Tải bản đầy đủ (.doc) (42 trang)

Phương hướng & Giải pháp phát triển công nghiệp -tiểu thủ công nghiêp của huyện thạch thất Hà Tây

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (230.37 KB, 42 trang )

A. Lời nói đầu
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nớc ta đã có nhiều chuyển biến
đáng kể. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp-công nghiệp-dịch vụ đang dần đợc thay thế
theo hớng công nghiệp-nông nghiệp-dịch vụ. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nơc mà Đảng đề ra bớc đầu đã đạt đợc những thắng lợi. Đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân đợc cải thiện. Hoà mình vào sự phát triển chung của đất nớc,
huyện Thạch Thất-Tỉnh Hà Tây cũng đã có những bớc phát triển đáng kể về kinh tế,
đặc biệt là công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp. Nhờ có vị trí địa lý và điều kiện lịch
sử thuận lợi cho phát triển công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp nên những năm qua
huyện Thạch Thất đã đạt đợc những kết quả đáng khích lệ, các làng nghề thủ công
truyền thống ngày càng phát triển, các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trong
huyện cũng nh thuê địa điểm trên địa bàn huyện ngày một tăng. Từ đó, đã góp phần
vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở nớc ta hiên
nay. Song quá trình phát triển công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp ở huyện Thạch Thất
còn nhiều bất cập cần phải có nhng phơng hớng, giải pháp để giải quyết góp phần
phát triển kinh tế của huyện nói riêng và của cả nớc nói chung. Chính vì vậy em xin
trình bày đề tài: Phơng hớng và giải pháp phát triển công nghiệp-tiểu thủ công
nghiệp của huyện Thạch Thất-tỉnh Hà Tây giai đoạn 2001-2005.
Bài viết gồm 3 phần: mở đầu, nội dung và phần kết luận. Trong đó, phần nội
dung bao gồm:
Chơng I: Một số vấn đề chung về công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp.
I. Vị trí, vai trò của công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp.
II. Quy luật khách quan của công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp.
Chơng II: Thực trạng phát triển công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp huyên
Thạch Thất-tỉnh Hà Tây.
I. Điều kiện tự nhiên của huyện.
1
II. Thực trạng phát triển kinh tế xã hội của huyện (1995-1997).
III. Thực trạng phát triển công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp.
Chơng III: Phơng hớng và giải pháp phát triển công nghiệp-tiểu thủ công
nghiệp giai đoạn 2001-2005.


I. Phơng hớng phát triển kinh tế xã hội của huyện giai đoạn2001-2010.
II. Phơng hớng và mục tiêu phát triển công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp
giai đoạn 2001-2005.
III. Giải pháp phát triển công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp.
Do kiến thức và thời gian có hạn nên bài viết không thể tránh đợc những sai
sót. Em kính mong sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo để em hoàn thành tốt bài
viết này.
2
B. Nội Dung
Chơng I: Một số vấn đề chung về công nghiệp
và tiểu thủ công nghiệp.
I.Vị trí và vai trò của công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
trong nền kinh tế quốc dân.
1.Khái niệm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp .
* Khái niệm công nghiệp .
