Tải bản đầy đủ (.doc) (52 trang)

Tổng hợp kiến thức trọng tâm môn văn thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm học 2012, 2014

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (398.37 KB, 52 trang )

NHỮNG KIẾN THỨC CHƯA RA THI TN TỪ 2009
ĐẾN 2011 CẦN CHÚ Ý
1/VỢ CHỒNG A PHỦ ( Tơ Hồi )
I/ Tác giả :
- Tơ Hồi sinh năm 1920, tên khai sinh là Nguyễn Sen, quê ở Hà Tây.
- Là một nhà văn lớn, có số lượng tác phẩm đạt kỉ lục trong văn học hiện đại VN.
- Sáng tác của ông thiên về diễn tả sự thật đời thường.
- Ông có vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về phong tục tập quán của nhiều vùng khác nhau
trên đất nước ta. Ơng cũng là nhà văn ln hấp dẫn người đọc bởi lối trần thuật hóm hỉnh, sinh
động của người từng trải, vốn từ vựng giàu có, nhiều khi rất bình dân, nhưng nhờ cách sử dụng
đắc địa và tài ba nên có sức lơi cuốn, lay động người đọc.
- Tác phẩm chính : Dế mèn phiêu lưu kí, Truyện Tây Bắc…
II/ Văn bản :
1/ Hoàn cảnh sáng tác :
- Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ trích từ Truyện Tây Bắc, được sáng tác năm 1953, là kết
quả chuyến đi của Tơ Hồi cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc. Tám tháng sống gắn bó với đồng
bào các dân tộc miền núi đã tạo cảm hứng cho ông sáng tác thành tác phẩm này.
- Truyện Tây Bắc được tặng giải nhất của Hội văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955.
2/ Tóm tắt truyện :
Truyện kể về cuộc sống cơ cực của đôi vợ chồng người Mông là Mị và A Phủ :
- Mị sinh ra trong một gia đình nơng dân nghèo, vì cha mẹ nợ bạc nhà thống lí nên Mị bị bắt
về làm con dâu gạt nợ. Đau khổ, tủi nhục, Mị định tự tử nhưng vì thương cha nên đành quay lại
sống kiếp trâu ngựa trong nhà thống lí. Tuy nhẫn nhục, cam chịu nhưng trong Mị vẫn tiềm tàng
một tinh thần phản kháng mãnh liệt.
- A Phủ mồ côi cha mẹ từ nhỏ, lớn lên lao động rất nhiều. Vì đánh A Sử, con thống lí nên bị
phạt một trăm bạc trắng. Khơng có tiền, thống lí Pá Tra cho vay tiền, A Phủ phải ở đợ để trừ nợ.
Do sơ ý để hổ vồ mất một con bị, A Phủ bị thống lí trói vào cột cho tới khi A Sử bắn được hổ về
mới thả.
- Thương cảm trước cảnh A Phủ sắp chết, Mị đã táo bạo cắt dây trói cho A Phủ và cùng
trốn sang Phiềng Sa. Ở đây, họ thành vợ chồng. Được cán bộ A Châu giúp đỡ, A Phủ trở thành
tiểu đội trưởng du kích cùng bản làng bảo vệ quê hương.


3/ Nội dung
- Nhân vật Mị:
+ Cuộc sống thống khổ: Mị là cô gái trẻ, đẹp, yêu đời nhưng vì món nợ “truyền kiếp”, bị bắt
làm “con dâu gạt nợ” nhà thống lí Pá Tra, bị đối xử tàn tệ, mất ý thức về cuộc sống ( lời giới thiệu
về Mị, công việc, không gian căn buồng của Mị,…).
+ Sức sống tiềm tàng và khát vọng hạnh phúc: Mùa xuân đến (thiên nhiên, tiếng sáo gọi bạn,
bữa rượu,…), Mị đã thức tỉnh (kỉ niệm sồng dậy, sống với tiếng sáo, ý thức về thời gian, thân phận,
…) và muốn đi chơi (thắp đèn, quấn tóc,…). Khi bị A Sử trói vào cột, Mị “như khơng biết mình
đang bị trói”, vẫn thả hồn theo tiếng sáo.
+ Sức phản kháng mạnh mẽ: Lúc đầu, thấy A Phủ bị trói, Mị dửng dưng “vơ cảm”. Nhưng
khi nhìn thấy “dịng nước mắt chảy xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ, Mị xúc động,
nhớ lại mình, đồng cảm với người, nhận ra tội ác của bọn thống trị. Tình thương, sự đồng cảm giai
1


cấp, niềm khát khao tự do mãnh liệt,… đã thôi thúc Mị cắt dây trói cứu A Phủ và tự giải thốt cho
cuộc đời mình.
- Nhân vật A Phủ:
+ Số phận éo le, là nạn nhân ủa hủ tục lạc hậu và cường quyền phong kiến miền núi (mồ côi
cha mẹ, lúc bé đi làm thuê hết nhà này đến nhà khác, lớn lên nghèo đến nỗi không lấy nổi vợ).
+ Phẩm chất tốt đẹp: có sức khỏe phi thường, dũng cảm; yêu tự do, yêu lao động; có sức
sống tiềm tàng mãnh liệt…
- Giá trị của tác phẩm:
+ Giá trị hiện thực: miêu tả chân thực số phận cực khổ của người dân nghèo, phơi bày bản
chất tàn bạo của giai cấp thống trị ở miền núi.
+ Giá trị nhân đạo: thể hiện tình yêu thương, sự đổng cảm sâu sắc với thân phận đau khổ
của người dân lao động miền núi trước Cách mang; tố cáo, lên án, phơi bày bản chất xấu xa, tàn
bạo của giai thống trị; trân trọng và ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn, sức sống mãnh liệt và khả năng cách
mạng của nhân dân Tây Bắc;…
b) Nghệ thuật:

- Nghệ thuật xây dựng nhân vật có nhiều điểm đặc sắc (A Phủ được miêu tả qua hành động, Mị
chủ yêu khắc họa tâm tư,…).
- Trần thuật uyển chuyển, linh hoạt; cách giới thiệu nhân vật đầy bất ngờ, tự nhiên mà ấn
tượng; kể chuyện ngắn gọn, dẫn dắt tình tiết khéo léo.
- Biệt tài miêu tả thiên nhiên và phong tục, tập quán của người dân miền núi.
- Ngôn ngữ sinh động, chọn lọc và sáng tạo, câu văn giàu tính tạo hình và thấm đẫm chất thơ,

c) Ý nghĩa văn bản:
Tố cáo tội ác của bọn phong kiến, thực dân; thể hiện số phận đau khổ của người dân lao động
miền núi; phản ánh con đường giải phóng và ngợi ca vẻ đẹp, sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của họ.
5/ Chủ đề :
Đoạn trích đã nói lên cuộc sống cơ cực, tối tăm của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao
dưới ách áp bức thống trị của bọn thực dân và bọn chúa đất, đồng thời cũng thấy được sức sống
mãnh liệt, quá trình đứng lên đấu tranh tự giải phóng đời mình và đi theo cách mạng của họ.
3. Hướng dẫn tự học:
- Tìm đọc trọn vẹn Vợ chồng A Phủ và tóm tắt tác phẩm.
- Phân tích diễn biến tâm trạng của Mị trong “đêm tình mùa xuân” và đêm cởi trói cứu A
Phủ./.
B/ LUYỆN TẬP : đề bài làm văn tham khảo

BÀI LÀM CỦA HỌC SINH
TRƯỜNG THPT AN MỸ TX TDM –BÌNH DƯƠNG
HỌ VÀ TÊN HỌC SINH : VÕ NGỌC LỰU
LỚP : 12T2
NHĨM 2
Đề 1: Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài.
DÀN BÀI

I/ Mở bài :
-


Truyện Tây Bắc là truyện ngắn của Tơ Hồi, trong đó nổi bật truyện Vợ chồng A Phủ. Tác phẩm này đã thể
hiện đặc sắc cuôc sống của đôi thanh niên nam nữ người Mông, Mị và A Phủ, trong suốt quá trình họ bị bon
phong kiến thực dan áp bức đến khi giác ngộ cách mạng.
2


-

Những tư tưởng, tình cảm của họ, đặc biệt là của Mị đã được tác giả thể hiện rất đặc sắc trong tác phẩm, nhất
là đoạn miêu tả diễn biến tâm trạng và hành động trong đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài.

II/ Thân bài:
1/ Cảnh ngộ của Mị khi ở Hồng Ngài :
Mị là một cô gái người Mông xinh đẹp, hồn nhiên, yêu đời, có tài thổi sáo. Vì món nợ truyền kiếp, Mị đã
bị cướp làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra
Cuộc sống nơ lệ đâu khổ đã nhanh chóng biến cơ gái hồn nhiên, yêu đời ấy thành người phụ nữ lầm lũi
cam chịu như “con rùa ni trong xó cửa”
2/ Tâm trạng và hành động của Mị trước cảnh mùa xuân và ngày hội :
Trước đêm mùa xuân, do bị đọa đày. Mị trở thành người phụ nữ vô hồn, mất cả cảm giác về thời gian và
không gian. Kiếp sống của Mị chẳng khác nào kiếp sống con trâu, con ngựa trong nhà thống lí. Tuy nhiên, sức
sống trong Mị chưa hoàn toàn lụi tắt. Mỗi khi bước vào buồng, Mị lại ngồi xuống giường và trông ra cửa sổ.
Điều ây cho thấy Mị ln hướng ra bên ngồi, ẩn chứa một khat khao, dù khá mong manh và mơ hồ. Sức sống
có thể bị dập tắt vĩnh viễn nhưng cũng có thể sẽ trổi dậy khi có điều kiện.
Mùa xuân chính là sự tác đọng của bối cảnh bên ngoài đối với Mị .Mùa xuân năm ấy ở Hồng Ngài đẹp
và gợi cảm biết bao. “Trên đầu núi các nương ngô,nương lúa đã gặt xong… Trong các làng Mèo nhũng chiếc
váy hoa đã đem ra phơi trên mõm đã xịe như con bướm sặc sỡ… Ngồi đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo
rủ bạn đi chơi… Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi. Mị ngồi nhẩm lại bài hát của người đang thổi…”
. Mùa xuân đó đầy mầu sắc, rộn rã âm thanh. Điều ấy hồn tồn xa lạ với khơng gian trong căn buông bé nhỏ
của Mị nhưng gần gũi với một thế giới mà Mị đã từng sổng rất hạnh phúc. Chúng gợi cho Mị nhớ lại thời xa

xưa. Ngày xưa, tết Mị uống rượu. Bây giời, Mị cũng uống rượu nhưng “Mị lén lấy hủ rượu, cứ uống ừng ực
tưng bát. Rồi say…”.
Rượu – chất mem đã đánh thức phần đời đã mất của Mị. Mị được sống về ngày trước. Ngày ấy, Mi vui
sướng biết bao, “tai Mi văng vẳng tiếng sao gọi bạn đầu làng”. Đấy là tiếng sáo của tình duyên, của tuổi thanh
xuân căng đầy sức sống. Giờ phút ây, hình như Mị khơng cịn là cơ con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra nữa bởi
Mị đang “ Uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mi uống chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết
bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thôi sáo đi theo Mị”.
Ra thế, “Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn được đi chơi”. Nhưng cuộc sống thưc đã đánh thức Mị : Mĩ vẫn
đang ở trong nhà của thống lí, vẫn đang sống kiếp đọa đày cùng với A Sử. Sự đối lập gay gắt giữa một bên là
hanh phúc một bên là tuổi tre với một bên kia là một kiếp sống trâu ngựa đã khiến Mị suy nghĩ đến việc kết thúc
đời mình như ngày mới về làm dâu nhà thống lí. Mị lại ước “nếu có năm lá ngón trong tay lúc này Mĩ sẽ ăn
cho hết chứ không buồn nhớ lại nữa”.Nhưng “tiếng sao gọi bạn yêu vẫn lững lờ bay ngồi đường”. Mị đang
muốn qn đi, khơng muốn nhớ lại cái ngày trước mà không được. Tiếng sao ấy “lững lờ”, tiếng sáo ấy làm Mị
“ thiết tha bồi hổi”
Thay vì đi chơi, Mị lại thực hiện sự giải thốt bằng một cách khác. “Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn
một miếng bỏ thêm vào đèn cho sang”. Nhưng “trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo” nên “Mị quấn lại tóc, Mị
với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách… Mị rút thêm cái áo…”. Mị làm tất cả mọi thứ thật bình thản và
quyết liệt. Nhưng ý định giải thốt của Mị khơng thành. A Sử về đến, nó lấy làm làm lạ. Chỉ sau một câu hổi
không cần sự trả lời. “ A Sử bước lại, nắm Mị , lấy thắt lưng trói hai tay Mị. Nó xánh cả một thùng sợi đay ra
trói đứng Mị vào cột nhà. Tóc Mị xõa xuống, A Sử quấn ln tóc lên cột, làm cho Mị không cúi, không nghiên
được đầu nữa”.
3/ Tâm trạng và hành động của Mị khi bị trói:
A Sử chỉ trói được thể xác của Mị. Trong bong tối, “ Mị vẩn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc
chơi, những đám chơi”. Tâm hồ Mị vẩn sống trong không khí của ngày hội, sống với lời ca tiếng hát ngọt ngào.
Mị vùng bước đi “ nhưng tay chân đau không cựa được”. Mị ý thức được cảnh ngộ , thân phận hiện tại của
mình và “ thổn thức nghĩ mình khơng bằng con ngựa”.
Suối đêm, Mị lúc mơ lúc tỉnh. “ Lúc thì khắm nguời bị dây trói thít lại, đau nhức. Lúc lại nồng nàn tha
thiết nhớ”. Đến sang, Mị bừng tỉnh và cựa quậy xem mình cị sống hay đã chết. Tâm trạng lo sợ ấy đã thể hiện
ý thức về sự sống , sức sống đã trổi dậy trong lịng Mị để sau này có những hành động mạnh mẽ , quyết liệt để
thoát ra khỏi cảnh nô lệ khổ đâu.

3


==>
Cuộc trỗi dậy lần thứ nhất của Mị không thành. Mị khơng thốt khỏi căn nhà ấy, dù chỉ một phút giây
nhưng Mị đã khơng cịn là con ngựa, con rùa lùi lũi trong xó cửa nữa. Mị đã sống lại những thời khác của tuổi
thanh xuân tươi trẻ và tự do. Vì thế, khi bị A Sử trói, lúc bang hoàng tỉnh, Mị chợt nhớ đến câu chuyện một
người vợ trong nhà thống lí Pá Tra bị trới đã chết khơng ai hay. Và, “Mị sợ q”. Mị cịn muốn sống. Mị còn
ham sống.
Cuộc trỗi dậy ấy như một đợt song dâng lên rồi tan ra. Nó khơng làm mảy may thay đổi cuộc đời Mị.
Nhưng từ đó, song ngầm vẫn khơng mất. Nó sẽ tn trào thành những đợt sóng mới, mãnh liệt hơn lúc nào hết,
bằng chứng là hành động cởi trói cho A Phủ và cùng anh trốn khỏi Hồng Ngài sau này.

