Tải bản đầy đủ (.doc) (79 trang)

Xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ cổ phần hóa thông qua trường hợp Công ty công trình giao thông 208

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (354.95 KB, 79 trang )

lời nói đầu
Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trờng luôn
chứa đựng những nhân tố cạnh tranh. Cạnh tranh là tìm mọi cách giành nhiều lợi
nhuận bằng các thủ pháp khác nhau trên thơng trờng. Trong cuộc cạnh tranh này,
các hoạt động nh, mua bán, thôn tính, chia tách, sát nhập và cơ cấu lại doanh
nghiệp diễn ra thờng xuyên liên tục. Một vấn đề đặt ra là các hoạt động đợc thực
hiện dựa trên giá trị nào của doanh nghiệp? Giá trị sổ sách hay một giá trị nào
khác và cách thức xác định? Để trả lời đợc câu hỏi này chúng ta cùng tìm hiểu
khái niệm giá trị doanh nghiệp và một số phơng pháp xác định giá trị trong cơ chế
thị trờng.
Đối với Việt Nam, sau hơn 10 năm thực hiện đờng lối đổi mới, nền kinh tế n-
ớc ta đang chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trờng
phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần hoạt động theo cơ chế thị trờng ở nớc ta, các thành phần kinh tế cùng
tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Vì vậy các hoạt động
mua bán, chia tách sát nhập liên doanh, liên kết,.... qua các doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế hoặc trong cùng một thành phần kinh tế cũng diễn ra khá
phổ biến.
Đặc biệt, trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trờng Nhà nớc ta vẫn còn
kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, hớng dẫn sự phát triển và chi phối hoạt
động của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên theo đánh giá hiện nay của một số
chuyên gia kinh tế rất nhiều doanh nghiệp Nhà nớc đang hoạt động không có hiệu
quả, nếu tiếp tục duy trì sẽ trở thành gánh nặng cho ngân sách Nhà nớc.
Vì vậy, trong quá trình đổi mới cơ cấu lại nền kinh tế, Nhà nớc đặc biệt chú
trọng đến việc đổi mới, cải cách doanh nghiệp Nhà nớc nhằm duy trì vai trò chủ đạo
của khu vực kinh tế quốc doanh. Văn kiện Đại hội Đảng VII tháng 6/1991 đã chỉ rõ
Khẩn trơng sắp xếp lại và đổi mới quản lý kinh tế quốc doanh, đảm bảo kinh tế
quốc doanh hoạt động có hiệu quả, nắm vững những lĩnh vực và ngành then chốt để
phát huy vai trò chủ đạo của nền kinh tế. Đối với doanh nghiệp Nhà nớc, chủ trơng
của Đảng là Đối với những cơ sở không cần giữ hình thức quốc doanh, cần chuyển
hình thức kinh doanh, hình thức sở hữu hoặc giải thể, đồng thời giải quyết việc làm


và đời sống cho ngời lao động.
Việc tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nớc thông qua cổ phần hoá một
bộ phận doanh nghiệp Nhà nớc đợc coi là hình thức chủ yếu, quan trọng để nâng
cao hiệu quả kinh doanh và thu hút vốn đầu t trong xã hội.
1
Qua năm năm thí điểm cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc theo Quyết định
202CT ngày 8/6/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng nay là Thủ tớng Chính phủ,
ngày 7/5/1996 Chính phủ đã ban hành Nghị định 28CP về việc chuyển một số
doanh nghiệp Nhà nớc thành công ty cổ phần. Tuy nhiên quá trình cổ phần hoá
diễn ra vẫn chậm. Trong rất nhiều nguyên nhân mà báo chí đã đề cập đến nh t tởng
sợ chệch hớng, sợ mất chức mất quyền của cán bộ lãnh đạo, sợ mất việc làm và
giảm thu nhập của ngời lao động,... nhng khó khăn trong quá trình xác định giá trị
doanh nghiệp cũng là một nguyên nhân quan trọng làm chậm quá trình cổ phần
hoá doanh nghiệp Nhà nớc ở nớc ta. Để đẩy nhanh hơn nữa tiến trình cổ phần hoá
ngày 29/6/1998 Chính phủ đã ban hành Nghị định 44CP về chuyển doanh nghiệp
Nhà nớc thành công ty cổ phần. Nghị định ra đời đã phần nào khắc phục đợc
những khó khăn và đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá.
Nh vậy, xác định giá trị doanh nghiệp là một công việc không thể thiếu đợc
trong nền kinh tế thị trờng và đặc biệt trong điều kiện nớc ta đang tiến hành quá
trình đổi mới cải cách doanh nghiệp thông qua con đờng tổ chức, sắp xếp, thành
lập các Tổng công ty, các tập đoàn kinh tế và cổ phần hoá một bộ phận doanh
nghiệp Nhà nớc.
Trong phạm vi bài viết này Luận văn xin đề cập đến vấn đề Xác định giá
trị doanh nghiệp phục vụ cổ phần hoá thông qua trờng hợp
công ty Công trình giao thông 208. Với mục đích xem xét về phơng
pháp xác định giá trị doanh nghiệp, không có tham vọng đa ra giải pháp tối u để
giải quyết vấn đề này.
2
ch ơng I
Tổng quan về doanh nghiệp

và xác định giá trị doanh nghiệp
I-/ Doanh nghiệp.
1-/ Khái niệm doanh nghiệp.
Một cách tổng quát doanh nghiệp đợc định nghĩa theo sơ đồ sau:
Ngoài ra còn một số định nghĩa khác về doanh nghiệp:
- Theo Luật doanh nghiệp của nớc ta:
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản có trụ Sở giao dịch ổn
định, đợc đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm mục đích thực
hiện các hoạt động kinh doanh.
- Theo Luật doanh nghiệp Nhà nớc.
Doanh nghiệp Nhà nớc là tổ chức kinh tế do Nhà nớc đầu t vốn, thành lập và
tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện
các mục tiêu kinh tế, xã hội do Nhà nớc giao.
3
Nơi sản xuất
Doanh nghiệp kết hợp các phư
ơng tiện về nhân lực, kỹ thuật và
tài chính để sản xuất của cải hoặc
dịch vụ.
Nơi phân chia
Doanh nghiệp phân phối thu nhập
cho người lao động, các chủ sở
hữu và các nhà cung ứng.
Nơi Hợp tác
Đồng thời cũng là nơi xung đột
giữa các thành viên của doanh
nghiệp những người làm công ăn
lương và các nhà lãnh đạo.
Nơi thực hành quyền lực
Chủ doanh nghiệp ra các quyết

định, các cán bộ truyền đạt, còn
các nhân viên và công nhân thì
thực hiện chúng
Doanh nghiệp
2-/ Đặc điểm của doanh nghiệp:
Tuỳ theo hoạt động, qui mô và cấu trúc mà doanh nghiệp có nhiều nét khác
biệt nhau. Song nhìn chung vẫn có những nét chung nhất của mọi doanh nghiệp đó
là:
- Doanh nghiệp sản xuất: là một tổ chức kinh tế mà chức năng chính là sản
xuất của cải vật chất hoặc dịch vụ.
- Doanh nghiệp tìm kiếm lợi nhuận:
Trong các nớc t bản, mục tiêu cơ bản của các doanh nghiệp là kiếm lợi (thực
hiện một lợi nhuận). Nhng cũng có các mục tiêu khác đợc các chủ doanh nghiệp
tìm kiếm nh: thực hiện một dự án, uy tín, sự tăng trởng của doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp là một nhóm ngời có tổ chức và có cấp bậc:
Doanh nghiệp là nơi con ngời làm việc và chiếm một thời gian trung bình là
15% của cuộc sống. Các chức năng và nhiệm vụ đợc phân chia giữa các thành viên
là khác nhau: công nhân viên, trởng bộ phận, cán bộ. Trên họ có một ngời chỉ huy
(công chủ, nhà quản lý hoặc Tổng giám đốc) là ngời khởi xớng và điều hành các
quyết định.
- Doanh nghiệp bao gồm tổ hợp các nhân tố sản xuất:
Để sản xuất, doanh nghiệp tập hợp.
+ Các phơng tiện kỹ thuật (nhà cửa, máy móc,...).
+ Các phơng tiện tài chính (vốn).
+ Các phơng tiện nhân lực (ngời lao động).
Doanh nghiệp tìm cách tổ hợp hiệu quả nhất để đạt đợc kết quả tốt nhất với
chi phí ít nhất.
- Doanh nghiệp sản xuất để bán:
Các của cải vật chất dịch vụ mà doanh nghiệp tạo ra là để bán trên thị trờng.
Để đảm bảo sự tồn tại của mình, doanh nghiệp cần đáp ứng những đòi hỏi của ng-