Công nghiệp là nghành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất một bộ
phận cấu thành nền sản xuất vật chất của xã hội. Công nghiệp bao gồm 3 loại hoạt
động chủ yếu; khai thác tài nguyên thiên nhiên tạo ra nguồn nguyên liệu nguyên
thuỷ; sản xuất và chế biển sản phẩm của công nghiệp khai thác và của nông nghiệp
thành nhiều loại sản phẩm nhằm thoả mãn các nhu cầu khác nhau của xã hội; khôi
phục giá trị sử dụng của sản phẩm đợc tiêu dùng trong quá trình sản xuất và trong
sinh hoạt. Thực hiện 3 hoạt động cơ bản đó, dới sự phân công của lao động xã hội
trên cơ sở tiến bộ của khoa học và công nghệ, trong nền kinh tế quốc dân hình thành
hệ thống các nghành công nghiệp; khai thác tài nguyên khoáng sản, động vật, thực
vật, các nghành sản xuất và chế biến sản phẩm và các nghành công nghiệp dịch vụ
sửa chữa. Hoạt động khai thác là hoạt động khởi đầu của toàn bộ quá trình sản xuất
công nghiệp . tính chất hoạt động của sản phẩm này là cắt đứt các đối tợng lao động
ra khỏi môi trờng tự nhiên. Chế biến là cá hoạt động làm thay đổi hoàn toàn về chất
của các nguyên liệu nguyên thuỷ, để tạo ra các sản phẩm trung gian và tiếp tục chế
biến thành các sản phẩm cuối cùng đa vào tiêu dùng trong sản xuất và tiêu dùng

trong đời sống. Quá trình chế biến từ một nguyên liệu có thể tạo ra một loại sản
phẩm tơng ứngvà cũng có thể là một loại sản phẩm nào đó đợc tạo ra từ các nguyên
liệu khác nhau. Sản phẩm trung gian đợc coi là nguyên liệu của quá trình sản xuất
3
công nghiệp tiếp theo. Sản phẩm cuối cùng là sản phẩm đã ra khỏi quá trình sản
xuất công nghiệp để đa vào trong sản xuất và tiêu dùng trong đời sống.
Sửa chữa là một hoạt động không thể thiếu đợc nhằm khôi phục, kéo dài tuổi thọ
của các t liệu lao động trong các nghành sản xuất và kéo dái thời gian sử dụng của
các sản phẩm dùng trong đời sống . công nghiệp sữa chữa là hình thức có sau so với
công nghiệp khai thác và chế biến. Lúc đấu các hoạt động này đợc thực hiện ngay
trong các nghành công nghiệp khai thác, chế biến và trong đời sống sinh hoạt của
dân c, do lực lợng lao động chính trong các nghành và lĩnh vực đó thực hiện.
Sau đó, do sự phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật trong các ngành sản xuất, dịch
vụ, do sự phát triển đa dạng hoá của sản phẩm tiêu dùng trong sinh hoạt, hoạt động
sửa chữa đợc tách ra thành một ngành chuyên môn hoá thực hiện dịch vụ sửa chữa
có tính chất xã hội.
* Tiểu thủ công nghiệp là ngành công nghiệp mà sản phẩm làm ra chủ yếu bằng
thủ công với quy mô nhỏ. Tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn thờng gắn liền với thời
gian nông nhàn, nhng nó lại có thu nhập cao hơn sản xuất nông nghiệp vì vậy mà
nhiều hộ đã rời hẳn nông nghiệp sang sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Cho nên tiểu
thủ công nghiệp phát triển manh ở nông thôn thờng gắn liền với các làng nghề
truyền thống-Hiện nay cha có một định nghĩa nào về làng nghề nhng có thể thấy
rằng làng nghề là nơi có trên 50% hộ dân làm nghề đó với tổng thu nhập từ nghề đó
phải chiếm trên 50% tổng thu nhập cả làng.
2. Vị trí của công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp trong nền kinh tế xã hội.
Công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật
chất có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, vị trí đó xuất phát từ các lý do
chủ yếu sau:
- Công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp là một bộ phận hợp thành cơ cấu công nghiệp-
nông nghiệp-dịch vụ, do những đặc điểm vốn có của nó. Trong quá trình phát triển

nền kinh tế lên sản xuất lớn, công nghiệp phát triển từ vị trí thứ yếu trở thành ngành
có vị trí hàng đầu trong cơ cấu kinh tế đó.
