồng phạm
gắn bó chặt chẽ với trách nhiệm hình sự của
những ngời tham gia thực hiện hành vi.
Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định rằng
cùng với sự khác biệt về số lợng ngời
tham gia thì việc xác định các dấu hiệu pháp
lí liên quan đến tội phạm cũng phức tạp hơn


nhiều.
Xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt của
việc xác định dấu hiệu pháp lí của đồng
phạm, vấn đề này từ lâu đ đợc quan tâm
nghiên cứu trong sách báo pháp lí ở nớc ta.
Mặc dù vậy, có thể nhận xét rằng nếu nh
đối với vấn đề mặt khách quan của đồng
phạm chúng ta đ giải đáp đợc những vấn
đề vớng mắc thì đối với mặt chủ quan của
đồng phạm chúng ta cha dành cho nó sự
quan tâm thoả đáng để giải quyết triệt để
mọi vấn đề liên quan. Thiết nghĩ công việc
này không chỉ có ý nghĩa về mặt lí luận mà
còn đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. Trong
phạm vi bài viết này chúng tôi nêu ra một số
ý kiến với mong muốn đợc góp phần chỉ rõ
khuôn mẫu chung để xác định mặt chủ quan
của đồng phạm.
Điều 20 Bộ luật hình sự năm 1999
(BLHS) định nghĩa đồng phạm nh sau:
Đồng phạm là trờng hợp có hai ngời trở
lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
Từ định nghĩa trên chúng ta có thể xác
định một cách khái quát những dấu hiệu
pháp lí của đồng phạm nh sau:
- Về mặt khách quan, đồng phạm đòi hỏi
hai dấu hiệu:
1. Có từ hai ngời trở lên và những
ngời này có đủ điều kiện của chủ thể của
tội phạm;

2. Những ngời này phải cùng thực hiện
tội phạm (cố ý).
- Về mặt chủ quan, đồng phạm đòi hỏi
ba dấu hiệu:
1. Lỗi cố ý;
2. Động cơ phạm tội (nếu cấu thành tội
phạm tơng ứng quy định dấu hiệu động
cơ);
3. Mục đích phạm tội (nếu cấu thành tội
T

* Giảng viên Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội


nghiên cứu - trao đổi
28 - Tạp chí luật học

phạm tơng ứng quy định dấu hiệu mục đích).
Từ sự khái quát đó ta có thể xem xét các
dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của đồng phạm
nh sau:
Trớc hết, lỗi của những ngời tham gia
đồng phạm bao giờ cũng là lỗi cố ý, nói cụ
thể hơn thì đồng phạm có thể đợc thực hiện
với cả lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp.
Phân tích dấu hiệu lỗi trong đồng phạm từ
trớc đến nay chúng ta đ đi đến thống nhất
quan điểm xác định là đồng phạm trong
trờng hợp mà những ngời tham gia thực

hiện hành vi nguy hiểm cho x hội nhận
thức đợc tính chất nguy hiểm cho x hội
của hành vi mà mình thực hiện và biết ngời
khác có hành vi nguy hiểm cùng với mình,
họ đều thấy trớc hậu quả nguy hiểm cho x
hội của hành vi của mình cũng nh hậu quả
chung của tội phạm mà họ tham gia thực
hiện đồng thời họ cùng mong muốn có hoạt
động chung và cùng mong muốn hoặc có ý
thức để mặc cho hậu quả phát sinh.
Nh vậy, căn cứ vào dấu hiệu lỗi trong
đồng phạm, có thể chia đồng phạm thành
hai trờng hợp sau:
- Trờng hợp tất cả những ngời đồng
phạm đều có lỗi cố ý trực tiếp. Trong
trờng hợp này, những ngời tham gia
thực hiện hành vi nguy hiểm cho x hội
nhận thức đợc tính chất nguy hiểm cho
x hội của hành vi mà mình thực hiện và
biết ngời khác có hành vi nguy hiểm
cùng với mình, họ đều thấy trớc hậu quả
nguy hiểm cho x hội của hành vi của
mình cũng nh hậu quả chung của tội
phạm mà họ tham gia thực hiện đồng thời
họ cùng mong muốn có hoạt động chung
và cùng mong muốn hậu quả xảy ra. Ví dụ:
Trờng hợp A và B rủ nhau đi cớp tài sản
của C.
- Trờng hợp tất cả những ngời đồng
phạm đều có lỗi cố ý gián tiếp. Đây là