ời tiêu thụ và thoả mãn cao nhất cho khách hàng của mình.
- Doanh nghiệp là nơi phân chia lợi nhuận cho: ngời lao động, ngời sở hữu,
ngời chủ nợ và ngời cung ứng.
3-/ Phân loại doanh nghiệp.
Số lợng doanh nghiệp tồn tại và hoạt động trong nền kinh tế thị trờng rất lớn.
Những doanh nghiệp này có những đặc điểm khác nhau. Để quản lý kinh tế nói
4
chung và quản lý doanh nghiệp nói riêng chúng ta cần phân loại doanh nghiệp căn
cứ theo các đặc điểm của chúng.
Việc phân loại giúp ta nắm bắt và nghiên cứu cụ thể đợc từng loại hình doanh
nghiệp, để từ đó xác định các chính sách, biện pháp quản lý phù hợp với từng loại
hình doanh nghiệp. Cũng trên cơ sở này, các chủ thể kinh doanh có thể lựa chọn
cho mình hình thức tổ chức doanh nghiệp phù hợp nhất để đăng ký trớc pháp luật
và hoạt động trên thị trờng nhằm đem lại hiệu quả cao nhất cho từng chủ thể cụ
thể.
Trong lĩnh vực xây dựng ngời ta thờng phân loại theo các căn cứ sau:
a. Theo kiểu tổ chức cơ cấu quản trị.
Gồm các kiểu cơ cấu nh:
- Kiểu trực tuyến: áp dụng cho các tổ chức xây dựng cấp cơ sở nh: tổ, đội xây
dựng loại đơn giản.
- Kiểu quản trị theo chức năng: ít đợc sử dụng.
- Kiểu quản trị kết hợp trực tuyến với chức năng: một biến thể của kiểu này
là kiểu trực tuyến kết hợp với tham mu. Bộ phận tham mu không đợc tổ chức
thành các phòng ban mà chỉ bao gồm các chuyên viên tham mu.
- Kiểu quản trị theo kiểu ma trận: đợc áp dụng để thực hiện các dự án hay
công trình do một tổ chức xây dựng tiến hành.
- Kiểu cơ cấu khung: ở đây có một bộ phận quản trị đợc duy trì thờng xuyên,
còn một bộ phận chỉ đợc tuyển dụng khi có công việc.
b. Phân loại theo hình thức sở hữu.
Bao gồm:

- Doanh nghiệp một chủ sở hữu: ví dụ doanh nghiệp có vốn của Nhà nớc hay
doanh nghiệp của một cá nhân đứng ra lập do vốn tự có của mình.
- Doanh nghiệp đa sở hữu: ví dụ các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty trách nhiệm hữu hạn có một thành viên là một tổ chức công ty
hợp doanh, hợp tác xã.
c. Phân loại theo ngành nghề và sản phẩm xây dựng:
Bao gồm:
- Các DNXD chuyên xây dựng các công trình công nghiệp.
5
- Các DNXD chuyên xây dựng các công trình phục vụ nông nghiệp, lâm
nghiệp, thuỷ sản.
- Các DNXD chuyên xây dựng các công trình giao thông vận tải.
- Các DNXD chuyên xây dựng các công trình dân dụng, văn hoá và xã hội.
d. Phân loại theo mức độ áp dụng cơ chế thị tr ờng và mục tiêu phục vụ.
Bao gồm:
- Các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trờng với mục đích chủ yếu là
thu lợi nhuận.
- Các doanh nghiệp hoạt động phục vụ công ích.
Trong xây dựng việc phân loại này khó phân định rõ ràng, vì một DNXD nào
đó khi thì xây dựng các công trình theo cơ chế thị trờng, khi thì xây dựng các công
trình phục vụ công ích. ở trờng hợp thứ hai mục tiêu lợi nhuận hoặc là không đề ra
hoặc là chỉ yêu cầu thấp, ví dụ xây dựng các công trình tình nghĩa, xây dựng các
công trình theo nhiệm vụ quốc phòng,...
e. Phân loại theo trách nhiệm pháp lý.
Bao gồm:
- Doanh nghiệp có trách nhiệm vô hạn: là doanh nghiệp chịu trách nhiệm về tài
chính bằng toàn bộ tài sản của chủ doanh nghiệp. Ví dụ: doanh nghiệp t nhân.
- Doanh nghiệp có trách nhiệm hữu hạn: là doanh nghiệp mà các thành viên
của nó chỉ chịu trách nhiệm về tài chính tơng ứng với phần vốn góp. Ví dụ công ty
cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn,...

g. Phân loại theo qui mô.
Theo tiêu thức này các doanh nghiệp đợc phân thành các doanh nghiệp có
quy mô lớn, vừa và nhỏ. Khái niệm lớn, vừa và nhỏ chỉ là tơng đối phụ thuộc vào
từng nớc. ở các nớc t bản, các DNXD đợc xếp loại dựa vào doanh số và số lợng
lao động.
ở nớc ta theo quy định của Nhà nớc, các tiêu thức để xác định qui mô của
doanh nghiệp Nhà nớc là: vốn, lao đông, doanh thu và nộp ngân sách Nhà nớc với
số điểm tơng ứng đợc trình bày trong bảng sau:
6
STT Tiêu thức Trị số Điểm số
1 Vốn Từ 50 tỉ đồng trở lên 40
Từ 40 tỉ < 50 tỉ 35
Từ 15 < 30 tỉ 25
2 Lao động Từ 1.500 ngời trở lên 30
Từ 1.000 < 1.500 25
Từ 500 đến < 1.000 20
3 Doanh thu Từ 80 tỉ đồng trở lên 15
Từ 60 tỉ < 80 tỉ 12
Từ 40 tỉ < 60 tỉ 10
Từ 20 tỉ < 40 tỉ 8
4 Nộp ngân sách Nhà nớc Từ 10 tỉ trở lên 15
Từ 7 < 10 tỉ 12
Từ 5 < 7 tỉ 9
Dới 5 tỉ 7
Doanh nghiệp nào đạt ........ cho tất cả mục tiêu thức đợc coi là doanh nghiệp
lớn.
h. Phân loại theo trình độ công nghệ của DNXD.
Các tiêu thức để phân loại các DNXD theo trình độ công nghệ.
- Số lợng và giá trị tài sản máy móc xây dựng tính chung cũng nh tính cho
một đầu ngời lao động (mức trang bị cơ giới cho lao động) và tính cho một đồng

giá trị sản lợng xây lắp).
- Trình độ cơ giới hoá và tự động hoá tính theo tỷ trọng khối lợng công việc
xây lắp đợc thực hiện bằng cơ giới và tự động hoá.
- Trình độ hiện đại và năng suất của máy móc xây dựng của doanh nghiệp.
Theo các tiêu thức trên và dựa trên qui định của mỗi nớc các DNXD đợc
phân thành:
+ Các DNXD chủ yếu là thủ công.
+ Các DNXD kết hợp cơ giới và thủ công.
+ Các DNXD cơ giới hoá.
i. Phân loại theo góc độ chuyên môn hoá và hợp tác hoá.
- Theo góc độ chuyên môn hoá đợc phân ra:
7
+ Các DNXD chuyên thực hiện một loại sản phẩm xây dựng.
+ Các DNXD đa năng, thực hiện một số loại hình sản phẩm xây dựng.
- Theo góc độ hiệp tác ..... đợc phân ra:
+ Các DNXD thầu chính hay tổng thầu.
+ Các DNXD thầu phụ.
k. Phân loại theo góc độ hợp tác quốc tế.
- Theo địa bàn hoạt động: đợc phân ra các DNXD chuyên xây dựng nội địa và
các DNXD có tham gia xây dựng ở nớc ngoài (các DNXD xuyên quốc gia).
- Theo hình thức liên doanh: đợc phân ra các DNXD có và không liên doanh
với nớc ngoài.
- Theo góc độ xuất khẩu: đợc phân ra các doanh nghiệp xuất khẩu xây dựng
tại chỗ trong nớc (khi xây dựng các công trình do vốn đầu t nớc ngoài ở Việt Nam)
và các DNXD xuất khẩu ra nớc ngoài (xây dựng các công trình ở ngoài nớc).
l. Phân loại theo mức độ phức tạp.
Theo mức độ phức tạp các DNXD đợc phân ra:
- Các công ty xây dựng: đây là hình thức phổ biến và đơn giản.
- Các tổng tông ty xây dựng:
Tuỳ thuộc qui mô có loại tổng công ty xây dựng có hội đồng quản trị và