- Mục tiêu cuối cùng của nền sản xuất xã hội là tạo ra sản phẩm để thoả mãn nhu
cầu ngày càng cao của con ngời. Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, công
4
nghiệp-tiểu thủ công nghiệp không những chỉ là ngành khai thác tài nguyên, mà còn
tiếp tục chế biến các loại nguyên liệu nguyên thuỷ đợc khai thác và sản xuất từ các
loại tài nguyên, khoáng sản, động thực vật thành các sản phẩm trung gian để sản
xuất ra sản phẩm cuối cùng, nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần cho con
ngời.
- Sự phát triển của công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp là một yếu tố có tính chất
quyết định để thực hiện quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá toàn bộ nền kinh tế
quốc dân. Trong quá trình phát triển nền kinh tế lên nền sản xuất lớn, tuỳ theo trình
độ phát triển của công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế quốc
dân, xuất phát từ những điều kiện đặc điểm cụ thể của mỗi nớc, mỗi thời kỳ cần
phải xác định đúng đắn vị trí của công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp trong nền kinh
tế quốc dân hình thành phơng án cơ cấu công nghiệp-nông nghiệp-dịch vụ và định
hớng từ chuyển dịch cơ cấu đó một cách có hiệu quả. Đó là một nhiệm vụ quan
trọng của việc tổ chức nền kinh tế, nhằm đạt đợc những mục tiêu chiến lợc phát
triển kinh tế xã hội của đất nớc.
ở nớc ta, cơ cấu công nghiệp-nông nghiệp đang là cơ cấu kinh tế quan trọng
nhất, Đảng ta đang có chủ trơng xây dựng nền kinh tế nớc ta có cơ cấu công nghiệp-
nông nghiệp hiện đại và chuyển dịch cơ cấu đó theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá.
3. Vai trò chủ đạo của công nghiệp trong quá trình phát triển nền kinh tế Việt
nam định hớng xã hội chủ nghĩa.
Vai trò chủ đạo của công nghiệp trong quá trình phát triển nền kinh tế lên
nền sản xuất lớn là một tất yếu khách quan. Tính tất yếu khách quan đó xuất phát từ
bản chất, những đặc điểm vốn có của công nghiệp.
Trong quá trình phát triển nền kinh tế nớc ta theo định hớng xã hội chủ

nghĩa, công nghiệp luôn luôn giữ vai trò chủ đạo. Vai trò chủ đạo của công nghiệp
đợc hiểu là: Trong quá trình phát triển nền kinh tế, công nghiệp là ngành có khả
năng tạo ra động lực và định hớng sự phát triển cuả các ngành kinh tế khác lên nền
sản xuất lớn. Vai trò chủ đạo đó đợc thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:
5
- Do đặc điểm của nền sản xuất công nghiệp, công nghiệp có những điều kiện tăng
nhanh tốc độ phát triển khoa học công nghệ, ứng dụng các thành tựu khoa học công
nghệ đó vào sản xuất, có khả năng và điều kiện sản xuất hoàn thiện. Nhờ đó lực l-
ợng sản xuất trong công nghiệp phát triển nhanh hơn các ngành kinh tế khác. Do
quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ và tính chất phát triển của lực l-
ợng sản xuất, trong công nghiệp có đợc hình thức quan hệ sản xuất tiên tiến.
Tính tiên tiến về các hình thức quan hệ sản xuất, sự hoàn thiện nhanh về các mô
hình tổ chức sản xuất đã làm cho công nghiệp có khả năng định hớng cho các ngành
kinh tế khác tổ chức đi lên nền sản xuất lớn theo hình mẫu, kiểu công nghiệp.