III Kết bài:
Thành công của nhà văn là khắc họa một nhân vật sống chủ yếu bằng tâm trạng, với tâm trạng. Cả một
đêm mùa xuân, Mị hành động được rất ít nhưng người đọc vẫn thực sự hấp dẫn với một con người đang từ cõi
âm u mơ hồ trỗi dậy. Không gian, thời gian, giọng kể chuyện của tác phẩm đều theo một tiết tấu của chính tâm
trạng ấy. Hẳn Tơ Hồi đã đặt tất cả tấm lịng của mình vào tâm trạng của Mị để người đọc dõi theo tâm trạng
ấy, khi tha thiết bồi hồi, khi nghẹn ngào xót xa.

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DỊNG SƠNG?
Hồng phủ Ngọc Tường
I/ Tác giả :
- H.P.N.Tường là một trí thức u nước, có vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực.
- Ông chuyên viết về thể loại bút kí. Nét đặc sắc trong sáng tác của HPNT là ở sự kết hợp nhuần
nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với tư duy đa chiều được tổng hợp từ
vốn kiến thức sâu rộng về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí… tất cả được diễn đạt trong lối hành văn
hướng nội súc tích, mê đắm và tài hoa.
- Tác phẩm tiêu biểu : Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1971), Hoa trái quanh tôi (1995), Ngọn
núi ảo ảnh (1999)…

2/ Hoàn cảnh sáng tác : Ai đã đặt tên cho dịng sơng? là bài bút kí xuất sắc, viết tại Huế ngày 4/1/1981
in trong tập sách cùng tên.
II/ Văn bản :
a) Nội dung:
Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp sơng Hương từ nhiều góc độ : từ thượng nguồn tới khi qua kinh thành
Huế, từ tự nhiên, lịch sử đến văn hóa nghệ thuật. Qua đó, tác giả ca ngợi thành phố Huế và rộng hơn là
ca ngợi quê hương đất nước.
- Thủy trình của Hương giang:
+ Ở nơi khởi nguồn: Sơng Hương có vẻ đạp hoang dại, đầy cá tính, là bản trường ca của
rừng già, là cơ gái di-gan phóng khống và man dại, là người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở.
+ Đến ngoại vi TP Huế: Sông Hương như người gái nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu
Hóa đầy hoa dại được người tình mong đợi đến dánh thức. Thủy trình của SH khi bắt đầu về xi tựa một
cuộc tìm kiếm có ý thức người tình nhân đích thực của một người con gái đẹp trong câu chuyện tình u
lãng mạn nhuốm màu cổ tích.
+ Đến giữa TP Huế: SH như tìm được chính mình vui hẳn lên…mềm hẳn đi như một tiếng
“vâng” khơng nói ra của tình u . Nó có những đường nét tinh tế, đẹp như điệu “slow” tình cảm dành
riêng cho Huế, như người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya…
+ Trước khi từ biệt Huế: SH giống như người tình dịu dàng và chung thủy. Con sơng như nàng
Kiều trong đêm tình tự, trở lại tìm Kim Trọng để nói một lời thề trước lúc đi xa…
- Dịng sơng của lịch sử và thi ca:
+ Trong lịch sử, SH mang vẻ đẹp của một bản hùng ca ghi dấu bao chiến công oanh liệt của dân tộc.
+ Trong đời thường, SH mang vẻ đẹp giản dị của một người con gái dịu dàng của đất nước.
+ Sơng Hương là dịng sơng của thi ca, là nguồn cảm hứng bất tận cho các văn nghệ sĩ.
4


b) Nghệ thuật:
- Văn phong tao nhã, hướng nội, tinh tế và tài hoa;
- Ngơn từ phong phú, gợi hình, gợi cảm; câu văn giàu nhạc điệu.
- Các biện pháp nghệ thuật ẩn dụ, nhân hóa, so sánh được sử dụng một cách hiệu quả.

c) Ý nghĩa văn bản:
Thể hiện những phát hiện, khám phá sâu sắc và độc đáo về sơng Hương; bộc lộ tình u tha thiết,
sâu lắng và niềm tự hào lớn lao của nhà văn đối với dịng sơng q hương, với xứ Huế thân thương.
3. Hướng dẫn tự học:
+ Tìm đọc trọn vẹn tác phẩm,. Viết cảm nghĩ đoạn văn u thích nhất ;
+ Tìm và phân tích những cách ví von, so sánh độc đáo của HPNT trong đoạn trích./.
B/ LUYỆN TẬP
1/ So sánh cách tiếp cận sông Đà của N.Tuân với cách tiếp cận sông Hương của HPNT.
Nguyễn Tuân với sông Đà
H.P.N.Tường với sơng Hương
Giống
- Cùng viết tùy bút về dịng sơng.
nhau
- Huy động vốn tri thức phong phú về địa lí, lịch sử, văn hóa.
- Thể hiện rõ rệt cái tơi tài hoa, độc đáo.
Khác
- Khai thác hai mặt hung bạo và trữ - Khai thác những vẻ đẹp khác nhau của
nhau
tình của dịng sơng.
dịng sơng.
- Miêu tả sơng Đà biến đổi theo - Miêu tả s.Hương biến đổi theo các
mùa.
khoảng thời gian khác nhau trong ngày :
“sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”.
- Qua dịng sơng, ca ngợi con người - Ca ngợi dịng sơng, ca ngợi Huế, ca
lao động - chất vàng mười của vùng ngợi quê hương đất nước.
Tây Bắc.
- Sử dụng các kiến thức của điện - Khai thác chiều sâu lịch sử và văn
ảnh, hội họa, quân sự, sinh học, quân hóa.
sự, văn học, thủy điện…

2/ Đề bài làm văn tham khảo :
Đề 1 : Cảm nhận của anh ( chị ) về vẻ đẹp của dịng sơng Hương qua bút kí Ai đã đặt tên cho dịng
sơng? của Hồng Phủ Ngọc Tường.
DÀN BÀI
Mở bài :
- “ Có một người nghệ sĩ lang thang giữa hoa cỏ thiên nhiên rồi thiên nhiên bước vào những
trang bút kí tài hoa của anh với bao nhiêu xáo động khôn cùng của ngổn ngang trần thế”… Người ấy
là H.P.N.Tường.
- Ai đã đặt tên cho dịng sơng? là bút kí trữ tình sâu lắng, thể hiện rõ phong cách của HPNT. Tác
phẩm thể hiện sự uyên bác tài hoa của chủ thể sáng tạo trong cái nhìn liên tưởng cùng với những triết
luận sâu sắc về quan hệ giữa dịng sơng và lịch sử, dịng sơng với thi ca nhạc họa, dịng sông và con
người xứ Huế.
Thân bài :
1/ Vẻ đẹp ở cảnh sắc thiên nhiên: “ sông Hương thuộc về một thành phố duy nhất”
- Vẻ đẹp ở thượng nguồn :
+ Ở thượng nguồn, sông Hương mang vẻ đẹp đầy ấn tượng : “ Là một bản trường ca của rừng
già”.
+ Khi đi qua những “bóng cây đại ngàn”, “ qua những ghềnh thác”, sông Hương “rầm rộ”,
“mãnh liệt”, “ cuộn xoáy”.
5


+ Khi chảy qua những khúc sơng dài “chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”, sông Hương
“dịu dàng và say đắm”.
+ Giữa lịng Trường Sơn, sơng Hương như “ một cơ gái Di-gan phóng khống và man dại”, có
“bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng”.
 Liên tưởng độc đáo với so sánh và nhân hóa mạnh mẽ, vẻ đẹp thiên nhiên sơng Hương ở
thượng nguồn là một vẻ đẹp hoang dã, có sức sống mãnh liệt nhưng cũng dịu dàng và say đắm.
- Vẻ đẹp ở đồng bằng :
+ Sông Hương “ chuyển dịng một cách liên tục”, “uốn mình theo những đường cong thật mềm”

để tìm đường đi tới thành phố… Đó là khúc quanh vượt qua bao địa danh mang màu sắc văn hóa Huế :
ngã ba Tuần, điện Hịn Chén, vấp Ngọc Trản, bãi Nguyệt Biều, Lương Quán, chân đồi Thiên Mụ…
+ Con sông “ vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn”, “ sắc nước xanh thẳm”.
+ Từ những điểm cao như Vọng Cảnh, Tam Thai... “ ta luôn ln nhìn thấy dịng sơng mềm như
tấm lụa”.
+ Dịng sơng có vẻ đẹp biến ảo như phản quang nhiều màu sắc của nền trời Tây Nam thành phố :
“sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”.
+ Dịng sơng có vẻ đẹp “trầm mặc”, khi lặng lẽ chảy dưới những “ rừng thông u tịch” với những
lăng mộ “ kiêu hãnh âm u” của các vua chúa triều Nguyễn, có vẻ đẹp “như triết gia, như cổ thi” khi đi
trong âm hưởng ngân nga của tiếng chuông chùa Thiên Mụ, “ giữa những xóm làng trung du bát ngát
tiếng gà”.
 Nghệ thuật so sánh, nhân hóa độc đáo, gợi cảm : sơng Hương như “ người mẹ phù sa”, như “
người gái đẹp”, như “ tấm lụa mềm”… thể hiện năng lực tưởng tượng, sự quan sát tinh tế của tác giả và
sự hiểu biết về địa lí, văn hóa, lịch sử…
- Vẻ đẹp khi vào thành phố Huế :
+ Sông Hương vui tươi, chậm rãi, mềm mại, êm dịu “ như một tiếng vâng khơng nói ra của tình
u”.
+ Hình dạng sơng “ uốn một cánh cung”, chiếc cầu trên sông “ như vầng trăng non”.
+ Những chi lưu sông tỏa đi khắp các phố thị tạo những “ xóm thuyền xúm xít”, “ lập lịe trong
đêm sương…nhìn thấy được”.
+ Sơng Hương khi đi qua thành phố “ đã trôi đi chậm, thực chậm, cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ
yên tĩnh”, điệu chảy lặng lờ của sông như điệu nhạc êm dịu, tình cảm mà sơng Hương dành cho Huế.
Ngơn ngữ uyển chuyển, đầy chất thơ và âm nhạc đã thể hiện tình cảm gắn bó, say mê, tự hào
của tác giả với dịng sơng, với Huế.
2/ Vẻ đẹp nhìn từ góc độ văn hóa :
- Tác giả gắn sơng Hương với vẻ đẹp cổ điển Huế :
+ “ Sông Hương đã trở thành người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”.
+ Tác giả liên tưởng đến Nguyễn Du và Truyện Kiều. Nguyễn Du từng bao năm lênh đênh trên
dòng sông này và đã diễn tả điệu Tứ đại cảnh của Huế qua tiếng đàn của Kiều : “Trong như tiếng hạc
bay qua. Đục như tiếng suối mới sa nửa vời”

- Tác giả cho rằng có một dịng thi ca về sơng Hương, và “ dịng sơng ấy khơng bao giờ lặp lại
mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ”: Tản Đà tinh tế khám phá sự thay màu thực bất ngờ “ dịng sơng
trắng, lá cây xanh”. Cao Bá Quát phát hiện ở sông vẻ đẹp hùng tráng như “ kiếm dựng trời xanh”. Bà
Huyện Thanh Quan tìm thấy ở sơng một nỗi “ quan hồi vạn cổ”. Và trong thơ Tố Hữu, sông Hương
trở thành “sức mạnh phục sinh của tâm hồn”…
3/ Vẻ đẹp nhìn từ góc độ lịch sử : sơng Hương đã từng
- Là dịng sơng bảo vệ biên thùy tổ quốc thời Đại Việt.
- “ Vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ”.
- Chứng kiến bao cuộc khởi nghĩa, rồi đến CMT8 1945, chiến dịch Mậu Thân 1968.
6


 Sơng Hương là dịng sơng của sử thi, “ khi nghe lời gọi nó biết hiến đời mình làm một chiến
cơng, để rồi nó trở về với cuộc sống đời thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước”. Tác
giả đã nhìn sơng Hương như một cơ gái Huế, như cô dâu Huế ngày xưa trong áo diều lục, nhưng có lúc
lại là cơ gái Di-gan phóng khống và man dại, có lúc lại là một thiếu nữ tài hoa, dịu dàng mà sâu sắc,
đa tình, “ kín đáo lẳng lơ” nhưng rất mực chung tình…Đấy chính là vẻ đẹp trong trí tưởng tượng sáng
tạo đầy tài hoa của tác giả.
Kết bài :
- Tác phẩm là những phát hiện về vẻ đẹp của dịng sơng Hương, nhưng xét đến cùng, những phát
hiện ấy bắt nguồn từ tình cảm thiết tha đến say đắm của tác giả đối với cảnh và con người xứ Huế.
- Kết thúc tác phẩm là huyền thoại về tên gọi của dịng sơng với một câu hỏi thật vấn vương lòng
người : Ai đã đặt tên cho dịng sơng?
------------------------------------------------Đề 2 : Phân tích hình ảnh thơ mộng, trữ tình của những dịng sơng Việt Nam qua tùy bút Người lái đị
sơng Đà ( N.Tuân ) và bút kí Ai đã đặt tên cho dịng sơng? ( H.P.N.T ).
DÀN BÀI
Mở bài :
- Những dịng sông chảy trên đất nước Việt Nam đều phản chiếu trong nó vẻ đẹp thiên nhiên, đời
sống văn hóa của dân tộc. Điều đó tạo nên nét thơ mộng, trữ tình của những dịng sơng Việt Nam.
- Tiêu biểu qua hình ảnh sơng Đà trong Người lái Người lái đị sông Đà ( N.Tuân ) và sông

Hương trong Ai đã đặt tên cho dịng sơng? ( H.P.N.T ).
Thân bài :
1/ Giới thiệu khái quát :
- Tác phẩm Người lái đò sông Đà của N.Tuân được viết năm 1960, là kết quả chuyến đi thực tế
Tây Bắc của nhà văn. Cảm hứng ca ngợi thiên nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ vừa thơ mộng tuyệt vời và
ca ngợi con người dũng cảm trong xây dựng cuộc sống mới đã làm nên sự thành công của tùy bút này.
- Tác phẩm Ai đã đặt tên cho dịng sơng? là bút kí đặc sắc của H.P.N.T. Tác phẩm giàu chất trí
tuệ, chất trữ tình được viết năm 1981, tại Huế bằng cảm xúc sâu lắng đầy chất thơ về sông Hương với
vốn hiểu biết phong phú về văn hóa, lịch sử, địa lí, văn chương.
==> Được viết trong hai thời điểm khác nhau, về hai dịng sơng khác nhau nhưng hai tác phẩm
có điểm chung : miêu tả những nét thơ mộng, trữ tình của hai dịng sơng với vốn hiểu biết phong phú,
tình cảm say đắm, ngịi bút tài hoa.
2/ Hình ảnh thơ mộng của những dịng sơng :
a/ Sơng Đà :
- Nét đặc biệt : “ Chúng thuỷ giai đông tẩu. Đà giang độc bắc lưu”, nghĩa là mọi con sông đều
chảy về đơng chỉ có sơng Đà theo hướng bắc.
- Sông Đà được tác giả so sánh với dáng tha thướt, mềm mại kiều diễm như mái tóc dài của người
phụ nữ đẹp : “ Con sông Đà …nương xuân”.
- Vẻ đẹp sông Đà thể hiện ở những biến đổi tinh vi của nước sông theo thời tiết : mùa xuân “
xanh ngọc bích”, mùa thu “ lừ lừ chín đỏ”, giữa hai mùa ấy là “ màu nắng tháng ba Đường thi”. Nước
sơng Đà cịn lấp lánh dưới ánh mặt trời như “ cái miếng sáng lóe lên” trong trò nghịch chiếu gương soi
của trẻ con.
==> Với những so sánh biến hóa khơng trùng lặp, nhà văn như một họa sĩ tài hoa vẽ nên vẻ đẹp
sông Đà đầy màu sắc, đường nét sống động.
b/ Sông Hương :
* Nét đặc biệt : “ Sông Hương thuộc về một thành phố duy nhất”.
* Vẻ đẹp sơng Hương có sự cộng hưởng vẻ đẹp của những vùng địa lí nó đi qua :
7