trờng hợp những ngời tham gia thực hiện
hành vi nguy hiểm cho x hội về lí trí đều
nhận thức đợc tính chất nguy hiểm cho x
hội của hành vi mà mình thực hiện và biết
ngời khác có hành vi nguy hiểm cùng với
mình, họ đều thấy trớc hậu quả nguy hiểm
cho x hội của hành vi của mình cũng nh
hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia
thực hiện, về ý chí họ cùng mong muốn có
hoạt động chung và cùng có ý thức để mặc
cho hậu quả xảy ra. Ví dụ: A đợc ngời nhà
đa vào bệnh viện do bị bệnh nặng cần đợc
cấp cứu kịp thời. B và C (là hai bác sĩ trực)
bàn nhau sách nhiễu đòi hối lộ của gia đình
A. Họ biết với tình trạng bệnh tật của A, nếu
không đợc cấp cứu kịp thời, hậu quả chết
ngời có thể xảy ra nhng với mục đích kéo
dài thời gian để buộc gia đình A phải đa
hối lộ nên họ vẫn trì hon những thao tác
nghề nghiệp cần thiết. Hành vi đó dẫn đến
hậu quả bệnh nhân A bị chết. Trờng hợp
này B và C là đồng phạm tội giết ngời với
lỗi cố ý gián tiếp.
Từ sự phân tích nh trên chúng ta có thể
đi đến kết luận: Trờng hợp lỗi của những
ngời tham gia đều là cố ý trực tiếp hay đều
là cố ý gián tiếp đ đợc chúng ta thừa nhận
về mặt lí luận. Tuy nhiên, vấn đề mà sách
báo pháp lí hình sự từ trớc đến nay cha đề
cập là trong vụ đồng phạm có thể đồng thời

có cả lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp
không? Chúng tôi cho rằng, việc đặt ra vấn
đề này là có cơ sở khoa học. Bởi vì, đồng
phạm do nhiều ngời thực hiện, do đó hoàn


nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 29

toàn có thể xảy ra trờng hợp thái độ tâm lí
của họ đối với hành vi nguy hiểm cho x hội
và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra
không giống nhau. Trong đó có trờng hợp
họ cùng thống nhất với nhau về việc thực
hiện hành vi nguy hiểm cho x hội (cùng
nhận thức đợc hành vi của mình nguy hiểm
cho x hội, nhận thức đợc tính nguy hiểm
trong hành vi của những ngời kia, cùng
thấy trớc hậu quả nguy hiểm cho x hội
của hành vi của mình cũng nh hậu quả
chung của tổng hợp hành vi mà họ cùng
thực hiện), tuy nhiên họ lại khác nhau về
thái độ đối với hậu quả: Có ngời mong
muốn hậu quả phát sinh nhng có ngời lại
có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh. Nếu
trờng hợp đó xảy ra trên thực tế, chúng ta
có thể coi đó là đồng phạm hay không?
Chúng tôi cho rằng Điều 20 BLHS năm
1999 chỉ đa ra giới hạn cùng cố ý, tức là lỗi
của họ đều phải là lỗi cố ý chứ không tạo ra

trong luật điều kiện họ phải cùng là cố ý
trực tiếp hoặc cùng là cố ý gián tiếp. Khẳng
định của chúng ta từ trớc đến nay chỉ là sự
phân tích điều luật mang tính khái quát đặt
trong xu hớng phổ biến của thực tiễn. Do
đó, nếu xem xét trờng hợp nêu trên nh
trờng hợp cá biệt có thể xảy ra chúng tôi
cho rằng trờng hợp đó vẫn thoả mn những
điều kiện của đồng phạm. Ví dụ: A và B
cùng thầu ao của hợp tác x để thả cá. C đ
nhiều lần đến kéo trộm cá tại ao chung của
A và B, hành vi đó của C bị những ngời
cùng x nhìn thấy và đ kể với A, B. Cộng
với mâu thuẫn với C đ sẵn có từ trớc, A
nung nấu ý định giết C và chờ cơ hội để thực
hiện ý định đó. Một hôm, đang ngồi trong
lều coi cá, A nghe có tiếng động từ ao và
phát hiện ra C lại đến kéo cá trộm. A rủ B ra
xử lí C. B đồng ý với ý định sẽ đánh cho C
một trận cho bõ tức, hậu quả muốn ra sao thì
ra. A mang theo một con dao nhọn, B mang
theo một cây côn. Khi bắt đợc C, B dùng
côn quật bừa vào C còn A dùng dao đâm C
nhiều nhát. Khi thấy C gục xuống không còn
cử động gì, B bỏ vào lều còn A sau khi kiểm
tra thấy C đ chết mới bỏ đi.
Trờng hợp này rõ ràng cần phải đợc
xử lí với t cách là vụ đồng phạm.
Từ việc xem xét trờng hợp cá biệt đó
chúng tôi cho rằng khi xác định dấu hiệu ý