- Cũng do đặc điểm của sản xuất công nghiệp, đặc điểm là đặc điểm về công nghệ
sản xuất, đặc điểm về công dụng sản phẩm công nghiệp, công nghiệp là ngành duy
nhất tạo ra sản phẩm làm chức năng t liệu lao động trong các ngành kinh tế, từ đó
mà công nghiệp có vai trò quyết định trong việc cung cấp các yếu tố đầu vào để xây
dựng cơ sở vật chất cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
- Trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật
và trình độ hoàn thiện về tổ chức sản xuất, hình thành một đội ngũ lao động có tính
tổ chức, tính kỷ luật và trình độ trí tuệ cao, cộng với tính đa dạng của hoạt động sản
xuất, công nghiệp là một trong những ngành đóng góp phần quan trọng vào việc tạo
ra thu nhập quốc dân, tích luỹ vốn để phát triển nền kinh tế, từ đó, công nghiệp có
vai trò quan trọng góp phần vào việc giải quyết những nhiệm vụ có tính chiến lợc
của nền kinh tế xã hội nh tạo việc làm cho lực lợng lao động, xoá bỏ sự cách biệt
thành thị nông thôn, giữa miền xuôi với miền núi,
- Trong quá trình phát triển nền kinh tế ở nớc ta hiện nay, Đảng có chủ trơng coi
nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, giải quyết về cơ bản vấn đề lơng thực, cung cấp
nguyên liệu động thực vật để phát triển công nghiệp và đẩy mạnh xuất khẩu nông

sản hàng hoá nhằm tạo ra những tiền đề để thực hiện công nghiệp hoá. Để thực hiện
đợc những nhiệm vụ cơ bản đó, công nghiệp có vai trò quan trọng cung cấp các yếu
tố đầu vào nớc, phân, cần, giống bằng những công nghệ ngày càng hiện đại để
phát triển nông nghiệp, gắn công nghiệp chế biến với nông nghiệp, phát triển công
nghiệp nông thôn, đa nông nghiệp lên nền sản xuất hàng hoá.
6
4. Một số phơng hớng biện pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò chủ đạo của
công nghiệp trong nền KTQD.
để phát huy vai trò chủ đạo của công nghiệp cần phải thực hiện toàn diện
và đồng bộ nhiều biện pháp. Những phơng hớng, biện pháp đó có thể tổng hợp và
khái quát thành một số vấn đề cơ bản sau:
- Xác định đúng đắn mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng, tổ chức và phát triển công
nghiệp, phối hợp với mục tiêu kinh tế xã hội của nền kinh tế, đáp ứng tốt nhất những
yêu cầu của các mục tiêu kinh tế xã hội đó nhằm nâng cao năng lực, phát huy có
hiệu quả vai trò chủ đạo của công nghiệp quốc doanh trong các nghành kinh tế.
Để nâng cao tính chủ đạo của công nghiệp quốc doanh đối với sự phát triển
của các nghành kinh tế, thì bản thân công nghiệp từ việc chuyển dịch cơ cấu ngành,
cơ cấu thành phần tổ chức và tổ chức lại sản xuất công nghiệp trên phạm vi lãnh thổ
và trong từng doanh nghiệp, phải đợc thực hiện theo hớng công nghiệp hoá và hiện
đại hoá; công nghiệp phải góp phần quan trọng vào sự nghiệp CNH-HĐH nền kinh
tế; trớc hết phải tập trung đẩy mạnh CNH-HĐH nông nghiệp và phát triển nông thôn
tính cả các ngành kinh tế khác trong quá trình thực hiện phơng hớng và nhiệm vụ
phát triển của ngành mình. Cần phải áp dụng toàn diện, đồng bộ các biện pháp
nhằm nâng cao khả năng tiếp thu có hiệu quả của vai trò chủ đạo của công nghiệp
quốc doanh với quá trình phát triển có hiệu quả và đúng định hớng với mọi ngành
kinh tế cần tăng trởng với một số vấn đề sau:
+ Xác định dúng đắn hớng chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành, tổ chức lại nền sản
xuất thích ứng với các nhu cầu tiếp thu tác động chủ đạo của công nghiệp .
+ Thu hút đợc các nguồn vốn, bảo đảm đợc vốn để áp dụng công nghệ mới, để
thực hiện lại các phơng án tổ chức lại nền kinh tế.