- Ở giữa rừng Trường Sơn : “ dịu dàng và say đắm… hoa đỗ quyên rừng” -> vẻ thơ mộng, hoang
sơ, nguyên thủy của chốn rừng già u tịch.
- Đến cánh đồng Châu Hóa : biến đổi linh hoạt, mang vẻ đẹp “ dịu dàng và trí tuệ”.
+ Sơng Hương được miêu tả như nét đẹp dáng hình của một người con gái “ uốn mình theo
những đường cong thật mềm” qua điện Hòn Chén, bãi Nguyệt Biều, Lương Qn… như một cuộc tìm
kiếm có ý thức để tới gặp thành phố tương lai.
+ Sơng Hương rất “ tình tứ” khi vẽ “ một hình cung thật trịn về phía Đơng Bắc, ơm lấy chân đồi
Thiên Mụ”, qua những dãy đồi phản quang nhiều màu sắc “ sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”.
+ Vẻ thơ mộng của sơng Hương gắn liền vẻ cổ kính, u tịch trang nghiêm của những đền đài,
thành quách chốn cố đô, “ những lăng tẩm đồ sộ” mang đến cho sông Hương vẻ đẹp “ trầm mặc”, “
triết lí”.
- Đến nội vi thành phố Huế :
+ Cùng với Huế, sơng Hương góp phần tạo vẻ thơ mộng của “ đơ thị cổ”.
+ Gắn bó với cuộc sống cố đô : làm “ xanh biếc” những biền bãi Kim Long, làm tăng thêm sức
sống của những “ vầng lá” cổ thụ u sầm của cây đa, cây cừa, chứa trong lịng nó những sinh hoạt bình
dị, dân dã của đời sống người dân xứ Huế trong “ những ánh lửa thuyền chài” mà “ không một thành
phố hiện đại nào cịn nhìn thấy được”.
+ Sơng Hương hòa nhập với đời sống của Huế, biến thành một phần của Huế : “ khi qua thành
phố đã trơi đi chậm, thực chậm, cơ hồ chỉ cịn là mặt hồ yên tĩnh” -> Sông Hương đã trở thành một
phần đời sống văn hóa Huế.
==> Nét thơ mộng của hai dịng sơng được tác giả miêu tả ở nhiều góc độ : văn hóa, lịch sử…
được nhìn trong sự cộng hưởng với vẻ đẹp thiên nhiên, đất nước của những tâm hồn nghệ sĩ tài hoa.
3/ Nét trữ tình của những dịng sơng :
a/ Sơng Đà :
- Đối với mỗi người, sông Đà gợi cảm một cách khác nhau :
+ Với N. Tuân, sông Đà như một “ cố nhân” trong nỗi niềm du khách khi tác giả mải đi rừng dài
ngày gặp lại sơng Đà thì vui “ như thấy nằng giịn tan… đứt qng”. N.Tn dành tình cảm nồng nàn,
ấm áp với dịng sơng, “ nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân”.
+ Với Tản Đà, sông Đà gợi cảm hứng thi ca : “ Dải sơng Đà… tình”.
+ Đối với người dân Thái sống hai bên bờ sơng, sơng Đà gắn bó với cuộc sống mới yên vu của

họ ( nương ngô, đàn cá dầm xanh…).
- Gợi cảm xúc về một dịng sơng hiền hòa, dòng chảy “ lững lờ như nhớ như thương những hịn
đá thác xa xơi” trên thượng nguồn Tây Bắc -> nét hiền hịa làm tăng cảm xúc trữ tình, khách đi trên
sông như lạc vào thế giới hư hư thực thực.
b/ Sông Hương :
* Gợi cảm xúc phong phú, sâu lắng trong tâm hồn con người, sông Hương và Huế được tác giả
nhìn như một đơi tình nhân u nhau đắm say mà làm cho mỗi bên đều đẹp hơn trong tình yêu.
- Gợi vẻ trữ tình, âu yếm dịu dàng của điệu slow trong tình yêu : “ điệu chảy…Huế”.
- Gợi nỗi lòng vấn vương giữa người đi kẻ ở “ đang xa dần…Vĩ Dạ”.
- Gợi cảm xúc về tình u chung thủy khi nó ngoặt dịng chia tay với Huế, ôm lấy cồn Hến.
==> Những chuyển biến trong dịng chảy của sơng Hương đều gợi lên những tình cảm đẹp trong
mỗi người khiến tác giả phải thốt lên “ có một cái gì rất lạ với tự nhiên và rất giống với con người ở
đây” -> sông Hương và con người đều có tình u.
- Gợi cảm xúc trong chiều sâu đời sống văn hóa dân tộc : sơng Hương gợi cảm xúc về một vùng
văn hóa sông nước.
- Tiếng đàn trên sông Hương gợi bao số phận của những cuộc đời “ lêng đênh trên quãng sông
này”.
8


- Tiếng đàn gợi truyền thống văn hóa dân tộc, nét đẹp trong phẩm chất tâm hồn người Việt Nam :
yêu say đắm, thủy chung như Kim Trọng – Thúy Kiều.
- Gợi dân ca sông nước, gợi cảm hứng cho bao thi nhân : Tản Đà, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh
Quan, Tố Hữu.
* Gợi cảm xúc trong chiều dài của những biến thiên lịch sử :
- Tự hào về truyền thống đấu tranh hào hùng, vẻ vang của dân tộc : từ thời vua Hùng -> Nguyễn
Trãi -> Nguyễn Huệ -> chống Pháp -> chống Mĩ…sông Hương là chứng nhân lịch sử trong truyền
thống kháng chiến chống quân xâm lược vẻ vang của dân tộc.
- Gợi cảm xúc lắng đọng về một đất nước chịu nhiều đau thương trong chiến tranh, “Huế đã nhận
được những lời chia buồn sâu sắc…”.

==> Gợi cảm xúc về một thành phố anh hùng, “ lịch sử Đảng đã ghi bằng nét son tên của thành
phố Huế, thành phố tuy nhỏ nhưng đã cống hiến rất xứng đáng cho Tổ quốc”.
Kết bài :
- N.Tuân và H.P.N.T đã thành cơng khi miêu tả hai dịng sơng với nét thơ mộng, trữ tình bằng tình
u say đắm với dịng sơng và tài năng của những cây bút giàu trí tuệ, vốn hiểu biết sâu rộng về văn
hóa, lịch sử, địa lí và văn chương.
- Văn phong của thể kí đạt trình độ tao nhã, hướng nội, tinh tế, tài hoa.
- Qua nét đẹp của hai dòng sơng, hai nhà văn đã bồi dưỡng trong lịng người đọc tình yêu thiên
nhiên, tình yêu quê hương đất nước.
NGƯỜI LÁI ĐỊ SƠNG ĐÀ
Nguyễn Tn
I/ Tác giả : Nguyễn Tn
Nguyễn Tuân ( 1910 – 1987 ) sinh ra trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn.
Tính tình phóng khống và giàu lịng u nước.
Nét nổi bật trong PCNT Nguyễn Tuân là tài hoa, uyên bác.
II/ Văn bản :
1/ Hồn cảnh sáng tác :
Người lái đị sơng Đà là kết quả của nhiều dịp đến với Tây Bắc của nhà văn, đặc biệt là
chuyến đi thực tế năm 1958. Đây là một trong số 15 bài tùy bút của Nguyễn Tuân in trong tập Sông Đà
xuất bản năm 1960.
- Sơng Đà nói chung và bài tuỳ bút Người lái đị sơng Đà nói riêng cho ta nhận ra diện mạo một nhà
văn N.Tuân mới mẻ, khát khao được hòa nhập với đất nước và cuộc đời này.
Tác phẩm còn tiêu biểu cho PCNT độc đáo của N.Tuân : uyên bác, tài hoa, không quản nhọc
nhằn để cố gắng khai thác kho cảm giác và liên tưởng phong phú, bộn bề nhằm tìm cho ra những chữ
nghĩa xác đáng nhất, có khả năng làm lay động người đọc nhiều nhất.
2/ Nội dung :
- Sông Đà trên trang văn Nuyễn Tn hiện lên như một “nhân vật” có hai tính cách trái ngược:
+ Hung bạo, dữ dằn: Cảnh đá dựng thành vách, những đoạn đá chẹt dịng sơng như cái yết hầu;
cảnh nước xơ đá, đá xơ sóng, sóng xơ gió cuồn cuộn luồng gió gùn ghè; những hút nước sẵn sàng nhấn
chìm và đập tan chiếc thuyền nào lọt vào; những thạch trận, phòng tuyến sẵn sàng ăn chết con thuyền và

người lái đị;…
+ Trữ tình và thơ mộng: Dịng chảy uốn lượn của con sơng như mái tóc người thiếu nữ Tây Bắc
diễm kiều; nước sông Đà biến đổi theo mùa, mỗi mùa có một vẻ đạp riêng; cảnh vật hai bên bờ sông Đà
vừa hoang sơ nhuốm màu cổ tích, vừa trù phú, tràn trề nhựa sống;…
Qua hình tượng sơng Đà, NT thể hiện tình u mến thiết tha đối với thiên nhiên đất nước. với ông,
thiên nhiên cũng là một tác phẩm nghệ thuật vô song của tạo hóa. Cảm nhận và miêu tả sơng Đà, NT đã
9


chứng tỏ sự tài hoa, uyên bác và lịch lãm. Hình tượng sơng Đà là phơng nền cho sự xuất hiện và tôn vinh
vẻ đẹp của người lao động trong chế độ mới.
- Hình ảnh người lái đị:
+ Là vị chỉ huy cái thuyền sáu bơi chèo trong cuộc chiến đấu khơng cân sức với thiên nhiên dữ dội,
hiểm độc(sóng, nước, đá, gió…). Bằng trí dũng tuyệt vời và phong thái ung dung, tài hoa, người lái đò
nắm lấy bờm sóng vượt qua trận thủy chiến ác liệt (đá nổi, đá chìm, ba phịng tuyến trung vi vây bủa….)
thuần phục dịng sơng. Ơng nhìn thử thách bằng cái nhìn giản dị mà lãng mạn; bình tĩnh và hùng dũng
ngay cả lúc đã bị thương.
+ Nguyên nhân chiến thắng của ông lái đò: Sự ngoan cường, dũng cảm và nhất là kinh nghiệm sơng
nước.
- Hình ảnh ơng lái đị cho thấy NT đã tìm được nhân vật mới: nhưng con người đáng trân trọng, ngợi ca,
khong thuộc tầng lớp đài các vang bóng một thời mà là những người lao động bình thường-chất vàng
mười của Tây Bắc. Qua đây, nhà văn mốn phát biểu quan niệm: người anh hùng không chỉ có trong chiến
đấu mà cịn có trong cuộc sống lao động thường ngày.
Nghệ thuật:
- Những ví von, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ và rất thú vị.
- Từ ngữ phong phú, sống động, giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao.
- Câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu, lúc thì hối hả, gân guốc, khi thì chậm rãi, trữ tình…
Ý nghĩa văn bản:
Giới thiệu, khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động ở miền Tây Bắc của
Tổ quốc; thể hiện tình u mến, sự gắn bó thiết the của Nguyễn Tuân đối với đất nước và con người

Việt Nam.
3. Hướng dẫn tự học:
+ Tìm đọc trọn vẹn tác phẩm Người lái đị sơng Đà;
+ Liệt kê dẫn chứng và phân tích hiệu quả vài biện pháp nghệ thuật mà nhà văn đã sử
dụng để khắc họa hình tượng sơng Đà;
+ Phân tích hình ảnh người lái đị trong cảnh vượt thác./.
3/ Nghệ thuật :
Nhà văn đã dùng các biện pháp nhân hóa, so sánh, biến hóa trong cách đặt câu, dùng từ làm
cho ngôn ngữ trong tác phẩm vừa có giá trị tạo hình vừa gợi cảm phong phú.
Sự tài hoa, uyên bác của nhà văn thể hiện qua việc vận dụng kiến thức lịch sử, địa lí, hội họa,
điện ảnh, quân sự, thể thao…
4/ Chủ đề :
Qua hình ảnh con sơng hung bạo và thơ mộng, người lái đị bình dị mà dũng cảm, tài hoa, Nguyễn
Tuân ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Tây Bắc của Tổ quốc.
B/ LUYỆN TẬP :

A. CÂU 2 ĐIỂM
10


Câu 1: Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ 1945-1975?
Văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975 có ba đặc điểm:
a. Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hố, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất
nước.Biểu hiện :
- Khuynh hướng, tư tưởng chủ đạo của văn học là tư tưởng cách mạng .
- Đề tài chủ yếu của văn học là Tổ quốc và Chủ nghĩa xã hội. Văn học gắn bó và phản ánh những chặng đường
cách mạng của dân tộc.
b. Nền văn học hướng về đại chúng. Biểu hiện :
- Đối tượng phản ánh và phục vụ của văn học là quần chúng nhân dân,xây dựng được hình tượng các tầng lớp
nhân dân,quan tâm đến đời sống nhân dân.