không có hội đồng quản trị.
Ưu điểm của tổng công ty xây dựng: có khả năng, năng lực sản xuất đủ mạnh
để tham gia tranh thầu các dự án xây dựng lớn, có điều kiện thuận lợi để áp dụng
công nghệ mới và nghiên cứu khoa học - công nghệ, nâng cao khả năng hợp tác
quốc tế, tạo nên các lực lợng nòng cốt trong ngành.
4-/ Sự hình thành doanh nghiệp Nhà nớc.
Trong nền kinh tế Việt Nam doanh nghiệp Nhà nớc đã tồn tại và phát triển
không ngừng 50 năm nay, tính từ sắc lệnh 104/SL - 1/1/1948 của Chủ tịch Hồ Chí
Minh về ấn định những nguyên tắc của doanh nghiệp quốc gia. Tuy nhiên, địa vị
pháp lý của doanh nghiệp Nhà nớc mới chỉ đợc xác định tơng đối đầy đủ trong
mấy năm gần đây.
Cho đến trớc khi có bản Điều lệ xí nghiệp công nghiệp quốc doanh đầu
tiên (ban hành theo Nghị định 93/CP ngày 8/4/1977 của Chính phủ) Nhà nớc chỉ
8
có một số văn bản dới dạng các quyết định, Nghị quyết của Chính phủ mới chỉ
mang nội dung sơ sài thiếu đồng bộ, với giá trị pháp lý tạm thời.
Trong thời gian 10 năm (1977-1987) Nhà nớc đã ban hành nhiều văn bản để
tiếp tục thể chế hoá hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nớc. Sau đó, bản điều lệ
xí nghiệp công nghiệp quốc doanh lần thứ hai ban hành theo Nghị định 50-HĐBT
ngày 22/3/1998 là bớc rất quan trọng trong việc thể chế hoá quan điểm đổi mới
quản lý của Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng.
Quá trình vận động khách quan của nền kinh tế đã cho thấy tính chất chắp vá
và thiếu hoàn chỉnh của các chế định pháp lý về doanh nghiệp Nhà nớc.
Khắc phục tình trạng ấy, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản bổ sung, sửa
chữa những quy định không còn phù hợp nữa. Các Quyết định số 21/HĐBT ngày
14/11/1987, Nghị định số 388-HĐBT ngày 20/11/1991,... đã một mặt góp phần
thúc đẩy doanh nghiệp Nhà nớc phát triển, mặt khác tạo nên tiền đề luật pháp cho
việc ra đời luật doanh nghiệp Nhà nớc ngày 20 tháng 4 năm 1995.
Hiện nay, để phù hợp với nền kinh tế thị trờng Nhà nớc đang có xu hớng
chuyển doanh nghiệp Nhà nớc thành công ty cổ phần theo Nghị định 44CP ngày

29/6/1998 chỉ giữ lại một số ngành chủ chốt quan trọng đợc qui định rõ trong phụ
lục kèm theo Nghị định và một số giải pháp khác bản, khoán, cho thuê doanh
nghiệp quy định trong Nghị định 103CP, tất cả đều nhằm tăng hiệu quả sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nớc và để thích nghi với nền kinh tế thị tr-
ờng.
5-/ Đặc điểm của doanh nghiệp Nhà nớc.
Doanh nghiệp Nhà nớc là tổ chứck inh tế do Nhà nớc đầu t vốn, thành lập và
tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện
các mục tiêu kinh tế, xã hội do Nhà nớc giao.
Doanh nghiệp Nhà nớc có t cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự, tự
chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi vốn do doanh
nghiệp quản lý.
Doanh nghiệp Nhà nớc có tên gọi có con dấu riêng và có trụ sở chính trên
lãnh thổ Việt Nam.
Từ khái niệm trên, có thể rút ra những đặc điểm của doanh nghiệp Nhà nớc
nh sau:
+ Doanh nghiệp Nhà nớc là một pháp nhân do Nhà nớc đầu t vốn, thành lập
và tổ chức quản lý.
9
+ Doanh nghiệp Nhà nớc có thẩm quyền kinh tế bình đẳng với các doanh
nghiệp khác và hạch toán kinh tế độc lập trong phạm vi vốn do doanh nghiệp quản
lý.
+ Doanh nghiệp Nhà nớc giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân đợc
giao chức năng kinh doanh hoặc chức năng hoạt động công ích.
+ Doanh nghiệp Nhà nớc phải có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam.
6-/ Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp Nhà nớc (DNNN)
Quyền và nghĩa vụ của DNNN tạo nên thẩm quyền kinh tế trong lĩnh vực
hoạt động sản xuất kinh doanh (đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh) và
trong lĩnh vực các DNNN.
6.1. Các quyền cơ bản của DNNN.

6.1.1. Đối với tài sản đ ợc Nhà n ớc giao:
+ DNNN có quyền quản lý, sử dụng vốn, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực
khác do Nhà nớc giao theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh
doanh hoặc hoạt động công ích theo chức năng mà Nhà nớc giao phó.
+ DNNN hoạt động kinh doanh có quyền chuyển nhợng, cho thuê, thế chấp,
cầm cố tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp, trừ những thiết bị nhà xởng
quan trọng phải đợc cơ quan quản lý Nhà nớc có thẩm quyền phê duyệt trên
nguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn.
+ DNNN hoạt động công ích đợc thực hiện các quyền chuyển nhợng, cho
thuê, thế chấp, cầm cố tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp khi đợc cơ
quan quản lý có thẩm quyền cho phép.
6.1.2. Về tổ chức quản lý và tổ chức kinh doanh.
Các DNNN hoạt động kinh doanh có quyền tổ chức quản lý và tổ chức kinh
doanh nh sau:
+ Tự chọn cách thức tổ chức bộ máy quản lý, tổ chức kinh doanh phù hợp với
mục tiêu nhiệm vụ mà Nhà nớc giao phó.
+ Chủ động đổi mới công nghệ trang thiết bị.
+ Đặt chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp ở trong nớc hay nớc
ngoài tuỳ theo quy định của Chính phủ.
+ Tự nguyện tham gia tổng công ty Nhà nớc, trừ những tổng công ty Nhà nớc
đặc biệt do Chính phủ chỉ định thành viên.
10
+ Kinh doanh những ngành nghề phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ Nhà nớc
giao, mở rộng quy mô kinh doanh theo khả năng của doanh nghiệp và nhu cầu của
thị trờng, kinh doanh bổ xung những ngành nghề khác do cơ quan Nhà nớc có
thẩm quyền cho phép.
+ Tự lựa chọn thị trờng, đợc xuất - nhập khẩu theo quy định của Nhà nớc.
+ Tự quyết định giá mua giá bán sản phẩm và dịch vụ, trừ những sản phẩm và
dịch vụ do Nhà nớc định giá.
+ Đầu t, liên doanh, liên kết, góp vốn cổ phần theo quy định của pháp luật.