+ Chuẩn bị nguồn lao động đủ số lợng, cơ cấu, trình độ để đáp ứng yêu cấủ dụng
có hiệu quả các yếu tố vật chất kỹ thuật ngày càng có trình độ hiện đại cao hơn.
- Tăng cờng hiệu lực quản lý của nhà nớc trong các lĩnh vực xây dựng hệ thống kế
hoạch định hớng xây dựng và nâng cao hiệu lực của hệ thống luật, xây dựng toàn
diện và đồng bộ hệ thống cơ sở quản lý vĩ mô, nhằm nâng cao hiêu quả phát huy vai
trò chủ đạo của công nghiệp; tăng năng lực vai trò chủ đạo của từng ngành kinh tế
7
khác; đinh hớng và tổ chức phối hợp hoạt động của tất cả các ngành kinh tế, các lĩnh
vực hoạt động văn hoá, xã hội vào việc phục vụ có hiệu quả quá trình thực hiện vai
trò chủ đạo và tiếp thu vai trò chủ đạo của công nghiệp đối với toàn bộ nền kinh tế.
5.Công nghiệp Tiểu thủ công nghiệp phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH ở nông
thôn nớc ta hiện nay.
CNH, HĐH nông nghiệp và phát triển nông thôn đã đợc khẳng định tại nghị
quyết số 06/NQTW ngày 10/11/1998 của bộ chính trị trung ơng Đảng và nghị quyết
hội nghị BCHTW lần thứ 4 và 6 khoá VIII. Đây là con đờng tất yếu để đa nông
nghiệp, nông thôn nớc ta tách khỏ tình trạng nghèo nàn, lạc hậu.
Trong hơn 2 năm qua, bộ công nghiệp đã chú trọng chỉ đạo chực hiện chủ
chơng lớn này của Đảng và nhà nớc ta và đạt đợc những kết quả khả quan.
5.1 Đầu t cơ sở sản xuất ở các địa phơng, tạo công ăn việc làm và thu hút lao
động từ nông thôn.
Cùng với việc sản xuất các sản phẩm phục vụ nông nghiệp, lấy địa bàn nông
thôn làm mục tiêu phục vụ chính, các cơ sở thuộc bộ còn tích cực đầu t mở rộng sản
xuất ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Mở rộng diện tích trồng rừng (phục vụ sản xuất giấy) giúp bà con nông dân
chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang trồng cây nguyên liêu phục vụ cho công nghiệp và
góp phần xoá đói giảm nghèo.
Ngoài ra còn liên doanh đầu t các xí nghiệp ở nông thôn thu hút hàng vạn lao
động là con em nông dân. Trong chính sách đào tạo, Bộ công nghiệp đã chỉ đạo các
trờng cao đẳng, trung học, dạy nghề mở rộng ngành nghề đào tạo liên quan đến nhu
cầu sử dụng lao động kỹ thuật và quản lý vận hành, sử dụng các công cụ thiết bị cơ

điện ở nông thôn. Do vậy các trờng đã tăng đáng kể về số lợng tuyển sinh và thu hút
học sinh từ nông thôn chiếm khoảng 70% số lợng này (riêng trong 2 năm
1999-2000 các trờng thuộc bộ đã tuyển 17.700 học sinh từ nông thôn).
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là trọng tâm hàng đầu
của sự nghiệp CNH, HDH đất nớc.
Để góp phần đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, nông thôn, trong hơn 2 năm
qua, cùng với các bộ, các ngành, Bộ công nghiệp đã góp phần đáng kể vào việc đẩy
8
mạnh cơ sở vật chất-kỹ thuật trên cơ sở của những thành tựu của cách mạng khoa
học công nghệ, đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-kỹ thuật và kinh tế-xã
hội cho việc phát triển nông thôn (điện, đờng, trờng, trạm, và các dịch vụ đầu vào
đầu ra), góp phần đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện phân công mới lao động xã hội
trong nông nghiệp trên cơ sở hỗ trợ các ngành, nghề thủ công nghiệp, các làng nghề
truyền thống và dịch vụ (tạo nên thế chân kiềng: nông nghiệp-công nghiệp-dịch vụ
trên địa bàn nông thôn). Tất cả các kết quả đó đã góp phần từng bớc phát triển nền
nông nghiệp sinh thái và tạo nên bộ mặt nông thôn mới theo diện mạo của công
nghiệp và đô thị với mục tiêu đến năm 2020 nơc ta cơ bản trở thành nớc công
nghiệp.