- Văn học có nội dung ngắn gọn, chủ đề rõ ràng, hình thức trong sáng, dễ hiểu.
c. Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.Biểu hiện :
- Văn học đề cập những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và tính dân tộc.
- Nhân vật tiêu biểu cho phẩm chất cộng đồng
- Lời văn trang trọng, hào hùng.
- Văn học thể hiện và khơi dậy niềm vui, niềm tin cho nhân dân trước những khó khăn, thử thách của đất nước.
- Khuynh hướng sử thi kết hợp với cảm hứng lãng mạn:
Câu 2. Trình bày ngắn gọn quan điểm sáng tác văn học của Hồ Chí Minh ?
Quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh gồm ba điểm chính:
- Hồ Chí Minh coi văn nghệ là một hoạt động tinh thần phong phú, phục vụ có hiệu quả cho hoạt động cách
mạng; nhà văn cũng phải ở giữa cuộc đời, góp phần vào nhiệm vụ đấu tranh và phát triển xã hội.
- Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng đối tượng thưởng thức văn nghệ. Văn chương cách mạng phải hướng về
quần chúng nhân dân để phục vụ.
- Hồ Chí Minh ln đề cao tính chân thật của văn chương; hình thức biểu hiện của tác phẩm phải trong
sáng,hấp dẫn, tránh lối viết cầu kì, xa lạ; tác phẩm văn chương phải thể hiện được tinh thần của dân tộc, của
nhân dân.
Câu 3: Trình bày ngắn gọn phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh ?
Phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh độc đáo, đa dạng thể hiện qua ba thể loại :
+Văn chính luận: thường rút gọn, tư duy sắc sảo, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng đầy sức
thuyết phục, giàu tính luận chiến và đa dạng về bút pháp.
+Truyện và kí: rất hiện đại, thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng vừa có sự sắc bén,
thâm thúy của phương Đơng vừa có cái hài hước, hóm hỉnh của phương Tây.
+Thơ ca: những bài thơ tuyên truyền lời lẽ giản dị, mộc mạc mang màu sắc dân gian hiện đại, dễ thuộc, dễ
nhớ, có sức tác động lớn; thơ nghệ thuật hàm súc, có sự kết hợp độc đáo giữa bút pháp cổ điển và hiện đại, trữ
tình và tính chiến đấu.
Câu 4. Trình bày hồn cảnh ra đời bản "Tun ngơn Độc lập "của Hồ Chí Minh ?
Hồn cảnh ra đời bản "Tun ngơn Độc lập "của Hồ Chí Minh :
- Tháng 8.1945, nhân dân ta vừa giành được chính quyền sau cuộc Tổng khởi nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh
từ Việt Bắc về Hà Nội và soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập.Đến ngày 2.9.1945, tại Quảng trường Ba Đình,
Hà Nội, Người đã đọc bản Tun ngơn này;

- Khi đó, bọn đế quốc, thực dân đang chuẩn bị chiếm lại nước ta :
+ Sắp tiến vào từ phía Bắc là quân đội Quốc dân đảng Trung Quốc được sự ủng hộ của đế quốc Mĩ;
+ Tiến vào từ phía Nam là quân đội Anh, đằng sau chúng là lính Pháp;
+ Pháp đã tung ra thế giới một luận điệu xảo trá : Đông Dương vốn là thuộc địa của Pháp, chúng có cơng
“khai hố”, “bảo hộ” xứ này nhưng bị phát xít Nhật xâm chiếm; nay Nhật bị Đồng minh đánh bại, thì Pháp sẽ
trở lại Đông Dương là lẽ đương nhiên. Bản "Tuyên ngôn Độc lập" cương quyết bác bỏ luận điệu này.
Câu 5. Nêu hoàn cảnh tác giả Phạm Văn Đồng viết bài Nguyễn Đình Chiểu, ngơi sao sáng trong văn nghệ của
dân tộc?
11


Phạm văn Đồng viết bài này nhân kỉ niệm 75 năm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu (3-7-1888_3-7-1963) in
trong tạp chí văn học tháng 7-1963
Thời điểm này có nhiều sự kiện quan trọng: từ năm 1954 đến 1959, Ngơ Đình Diệm và chính quyền Sài Gịn
lê máy chém khắp miền Nam và thực hiện luật 10/59. Từ năm 1960, Mĩ can thiệp sâu vào chiến tranh Việt nam
và khắp nơi ở miền Nam nổi lên phong trào đấu tranh quyết liệt. Viết bài nghị luận ca ngợi Nguyễn Đình Chiểu
ở thời điểm này là có ý nghĩa lớn
Câu 6: Trình bày những điểm chính phong cách thơ Tố Hữu ?
-Về nội dung, thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình chính trị rất sâu sắc
+Hồn thơ Tố Hữu hướng tới cái ta chung với lẽ sống lớn, tình cảm lớn,niềm vui lớn của con người cách
mạng.Cái tơi trữ tình trong thơ Tố Hữu là cái tôi chiến sĩ,nhân danh cách mạng, nhân danh cộng đồng dân tộc
+Thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi, coi những sự kiện chính trị lớn của đất nước là đối tượng thể hiện
chủ yếu,luôn đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và có tính chất tồn dân.Cảm hứng chủ đạo là cảm
hứng lịch sử-dân tộc, là vấn đề vận mệnh cộng đồng, nhân vật trữ tình mang phẩm chất tiêu biểu cho dân tộc.
+Những vấn đề chính trị trọng đại của dân tộc được Tố Hữu thể hiện qua giọng thơ tâm tình,đằm thắm,là
lời ca ngọt ngào tha thiết.
-Nghệ thuật biểu hiện trong thơ Tố Hữu mang tính dân tộc rất đậm đà:
+Sử dụng sáng tạo các thể thơ truyền thống của dân tộc: thể thơ lục bát, thể thơ thất ngơn
+Sử dụng những từ ngữ và cách nói quen thuộc của dân tộc, phát huy cao độ tính nhạc phong phú của
tiếng Việt.

Tóm lại: Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị, thơ Tố Hữu gắn liền với khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng
mạn, thơ Tố Hữu có giọng điệu tâm tình ngọt ngào, tha thiết của quê hương xứ Huế,thơ Tố Hữu đậm đà bản sắc
dân tộc.
Câu 7: Nêu những nét chính về nội dung và nghệ thuật bài thơ Việt Bắc?
-Nội dung : Tình cảm đôn hậu của con người Việt Bắc và sự ân tình thuỷ chung của người cán bộ kháng
chiến trong cuộc chia tay. Qua đó, tác giả đã khắc hoạ đậm nét hình ảnh Việt Bắc tươi đẹp, cuộc sống chiến đấu
trong kháng chiến vô cùng gian khổ nhưng cũng bất khuất, anh hùng và chiến thắng.
-Nghệ thuật : Giọng thơ trữ tình ngọt ngào của thể lục bát, hình ảnh thơ trong sáng mang đậm màu sắc
địa phương, ngôn ngữ giản dị nhưng linh hoạt uyển chuyển, kết cấu đối đáp đậm nét ca dao trong một hoàn
cảnh chia tay đặc biệt đầy sáng tạo….khiến cho bài thơ đậm đà tính dân tộc.
Câu 8. Nêu những nét chính về nội dung và nghệ thuật đoạn trích "Đất nước"?
-Nội dung : Thể hiện những nhận thức, khám phá mới mẻ về Đất Nước của tuổi trẻ thành thị miền Nam
trong thời chống Mỹ. Trên nền văn hoá dân gian vững chắc, tác giả đã hướng sự tìm tịi, suy ngẫm tới nhiều
bình diện như lịch sử, địa lý, phong tục,…để làm nổi bật tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân và gợi ý thức trách
nhiệm của mỗi người trước vận mệnh của Đất Nước.
-Nghệ thuật : tất cả các kiến thức, tư liệu, sự kiện phong phú được đưa vào không chỉ để tác động vào lí
trí, làm bừng sáng nhận thức mà cịn lay thức tình cảm của người đọc, của mỗi người Việt nam chủ yếu nhờ vào
sự thẩm thấu qua tâm hồn cảm xúc của Nguyễn Khoa Điềm. Từ đó nhà thơ đã tìm được một cách nói riêng
giọng điệu tâm tình.
Câu 9/ Nêu ý nghĩa câu thơ đề từ "Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn" trong bài thơ "Đàn ghi ta của Lorca"?
-Với Lorca, cây đàn là biểu tượng cho nghệ thuật; với Lorca, nghệ thuật là tình u, là lẽ sống. Lorca
khơng thể rời xa nghệ thuật, ngay cả khi đã từ giã cõi đời
-Tây Ban Nha là quê hương của cây đàn ghi ta. Đàn ghi ta là biểu tượng đặc trưng cho đất nước Tây Ban
Nha. Vì thế câu thơ di chúc cịn biểu hiện tình u thiết tha của người nghệ sĩ Lor ca với xứ sở quê hương.
- Lor ca là nhà cách tân nghệ thuật. Lor ca biết thi ca của mình một ngày nào đó sẽ án ngữ, ngăn cản
những người đến sau trong sáng tạo nghệ thuật nên di chúc dặn lại cần phải biết chôn nghệ thuật của ông để đi
tới.
Câu 10. Nêu nội dung và hình thức nghệ thuật bài thơ "Đàn ghi ta của Lorca"(Thanh Thảo)?
Về nội dung bài thơ
-Bài thơ viết vê cái chết của Fê-đê-ri-cô Ga-xi-a Lor-ca, nhà thơ, nhạc sĩ, kịch tác gia, nhà hoạt động sân khấu

thiên tài người Tây Ban Nha vào năm 1936, khi ông mới 38 tuổi.
12


-Cái chết của Lor-ca là sự kiện gây chấn động lớn khơng chỉ ở Tây Ban Nha mà cịn với tồn thế giới, khơng
chỉ với lúc bấy giờ mà cịn âm vang tới nhiều năm sau. Thanh Thảo muốn phục sinh thời khắc bi tráng đó, tỏ
thái độ ngưỡng mộ, đau xót và qua đó xây dựng biểu tượng nghệ thuật Lor-ca qua một hình ảnh quen thuộc mà
đọc đáo: đàn ghi ta.
3) Về hình thức
Thanh Thảo thể nghiệm một hình thức mới, gần gũi với dịng mạch tượng trưng và siêu thực (mà F.G. Lor-ca là
một thành viên) tạm gọi là kết hợp và giao hoà: kết hợp giữa tự sự và trữ tình, giữa thơ và nhạc, giữa màu sắc
thơ viếng phương Đông và chất bi tráng trong nhạc giao hưởng phương Tây, giữa hệ thống thi ảnh Lor-ca và hệ
thống thi ảnh của chính tác giả. Tất cả lại được đưa vào một cấu trúc mới cũng mang tính chất kết hợp và giao
hồ: giao hồ giữa tính liên tục trong cốt tự sự với tính gián đoạn trong suy cảm và ngôn ngữ thơ.
Câu 11. Qua đoạn trích tuỳ bút “Người lái đị sơng Đà”,Nguyễn Tn muốn gởi đến người đọc ý tưởng gì ?
Qua “Người lái đị sơng Đà”, Nguyễn Tn với lịng tự hào của mình đã khắc hoạ những nét thơ mộng,
hùng vĩ nhưng khắc nghiệt của thiên nhiên đất nước qua hình ảnh con sơng Đà hung bạo và trữ tình. Đồng thơi,
nhà văn cũng phát hiện và ca ngợi chất nghệ sĩ, sự tài ba trí dũng của con người lao động mới : chất vàng mười
của đất nước trong xây dựng chủ nghĩa xã hội qua hình ảnh người lái đị sơng Đà.
Câu 12. Nêu ý nghĩa nhan đề Rừng xà nu ?
Ý nghĩa nhan đề Rừng xà nu :
- Hình ảnh rừng xà nu là linh hồn của tác phẩm. Cảm hứng chủ đạo và dụng ý nghệ thuật của nhà văn được
khơi nguồn từ hình ảnh này.
+ Ý nghĩa tả thực : Nhà văn nói về cây xà nu- một loài cây sống thành rừng ở Tây Nguyên.Loài cây này có
sức sống mãnh liệt, khơng chịu khuất phục trước sự thay đổi của thời tiết.Cây xà nu luôn gắn bó mật thiết và
quan hệ chiếu ứng với cuộc sống của người dân Tây Nguyên.
+ Ý nghĩa biểu tượng: Qua sức sống mãnh liệt của cây xà nu, rừng xà nu, nhà văn nói đến nỗi đau và sức
sống , phẩm chất kiên cường bất khuất của nhân dân Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Câu 13 . Câu văn mở đầu được lặp lại ở cuối tác phẩm Rừng xà nu được viết như thế nào ? Hình ảnh cánh rừng
xà nu đầu và cuối tác phẩm gợi cho anh (chị) ấn tượng gì?

a. Câu văn mở đầu được lặp lại ở cuối tác phẩm Rừng xà nu được viết : đứng trên đồi xà nu ấy trơng ra xa
đến hết tầm mắt cũng khơng thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời .
b.Hình ảnh cánh rừng xà nu đầu và cuối tác phẩm : gợi ra cảnh rừng xà nu hùng tráng, kiêu dũng và bất
diệt, gợi ra sự bất diệt, kiêu dũng và hùng tráng của con người Tây Nguyên nói riêng và con người Việt Nam
nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước vĩ đại. ấn tượng đọng lại trong kí ức người đọc mãi mãi
chính là cái bát ngát của cánh rừng xà nu kiêu dũng đó.
Câu 14: Hãy cho biết màn kết vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” diễn ra như thế nào? Ý nghĩa của màn
kết vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”?
Trả lời :
- Kết thúc vở kịch, Trương Ba Chết, nhưng hồn ơng vẫn cịn đó “giữa màu xanh cây vườn, Trương Ba chập
chờn xuất hiện”, và ông đã nói với vợ mình những lời tâm huyết, hàm chứa ý nghĩa “ Tôi đây bà ạ.T ôi ở liền
ngay bên bà đây, ngay trên bậc cửa nhà ta…Không phải mượn thân ai cả, tôi vẫn ở đây, trong vườn cây nhà ta,
trong những điều tốt lành của cuộc đời, trong mỗi trái cây cái Gái nâng niu…”.
- Những lời nói của Trương Ba , phải chăng đó là sự bất tử của linh hồn trong sự sống, trong lòng người.Điều
đó thêm tơ đậm nhân cách cao thượng của Trương Ba và khắc sâu thêm tư tưởng nhân văn cao cả của tác
phẩm.
Câu 15. Ý nghĩa nhan đề Hồn Trương Ba da hàng thịt ?
Nhan đề hồn Trương Ba da hàng thịt là một hình tượng nghệ thuật, phản ánh một hiện thực cuộc sống con
người khi bị rơi vào nghịch cảnh, phải sống giả tạo bên ngoài một đằng, bên trong một nẻo, khơng được sống
đích thực là chính mình. Nhan đề cịn gửi gắm một ý nghĩa sâu sắc: Đó là sự cảnh tỉnh con người khi khơng làm
chủ được hồn cảnh, khơng làm chủ được bản thân để lối sống dung tục tầm thường lấn át lối sống thanh cao
trong sáng, để thể xác sai khiến linh hồn, để những ham muốn bản năng thấp kém làm cho nhân cách lệch lạc,
nhoà mờ khiến tâm hồn và thể xác khơng cịn là một thể hài hồ thống nhất.
Nhan đề đã thâu tóm cả giá trị phản ánh hiện thực lẫn nội dung nhân đạo của tác phẩm
13


Câu 16: Giới thiệu ngắn gọn về cuộc đời của nhà văn Hê-minh-uê và sáng tác văn chương của ông?
( Trích đề thi và đáp án Tốt Nghiệp THPT năm 2007)
- Ơnixt Hêminguê (1899 – 1961) là nhà văn Mĩ nổi tiếng thế giới.