+ Xây dựng, áp dụng các định mức lao động, vật t đơn giá tiền lơng trên đơn
vị sản phẩm trong khuôn khổ các định mức, đơn giá của Nhà nớc.
+ Tuyển chọn, thuê mớn, bố trí, sử dụng, đào tạo lao động, lựa chọn hình
thức trả lơng theo quy định của Bộ Luật lao động và các quy định khác của pháp
luật, đợc quyền quyết định mức lơng và thởng cho ngời lao động trên đơn vị sản
phẩm hoặc chi phí dịch vụ và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Các DNNN do tính chất hoạt động công ích do tính chất hoạt động của mình
cho nên trừ các quyền liên quan đến chọn nghề kinh doanh, quyền lựa chọn thị tr-
ờng, đầu t liên doanh liên kết, các DNNN có quyền thực hiện tất cả các quyền
khác nh quy định cho các DNNN hoạt động kinh doanh ở trên. Ngoài ra các
DNNN hoạt động công ích có các quyền sau:
+ Sử dụng các nguồn lực đợc giao để tổ chức hoạt động kinh doanh bổ sung
theo quy định của Chính phủ, nhng không làm ảnh hởng tới việc thực hiện các
mục tiêu, nhiệm vụ chính là hoạt động công ích do Nhà nớc giao.
+ Đầu t, liên doanh, liên kết, góp vốn cổ phần theo quy định của pháp luật
khi đợc cơ quan quản lý Nhà nớc có thẩm quyền cho phép.
+ Đợc xuất nhập khẩu theo quy định của Nhà nớc.
6.1.3. Về quản lý tài chính.
Các DNNN hoạt động kinh doanh có quyền quản lý tài chính nh sau:
+ Đợc sử dụng vốn và các quỹ của doanh nghiệp để phục vụ kịp thời các nhu
cầu trong kinh doanh trên nguyên tắc bảo toàn và có hoàn trả.
+ Tự huy động vốn đề hoạt động kinh doanh, nhng không thay đổi hình thức
sở hữu, đợc phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật; đợc thế chấp giá trị
quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp tại
các ngân hàng Việt Nam để vay vốn kinh doanh theo quy định của pháp luật.
11
+ Đợc sử dụng quỹ khấu hao cơ bản của doanh nghiệp; mức và tỷ lệ trích
khấu hao cơ bản, chế độ sử dụng và quản lý quỹ khấu hao cơ bản do Chính phủ
quy định.
+ Sau khi đã làm đủ nghĩa vụ đối với Nhà nớc, lập quỹ đầu t phát triển và các

quỹ khác do c quy định, doanh nghiệp đợc chia phần lợi nhuận còn lại cho ngời
lao động theo cống hiến của mỗi ngời và kết quả kinh doanh trong năm và theo cổ
phần.
+ Đợc hởng các chế độ trợ cấp, trợ giá các chế độ u đãi khác của Nhà nớc khi
thực hiện nhiệm vụ sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ phục vụ quốc phòng, an ninh
phòng chống thiên tai, hoạt động công ích hoặc cung cấp sản phẩm dịch vụ theo
chính sách giá của Nhà nớc không đủ bù đắp chi phí sản xuất sản phẩm, dịch vụ
này của doanh nghiệp.
+ Đợc hởng các chế độ u đãi đầu t hoặc tái đầu t theo quy định của Nhà nớc.
Các DNNN hoạt động công ích do tính chất hoạt động của mình cho nên
không thực hiện các quyền và sử dụng vốn kinh doanh nh các DNNN khác. Cùng
với các quyền quản lý tài chính nh các DNNN khác DNNN hoạt động công ích
còn có các quyền sau:
+ Đợc Nhà nớc cấp kinh phí theo dự toán hàng năm hoặc theo đơn đặt hàng
của Nhà nớc do cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền duyệt, phù hợp với nhiệm vụ kế
hoạch mà Nhà nớc giao cho doanh nghiệp.
+ Đợc huy động vốn, gọi vốn liên doanh, thế chấp quyền sử dụng đất gắn liền
với tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp tại các ngân hàng của Việt Nam
để vay vốn phục vụ hoạt động công ích theo quy định của pháp luật khi đợc cơ
quan Nhà nớc có thẩm quyền cho phép.
+ Doanh nghiệp cung ứng các sản phẩm hoặc dịch vụ có thu phí đợc sử dụng
phí theo quy định của Chính phủ để phục vụ hoạt động của doanh nghiệp.
6.2. Nghĩa vụ của doanh nghiệp Nhà nớc.
6.2.1. Nghĩa vụ sử dụng vốn và tài sản Nhà n ớc giao cho DNNN.
+ DNNN có nghĩa vụ sử dụng có hiệu quả bảo toàn và phát triển vốn do Nhà
nớc giao, bao gồm cả phần vốn đầu t vào doanh nghiệp khác (nếu có); nhận và sử
dụng có hiệu quả tài nguyên đất đai và các nguồn lực khác mà Nhà nớc giao cho
doanh nghiệp.
12
+ DNNN hoạt động kinh doanh có nghĩa vụ sử dụng vốn và các nguồn lực do

Nhà nớc giao để thực hiện mục tiêu kinh doanh và những nhiệm vụ đặc biệt do
Nhà nớc giao.
+ DNNN hoạt động công ích có nghĩa vụ sử dụng vốn kinh phí, các nguồn
lực do Nhà nớc giao để cung cấp các sản phẩm, dịch vụ công ích cho các đối tợng
theo khung giá hoặc do Chính phủ quy định.
6.2.2. Nghĩa vụ trong quản lý hoạt động kinh doanh và hoạt động công ích
của DNNN.
+ Đăng ký kinh doanh và thực hiện việc kinh doanh đúng ngành nghề đã
đăng ký, chịu trách nhiệm trớc Nhà nớc về kết quả hoạt động của doanh nghiệp và
chịu trách nhiệm trớc khách hàng, trớc pháp luật về sản phẩm và dịch vụ do doanh
nghiệp thực hiện.
+ Xây dựng chiến lợc phát triển, kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp với
nhiệm vụ đợc Nhà nớc giao và nhu cầu của thị trờng.
+ Đổi mới, hiện đại hoá công nghệ và phơng thức quản lý, sử dụng thu nhập
từ chuyển nhợng tài sản để tái đầu t, đổi mới thiết bị, công nghệ của doanh nghiệp.
+ Thực hiện các quy định của Nhà nớc về bảo vệ môi trờng, quốc phòng và
an ninh quốc gia.
+ Chịu sự kiểm tra của đại diện chủ sở hữu, tuân thủ các quy định về thanh
trả của cơ quan tài chính và của các cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền theo pháp
luật quy định. Có nghĩa vụ công bố công khai báo cáo tài chính hàng năm, cung
cấp các thông tin để đánh giá đúng đắn và khách quan về hoạt động của doanh
nghiệp.
+ DNNN hoạt động kinh doanh thực hiện các nghĩa vụ nộp thuế và các khoản
nộp ngân sách Nhà nớc theo quy định của pháp luật.
+ DNNN hoạt động công ích có nghĩa vụ nộp ngân sách các khoản thu về phí
và các khoản thu khác.
Trờng hợp có hoạt động kinh doanh thì phải có tổ chức hạch toán riêng và
thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp
luật.
13

II-/ Thực trạng quá trình cải cách doanh nghiệp Nhà nớc trong
thời gian vừa qua.
1-/ Quá trình cải cách DNNN trong thời gian vừa qua.
Đổi mới hệ thống DNNN trong tổng thể về đổi mới chung của nền kinh tế
trong cơ chế thị trờng theo định hớng XHCN trong thời gian vừa qua đã thu đợc
một số kết quả nhất định. Những kết quả đó khẳng định sự đúng đắn trong đờng
lối đổi mới của Đảng. Quá trình cải cách DNNN trong thời gian vừa qua có thể
chia làm 2 giai đoạn, giai đoạn từ năm 1986-1991 (khi có Nghị định 388 HĐBT
ngày 20/1/1991 về thành lập và giải thể DNNN) và giai đoạn từ năm 1991 đến
nay.
1.1. DNNN trong những năm đầu đổi mới (giai đoạn 1986-1991).
Sau 10 năm thống nhất đất nớc, t tởng bao cấp vẫn chi phối nặng nề cơ chế
quản lý kinh tế ở nớc ta và những khuyết tật trong quản lý kinh tế ở cả tầm vĩ mô
đã dần dần bộc lộ những mâu thuẫn trong bố trí cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế
nhiều thành phần, phát huy tính năng động của doanh nghiệp quốc doanh ngày
càng hiện ra rõ nét.
Bớc vào những năm đầu thập kỷ 80, nền kinh tế nớc ta đã rơi vào cuộc khủng
hoảng sâu sắc, sản xuất ngng trệ ở tất cả mọi lĩnh vực, lạm phát tăng vọt.
Đứng trớc hoàn cảnh đó Đại hội Đảng lần thứ VI họp đề ra đờng lối đổi mới
sâu sắc, toàn diện, triệt để nền kinh tế đất nớc.
Trên tinh thần đổi mới, ngày 14/11/1987. Hội đồng Bộ trởng đã ban hành Quyết
định 21/HĐBT về mở rộng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của DNNN.
Và bắt đầu từ năm 1988 năm đầu tiên thử nghiệm cơ chế kinh tế mới của Nhà
nớc theo tinht hần Quyết định 217/HĐBT. Hệ thống DNNN đứng trớc một thách
thức sống còn buộc phải có sự lựa chọn: hoặc dần dần đi đến phá sản hoặc phải tự
mình đổi mới nhanh chóng thích ứng với cơ chế kinh doanh mới để vơn lên tồn tại
và phát triển. Đây là giai đoạn mà các DNNN phải thử nghiệm phơng thức kinh
doanh mới, tự mình bơi ngụp trong bối cảnh giao thời, giữa cơ chế kinh tế cũ và
những mầm mống cơ chế kinh tế mới.
Đứng trớc bình diện chung nhận xét: giai đoạn này, Nhà nớc hầu nh cha có