5.2 Giải quyết đầu ra cho nông nghiệp, nông thôn.
Trong quá trình phát triển, ngành công nghiệp đã thu mua đợc rất nhiều sản
phẩm đầu ra cho nông nghiệp nông thôn, giúp cho nông nghiệp, nông thôn mở rộng
đợc sản xuất cũng nh tăng thu nhập cho nông dân, ví dụ:
Ngành dệt-may đã thu mua đợc 29.340 tấn bông hạt, ngoài ra còn có chính sách
hỗ trợ cho nông dân, nh cho vay u đãi để đầu t trồng bông (29 tỷ đồng với lãi suất
5%/năm), ứng trớc toàn bộ giống, phân bón, thuốc trừ sâu cho nông dân trồng bông
không tính lãi (> 10 tỷ đồng/năm), bảo hiểm giá mua ngay từ đầu vụ cho nông dân.
Ngành giấy đã cải tiến, nâng sản lợng sản xuất bột giấy, vợt công suất từ
10-20%, đã tăng lợng tiêu thụ gỗ làm nguyên liệu giấy cho nông dân.
Ngành sữa liên tục tăng lợng sữa mua của nông dân từ 27.510 tấn năm 1997
lên 50.549 tấn năm 2000, tạo điều kiện phát triển đàn trâu bò ở các vùng nông thôn

từ 17.200 con lên 31.000 con giúp nông dân các vùng nuôi trâu bò lấy sữa xoá hẳn
đợc thực trạng nghèo đói.
5.3 Điện khí hoá nông thôn.
Ngành điện đã nhanh chóng , khẩn trơng đa diện tích về nông thôn, giảm
giá thành phục vụ cho nông nghiệp, nông thôn, vùng sâu, vùng xa, tạo tiền đề cho
việc phát triển kinh tế xã hội nông thôn, thực hiện chính sách nông nghiệp-nông
thôn-nông dân của Đảng, góp phần xoá đói giảm nghèo, thực hiện tiến bộ, công
bằng xã hội. Chính phủ đã chỉ đạo các địa phơng và tổng công ty điện lực Việt nam
9
( EVN) thực hiện chính sách nhà nớc và nhân dân, trung ơng và địa phơng cùng
làm. Nhờ sự cố gắng chung và phối hợp có hiệu quả giữa các ngành, các cấp có
liên quan, chơng trình đa điện về nông thôn đã đạt đợc những kết quả tốt. Chỉ riêng
từ năm 1998-2000 EVN đã dành gần 1000 tỷ đồng từ nguồn vốn khấu hao cơ bản và
trên 73 tỷ đồng vay tín dụng để đầu t điện về trung tâm 20 huyện và 555 xã.