- Ơng u thích thiên nhiên hoang dại, từng tham gia chiến tranh thế giới thứ nhất. Sau đó cùng với một số trí
thức, nghệ sĩ, ơng tự xưng là “thế hệ vứt đi”. Chiến tranh thế giới thứ hai, ông tham gia đội quân quốc tế chống
phát xít ở Tây Ban Nha, làm phóng viên mặt trận, sáng tác văn chương...
- Ơng được giải Nơben Văn học (1954).
- Hai tác phẩm tiêu biểu : Giã từ vũ khí, Ơng già và biển cả...
Câu 17: Sự thể hiện ngun lý Tảng băng trơi trong đoạn trích “Ơng già và biển cả”:
- Phần nổi: Miêu tả một cuộc săn bắt cá. Ông lão là người săn cá, cá kiếm là con mồi.
- Phần chìm: ( biểu tượng, ẩn dụ)
+ Nhân vật Xantiago như một biểu tượng về Con người lao động có khát vọng đẹp.Để đạt được ước mơ, lí
tưởng, con người phải trải qua cuộc đọ sức quyết liệt
( Ông lão chiến thắng con cá là nhờ thạo nghề giàu kinh nghiệm, nghị lực phi thường, niềm tin vào khả năng
chiến thắng,trí tuệ sáng suốt)
+Con cá kiếm là biểu tượng của ước mơ,l í tưởng mà mỗi con người theo đuổi trong cuộc đời.
+ Biển cả là khung cảnh kỳ vĩ tương ứng với môi trường lao động đầy thử thách của con người.
+Cuộc đi câu là hành trình theo đuổi một khát vọng to lớn vượt ra ngoài giới hạn của con người.
Trong mọi hoàn cảnh và điều kiện ta nhận thấy “con người chỉ có thể bị hủy diệt chứ không bị đánh bại”.
B. CÂU 3 ĐIỂM ( NL xã hội)
Đề bài: Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về "bệnh vơ cảm" trong xã hội ta hiện nay.
BÀI LÀM THAM KHẢO
Mở bài
Thời đại ngày nay là thời đại kinh tế thị trường. Sống trong xã hội đó, hàng ngày nảy sinh ra hiện tượng
nhiều người lao vào kiếm tiền, lo vun vén cho bản thân và gia đình mình mà thờ ơ trước những vấn đề bức xúc
của cuộc sống xã hội, gây nên một căn bệnh tinh thần khá nguy hiểm: bệnh vơ cảm, một căn bệnh có nguy cơ
lan rộng làm băng hoại đạo đức truyền thống của dân tộc, làm ô nhiễm môi trường tốt đẹp của xã hội mới.
Thân bài
1. Thế nào là bệnh vô cảm?
"Bệnh vô cảm" là căn bệnh tâm hồn của những người có trái tim lạnh giá, khơng xúc động, sống ích kỷ,
lạnh lùng, cho sự an tồn của bản thân mình là trên hết. Họ thờ ơ, làm ngơ trước những điều xấu xa, hoặc nỗi
bất hạnh, không may của những người sống xung quanh mình.
2. Những biểu hiện của bệnh vơ cảm.

Bệnh vơ cảm có những biểu hiện thật, đa dạng, mn màu muôn vẻ: vô cảm đối với cuộc sống, xã hội; vơ
cảm đối với đồng loại, gia đình, người thân, bạn bè, thậm chí vơ cảm đối với chính bản thân mình.
Đi đường gặp những người bị tai nạn, gãy tay, gãy chân hoặc nằm bất tỉnh, những kẻ vô cảm chẳng có
phản ứng nào mà chỉ biết dửng dưng chứng kiến với thái độ "Thờ ơ con mắt lạnh. Nhìn chúng có hề chi!" (Tố
Hữu). Lên xe ơ tơ, thấy kẻ gian móc túi hoặc bọn cơn đồ hành hung hành khách, họ cũng chỉ lờ đi xem như đấy
khơng phải chuyện của mình. Sống trong cơ quan trường học, chứng kiến bao chuyện ngang trái như cấp trên
nhận hối lộ, thầy giáo ngang nhiên bạo hành học sinh, cịn học sinh thì quay cóp gian lận trong thi cử, họ cũng
không mở miệng mà ngoảnh mặt làm ngơ. Hoặc trơng thấy hiện tượng những tên Xn Tóc Đỏ thời nay
"nghênh ngang" "nhâng nháo trâng tráo, xỏ xiên, bịp bợm" họ vẫn im lặng, không mảy may lên tiếng.
Sự vơ cảm là một căn bệnh đang có chiều hướng lan rộng trong xã hội ta, nó đang len lỏi khắp mọi nơi.
Nó khơng chỉ diễn ra ngồi xã hội mà cịn xâm nhập vào trong các gia đình, những người thân ruột thịt. Tơi đã
chứng kiên cảnh có nhà cha mẹ bị ốm nặng nằm liệt giường mà con cái khơng đối hồi gì đến, trái lại cứ điềm
nhiên "thưởng thức" hết trò vui này đến trò vui khác trên ti vi.
3. Bình luận mở rộng: Hậu quả của bệnh vô cảm.
Căn bệnh vô cảm sẽ gây nên hậu quả thật khủng khiếp cho xã hội, cộng đồng, đất nước. Nó biến con
người thành kẻ vơ trách nhiệm, vơ lương tâm và vơ văn hóa, thậm chí là kẻ tội đồ. Có thể nói đó là căn bệnh của
14


những kẻ " cháy nhà hàng xóm bằng chân như vại". Nó sẽ làm cho một người cán bộ, người công dân trong xã
hội ta trở nên xa rời quần chúng, thiếu trách nhiệm trong cơng việc. Cũng vì vơ cảm mà nhiều bác sĩ đã để cho
nhiều bệnh nhân cần phải cấp cứu mà phải nằm chờ hàng nửa tiếng đồng hồ nên đã dẫn đến hậu quả bệnh nhân
bị chết một cách oan khuất. Cũng vì vơ cảm mà nhiều thầy giáo khơng hề quan tâm đến hồn cảnh éo le của học
sinh, mà cứ mắng mỏ quát nạt các em dẫn đến hậu quả nhiều em bị bệnh trầm cảm, thậm chí là nhảy lầu tự tử.
Căn bệnh vô cảm là căn bệnh của những người sẵn sàng quay lưng lại với những nỗi đau khổ, bất hạnh
của đồng loại, sẵn sàng làm ngơ trước cái xấu, cái ác, nên làm cho cái xấu, cái ác có mảnh đất mầu mỡ để sinh
sôi nẩy nở như "cỏ mọc hoang" và đang đầu độc, chế ngự cuộc sống tốt đẹp của chúng ta hôm nay.
Căn bệnh vô cảm là căn bệnh của phường ích kỷ ln ln nhìn đời bằng cặp mắt ráo hoảnh. Nó đang làm
mất đi một điều vơ cùng thiêng liêng và q giá. Đó là tình thương giữa con người với con người. Mà tình
thương theo Nam Cao, nó là tiêu chuẩn quan trọng nhất để xác định tư cách con người "Khơng có tình thương,

con người chỉ là một con vật bị sai khiến bởi lịng ích kỷ" (Đời thừa). Bệnh vơ cảm đang làm "nhiễm mặn" , vẩn
đục và xói mịn dần truyền thống đạo lý đẹp nhất của con người Việt Nam: "Thương người như thể thương
thân" . Và khi căn bệnh này ngự trị, thì con người sống với con người trong mối quan hệ hết sức lỏng lẻo. Ở đó
thiếu hơi ấm của tình thương, của niềm cảm thơng, của sự cưu mang, đùm bọc, sẻ chia, giúp đỡ lẫn nhau. Một
cuộc sống như thế là cuộc sống của "Một sa mạc đời đìu hiu lạnh giá". Thật buồn đau và thất vọng biết bao!
Kết luận
Để xứng đáng với danh nghĩa "con người" đầy kiêu hãnh, mỗi chúng ta hãy nói khơng với bệnh vơ cảm,
hãy ra sức tu dưỡng lòng yêu thương, vị tha, sự trung thực và lịng dũng cảm. Hãy cùng nhau làm một việc gì
đó dù rất nhỏ để khơi dậy dịng sơng tình nghĩa nhân ái truyền thống của dân tộc để cho nó ngày càng tuôn
chảy, ngày càng trong xanh và long lanh toả sáng.
Đề bài: Ý kiến về mục đích học tập do UNESCO đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống,
học tập để làm người“
BÀI LÀM THAM KHẢO
Mở bài
Mục đích học tập đúng đắn sẽ làm cho người ta say mê học tập và học tập có kết quả. Nhưng mục đích
học tập thế nào là đúng? UNESCO đã giúp ta trả lời câu hỏi đó: “Học để biết, học để làm, học để chung sống,
học để làm người”
Thân bài
1. Học để có tri thức
“ Học để biết” tức là học để có tri thức. Tri thức về cuộc sống, về tự nhiên và xã hội, về nghề nghiệp
chun mơn, khơng ai sinh ra đã có tri thức. Học tập là cách duy nhất để có tri thức. Không học sẽ không bao
giờ biết “Nhân bất học bất tri”. Trẻ em như trang giấy trắng. Học tập tạo nên tri thức tích lũy của mỗi người.
2. Học để có nghề, có việc làm
“ Học để làm” : học để có nghề nghiệp, việc làm, để lao động ni sống mình và góp phần phát triển xã
hội, đất nước. “Nhất nghệ tinh nhất thân vinh”. Học nghề nghiệp tinh thơng sẽ có năng suất lao động cao, giải
quyết công việc dễ dàng, thuận lợi. Do xác định rõ mục tiêu “Học để làm“ nên mọi người sẽ cố gắng “học đi đôi
với hành”. Học nghiêm túc, chu đáo, kỹ càng đề làm việc được tốt. Sinh viên Y khoa có học giỏi thì khi trở
thành bác sĩ mới có thể chữa bệnh, cứu người, học dốt có khi lại làm hại người “tiền mất tật mang”.
3. Học để có kỹ năng sống, khơng để “chết vì dốt”
“Học để chung sống” là học để có kỹ năng sống, dễ dàng thích nghi với mọi mơi trường, hồn cảnh sống,

hịa thuận, hòa nhập với cộng đồng, với mọi người xung quanh. Người có học, có hiểu biết thường sống có lý,
có tình, tính cách, đức hạnh thu phục lịng người, thường được mọi người yêu quý, kính trọng.
4. Học để có phẩm chất đạo đức con người.
“Học để làm người” là học để có phẩm chất đạo đức, có chuyên môn nghề nghiệp cao, thành công trong
cuộc sống, nhờ học vấn mà người ta sống tự tin, tự trọng, hiểu đời, hiểu người, có nhân cách, có cá tính và
thành đạt. Học để trưởng thành, và được anh em, bè bạn, đồng nghiệp tơn trọng, chính là “học để làm người”
5. Học tập là quyền lợi, và nghĩa vụ của mỗi người.
15


Mục đích học tập mà UNESCO nêu trên cho chúng ta thông điệp rằng học tập là quyền lợi và nghĩa vụ
của mỗi người. Ai cũng phải học, học cho tốt để làm người, phục vụ cho bản thân và cho gia đình , xã hội.
Từ mục đích học tập như vậy mà UNESCO đưa ra phương châm “Học tập suốt đời”. Để biết, để làm, để
chung sống và để tự khẳng định mình, người ta phải học tập suốt đời. Xã hội ngày nay đã phát triển đến mức có
các phương tiện thích hợp để mọi người học tập suốt đời.
Xác định mục đích học tập đúng đắn là điều rất quan trọng để chứng mình ta cố gắng vượt mọi khó khăn,
chăm học và học giỏi. Nhiều bạn trẻ chưa xác định được động cơ học tập nên lười học, trốn học, quay cóp và
thiếu trung thực trong học tập, học tập miễn cưỡng, đi học cho cha mẹ .... Học mà khơng có niềm vui thì làm
sao mà học tốt được.
6. Học đi đôi với hành
Phương pháp học tập tốt và phù hợp là rất quan trọng. “Học đi đôi với hành”, tăng cường tự học để “học
tập suốt đời”, học mọi lúc mọi nơi, chú ý quan sát thực tế cuộc sống, liên hệ, suy nghĩ, sáng kiến, sáng tạo trong
khi kết hợp học với hành để có kết quả học tập tốt và thành cơng trong cuộc sống.
Để đạt mục tiêu”Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để làm người”, chúng ta phải học một
cách sáng tạo. Học một cách thực chất và biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống. Học để có kỹ
năng lao động cao, có kết quả việc làm tốt. Kết quả học tập phải cao, được xã hội công nhận (đạt danh hiệu học
sinh giỏi, học sinh đậu thủ khoa trong các kỳ thi). Người đã đi làm thì nhờ học vấn cao mà thể hiện được năng
lực làm việc, được đồng nghiệp và cơ quan tín nhiệm, cân nhắc, đề bạt, thành đạt trong sự nghiệp. “Thực tiễn là
tiêu chuẩn chân lý”, là thước đo học vấn của mỗi người chúng ta.
Người có học, người có tri thức thể hiện ở kỹ năng sống thành thục, ở quan hệ xã hội tốt đẹp, nhờ khơng

ngừng hồn thiện bản thân mình. Nhờ có học mà chúng ta “khơng chết vì dốt”, biết tự bảo vệ mình như biết
cách phịng bệnh, khơng để nhiễm phải HIV, AIDS, virust viêm gan B…. Lối sống giản dị, khoa học, văn mình
là kết quả của học vấn.
Mục đích học tập do UNESCO đề xướng khơng cho riêng học sinh, sinh viên, mà cho con người nói
chung.
Múc đích học tập đúng đắn và có cơ sở khoa học cao, tổng kết từ thực tiễn hàng nghìn năm đó của
UNESCO ln nhắc nhở mọi người hãy ln ln học tập, suốt đời học tập.
Xã hội, nhà nước và nhân dân, các hội khuyến học phải tuyên truyền giáo dục, nêu cao, biểu dương tinh
thần ham học, hiếu học, làm cho xã hội ta trở thành “ xã hội học tập”
Kết luận
Lời đề xướng về mục đích học tập của UNESCO là ngọn đèn soi sáng cho mọi người, đặc biệt là thế hệ
trẻ trong học tập và làm việc. Em đang và sẽ tiếp tục phấn đấu học thật tốt để phát triển bản thân, giúp ích cho
gia đình, xã hội.
Đề bài: Suy nghĩ về câu ngạn ngữ Hy Lạp: "Học vấn có chùm rễ đắng cay nhưng hoa quả lại rất ngọt ngào"
BÀI LÀM THAM KHẢO
Mở bài
Giới thiệu vai trị, tầm quan trọng của q trình học tập đối với mỗi cá nhân và xã hội. Tuy nhiên để thành
công trên con đường học vấn, mỗi người cần phải vượt qua rất nhiều khó khăn, thử thách. Dẫn câu ngạn ngữ.
Thân bài
1. Giải thích
- "Học vấn" là q trình học hỏi, tích lũy kiến thức, kinh nghiệm làm giàu thêm hiểu biết của con người về
thế giới khách quan, về xã hội và về chính bản thân mình.
- "Chùm rễ đắng cay" là cách nói ẩn dụ thể hiện những khó khăn, gian khổ và cả cay đắng mà mỗi người
phải trải qua trong quá trình học tập, rèn luyện và tu dưỡng.
- "Hoa quả ngọt ngào" hình tượng dùng để chỉ kết quả thu được sau q trình học tập, nghiên cứu vất vả.
Đó có thể là những giải thưởng danh giá, là vinh quang trong một cuộc thi, là những đóng góp lớn lao cho kho
tàng tri thức nhân loại, là sự tôn vinh của xã hội hay đơn giản hơn, là một cuộc sống ổn định, sung túc về vật
chất và lành mạnh, phong phú về tinh thần.
16