một chiến lợc nào về sắp xếp, thành lập, giải thể DNNN, vì vậy, các ngành, các
cấp chính quyền địa phơng mà chủ yếu là cấp quận, huyện đều rất dễ dàng thành
lập mới DNNN dẫn đến tình trạng DNNN đợc hình thành một cách ồ ạt, vô tổ
chức, không đặt trong một quy hoạch phát triển chung.
14
Trong giai đoạn này, trình độ về kỹ thuật và công nghệ của các DNNN lạc
hậu nhiều so với thế giới. Trung bình sau 14-15 năm thiết bị mới đợc đổi mới.
Khoảng 34% máy móc công nghiệp đa vào sử dụng từ những năm 1961-1975 và
chỉ có 18% sau năm 1986, phần còn lại là những máy móc thiết bị thiếu đồng bộ
chiếm tỷ trọng rất cao. Hiệu quả kinh tế của khu vực quốc doanh nhìn chung còn
thấp, nhiều doanh nghiệp tỏ ra còn thua kém các doanh nghiệp t nhân. Máy móc
thiết bị chỉ sử dụng từ 1/3 đến 1/2 công suất. Hệ số sinh lời bình quân của vốn cố
định khoảng 0,07% của vốn lu động là 0,1%.
Tình trạng lãng phí trong sử dụng vốn và tài sản, thiếu trách nhiệm trong
hạch toán thống kê, phản ánh sai chi phí và kết quả kinh doanh là rất phổ biến và
nghiêm trọng. ở nhiều doanh nghiệp số lao động còn quá nhiều so với nhu cầu sản
xuất, bộ máy quản lý còn cồng kềnh kém hiệu lực. Số xí nghiệp có lãi chỉ chiếm
khoảng 20-25%.
Tuy nhiên, nếu đứng trên góc độ đóng góp vào Ngân sách Nhà nớc thì các
DNNN vẫn là nguồn đóng góp quan trọng cho ngân sách Nhà nớc: tỷ lệ thu từ khu
vực DNNN trong tổng thu ngân sách năm 1990 là 77,3%; năm 1991 là 78,7%.
Để giúp các DNNN thoát khỏi tình trạng này, Nhà nớc đã ban hành nhiều
văn bản pháp quy quan trọng nhằm cải cách một bớc hệ thống các doanh nghiệp
nh: Quyết định về tổng kiểm kê tài sản trong các DNNN lúc 0h ngày 1/1/1990
nhằm đánh giá đúng khối lợng vốn doanh nghiệp đang nắm giữ làm cơ sở cho
công tác quản lý tài chính, Chỉ thị 316CT ngày 1/9/1990 về thí điểm trao quyền sử
dụng và trách nhiệm bảo toàn vốn,... Tiếp đó Chính phủ ban hành Chỉ thị 138CT
ngày 25/4/1991 về mở rộng diện trao quyền sử dụng và trách nhiệm bảo toàn vốn
sản xuất kinh doanh trong các DNNN. Các văn bản ban hành trong giai đoạn này
đã khẳng định hơn nữa quan điểm của Nhà nớc về trao quyền tự chủ tài chính, sử

dụng có hiệu quả bảo toàn và phát triển vốn của Nhà nớc giao. Các văn bản này
trở thành những căn cứ pháp lý quan trọng tạo tiền đề cho bớc cải cách hệ thống
DNNN giai đoạn tiếp theo.
1.2. Giai đoạn sắp xếp và chấn chỉnh của DNNN (giai đoạn từ 1991-1996).
Tiếp tục con đờng đổi mới, ngày 20/11/1991 Nghị định 388/HĐBT quy định
về thành lập, giải thể DNNN đợc ban hành, đã đánh dấu chấm hết một giai đoạn
dài không có định hớng, không có quy hoạch trong sắp xếp, phát triển khu vực
kinh tế Nhà nớc, Nghị định số 388/HĐBT quy định rõ các điều kiện cần phải có để
xin phép thành lập doanh nghiệp, các lĩnh vực đợc phép thành lập doanh nghiệp,
quy trình, thủ tục thành lập, giải thể doanh nghiệp.
15
Tiếp đó là Quyết định 90 TTg và 91 TTg thí điểm lập mô hình tổ chức tập
đoàn kinh tế lớn phù hợp với quy luật tập trung hoá sản xuất. Đồng thời việc thí
điểm lập cơ chế hội đồng quản trị để từng bớc xoá bỏ chế độ chủ quản trực tiếp
của cơ quan quản lý Nhà nớc và sự can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Các tổng công ty Nhà nớc thành lập nhằm nâng cao sức cạnh
tranh, trở thành lực lợng chi phối toàn bộ nền kinh tế. Cho tới nay chúng ta đã
thành lập đợc 19 tổng công ty Nhà nớc có tầm cỡ (theo QĐ 90TTg) nh tổng công
ty Bu chính viễn thông, tổng công ty dầu khí,... và hơn 40 tổng công ty theo Quyết
định 90 TTg.
Quan trọng hơn, ngày 20/4/1995 Quốc hội đã thông qua Luật DNNN đây là
văn bản luật cao nhất thể hiện những chủ trơng quan trọng của Nhà nớc về phát
triển các DNNN tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho các DNNN hoạt động bình đẳng tr-
ớc pháp luật, bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.
Cùng với luật DNNN, các đạo luật mới ra đời nh: Bộ Luật lao động, Bộ Luật
dân sự, Luật phá sản,... đã tạo điều kiện cho các DNNN phát triển trong trật tự lành
mạnh và có hiệu quả phân định rõ quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản trong mối
quan hệ giữa cơ quan quản lý Nhà nớc và các doanh nghiệp.
Trong giai đoạn này, Chính phủ đã cho phép tiến hành thí điểm chuyển một
số DNNN sang công ty cổ phần bằng Quyết định 202 CT ngày 8/6/1992 của Chủ