Tính đến 31/5/2001, điện lới quốc gia đã đợc đa đến 61 tỉnh,thành phố trên
cả nớc, 100% số huyện đã có điện lới và điện tại chỗ, trong đó 97,2% số huyện có
điện lới quốc gia và 2,8% số huyện có điện tại chỗ nh thuỷ điện nhỏ, diesel, điện
mặt trời, , 83,7% số xã đã có điện (7476/8935 xã) và 74,8% số hộ nông dân có
điện (9.615.300/12.855.200 hộ) để sử dụng cho sản xuất và sinh hoạt (hiện tại số xã,
số hộ nông dân có điện sử dụng ở nớc ta đã cao hơn một số nớc trong khu vực: số xã
có điện ở Indonesial là 82%, Philipines là 77%, ấn Độ là 9%, ). Tuy nhiên tỷ lệ số
xã và số hộ dân nông thôn có điện cha đồng đều giữa các vùng dân c. ở các tỉnh
miền núi, Tây Nguyên, các huyện vùng sâu, vùng xa tỷ lệ này thâp hơn ở các vùng
khác. Trong những năm tới đây với việc triển khai các dự án lớn về điện nông thôn,
ngành điện đang tập trung cho những địa phơng mà tỷ lệ số xã, số hộ dân nông thôn
có điện còn thấp. Ngành điện đã đề ra mục tiêu là đến hết năm 2005 sẽ hoàn thành
việc đa điện về 1459 xã cha có điện còn lại, bảo đảm 100% trung tâm xã có điện lới
hoặc điện tại chỗ (trong đó 1139 xã đa điện lới và 320 xã đợc cấp điện tại chỗ); đạt
tỷ lệ 85% số hộ dân nông thôn có điện (tăng thêm khoảng 1,3 triệu hộ); cải tạo nâng
cao chất lợng lới điện trung-hạ áp các xã đã có điện; đảm bảo giá bán điện đến hộ

nông dân thấp hơn giá trần do chính phủ quy định.
5.4. Các sản phẩm cơ khí- điện phục vụ cho nông nghiệp.
Các công ty máy động lực và máy nông nghiệp, máy và thiết bị công nghiệp
đã đầu t nghiên cứu sản xuất các sản phẩm có tính năng kỹ thuật tốt, đảm bảo độ
bền, tuổi thọ, phù hợp với nông thôn Việt nam và thói quen sử dụng của nông dân
từng miền, tiện ích trong sử dụng và có giá thành rẻ hơn hàng ngoại nhập 20%-30%
đợc nông dân chấp nhận và đánh giá cao. Các tổng công ty nầy đã cung cấp đợc các
sản phẩm chủ yếu sau:
10
TT Tên SP ĐVT Số lợng Ghi chú
1 Động cơ Diesle Chiếc 41.000
2 Máy kéo và xe vận chuyển Chiếc 4.750
3 Máy xay xát Chiếc 44.000
4 Bơm thuốc trừ sâu Chiếc 13.000
5 Rulô xay xát gạo Cặp 310.000
6 Phụ tùng máy nông nghiệp >51 tỷ đồng
7 Dàn cày các loại >4 tỷ đồng
8 Lỡi phay đất các loại >1,5 tỷ đồng
9 Bơm tới tiêu các loại (từ
1.000 m
3
/h đến 8.000 m
3
/h)
33,55 tỷ đồng
10 Động cơ điện các loại Chiếc 71.000 92 tỷ đồng
11 Đồng hồ đo điện Chiếc 1.839.763 194 tỷ đồng
12 Biến dòng hạ thế Chiếc 89.000 6,5 tỷ đồng
13 Dây cáp điện các loại 20 tỷ đồng
14 Khí cụ điện các loại 54 tỷ đồng

15 Biến áp 1 pha, 3 pha #51 tỷ đồng
5.5. Phân bón thuốc trừ sâu phục vụ nông nghiệp.
Trong 2 năm (1999-2000) các loại phân bón nh phân lân, NPK, đạm urê đã
đợc sản xuất và cung cấp cho nông nghiệp đạt 4.831.154 tấn, với tổng giá trị 1.404
tỷ đồng, mặc dù giá đầu vào tăng nhng giá phân bón trong nớc tăng không đáng kể.
Tính đến tháng 6/2001 tổng giá trị phân bón bán trả chậm cho nông dân lên tới 500
tỷ đồng. Sản xuất thuốc trừ sâu đạt 31.204 tấn, đạt giá trị 5.322 triệu đồng. Tiếp tục
hoàn thiện công nghệ sản xuất thuốc bảo vệ thực vật dùng nớc thay cho dung môi
hữu cơ, giảm thiểu ô nhiễm môi trờng. Các loại thuốc trừ sâu bảo vệ thực vật đã đợc
chú ý hơn về chất lợng, mẫu mã và tính năng sử dụng.