chí trong đồng phạm ngoài trờng hợp
những ngời đồng phạm cùng mong muốn
hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả
phát sinh cần phải đề cập thêm trờng hợp
những ngời đó cùng mong muốn hoặc cùng
có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh.
Bên cạnh dấu hiệu lỗi cùng cố ý, từ nội
dung họ cùng thực hiện một tội phạm trong
định nghĩa đồng phạm nêu trên, chúng ta có
thể thấy trong mặt chủ quan của đồng phạm
cũng cần phải thoả mn những dấu hiệu
khác thuộc mặt chủ quan của tội phạm mà
điều luật quy định là dấu hiệu bắt buộc. Bởi
vì, chỉ khi thoả mn những dấu hiệu đó thì
mỗi ngời thực hiện hành vi nguy hiểm mới
có thể đợc coi là phạm tội và từ đó mới
đợc xác định là đồng phạm hay phạm tội
đơn lẻ. Nh vậy, cần phải khẳng định rằng
trong trờng hợp tội phạm đợc thực hiện
dới hình thức đồng phạm thì ngoài dấu
hiệu lỗi là cùng cố ý, trong mặt chủ quan
của tội phạm cũng phải thoả mn dấu hiệu
khác để hành vi của những ngời thực hiện
đợc gọi là tội phạm.


nghiên cứu - trao đổi
30 - Tạp chí luật học

Liên quan đến nội dung này, hiện nay

hầu nh đ có sự thống nhất ý kiến trong
sách báo pháp lí hình sự về việc những
ngời đồng phạm phải có cùng mục đích
nếu mục đích là dấu hiệu bắt buộc trong cấu
thành tội phạm hoặc nếu không có cùng
mục đích thì cũng phải có sự tiếp nhận mục
đích của nhau. Ví dụ: Một nhóm ngời có
cùng mục đích là chống chính quyền nhân
dân đ cùng nhau thu thập tin tức thuộc bí
mật nhà nớc để cung cấp cho nớc ngoài
(có cùng mục đích đợc quy định trong cấu
thành tội phạm) hoặc trờng hợp một ngời
biết rõ ngời khác đang tập hợp lực lợng để
hoạt động nhằm chống chính quyền nhân
dân, tuy ngời đó không có mục đích chống
chính quyền nhân dân nhng vì đợc trả tiền
nên vẫn giúp ngời kia thực hiện hoạt động
tập hợp lực lợng (tiếp nhận mục đích đợc
quy định trong cấu thành tội phạm).
Tuy nhiên, về vấn đề có đòi hỏi những
ngời đồng phạm phải cùng thoả mn dấu
hiệu động cơ không nếu động cơ là dấu hiệu
bắt buộc của tội phạm thì lại cha có sự
thống nhất giữa các ý kiến. Có thể khái quát
có hai loại quan điểm khác nhau xuất hiện
khi giải quyết vấn đề này:
+ Quan điểm thứ nhất cho rằng dấu hiệu
động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc
phải có ở tất cả những ngời đồng phạm mà
chỉ cần phải có ở ngời thực hành bởi vì cho

dù động cơ không giống nhau hai ngời trở
lên vẫn có thể là đồng phạm miễn là họ cùng
có lỗi cố ý và cùng mục đích hoặc tiếp nhận
mục đích của nhau trong trờng hợp mục
đích là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm.
+ Quan điểm thứ hai lại khẳng định nếu
động cơ là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm
mà nhiều ngời tham gia thực hiện thì họ
chỉ là đồng phạm trong trờng hợp ngoài
dấu hiệu lỗi cùng là cố ý và cùng mục đích
(nếu mục đích là dấu hiệu bắt buộc trong
cấu thành tội phạm) thì tất cả những ngời
đó phải đều có động cơ mà điều luật quy
định hoặc ít nhất họ phải tiếp nhận động cơ
của nhau. Trong trờng hợp đó nếu ngời
nào không thoả mn dấu hiệu động cơ nh
vậy thì họ không phải là đồng phạm của
những ngời kia bởi vì khi đó họ cha phải
là ngời phạm tội mà điều luật đó quy định.
Nghiên cứu hai quan điểm trên, chúng
tôi cho rằng quan điểm thứ hai hợp lí hơn.
Xuất phát từ định nghĩa đồng phạm là hai
ngời trở lên cố ý cùng thực hiện một tội
phạm, chúng tôi cho rằng tất cả những ngời
tham gia thực hiện hành vi nào đó đều phải
là ngời phạm tội trớc khi đợc gọi là đồng
phạm. Tức là về mặt chủ quan họ phải thoả
mn tất cả những dấu hiệu bắt buộc trong
cấu thành tội phạm. Mặt khác, có thể khẳng
định dấu hiệu động cơ và dấu hiệu mục đích