tịch Hội đồng Bộ trởng (nay là Thủ tớng Chính phủ) đã mở ra một hớng đi mới
cho các DNNN ở Việt Nam trong tiến trình cải cách. Tuy nhiên do cổ phần hoá là
một vấn đề mới mẻ, sự hiểu biết vấn đề còn hạn chế nên quá trình cổ phần hoá
diễn ra rất chậm, một số doanh nghiệp đã bỏ dở giữa chừng kết quả 3 năm tiến
hành thí điểm cổ phần hoá đến 12/1990 chỉ có 10 doanh nghiệp chính thức chuyển
sang công ty cổ phần. Song bớc thí điểm ban đầu đã cho chúng ta những bài học
quý báu, là cơ sở cho Chính phủ ban hành những văn bản pháp quy sát thực có tác
dụng thúc đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá. Bớc sang năm 1996, với việc Chính
phủ ban hành Nghị định 28CP ngày 7/5/1996 kết thúc giai đoạn thí điểm, chính
thức qui định việc chuyển một số DNNN sang công ty cổ phần khẳng định quyết
tâm của Chính phủ trong việc cải cách DNNN theo hớng này.
Đồng thời để củng cố các doanh nghiệp đang hoạt động đảm bảo các DNNN
đợc thành lập có đủ khả năng cạnh tranh trên thị trờng, đủ sức hoàn thành nhiệm
vụ Nhà nớc giao, ngày 28/8/1996 Chính phủ đã ban hành Nghị định 80CP về
thành lập, tổ chức lại và phá sản DNNN thay thế Nghị định 388/HĐBT, là một bớc
tiến phù hợp với tiến trình đổi mới DNNN.
16
Tóm lại, trong giai đoạn 1991-1990 Nhà nớc đã áp dụng một số biện pháp để
chấn chỉnh lại khu vực kinh tế Nhà nớc nh:
- Tiếp tục sắp xếp lại các DNNN, thí điểm thành lập một số tổng công ty
mạnh, đồng thời tiến hành xử lý các doanh nghiệp đã tổ chức lại sản xuất kinh
doanh nhng vẫn bị thua lỗ kéo dài.
- Mở rộng quyền tự chủ của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, trong
quản lý tài chính. Mở rộng các hình thức huy động vốn cho doanh nghiệp: ngoài
phần vốn do ngân sách cấp phát, doanh nghiệp đợc phép chủ động vay ngân hàng
các đơn vị cá nhân trong và ngoài doanh nghiệp để phục vụ cho nhu cầu sản xuất
kinh doanh, thí điểm phát hành trái phiếu DNNN để vay vốn.
- Thí điểm thực hiện đa dạng hoá hình thái sở hữu trong các DNNN với các
hình thức khác nhau mà trọng tâm là hớng cổ phần hoá DNNN thể hiện qua giai
đoạn thí điểm vừa qua.

Các biện pháp trên bớc đầu đã có tác dụng tích cực trong việc cải cách hệ
thống DNNN từ lao đao, mất phơng hớng kinh doanh, mất chỗ đứng trên thơng tr-
ờng, bị t thơng chèn ép đến chỗ trụ lại đợc, gia tăng sản xuất lấy lại thế đứng của
DNNN trên thị trờng nội địa và ngày càng mở rộng phạm vi hoạt động ra thị trờng
quốc tế.
2-/ Những kết quả đạt đợc và những tồn tại khó khăn.
2.1. Những kết quả đạt đợc:
Có thể khái quát những kết quả đã đạt đợc của DNNN trong giai đoạn tiến
hành cải cách vừa qua nh sau:
a. Các DNNN đã khôi phục và duy trì đ ợc mức tăng tr ởng khá hàng năm.
Kết quả sản xuất kinh doanh của các DNNN đợc cải thiện, tỷ lệ các DNNN
có lãi tăng từ 65,34% năm 1991 lên 69,8% năm 1992, 76,8% năm 1993 và 17,9%
năm 1994, số lợi nhuận thực hiện bình quân của các doanh nghiệp tăng từ 3,2 triệu
đồng/doanh nghiệp năm 1985 lên 319,8 triệu đồng/doanh nghiệp năm 1990 và
1352,7 triệu đồng/doanh nghiệp năm 1994. Những kết quả này đã góp phần đa nền
kinh tế nớc ta thoát khỏi khủng hoảng mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ kinh tế tăng
trởng mạnh lạm phát bị chặn đứng và đẩy lùi, thu chi ngân sách Nhà nớc đợc cải
thiện,...
17
Tăng trởng hàng năm của nền kinh tế và khu vực DNNN
Chỉ tiêu 1991 1992 1993 1994 1995
Tăng trởng hàng năm về tổng sản phẩm quốc nội
- Toàn bộ nền kinh tế quốc dân 5,8 8,4 8,1 8,8 9,5
- Khu vực DNNN 8,6 12,4 11,6 12,7 12,4
- Kinh tế ngoài quốc doanh 4,7 6,8 6,2 6,7 7,9
Nguồn: Niên giám thống kê 1995
b. DNNN tiếp tục đóng góp phần quan trọng trong tổng thu ngân sách Nhà
n ớc hàng năm.
Tỷ trọng đóng góp của DNNN trong tổng thu NSNN
Chỉ tiêu 1992 1993 1994 1995

1. Tốc độ tăng thu của NSNN năm sau so với năm trớc 98,0 53,2 28,7 28,7
2. Tốc độ tăng thu từ DNNN năm sau so với năm trớc 57,4 80,8 32,1 25,6
3. Tỷ trọng đóng góp của DNNN vào NSNN hàng năm 28,0 27,6 28,3 27,6
4. Tỷ trọng DNNN trong GDP hàng năm 36,2 39,2 40,2 42,2
Nguồn: Vụ ngân sách Nhà nớc - Bộ Tài chính
c. Thu hẹp dần tỷ trọng DNNN bị thua lỗ, nâng cao tỷ trọng DNNN làm
ăn có lãi, hiệu quả sử dụng tài sản, tiền vốn ngày một tăng.
Nhờ liên kết xử lý một số doanh nghiệp bị thua lỗ kéo dài và làm tốt công tác
sắp xếp, thành lập lại các doanh nghiệp đã thúc đẩy những doanh nghiệp đợc
thành lập và hoạt động tích cực hơn, không còn ỷ lại vào sự trợ cấp bao cấp của
Nhà nớc. Số lợng DNNN đợc thu hẹp đáng kể từ chỗ 12.084 doanh nghiệp vào
1/1/1990 xuống còn 6.240 doanh nghiệp vào thời điểm 1/4/1994. Nh vậy số lợng
DNNN giảm khoảng 45%, trong số các doanh nghiệp giảm xuống có khoảng
2.000 doanh nghiệp thuộc diện giải thể hay thay đổi hình thức sỡ hữu và khoảng
4.000 doanh nghiệp đợc sát nhập vào các doanh nghiệp khác. Số doanh nghiệp
giảm này chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ, phần lớn do cấp quận, huyện quản lý,
đã ngừng hoạt động hoặc bị thua lỗ kéo dài.
Số DNNN làm ăn có lãi ngày một gia tăng. Năm 1992 có 69,8% số doanh
nghiệp có lãi, năm 1993 có 76,8% và năm 1994 là 77,9%, số doanh nghiệp bị lỗ
cũng giảm đáng kể năm 1992 có 22,6%, năm 1993: 17,75% và năm 1994 chiếm
16,5%.
18
d. Nhà n ớc đã không phải báo cấp cho các doanh nghiệp giảm dần tiến tới
xoá bỏ hẳn các khoản trợ cấp cho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp phát huy tính chủ động, tự chủ trong sản xuất kinh doanh.
Điều quan trọng là thông qua hoạt động thực tiễn theo cơ chế thị trờng đã tạo
cho các DNNN một nề nếp, phơng thức làm việc mới tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp tự tích tụ, tập trung vốn, tự đầu t đổi mới công nghệ sản xuất cho phù hợp
với đòi hỏi của thị trờng.
e. Tạo công ăn việc làm cho một bộ phận đông đảo ng ời lao động, đời sống

cán bộ, công nhân viên đ ợc cải thiện gấp nhiều lần, tác động tích cực đến cải
thiện đời sống xã hội.
Tính đến cuối năm 1994, tổng số lao động đang làm việc trong các DNNN là
1.741.717 ngời, đã giảm 4% so với năm 1991. Sự giảm đi của lực lợng lao động
trong các DNNN là kết quả của các biện pháp giảm biên chế lao động trong khu
vực DNNN, do sắp xếp, giải thể DNNN và do chuyển một bộ phận lao động thuộc
khu vực DNNN sang làm việc tại các xí nghiệp liên doanh mà DNNN là một bên
góp vốn.
Tình hình thu nhập tiền lơng ở một số doanh nghiệp
Chỉ tiêu Đơn vị tính 1994 1995
Bình quân các đơn vị, trong đó: 1.000đ/ngời/tháng 893 1.093
- Nông nghiệp 1.000đ/ngời/tháng 587 684
- Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ 1.000đ/ngời/tháng 1.139 1.390
f. Thực hiện một b ớc cấu trúc lại nền kinh tế quốc dân.
Cấu trúc của nền kinh tế thể hiện ở mức độ tham gia của các thành phần kinh
tế trong tổng thể kinh tế thống nhất.
19
Trong những năm qua chính sách phát triển nền kinh tế đa thành phần theo
định hớng XHCN ở nớc ta đã tạo điều kiện tốt về mặt luật pháp cho sự tham gia và
phát triển của các thành phần kinh tế khác. Đối với DNNN tạo điều kiện cho DNNN
hoà nhập và bình đẳng với các thành phần kinh tế khác. Việc sắp xếp lại hệ thống
DNNN và thực hiện cổ phần hoá một bộ phận DNNN đã góp phần làm thay đổi kết
cấu doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.
g. Hình thành một số ngành kinh tế mũi nhọn, các ngành công nghiệp mới,
tạo điều kiện cho tăng tr ởng kinh tế đ ợc lâu bền.
Cải cách DNNN theo hớng đầu t, phát triển thích đáng vào những ngành
công nghiệp sản xuất hiện nh vật liệu mới, công nghệ vi sinh, tin học, điện tử, hoá
dầu,... đặc biệt là các dự án có khả năng đi tắt đón đầu nền công nghệ thế giới.
Trong những năm qua chính sách của Nhà nớc về cải cách DNNN đã tạo điều
kiện để tập trung mạnh đầu t vào những ngành sử dụng nhiều lao động, hớng