=> Câu ngạn ngữ nói về đặc điểm của quá trình học tập, đó là một q trình lâu dài và người học phải trải
qua nhiều gian khổ, thử thách nhưng nếu thành công, nếu vượt qua tất cả thử thách ấy, ta sẽ được đền đáp xứng
đáng.
2. Chứng minh, bình luận
- Học vấn là cả một q trình, khơng phải là chuyện một sớm một chiều bởi lẽ kho tri thức của nhân loại
là mênh mông vô tận. Trên con đường chinh phục tri thức ấy có vơ vàn khó khăn ngăn đường cản lối. Dẫn
chứng: biết bao nhiêu trẻ em vì gia đình khó khăn mà khơng thể đến trường, hay những bạn nhỏ vùng sâu, vùng
xa để được học cái chữ phải chèo đèo, lội suối, phải đi bộ hàng chục cây số, ...
- Để vượt qua những khó khăn thử thách ấy, mỗi người phải có ý chí, nghị lực, sự kiên trì và lịng quyết
tâm thậm chí cả niềm đam mê, khát vọng nữa. Nhà văn M.Gorki đã có một tuổi thơ cay đắng, phải sớm vật lộn
với cuộc sống để mưu sinh trên khắp nẻo đường nước Nga. Nhưng cậu bé Gorki gày gò, nghèo khổ ấy lại có
lịng đam mê đọc sách. Có lần, cậu kiếm được một chiếc rương với nhiều cuốn sách rất hay nhưng vì phải làm
việc kiếm sống nên ông chỉ có thể tranh thủ đọc vào buổi tối. Mà nhà nghèo, khơng có tiền để thắp đèn điện,
ơng đã phải đánh bóng chiếc sanh đồng để phản chiếu ánh trăng, lấy ánh sáng đọc sách. Ở nước ta, từ xưa đến
nay, cũng không thiếu những tấm gương hiếu học biết vượt qua những khó khăn, thử thách để vươn tới ánh
sáng tri thức, giành được thành công trong sự nghiệp và hạnh phúc trong cuộc sống. Anh học trị nghèo vì
khơng có tiền ăn học nên đã phải chờ đến khi hết bữa ăn, mới sang nhà hàng xóm mượn nồi cơm mong vét
được chút cháy ăn đỡ đói lịng để tiếp tục dùi mài kinh sử. Đó là câu chuyện về ông Trạng Nồi nổi tiếng được
truyền tụng trong dân gian. Thời hiện đại, ta gặp bao tấm gương về ý chí và nghị lực vượt lên khó khăn trong
học tập và cuộc sống. Hiệp sĩ cơng nghệ thông tin Nguyễn Công Hùng, thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí ... và ngời
sáng tấm gương khắc phục hồn cảnh để học tập, tiếp thu tri thức tiên tiến của thời đại chính là Chủ tịch Hồ Chí
Minh.
- Bên cạnh những tấm gương biết đối mặt và vượt lên những "chùm rễ đắng cay" để vươn lên chiếm lĩnh
đỉnh cao tri thức, xây dựng một cuộc sống hạnh phúc cho bản thân và có ý nghĩa cho cộng đồng thì cịn biết bao
kẻ lười biếng, thụ động, khơng hề quan tâm tới việc học tập. Biết bao bạn trẻ đang phí phạm thời gian quý giá
của tuổi trẻ vào những trị chơi vơ bổ, vào những thú vui trác táng ... Và còn biết bao người học tập một cách
thụ động, học như một nghĩa vụ, một điều bắt buộc phải làm để đối phó với cha mẹ, thầy cơ ... Đó là những hiện
tượng cần phê phán.
3. Liên hệ với quá trình học tập của cá nhân

- Học vấn là con đường chắc chắn nhất đưa ta đến cuộc sống hạnh phúc. Để được như vậy, chúng ta cần
phải xác định rõ mục đích, động cơ, thái độ học tập đúng đắn: học cho bản thân và gia đình, xã hội, học để biết,
để làm việc, để cùng chung sống và hịa nhập với mọi người. Phải có phương pháp học tập khoa học, phù hợp.
- Xác định rõ việc học tập là quá trình lâu dài, bên bỉ "học tập suốt đời" và phải có ý thức tự giác, rèn
luyện bản lĩnh để vượt qua nhiều khó khăn thử thách trong học tập.
Kết luận
Khẳng định tính đúng đắn, sâu sắc của câu ngạn ngữ và giá trị thực tiễn của nó trong cuộc sống.

Đề bài: Suy nghĩ về công cha nghĩa mẹ và việc đền ơn đáp nghĩa các liệt sĩ
BÀI LÀM THAM KHẢO
Trong bài thơ “Việt Bắc”, Tố Hữu đã mượn lời người ở lại để nhắc nhở chính mình và cũng là nhắc nhở
mọi người hãy nhớ lấy đạo lý uống nước nhớ nguồn, ân tình chung thủy vốn là đạo lý lớn nhất, đẹp nhất của
dân tộc Việt Nam:
“Mình về, mình có nhớ khơng
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sơng nhớ nguồn?”
1.Cơng ơn đối với cha mẹ
Ca dao xưa đã dạy: “Một lịng thờ mẹ kính cha,cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”. Làm con phải có đạo
hiếu.
17


Đạo hiếu đó trước hết phải nghĩ đến cơng ơn của bố mẹ; mà nói về cơng ơn của bố mẹ đối với mỗi chúng
ta, thì khơng bút mực nào kể cho xiết. Chả thế mà cha ông ta xưa đã ví “Cơng cha như núi Thái Sơn;Nghĩa mẹ
như nước trong nguồn chảy ra”. Chỉ có núi Thái Sơn vĩnh hằng và kì vĩ mới có thể sánh được với cơng cha; chỉ
có nước trong nguồn chảy bất tận, khơng bao giờ khơ cạn, mới có thể sánh được với nghĩa mẹ khơng cùng. Bởi
vì mẹ ta đã sinh ra ta, cho ta sự sống. Cái cơng ấy, chỉ có Chúa mới sánh được. Mẹ đã mang nặng, đẻ đau để
cho ta được cất tiếng khóc chào đời, trở thành bông hoa của trái đất. Từ thuở ấu thơ, trong vành nôi, ta đã được
mẹ ấp iu, nâng giấc, cho ta những dòng sữa ngọt ngào cả thể chất lẫn tâm hồn:
“Mẹ ra cái lẽ ở đời
Sữa nuôi phần xác,hát nuôi phần hồn”

(Nguyễn Duy)
Mẹ ta chẳng quản một nắng hai sương, tần tảo như “Con cị lặn lội bờ sơng”, chịu bao gian nan vất vả
chăm sóc ta khi trái gió trở trời và dành dụm chắt chiu ni ta khôn lớn, cho ta ăn học nên người. Nghĩ về mẹ,
lúc ở xa,
Nguyễn Duy viết:
“Nhìn về q mẹ xa xăm
Lịng ta vạt ướt mẹ nằm đêm mưa”
Đọc những câu thơ như thế, tôi cứ thấy cay cay nơi sống mũi. Gia cảnh đói nghèo, vách đất, tranh thưa,
đêm mưa nhà dột, mẹ dành tất cả chỗ ướt cho mình và dành chỗ khơ cho con. Ơi! Thật cảm động đến rơi nước
mắt.
Cịn cha ta, cũng như mẹ, cho ta tình thương yêu và dạy ta điều hay, điều phải, uốn nắn cho ta, khơi dậy
trong ta những ước mơ, khát vọng cao đẹp để ta bước thẳng hai chân kiêu hãnh làm người. Đúng là công ơn cha
mẹ, tổ tiên bao la như núi rừng, mênh mông như biển cả.
2.Công ơn của các bậc tiền bối, liệt sĩ
Cịn cơng lao của các bậc tiền bối, liệt sĩ thì sao? Ở nước ta, con đường đến với bến bờ độc lập, tự do của
dân tộc không phải là con đường rợp bóng mát hạnh phúc và niềm vui, mà là con đường đầy gian khổ hi sinh:
“Đâu phải đường xanh, đường qua máu chảy
Năm mươi năm, máu đỏ thành hoa
Cuộc sinh nở nào mà đau đớn vậy
Rất tự hào mà xót tận trong da”
(Tố Hữu)
Đúng là phải bao máu thấm trong lòng đất, mới “ánh hồng lên sắc tự hào”. Để có được lá cờ đỏ sao vàng
tuy bay suốt từ Bắc chí Nam trong ngày hội 19- 8- 1945; để có được lá cờ đỏ chiến thắng kiêu hãnh bay trên
nóc hầm Đờ Cát ở Điện Biên và để có được ngày 30- 4 lịch sử, thành phố Hồ Chí Minh “ngập tràn nắng đẹp” và
“lộng lẫy cờ hoa”, đã có biết bao chiến sĩ cách mạng, chiến sĩ bộ đội, những người cộng sản đã phải đổ máu, rơi
đầu trong các nhà tù, trên các máy chém, ngoài bãi bắn, trên các trận địa nóng bỏng đạn bom. Đúng là “Mỗi
thây rơi là một nhịp cầu; cho ta bước tới cõi đời cao rộng”. Công ơn của tổ tiên, của các liệt sĩ thật là lớn lao, ân
nghĩa của các bậc tiền bối thật là vô hạn.
3. Chúng ta phải làm gì để đền đáp cơng ơn của bố mẹ, các liệt sĩ? Phải đền ơn, đáp nghĩa như thế nào?
Nhà thơ Tố Hữu đã từng viết: “Đã là con chim thì con chim phải biết hót.Đã là chiếc lá phải xanh;lẽ nào

vay mà khơng có trả?” Được trưởng thành lớn khôn, ngày ngày cắp sách đến trường, lên giảng đường như hôm
nay, chúng ta đã “vay”, đã mắc nợ quá nhiều: nợ cha mẹ, tổ tiên, các vong hồn liệt sĩ, nợ quê hương đất nước…
Có lẽ nào, chúng ta “có vay mà khơng có trả”, nhắm mắt ăn “quỵt” một cách đớn hèn và tủi hổ ư? Chúng ta
kiên quyết phải trả, trả bằng mọi cách, trả dưới mọi hình thức. Trước hết, nỗ lực hết mình, ra sức học tập, tu
dưỡng để trở thành trò ngoan, người con hiếu thảo, người cán bộ, chiến sĩ có danh thơm đáng tự hào sau này.
Bởi vì:
“Ai mà phụ nghĩa, qn cơng
Thì đeo trăm cánh hoa hồng,chẳng thơm”
(Ca dao)
Và chúng ta phải:
“Một lịng thờ mẹ kính cha
Cho trịn chữ hiếu mới là đạo con”
18


(Ca dao)
Sau nữa, sẽ tích cực làm những việc nhỏ mà nghĩa lớn, trong khả năng của mình như tiết kiệm tiền để
giúp đỡ người nghèo, hiến máu nhân đạo, cứu người, tích cực xây dựng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”.
Đề bài: Ý kiến về phương châm “Học đi đôi với hành”
BÀI LÀM THAM KHẢO
Mở bài
“ Học đi đôi với hành” là một nguyên lý giáo dục quan trọng. Tại sao và chúng ta thực hiện nguyên lý này
bằng cách nào?
Thân bài
1. Thế nào là học đi đôi với hành
Học tiếp thu tri thức về phương châm lý thuyết, lý luận. Hành là sự vận dụng kiến thức học được vào thực
tiễn đời sống và lao động sản xuất.
Học “đi đôi” kết hợp với hành cho nhận thức và hành động của con người có tính thống nhất, bổ sung cho
nhau, làm cho cái ta học được trở nên sâu sắc và vững chắc, hành động của ta có cơ sở khoa học, sẽ trơi chảy,
dễ dàng, có thể logic và sáng tạo, để đạt tới kết quả cao. Có nhà khoa học đã viết : “Một con ngựa đi chậm

nhưng lại đúng đường thì sẽ tới đích, nếu con ngựa đi nhanh nhưng sai đường thì càng đi càng xa đích”. Hành
mà khơng đi đơi với học thường có kết quả thấp hoặc thất bại. Học khơng hành thì chỉ nắm lý thuyết suông,
không thể nắm bắt ý nghĩa sâu sắc của nó với thực tiễn.
2. Lợi ích của việc “ Học đi đôi với hành”
Học đi đôi với hành là rất cần thiết và quan trọng với tất cả mọi người. Song, thực tế nước ta, nguyên lý
này đang bị coi nhẹ. Đó là một trong những nguyên nhân làm cho chất lượng giáo dục, đào tạo ở nước ta chưa
cao, chưa đạt tới sự kỳ vọng của xã hội.
Nguyên nhân khách quan là nước ta còn nghèo, chưa mua sắm được nhiều dụng cụ học tập và phịng thí
nghiệm cho các mơn học. Ngun nhân chủ quan là chúng ta chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa to lớn của nguyên
lý học đi đôi với hành để có biện pháp khắc phục.
3. Xác định mục đích học tập đúng đắn là điều kiện thực hiện học đi đôi với hành.
Để thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, mỗi người phải xác định cho mình mục đích học tập đúng
đắn.
UNESCO (Tổ chức Văn hóa Khoa học Giáo dục thuộc Liên hợp quốc) đã đề xướng “ Học để biết, học để
làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”. Học trở thành nhu cầu tự thân và chúng ta sẽ tìm mọi
cách, mọi biện pháp, mọi cơ hội để vận dụng vào cuộc sống.
Với động cơ, mục đích học tập đúng đắn, chúng ta mới có thể say mê học tập, nghiêm túc, chăm chỉ để
tiếp thu đầy đủ nội dung, làm bài tập để củng cố, mở rộng bài học. Trên cơ sở nắm chắc bài học, chúng ta sẽ có
điều kiện vận dụng vào thực tiễn. Trồng một cây, chúng ta cũng phải biết cách đào hố nông sâu như thế nào, lấy
loại đất nào và phân bón gì cho vào hố, cho cây trồng vào hố và dặm đất thật chặt xung quanh rễ cây ra sao,
tưới nước nhiều ít sao cho phù hợp với từng loại cây. Học đi đôi với hành sẽ soi sáng cho ta nhiều điều cụ thể
và sinh động.
Học không chỉ ở trường lớp mà cả tự học, học bạn, học người thân, học đồng môn, đồng nghiệp. Hành
khơng chỉ ở trong phịng thí nghiệm mà phải vận dụng vào cuộc sống hàng ngày, trong ăn ở, đi lại, giao tiếp và
làm việc. Có nhiều cơ hội trong cuộc sống mà ta có thể vận dụng , để hành, những điều học được.
4. Liên hệ bản thân
“ Học đi đôi với hành” vừa là nguyên lý giáo dục vừa là phương pháp học tập hiệu quả. Bản thân em sẽ cố
gắng vận dụng thường xuyên “Học đi đôi với hành” , “Học tập suốt đời” và suốt đời thực hiện “Học đi đơi với
hành”
Bác Hồ kính yêu đã dạy “Học với hành phải đi đôi. Học mà khơng hành thì vơ ích. Hành mà khơng học

thì hành không trôi chảy.” Hành không chỉ là hành động cụ thể mà là cả thực tiễn đời sống và lao động sản xuất.
Trong lao động sản xuất, phải luôn luôn nghĩ tới vận dụng nguyên lý nào, lý thuyết gì để giải quyết cơng việc,
19


lao động có năng suất cao. Từ sắp xếp đồ dùng, ghế ngồi cao thấp, đặt để nguyên vật liệu ở đâu, ánh sáng mức
độ thế nào,ta đều phải suy nghĩ vận dụng lý thuyết vào hoàn cảnh thực tế cụ thể.
Kết luận
Học và hành là hai khâu mà chúng ta phải làm tốt cả hai mới kết hợp chúng với nhau được. Học giỏi nắm
chắc kiến thức thì mới giúp ta hành tốt. Hành sẽ bổ sung, hoàn thiện kiến thức mà ta học được. Mỗi học sinh
chúng ta đều phải học tốt, hành tốt và kết hợp “Học đi đôi với hành”.