đều là hai dấu hiệu trong mặt chủ quan của
tội phạm, chúng đều không phải là những
dấu hiệu đơng nhiên bắt buộc phải có trong
mọi cấu thành tội phạm mà chỉ mang tính
bắt buộc trong một số cấu thành tội phạm.
Vì vậy, trong trờng hợp điều luật quy định
chúng là dấu hiệu bắt buộc thì chúng cần
phải đợc xem xét với giá trị ngang bằng
nhau.
Từ sự phân tích trên chúng tôi đi đến kết
luận: Trong trờng hợp ngời nào đó cùng
với ngời khác thực hiện hành vi nguy hiểm
mà điều luật tơng ứng quy định dấu hiệu


nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 31

động cơ là dấu hiệu bắt buộc (ví dụ: Động
cơ vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác trong
tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi
hành công vụ) thì chỉ khi ngời đó có động
cơ nh vậy hoặc ít nhất là phải tiếp nhận
động cơ này từ ngời phạm tội kia họ mới
có thể là đồng phạm. Trong trờng hợp
ngợc lại thì chỉ riêng ngời thoả mn dấu
hiệu động cơ mới có thể là ngời phạm tội.
Ví dụ: Nếu một ngời phạm tội lợi dụng
chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công
vụ nhận đợc sự giúp đỡ của một nhân viên

để thực hiện tội phạm nhng bản thân nhân
viên đó không có động cơ mà điều luật quy
định cũng không biết động cơ của ngời có
chức vụ, quyền hạn là vì vụ lợi hoặc động cơ
cá nhân khác thì nhân viên đó không thể
đợc coi là ngời giúp sức trong vụ việc nói
trên. Ngợc lại, nếu nhân viên biết rõ động
cơ của thủ trởng nhng vẫn giúp đỡ để thủ
trởng thực hiện tội phạm thì ngời đó đợc
coi là ngời giúp sức trong đồng phạm.
Tơng tự nh vậy, nếu động cơ đợc quy
định trong cấu thành tội phạm tăng nặng (ví
dụ: Động cơ đê hèn trong tội giết ngời) thì
cũng đòi hỏi tất cả những ngời đồng phạm
phải có cùng động cơ đó hoặc tiếp nhận
động cơ đó của nhau. Trờng hợp trong
những ngời cùng tham gia thực hiện tội
phạm có ngời thoả mn dấu hiệu động cơ ở
khung tăng nặng, có ngời không thoả mn
dấu hiệu động cơ đó thì họ chỉ là đồng phạm
tội danh tơng ứng nhng thuộc các khung
khác nhau. Trong đó chỉ những ngời có dấu
hiệu động cơ đợc quy định ở khung tăng
nặng mới bị xét xử theo khung tăng nặng,
những ngời còn lại bị xét xử theo khung cơ
bản (nếu không thoả mn tình tiết giảm nhẹ,
tăng nặng định khung khác). Ví dụ: A và B
hợp tác với nhau giết C. Động cơ của A là
chiếm đoạt tài sản (A là đối tợng duy nhất
đợc hởng tài sản thừa kế nếu C chết),

động cơ của B là ghen tuông. Trờng hợp
này A và B là đồng phạm tội giết ngời
nhng A có dấu hiệu động cơ đê hèn nên bị
xử theo khoản 2 Điều 93 BLHS năm 1999, B
chỉ bị xét xử theo khoản 1 Điều 93 BLHS
năm 1999.
Vấn đề khác cũng cần đợc đặt ra là đối
với những điều luật quy định dấu hiệu động
cơ mang tính lựa chọn, nếu những ngời
tham gia thực hiện tội phạm có động cơ
khác nhau (nhng đều là động cơ đợc quy
định trong điều luật đó) thì họ có coi là
đồng phạm với nhau hay không? Về vấn đề
này, chúng tôi cho rằng chỉ cần dấu hiệu
động cơ của họ thoả mn quy định của điều
luật thì họ đ phạm tội dới hình thức đồng
phạm mà không cần động cơ của họ phải
giống nhau. Ví dụ: Trờng hợp hai ngời
cùng nhau thực hiện hành vi lợi dụng chức
vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ mà
một ngời có động cơ vụ lợi, một ngời có
động cơ cá nhân khác thì họ vẫn là đồng
phạm của nhau.
Tóm lại, xuất phát từ quy định của Bộ
luật hình sự về đồng phạm và thực tiễn phạm
tội dới hình thức này, chúng tôi cho rằng
vấn đề mặt chủ quan của đồng phạm là vấn
đề rất phức tạp đồng thời việc làm sáng tỏ
nó lại là đòi hỏi của cả lí luận và thực tiễn.
Vì vậy, chúng cần phải nhận đợc sự quan

tâm thoả đáng để có đợc khuôn mẫu hoàn
chỉnh cho việc phân biệt giữa đồng phạm với
phạm tội đơn lẻ, giữa phạm tội với không
phải là hành vi phạm tội./.

×