mạnh đầu t vào phát triển nông nghiệp và nông thôn, khai thác chế biến lâm thuỷ
sản xuất khẩu, các làng nghề truyền thống vừa giải quyết công ăn và việc làm, vừa
khai thác thế mạnh nguồn nhân lực và nguồn tài nguyên sẵn có trên cơ sở hớng
mạnh vào chế biến xuất khẩu, sản xuất hàng xuất khẩu thu ngoại tệ, hạn chế tối đa
việc xuất khẩu sản phẩm thô, sản phẩm sơ chế ra thị trờng quốc tế.
2-/ Những tồn tại khó khăn cần sớm giải quyết.
Bên cạnh những thành tựu đạt đợc trong những năm đổi mới vừa qua con đờng
cải cách khu vực kinh tế Nhà nớc vẫn còn gập ghềnh và không ít chông gai, thực
trạng hoạt động và sự tồn tại của DNNN đạt đặt ra những vấn đề nan giải, nên
không giải quyết đợc những vấn đề này thì không thể hy vọng có đợc một hệ thống
DNNN đủ mạnh làm đối trọng và đóng vai trò chủ đạo cho sự phát triển các thành
phần kinh tế trong tổng thể của nền kinh tế quốc dân.
2.1. Khó khăn về vấn đề đầu t mở rộng quy mô kinh doanh và cải tiến một b-
ớc tình trạng lạc hậu của công nghệ sản xuất.
DNNN ở nớc ta chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, theo báo cáo của
Tổng cục thống kê, đến cuối năm 1994 vẫn còn khoảng 46,1% số DNNN có số lao
động dới 100 ngời và 49,2% số DNNN có mức vốn dới 1 tỷ.
Một đặc điểm nữa là số vốn đầu t khi thành lập doanh nghiệp chiếm tỷ lệ rất
nhỏ bé, chủ yếu do bổ xung tăng từ chênh lệch giá do đánh giá lại giá trị tài sản cố
định, tài sản lu động trong doanh nghiệp, phần vốn gia tăng từ lợi nhuận hầu nh
không đáng kể. Vốn đầu t ít không đủ đáp ứng nhu cầu kinh doanh dẫn đến doanh
20
nghiệp nào cũng thiếu vốn triền miên. Và cũng từ sự thiếu vốn triền miên mà
doanh nghiệp phải đi vay nó, phải chiếm dụng vốn của nhau,...
2.2. Cơ cấu doanh nghiệp cha hợp lý, DNNN còn phân bố dàn trải trên
nhiều lĩnh vực hoạt động với qui mô nhỏ.
Số lợng DNNN tuy đã giảm nhiều trong những năm vừa qua nhng nay lại có
xu hớng gia tăng qui mô doanh nghiệp nhỏ và phân bố dàn trải. Cơ cấu DNNN sắp
xếp theo ngành, theo vùng lãnh thổ còn nhiều bất hợp lý, vẫn cha khắc phục đợc
tình trạng chồng chéo, trùng lắp, thiếu sự điều hoà phối hợp để tận dụng năng lực,

nâng cao hiệu quả kinh doanh giữa các ngành, giữa doanh nghiệp Trung ơng và
doanh nghiệp địa phơng trên cùng một địa bàn lãnh thổ.
Phát triển kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN ở nớc ta đòi hỏi Nhà nớc
phải duy trì một bộ phận DNNN làm công cụ kinh tế để Nhà nớc thực hiện việc
điều chỉnh nền kinh tế, định hớng phát triển cho các doanh nghiệp khác. Tuy
nhiên vai trò chủ đạo của DNNN cần phải đợc nhận thức lại phù hợp với điều kiện
kinh tế hiện nay. Trong điều kiện này tính chủ đạo của kinh tế Nhà nớc không có
nghĩa là DNNN phải có mặt ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế,
không có nghĩa là DNNN phải có số lợng lớn, có đóng góp nhiều cho ngân sách.
Vai trò chủ đạo của DNNN thể hiện ở chỗ. Nhà nớc đầu t phát triển các doanh
nghiệp sản xuất và cung ứng sản phẩm công cộng các mặt hàng chiến lợc có ảnh
hởng đến tốc độ tăng trởng kinh tế hay có mặt ở các ngành, lĩnh vực kinh tế mà
các thành phần kinh tế khác không đủ sức làm hay không muốn tham gia, thành
lập doanh nghiệp ở các ngành kinh tế mới xuất hiện tạo mũi nhọn và định hớng
cho sự phát triển của nền kinh tế.
Thực hiện chủ trơng hình thành các doanh nghiệp mạnh theo Quyết định
90TTg và 91TTg của Thủ tớng Chính phủ, tới nay chúng ta mới sắp xếp và thành
lập đợc 19 Tổng công ty Nhà nớc (theo QĐ 91TTg), hơn 40 tổng công ty với số
doanh nghiệp thành viên khoảng gần 2.000 doanh nghiệp. Nh vậy còn khoảng trên
4.000 doanh nghiệp với qui mô vừa và nhỏ chủ yếu là rất nhỏ, đa số hoạt động
trong ngành thơng mại, dịch vụ, đây chính là đối tợng cần sắp xếp lại triệt để trong
những năm tới theo hớng cổ phần hoá hay cho sát nhập vào các doanh nghiệp
khác.
2.3. Hiệu quả kinh doanh còn thấp, vẫn còn những doanh nghiệp kinh
doanh thua lỗ, hiệu quả sử dụng đồng vốn thấp.
Mặc dù trong mấy năm trở lại đây các DNNN làm ăn đã có lãi, song vẫn còn
một bộ phận đang bị thua lỗ (theo báo cáo quyết toán thì có khoảng trên 10% số
21
doanh nghiệp bị thua lỗ). Nên tính đúng, tính đủ chi phí khấu hao tài sản cố định
vào giá thành kinh doanh, kiểm soát chặt chẽ việc tính toán các khoản chi phí kinh

doanh thì số DNNN còn bị lỗ có thể sẽ cao hơn nhiều.
Rõ ràng để cải cách DNNN đạt mục tiêu đặt ra bên cạnh việc xoá bỏ những
tồn tại nêu trên, cần thiết phải có hớng đi giải pháp thích hợp.
Để thúc đẩy nhanh quá trình cải cách doanh nghiệp hiện nay có những giải
pháp sau:
2-/ Cổ phần hoá một giải pháp quan trọng trong cải cách doanh nghiệp đổi
mới DNNN.
Cổ phần hoá là chuyển thể một doanh nghiệp từ dạng cha là công ty cổ phần
thành công ty cổ phần. Do vậy cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc chính là
chuyển thể doanh nghiệp Nhà nớc thành công ty cổ phần.
Xét về hình thức, cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc là việc Nhà nớc bán
một phần giá trị vốn Nhà nớc giữ hoặc giữ nguyên giá trị phần vốn Nhà nớc để
phát hành thêm cổ phiếu hoặc tách một bộ phận của doanh nghiệp hoặc bán toàn
bộ giá trị vốn Nhà nớc hiện có tại doanh nghiệp để chuyển thành công ty cổ phần.
Xét về mặt thực chất, cổ phần hoá chính là phơng thức xã hội hoá chủ sở hữu,
chuyển từ hình thái kinh doanh một chủ sở hữu là Nhà nớc thành công ty cổ phần
với nhiều chủ sở hữu tạo ra mô hình doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị tr-
ờng và đáp ứng yêu cầu của kinh doanh hiện đại.
2.1. Mục tiêu của cổ phần hoá.
Mục tiêu thứ nhất là, phải chuyển một phần quyền sở hữu về tài sản của Nhà
nớc thành sở hữu của các cổ đông nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp.
Trớc hết, cần hiểu rằng mục đích của việc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà n-
ớc là chuyển quyền sở hữu cho các cổ đông, chứ không phải là quyền sử dụng,
nghĩa là mua đứt bán đoạn chứ không phải là cho thuê, cho vay. Tuy vậy, vẫn có 2
trờng hợp đặc biệt không chuyển quyền sở hữu, mà chỉ chuyển quyền sử dụng, đó
là:
- Đất của doanh nghiệp, vì cho đến nay luật pháp Việt Nam không cho phép
bán đất.
- Trờng hợp các cổ đông là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế quốc doanh thì