Đề bài: Bác Hồ khuyên thanh niên:
Không có việc gì khó
Chỉ sợ lịng khơng bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên
Anh/Chị suy nghĩ gì về lời khun đó ?
BÀI VIẾT THAM KHẢO
Mở bài
Trên hành trình đến chân trời tương lai của sự nghiệp, con người phải đương đầu với biết bao thử thách
chông gai như cuộc đi đường thường ngày "Đi đường mới biết gian lao; Núi cao rồi lại núi cao trập trùng".
Chúng ta muốn leo "lên đến tận cùng" để thu vào "tầm mắt muôn trùng nước non", nghĩa là muốn thu được
thắng lợi vẻ vang đòi hỏi con người phải bền gan, vững chí, phải có lịng quyết tâm, kiên trì, tinh thần vượt khó.
Nhằm giáo dục cho thế hệ trẻ về phẩm chất tinh thần đặc biệt ấy, trong một lần nói chuyện với thanh niên, Bác
Hồ đã ân cần khuyên bảo:
"Khơng có việc gì khó
Chỉ sợ lịng khơng bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chi ắt làm nên"

Thân bài
1. Giải thích nội dung bài thơ
- Việc khó là việc khi làm địi hỏi nhiều cơng sức, tâm trí và nghị lực mới làm được. Tuy nhiên sự quyết
định của thành bại không phải là ở bản thân công việc dễ hay "khó" , mà là ở chính tinh thần con người. Việc gì
cũng có thể làm được miễn là có sự kiên trì, ý chí quyết tâm, nghĩa là "bền lịng".
- Khi đã "bền lịng", "quyết chí" , thì dù cơng việc khó đến mấy cũng có thể hồn thành, để làm nên "sự
nghiệp lớn".
Bác đã dùng thủ pháp cường điệu và hình ảnh tượng trưng "đào núi và lấp biển" để chỉ những cơng việc
lớn lao dường như nằm ngồi sức lực và khả năng của con người. Nhưng dù là cơng việc "đào núi" và "lấp
biển" khó khăn lớn lao đến đâu đi nữa, nếu con người "quyết chí" , bền bỉ dồn mọi sức lực, trí tuệ quyết làm
bằng được, bất chấp mọi khó khăn chủ quan và khách quan "thắng khơng kiêu, bại khơng nản" thì cũng hoàn
thành, cũng "ắt làm nên".
2. Chứng minh bằng dẫn chứng thực tế
- Lịch sử nhân loại và đất nước ta đã có biết bao câu chuyện, bao tấm gương nêu cao sức mạnh phi thường
của lịng kiên trì, nghị lực và lòng quyết tâm của con người trong cuộc sống. Từ câu chuyện Ngu Công dời núi
đến câu chuyện "Mài sắt nên kim".
- Thế hệ cha anh đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách giữ vững nền độc lập, tự chủ cho đất nước: tấm
gương anh hùng Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Trần Bình Trọng...đến Võ Thị Sáu, Mạc Thị Bưởi, Lý Tự
Trọng, Nguyễn Văn Trỗi....trong sự nghiệp cứu nước vẻ vang. Bác Hồ không chỉ răn dạy thanh niên về sự bền
lịng, vững chí mà Người cịn là một tấm gương sáng ngời về sự "kiên trì" "nhẫn nại" và "quyết chí" .
- Trong sự nghiệp xây dựng đất nước, cuộc sống hồ bình hơm nay, noi theo tấm gương Bác Hồ, nối tiếp
các đàn anh lớp trước, hàng ngày hàng giờ, thế hệ mới của chúng ta đã xuất hiện biết bao tấm gương đẹp về
lòng kiên trì, chí lớn đã làm nên "sự nghiệp lớn". Đó là bác sĩ Nguyễn Tài Thu, người đã đưa nền y học châm
cứu Việt Nam thành một thương hiệu nổi tiếng trên thế giới. Đó cịn là vận động viên wushu Thuý Hiền, vận
20


động viên nhảy cao Bùi Thị Nhung, vận động viên cử tạ Hoàng Anh Tuấn đã giành được Huy Chương Vàng thể
thao Segame để cho lá cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc Việt Nam kiêu hãnh tung bay trên đấu trường Đông Nam
Á. Và đây là tấm gương "kiên trì", "quyết chí", "bền lịng" , vượt qua số phận hiểm nghèo của mình để làm nên

sự nghiệp phi thường như là "đào núi" và "lấp biển" vậy. Đấy là anh Bạch Đình Vinh được chương trình ti vi
"Người đương thời" hết lời ca ngợi: vì một tai nạn giao thơng, anh Vinh bị bại liệt tồn thân, bị chấn thương
nặng nội tạng, khuôn mặt bị biến dạng và mất ln cả tiếng nói. Thế nhưng với một ý chí, nghị lực phi thường,
anh đã không gục ngã, mà đứng lên viết tiếp trang cổ tích của cuộc đời mình: sinh viên ba trường Đại học: Giao
thông vận tải, Thương Mại, Khoa công nghệ thông tin - Đại học Bách Khoa Hà Nội.
3. Bình luận mở rộng
- Lời dạy của Bác là một bài học vô cùng quý giá cho mỗi chúng ta về phương châm sống. Nó đã trở
thành bí quyết quan trọng nhất giúp chúng ta thực hiện ước mơ hồi bão của bản thân. Lời dạy đó cịn giúp ta có
ý chí nghị lực để vượt qua những khó khăn lớn lao thường gặp, để quyết đạt cho được ước mơ của mình.
- Tuy nhiên, chúng ta nên phải hiểu lời khuyên của Bác một cách đúng đắn và thiết thực. Quyết tâm, ý chí
của ta phải đi đôi với hành động, chứ không được quyết tâm sng mà có thể làm nên được sự nghiệp lớn. Và
những ước mơ, khát vọng của ta phải phù hợp với điều kiện thực tế, hoàn cảnh chủ quan, khách quan, những
tiền đề vật chất nhất định, nếu không chúng ta sẽ trở thành những người phiêu lưu mạo hiểm, những kẻ mơ
mộng hão huyền. Hiểu như vậy, chúng ta càng thấm thía lời dạy của Bác Hồ vơ cùng đúng đắn.
C. Kết luận
Tóm lại bốn câu thơ trên của Bác là một lời khuyên vô cùng quý báu. Bằng trí tuệ sắc sảo, Bác đã vạch ra
chân lý, bằng trái tim tràn đầy tình yêu thanh niên, Bác đã ân cần khuyên nhủ, động viên mọi thế hệ hôm nay và
mai sau có được phương pháp hành động và suy nghĩ đúng đắn nhằm chiếm lĩnh được những "đỉnh Ôlimpia"
của cuộc đời và sự nghiệp.

Đề bài: Nêu ý kiến của anh/chị về lợi ích của việc tự học.

BÀI LÀM THAM KHẢO
Mở bài
Xã hội hiện đại nêu cao phương châm “Học tập suốt đời”. Phương pháp tự học là phương pháp học chủ
yếu để thực hiện phương châm học tập suốt đời. Tại sao tự học lại quan trọng như vậy? Tự học đưa lại cho
chúng ta những lợi ích gì?
Thân bài
1. Thế nào là tự học?
Tự học là học ở ngồi nhà trường, học thơng qua sách báo, tài liệu, nghe đài phát thanh, xem truyền hình,

quan sát thực tiễn, trao đổi với bạn bè, người thân đồng nghiệp…
Tự học là cần thiết cho mọi người vì kiến thức mà lồi người tích lũy lại là rộng lớn, mênh mông, vô tận.
Học ở nhà chỉ cung cấp một phần, tuy rất cơ bản và quan trọng nhưng không đủ. Thời gian học ở trường tuy khá
dài nhưng có giới hạn. Thời gian tự học là khơng có giới hạn, kéo dài trong suốt cả cuộc đời chúng ta. Tri thức
mà tự học đưa lại giúp chúng ta hoàn thiện kỹ năng sống và lao động sản xuất, nhờ đó, cuộc sống của ta có
nhiều thuận lợi, làm việc cho năng suất lao động cao, công tác tiến tới, thành cơng trong sự nghiệp.
2. Lợi ích của việc tự học.
Tự học đưa lại lợi ích to lớn và thành cơng cho người ham học, ham tự học và có phương pháp tự học phù
hợp.
Theo hoàn cảnh cụ thể, mỗi người có thể sắp xếp thời gian, lên kế hoạch tự học. Có thể học ngoại ngữ trên
truyền hình, học chun môn qua mạng internet, đọc sách nâng cao, chuyên sâu. Nhiều bạn học sinh ở nông
thông, vùng sâu, vùng xa, nhờ có tự học ( Khơng có điều kiện tham gia luyện thị, ôn thi ở trường lớp) mà thi tốt
21


nghiệp phổ thông, thi vào đại học đạt điểm cao, nhiều bạn đạt thủ khoa. Khi đi làm, chúng ta sẽ có rất ít thời
gian và điều kiện để đi học tập trung theo trường lớp mà chủ yếu là tự học. Ngày nay, một bác sĩ, kỹ sư, thầy
gióa mà hàng ngày không
đọc được vài chục trang sách bao chun mơn thì sẽ đối mặt với nguy cơ tụt hậu. Khi đó, khơng chỉ cơ
hội thăng tiến trong nghề nghiệp sẽ kém đi mà công việc sẽ lúng túng, khó khăn, kết quả sẽ khơng cao.
Tự học có nhiều lợi ích như vậy, nên chúng ta phải ln ln có ý thức tự học. Tùy theo hồn cảnh, trình
độ mà chúng ta lựa chọn tri thức và phương pháp tiếp nhận phù hợp, tạo hứng thú trong học tập, rèn luyện khả
năng khám phá và tư duy sáng tạo. Nhờ thấy kết quả và lợi ích mà tự học mang lại, chúng ta sẽ thấy hứng thú
và đam mê tự học.
3. Tự học như thế nào cho tốt?
Xã hội càng phát triển, càng hiện đại thì cơng cụ, phương tiện cho tự học ngày càng nhiều. Đặc biệt, điện
thoại di động và mạng internet càng phổ biến thì chúng ta có điều kiện để tự học và tiếp cận với trình độ chun
mơn, chun sâu của thế giới. Tự học nhờ đó có thể đưa lại cho người học trình độ chun mơn cao. Tự học
nhờ có nhiều cơng cụ hiện đại mà cho ta nhiều hứng thú, đam mê.
Con người trong xã hội hiện đại ngày nay là phải học tập suốt đời và suốt đời phải tự học.

Ý thức được sự cần thiết và ích lợi của tự học, bản thân em sẽ luôn cố gắng để tự học, khắc phục mọi hồn
cảnh dù khó khăn đến đâu cũng phải học và tự học.
4. Bác Hồ là tấm gương sáng về tự học.
Do phải tìm đường cứu nước từ thời trẻ nên thời gian học ở trường của Bác không được nhiều. Nhưng
nhờ tự học, Bác uyên thâm chuyên sâu trên rất nhiều lĩnh vực. Thời thanh niên, Bác đã là nhà báo, chủ bút một
tờ báo bằng tiếng Pháp. Bác biết rất nhiều ngoại ngữ, chủ yếu là tự học. Các lý luận về Cách mạng, con đường
và phương pháp đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, xây dựng đất nước do tự học, không những được Bác nắm
vững mà còn sáng tạo, phát triển, dẫn dắt nhân dân ta thực hiện thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
đầu tiên, nêu gương sáng cho tồn thế giới.
Kết luận
Thời đại khoa học cơng nghệ ngày nay phát triển nhanh chóng đưa lồi người lên thời đại tri thức, thời đại
hậu công nghiệp. Mỗi người hàng ngày phải tự học để lao động sáng tạo và cống hiến cho hạnh phúc tương lai
của đất nước, gia đình và bản thân.
Đề bài: : Quan niệm về lối sống giản dị
BÀI LÀM THAM KHẢO
Mở bài
Hiện nay toàn Đảng, tồn dân ta đang có phong trào “Học tập tấm gương đạo đức tác phong Bác Hồ”.
Một phẩm chất nổi bật mà chúng ta học tập là lối sống giản dị.
Thân bài
1. Thế nào là lối sống giản dị
Giản dị là lối sống chân phương, tiết kiệm, phù hợp với hồn cảnh của bản thân, gia đình và xã hội. Giản
dị là biểu hiện của đạo đức xã hội chủ nghĩa. Khơng xa hoa đua địi, lãng phí tiền của, thời giờ vào việc khơng
cần thiết.
Đó cũng là biểu hiện của nếp sống khoa hoc, có văn hóa.
Giản dị là lối sống đẹp, góp phần xây dựng xã hội văn minh, hiện đại. Chúng ta cần động viên, khuyến
khích coi trọng, đề cao lối sống giản dị.
Lối sống giản dị xuất phát từ quan niệm sống văn minh, khoa học, thực chất, chân thành. Giản dị trước
khi biểu hiện thành phong cách sống, phải trở thành ý thức, quan niệm sống của mỗi người. Có như vậy, giản dị
được biểu hiện một cách chân thành, trung thực, không gượng ép giả tạo
3. Làm thế nào để có lối sống giản dị ?

22


Lối sống giản dị là nét đẹp trong đạo đức, tác phong, thực chất con người nhưng không phải tự nhiên mà
có được. Con người phải thường trực ý thức và rèn luyện, biểu hiện trong cuộc sống hàng ngày thì mới tạo lập
được lối sống giản dị.
Xuất phát từ nhận thức biết quý trọng lao động, quý trọng những gì mà lao động cần cù mà có được, lối
sống giản dị có cơ sở hình thành trong phẩm chất mỗi người.
Lối sống giản dị đòi hỏi phải biểu hiện một cách chân thành, tự nhiên trong cách ăn, mặc, ở, đi lại và giao
tiếp hằng ngày. Chúng ta phải có ý thức rèn luyện để có lối sống tiết kiệm.
4. Học tập lối sống giản dị của Bác Hồ
Bác Hồ là tấm gương sáng về lối sống giản dị. Người dân Việt Nam khơng ai qn được hình ảnh quen
thuộc của Bác trong bộ quần áo bộ đội sờn màu, đơi dép cao su đi nhiều đến mịn vẹt, ăn uống đơn gian “ Cháo
bẹ rau măng vẫn sẵn sàng “. Không chỉ ở chiến khu Việt Bắc, khi về thủ đô Hà Nội , Bác ở trong ngôi nhà sàn
giản đị với những bữa cơm thanh đạm, dép lốp, quạt lá cọ. Cả cuộc đời Bác Hồ là một bài học lớn cho chúng ta
về đức tính giản dị.
5. Liên hệ bản thân : rèn luyện để có lối sống giản dị
Lối sống giản dị đưa lại cho con người và xã hội nhiều lợi ích. Xã hội có cuộc sống văn minh, ngày càng
có điều kiện nâng cao chất lượng sống của con người. Bản thân có lối sống giản dị sẽ dễ hòa nhập cộng đồng
bởi vẻ đẹp khơng khoa trương nhưng thu hút lịng người trong phong cách sống.
Lối sống giản dị ngược lại với lối sống xa hoa, đua địi, lãng phí. Nhiều bạn trẻ được sinh ra trong gia đình
giàu có, được gia đình nng chiều mà quen với lối sống đua địi, lãng phí, ném tiền qua cửa sổ, lối sống ”Cơng
tử Bạc liêu” sẽ không nhận được sự coi trọng và giúp đỡ của mọi người, khó trở thành người thành đạt, có ích.
Lối sống giản dị có thể một phần tử bẩm sinh nhưng cơ bản là từ ý thức rèn luyện trong cuộc sống mà có
được.
Biết quý trọng những gì mình đang có và biết cảm thơng chia sẻ với cuộc sống đang khó khăn của người
khác, chúng ta sẽ rèn luyện cho mình lối sống giản dị. Như vây, lối sống giản dị liên hệ chặt chẽ với ý thức tiết
kiệm, tinh thần trách nhiệm công dân và tấm lòng sẻ chia hòa đồng đối với xã hội.
Tiết kiệm thời gian, tiết kiệm của cải, tiền bạc là sự khởi nguồn của tích lũy vốn đầu tư. Vốn đầu tư dùng
để xây dựng nhà cửa, cầu đường, trường học, nhà máy là phương tiện để tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội.

Lối sống giản dị giúp con người tiết kiệm, xã hội tiết kiệm để đầu tư cho tương lai. Đó là ý nghĩa kinh tế của lối
sống giản dị. Lối sống giản dị biểu hiện tấm lịng thơng cảm, sẻ chia với hàng triệu đồng bào, bao gồm cả trẻ em
và cụ già, đang sống trong tình cảnh khó khăn, nghèo đói, bệnh tật. Người có tấm lịng tương thân, tương ái
khơng thể sống xa hoa, lãng phí, vơ cảm mà phải có lối sống giản dị, tiết kiệm để có thể đóng góp giúp đỡ
người khác.
Kết luận
Ý thức được sự cần thiết và lợi ích, vai trò của lối sống giản dị, bản thân em sẽ ln ln rèn luyện cho
mình lối sống giản dị một cách thực chất, chân thành.
Đề bài: Suy nghĩ về lòng dũng cảm.
BÀI LÀM THAM KHẢO
Mở bài
Thế nào là lòng dũng cảm? Tại sao chúng ta cần có lịng dũng cảm và phải làm gì để có lịng dũng cảm?
Đó là những câu hỏi mà em muốn trả lời trong bài văn này.
Thân bài
1. Thế nào là người có lịng dũng cảm, ý nghĩa, vai trị của nó.
Người có lịng dũng cảm là người có nghị lực, có ý chí sắt đá. Lòng dũng cảm thể hiện ở sự quả cảm, kiên
cường, vượt qua những khó khăn đặc biệt, thể hiện phẩm chất anh hùng, phẩm chất vượt lên chính mình, chống
lại sự cám dỗ của thói xấu, hành động bảo vệ chân lý, lẽ phải, chống lại cái xấu, cái tiêu cực, có khi phải hy sinh
quyền lợi bản thân và cả bản thân mình cho cộng đồng, xã hội và Tổ quốc.
Chứng minh: lịch sử và thơ văn nước ta đã kể lại nhiều tấm gương về lòng dũng cảm. Đó là anh hùng trẻ
tuổi Trần Quốc Toản bóp nát quả cam và anh dũng đứng lên chống giặc Nguyên Mông tàn bạo, là Lê Lai liều
23


mình cứu chúa. Đó cịn là hình ảnh chú bé liên lạc trong bài thơ “Lượm” (Tố Hữu) , cô thanh niên xung phong
”Lấy thân mình hứng lấy luồng bom” (Thơ Lâm Thị Mĩ Dạ), anh Nguyễn Văn Trỗi hiên ngang ra pháp trường,
chị Đặng Thùy Trâm, anh Nguyễn Văn Thạc dũng cảm lên chiến địa…. tất cả đều là những tâm gương sáng
ngời của lịng dũng cảm.
2. Bình luận: bàn về lòng dũng cảm.
- Nguồn gốc và vai trò, ý nghĩa của nó.

Cuộc sống ln ln phức tạp. Mỗi người và đất nước luôn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức,
nguy cơ hiểm nghèo, khủng hoảng kinh tế, thiên tai, địch họa, rủi ro. Vì vậy ai cũng cần có lịng dũng cảm để
vượt qua các tình huống đó, giúp mình, giúp người khác, giúp cộng đồng và dân tộc, Tổ quốc.
Lịng dũng cảm khơng phải tự nhiên mà có. Mỗi người có nhận thực, hiểu biết và rèn luyện khơng ngừng
để có lịng dũng cảm.
Phải vượt lên chính mình “Chiến thắng vĩ đại nhất là chiến thắng chính bản thân mình” . Khắc phục thói
xấu, ích kỷ và cá thói xấu khác, sống có lý tưởng vì dân, vì nước là những tiền đề mà mỗi người cần có để chứa
chất lịng dũng cảm.
Lịng dũng cảm ấy là phẩm chất quan trọng nhất của những người hùng trong cuộc kháng chiến chống
Pháp, chống Mỹ. Đúng như Tố Hữu đã viết : “Dân ta gan dạ anh hùng. Trẻ là đấu súng, già xông lửa đồn. Chân
toạc máu, chân đau đuổi giặc. Tay chém thù tay sắc như gươm”. Họ đã cùng toàn dân quyết tâm làm nên một
chiến cơng Điện Biên Phủ “Chín năm làm một Điện Biên; Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng” Những chiến sĩ
Điện Biên là những con người mang trong mình chất thép của lịng dũng cảm: “Chiến sĩ Điện Biện, chiến sĩ anh
hùng. Đầu nung lửa sắt, gan không núng, chí khơng mịn…Những đồng chí thân chơn làm giá súng; đầu bịt lỗ
châu mai, băng mình qua núi thép gai, ào ào như vũ bã., Những đồng chí chèn lưng cứu pháo, nát thân, nhắm
mắt cịn ơm” Vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, lớp lớp thanh niên lại lên đường, mang trong mình truyền thống
Điện Biên, quyết xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, bất chấp bom đạn Hoa Kỳ tàn bạo, tiến thẳng vào Sài Gịn để
có ngày 30/4 lịch sử: “Ôi buổi trưa nay tuyệt trần nắng đẹp! Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta. Chúng con đến xanh
ngời ánh thép.Thành phố tên người lộng lẫy cờ hoa.” Cùng với lòng yêu nước thiết tha, lòng dũng cảm của
những người chiến sĩ ấy đã giúp họ có được lẽ sống rất đẹp: sẵn sàng đổ máu mình cho cây Tổ Quốc đơm hoa
Độc lập, kết trái tự do và viết nên trang sử mới của thời đại Hồ Chí Minh đầy tự hào.
3. Bài học nhận thức hành động.
Lòng dũng cảm phải rèn luyện, thể hiện trong hành động, việc làm. Trong những tình huống khó khăn,
hiểm nghèo như gặp phải vụ hỏa hoạn, lũ quét, người bị nạn trên đường, bản thân bị mất việc, bị bệnh ung thư
không may nhiễm HIV, viêm gan virut, người ta rất cần tới lòng dũng cảm và biểu hiện bằng bản lĩnh vững
vàng, vượt qua một cách sáng suốt, tỉnh táo. Khi đó, lịng dũng cảm là “Nhất biến ứng phó với vạn biến”
Để khuyến khích mọi người tu dưỡng, rèn luyện lòng dũng cảm, nhà trường nhà nước và xã hội phải
thường xuyên biểu dương, ca ngợi, khen thưởng người có hành động, việc làm dũng cảm.
Lịng dũng cảm phải dựa trên cơ sở khoa học, hiểu biết tri thức mới thể hiện có hiệu quả, có ích nhiều cho
bản thân và xã hội. Nhiệt tình cách mạng cộng cới sự dốt nát sẽ trở thành kẻ phá hoại (Lenin). Lịng dũng cảm

mà khơng có tri thức sẽ phản tác dụng. Không biết bơi mà nhảy xuống biển cứu người chết đuối khơng chỉ hại
đến thân mà cịn gây khó khăn cho người khác trong việc cứu người.
Kết luận
Lịng dũng cảm là đức tính tốt đẹp xã hội cần đề cao và mỗi người cần tu dưỡng, rèn luyện để có được.
Bản thân em sẽ quyết tâm học tập, rèn luyện để có lịng dũng cảm và tìm các cơ hội để thể hiện lòng dũng
cảm.
Đề bài: Suy nghĩ về ý kiến của nhà văn M.Xi-xê-rông: “Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động
“.
Liên hệ với việc học tập, tu dưỡng của bản thân.
BÀI LÀM THAM KHẢO
Mở bài
24


Ý kiến của nhà văn M.Xi-xê-rông:“Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động“ gợi em nhiều suy
nghĩ về việc tu dưỡng và học tập của bản thân.
Thân bài
1. Đức hạnh là phẩm chất đạo đức tốt đẹp của con người.
Đức hạnh đó là những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của con người. Đó là: Lịng u nước, yêu đồng bào,
hiếu thảo với cha mẹ, kính yêu thầy cô giáo, các bậc lão thành, yêu thương em nhỏ, chăm chỉ học tập, cần cù lao
động…
2. Đức hạnh phải được biểu hiện qua hành động, lối sống.
Làm thế nào để xã hội và những người xung quanh biết chúng ta là người đức hạnh? Ý kiến của nhà văn
Pháp nêu trên đã trả lời cho câu hỏi đó. Hành động là biểu hiện cụ thể, là thước đo của “mọi phẩm chất của đức
hạnh”.
Hành động cụ thể của ta báo cho mọi người biết ta có đức hạnh hay khơng và nếu có thì mức độ sâu rộng
như thế nào. Đức hạnh là cội rễ, hành động là hoa thơm quả ngọt dâng đời. Khơng có hành động thì đức hạnh
khơng để lại gì, khơng đóng góp gì cho người thân và xã hội. Đánh giá đức hạnh con người nhất thiết phải
thông qua hành động của người đó, khơng thể chỉ dựa vào lời nói mà kết luận vội vàng.
Tình u thương đồng bào và lịng nhân văn cao cả phải thể hiện ở sự đóng góp dù rất ít ỏi cho quỹ người

nghèo, ủng hộ đồng bào bị thiên tai bão lụt, qua hành động giúp cụ già, em bé đi qua đường. Gặp đám cháy
chúng ta phải xông vào cứu chữa. Gặp người bị tai nạn giao thông, như hai bạn ở Nghệ An trên đường đi thi tốt
nghiệp phổ thông, không ngần ngại đưa họ đi cấp cứu mặc dù việc đó có thể gây thiệt hại cho bản thân.
Lòng hiếu thảo, yêu thương cha mẹ phải thể hiện ở hành động chăm học, sống tiết kiệm, biết quý trọng
đồng tiền cha mẹ vất vả kiếm được để ni mình ăn học. Khi xa gia đình, ta phải thường xuyên viết thư, gọi
điện thăm hỏi sức khỏe cha mẹ. Khi cha mẹ ốm đau, ta phải hết lịng, hết sức quan tâm, chăm sóc, chạy chữa.
Lòng yêu thiên nhiên đất nước phải thể hiện ở hành động giữ gìn vệ sinh, tiết kiệm điện nước, trồng cây
để cho môi trường sống xung quanh ta ngày càng xanh, sạch đẹp.
Lòng yêu lao động thể hiện ở hành động chăm làm, chăm học (Học tập cũng là một loại hình lao động).
Học tập suốt đời để sống tốt, lao động tốt, sức khỏe tốt, tu dưỡng phẩm chất đức hạnh tốt. Đức hạnh bắt nguồn
từ tri thức, nhận thức đúng đắn về xã hội và tự nhiên, con người và cuộc sống. Học tập là cơ sở để ta có phẩm
chất của đức hạnh và hành động phù hợp với phẩm chất của đức hạnh.
3. Đức hạnh phải được tu dưỡng rèn luyện thường xuyên trong thực tiễn.
Phẩm chất của đức hạnh, chứa đựng trong nhận thức và biểu hiện ở hành động không phải tự nhiên mà có.
Chúng ta phải tu dưỡng và rèn luyện thường xuyên, đặc biệt khi ta còn trẻ.
Hành động thể hiện phẩm chất của đức hạnh cũng khơng có một tiêu chuẩn cứng nhắc, cố định. Trong
chiến tranh giữ nước, hành động có thể là vứt bút nghiên theo nghiệp binh đao, nhưng cũng có thể là lao động
sản xuất tốt.
Cịn khi thời bình và đang tuổi đi học, chúng ta học tập tốt, tu dưỡng tốt để trở thành người có ích cho xã
hội, có việc làm, hành động thể hiện các phẩm chất đức hạnh cao quý là người yêu nước.
Học tập, tu dưỡng, rèn luyện để có đức hạnh, cả trong nhận thức và hành động, là q trình gian nan, vượt
nhiều khó khăn thử thách. Hơm nay ta lười học thì ngày mai ta sẽ lười lao động. Hơm nay ta ăn cắp một quả
trứng thì ngày mai ta dễ ăn trộm con bò. Cuộc vận động “Nói khơng với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích
trong học tập” cần được chúng ta hưởng ứng bằng hành động thiết thực, cụ thể.
Hành động của con người, nói rộng ra là thực tiễn, là “tiêu chuẩn của chân lý”, là tiêu chuẩn, thước đo
của phẩm chất “đức hạnh”, bản chất ở bên trong của con người. Khi con người biết nhìn nhận, đánh giá mình
qua hành động cụ thể, việc làm hàng ngày, qua lao động sản xuất và quan hệ ứng xử là con người “có học” có
hiểu biết và là có “phẩm chất tốt” , “đức hạnh cao”. Một trí thức, một người có văn hóa, có giáo dục khơng thể
tự nói với người khác rằng họ có bằng cấp, có học vị, học hàm cao nên “phẩm chất đức hạnh tốt đẹp”. Họ phải
thể hiện ở hiệu quả các cơng trình khoa học, cái hay trong cuốn sách mà họ viết, số người bệnh mà họ cứu chữa

được.
4. Con người phải tự nhận thức và đánh giá đức hạnh của mình.
Hành động là thể hiện, là kết tinh của đức hạnh. Con người phải luôn luôn tự đánh giá, tự nhận thức bản
thân mình qua việc làm, qua ứng xử cụ thể, qua hành động chứ khơng phải qua lời nói của mình. Phầm chất đức
hạnh con người được đo bằng kết quả thực tế việc làm chứ không phải bằng những lời ba hoa, lý thuyết, hùng
25


×