chỉ là chuyển quyền sử dụng các tài sản của Nhà nớc mà thôi.
22
Thứ hai là, hiện nay các doanh nghiệp Nhà nớc làm ăn rất kém hiệu quả. Đó
vừa là gánh nặng cho ngân sách Nhà nớc vừa là nguy cơ đối với nền tài chính quốc
gia. Trong nền kinh tế thị trờng mà làm ăn kém hiệu quả (lỗ, không có lãi hoặc lãi
ít) thì nhất định sớm muộn cũng bị phá sản. Vì vậy, mục tiêu cao nhất cuối cùng
của cổ phần hoá phải là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Mục tiêu thứ hai là, phải huy động một khối lợng vốn nhất định ở trong và
ngoài nớc để phát triển sản xuất kinh doanh.
Hiện nay các doanh nghiệp Nhà nớc đang thiếu vốn nghiêm trọng để đầu t
phát triển. Nhng ngân sách Nhà nớc thì không thể cấp vốn cho một khu vực làm ăn
kém hiệu quả. Dân chúng sẽ không bao giờ cho doanh nghiệp Nhà nớc vay nếu
doanh nghiệp Nhà nớc không đợc cải tổ. Còn nớc ngoài thì không bao giờ cho
doanh nghiệp Nhà nớc vay nếu giữ nguyên hiện trạng. Họ chỉ có thể làm ăn với
doanh nghiệp Nhà nớc thông qua hình thức mua, thuê, liên doanh, mua cổ phần,....
Vậy là, muốn có vốn để đầu t phát triển, doanh nghiệp Nhà nớc chỉ có thể
huy động thông qua hình thức bán cổ phần.
Mục tiêu thứ ba của cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nớc là tạo điều kiện
cho ngời lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp.
2.2. Điều kiện để tiến hành cổ phần hoá.
23
ch ơng II
đánh giá doanh nghiệp và một số phơng pháp
xác định giá trị doanh nghiệp
I-/ Đánh giá doanh nghiệp.
1-/ Nhu cầu đánh giá doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng.
Ngày nay các doanh nghiệp đang hoạt động trong một môi trờng kinh doanh
luôn luôn biến động và sự biến động này diễn ra rất nhanh chóng và phức tạp. Xu
thế toàn cầu hoá trong kinh doanh đang từng ngày từng giờ tạo ra những áp lực
cạnh tranh hết sức gay gắt, đòi hỏi doanh nghiệp phải liên tục đổi mới và cải tiến

không ngừng để có thể tồn tại và phát triển bền vững.
Tại các quốc gia phát triển, các hoạt động đánh giá doanh nghiệp đã đợc tiến
hành từ nhiều thập kỷ nay và đã hình thành nhiều tổ chức chuyên thực hiện các
dịch vụ đánh giá.
Tại Việt Nam trong những năm gần đây nền kinh tế đã đạt đợc nhiều thành tựu
về tăng trởng và có nhiều dấu hiệu khởi sắc, cơ chế thị trờng đang từng bớc đợc
hoàn thiện. Tuy nhiên cũng có nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng thua lỗ kéo
dài thị phần sụt giảm, vị thế cạnh tranh trên thơng trờng thấp.
Tình hình trên đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam cần định kỳ tự đánh giá để
có những giải pháp cầu tiến quản lý cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Mặt khác trong nền kinh tế thị trờng các hoạt động sát nhập mua lại, hợp
nhất hay thành lập các liên doanh,... diễn ra một cách thờng xuyên. Cơ sở nền tảng
của các hoạt động này đều dựa trên kết quả đánh giá và xác định giá trị doanh
nghiệp. Đồng thời, các kết quả đánh giá về triển vọng của doanh nghiệp cũng là cơ
sở cho các tổ chức cá nhân và công chúng đầu t ra quyết định đầu t vào các loại
chứng khoán do doanh nghiệp phát hành trên thị trờng tài chính.
Bởi vậy, khi mà các hoạt động sát nhập liên kết và hợp nhất đã và đang diễn
ra khá sôi động. Đồng thời, trong tơng lai gần sẽ hình thành một thị trờng chứng
khoán tại Việt Nam thì nhu cầu sử dụng kết quả đánh giá chính xác về triển vọng
và giá trị của doanh nghiệp càng trở nên cấp thiết.
Vậy đánh giá doanh nghiệp là gì?
Đánh giá doanh nghiệp là sự đo lờng, xác định vị thế hiện tại và từ đó đa ra
những dự báo về triển vọng tơng lai của nó. Mặt khác, dựa vào những đánh giá về
24
hiện trạng và triển vọng của doanh nghiệp mà có thể xác định đợc giá trị của
doanh nghiệp tại thời điểm đánh giá. Để tiến hành đánh giá doanh nghiệp việc trớc
tiên là ta phải xác định đợc mục đích đánh giá.
1-/ Mục đích của đánh giá doanh nghiệp.
Mỗi nhóm quyền lợi trong doanh nghiệp có những mục đích rất khác nhau
trong việc đánh giá doanh nghiệp do đó các nhóm quyền lợi này cũng có những

nhận định rất khác nhau đối với kết quả đánh giá, thông thờng đánh giá doanh
nghiệp nhằm những mục đích sau:
1.1. Đối với doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp luôn có nhu cầu biết rõ tình trạng sức khoẻ của mình trên
cơ sở đó để đề ra các kế hoạch điều chỉnh chiến lợc, kế hoạch cải tiến các hoạt
động kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh,... Đồng thời, tại
những điểm cần huy động vốn cổ phần hay cổ phần hoá thì kết quả đánh giá là cơ
sở để xây dựng giá trị doanh nghiệp và giá trị phát hành cổ phiếu.
Tóm lại mục đích đánh giá của doanh nghiệp là hiểu rõ vị thế của chính nó,
trên cơ sở đó đa ra những dự báo về triển vọng và đề ra những kế hoạch, những cải
tiến cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh tranh,... nhằm h-
ớng tới sự phát triển bền vững.
1.2. Đối với các chủ nợ và chủ sở hữu doanh nghiệp.
Mục đích đánh giá doanh nghiệp của họ là để dựa vào kết quả đánh giá mà đa
ra những quyết định thích hợp nhằm bảo vệ quyền lợi của họ trong doanh nghiệp.
Chẳng hạn, các cổ đông hiện tại của một doanh nghiệp có thể dựa trên kết quả đánh
giá mà quyết định ủng hộ ban lãnh đạo hiện nay của doanh nghiệp hay phải thay thế
họ. Đối với các nhà đầu t chứng khoán. Kết quả đánh giá doanh nghiệp là cơ sở để
họ quyết định đặt vốn hay rút vốn ra khỏi doanh nghiệp đó.
Đối với các chủ nợ hiện tại và tiềm tàng, mục đích của đánh giá doanh
nghiệp với t cách là khách hàng tín dụng làm nhằm dựa vào kết quả đánh giá mà
đa ra những quyết định cho vay hay từ chối.
Thực tế cuộc khủng hoảng Châu á cho thấy, do không đánh giá đúng tính
trạng hoạt động kinh doanh của các khách hàng tín dụng khi khách hàng mất khả
năng trả nợ thì chủ nợ cũng bị phá sản theo, điển hình là ngân hàng tín dụng dài
hạn Nhật Bản.
25

×