Cùng với việc cung cấp các sản phẩm trên cho nông nghiệp, ngành hoá chất
còn chú trọng đến công tác phổ biến, tuyên truyền, tập huấn cho nông dân cách sử
dụng phân bón, tính năng tác dụng của phân bón cho từng loại cây trồng, cách sử
dụng và phòng tránh các tác dụng phụ có hại của thuốc trừ sâu. Ngoài ra các sản
phẩm hoá chất tiêu dùng đã thoả mãn nhu cầu của nông dân nh chất tẩy rửa, săm lốp
ô tô, xe đạp, máy kéo,
5.6. Các đề tài nghiên cứu khoa học đã đợc ứng dụng trong sản xuất nông
nghiệp.
11
Thực hiện chơng trình hành động vì nông nghiệp và phát triển nông thôn,
các viện nghiên cứu thuộc Bộ công nghiệp và cơ sở nghiên cứu giống cây trồng của
các tổng công ty trong toàn ngành đã có các đề tài nghiên cứu thiết thực phục vụ sản
xuất nông nghiệp và chế biến nông sản. Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu
của các viện nghiêncứu về lĩnh vực chế biến và bảo quản sản phẩm nông nghiệp sau
khi thu hoạch.
II. Quy luật phát triển khách quan của công nghiệp-
tiểu thủ công nghiệp.
1. Công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp từ một ngành có vị trí thứ yếu, phát triển
thành một ngành to lớn có vị trí hàng đầu trong cơ cấu kinh tế.
Tính quy luật trên do đặc điểm, đặc điểm là đặc điểm về mặt kỹ thuật sản

xuất của 2 ngành sản xuất công nghiệp và nông nghiệp chi phối. Đặc điểm của sản
xuất nông nghiệp, chủ yếu là đặc điểm công nghệ thể hiện khả năng sinh trởng của
các đối tợng lao động thành sản phẩm, và nông nghiệp chỉ có thể đáp ứng nhu cầu
thiết yếu cơ bản của con ngời. Trong khi đó, do các đặc điểm của bản thân quá trình
sản xuất, công nghiệp ngày càng phát triển tạo ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu có
tính đa dạng, với trình độ thoả mãn nhu cầu của xã hội ngày càng cao hơn; từ thoả
mãn những nhu cầu cơ bản thiết yếu đến thoả mãn nhiều loại nhu cầu có tính cao
cấp, từ đáp ứng nhu cầu cấp 1 đến đáp ứng nhu cầu cấp 2,3,
Tính quy luật đó nảy sinh do sự phát triển nhu cầu của con ngời : Từ chỗ
đảm bảo các nhu cầu cơ bản thiết yếu, khi trình độ kinh tế, xã hội, trình độ văn
minh công nghiệp phát triển, con ngời đòi hỏi nhu cầu toàn diện hơn và ở trình độ
cao hơn.
Nghiên cứu tính quy luật này cho ta thấy, do điều kiện cụ thể và trình độ phát triển ở
mỗi nớc mà mô hình cơ cấu kinh tế có thể khác nhau, song xu thế phát triển chung
của xã hội loài ngời thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi nớc đợc chuyển dịch từ
cơ cấu nông-công nghiêp sang công- nông nghiệp hiện đại.
2. Lịch sử phát triển của công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp tách ra khỏi nông
nghiệp.
12
Xét trong mối quan hệ phân công lao động xã hội giữa hai ngành công
nghiệp và nông nghiệp, thờng trải qua một chu trình bao gồm 3 giai đoạn cơ bản :
sản xuất công nghiệp ra đời trong nông nghiệp-một hoạt động nằm trong nông
nghiệp; tách ra khỏi nông nghiệp thành một ngành độc lập; quay trở lại kết hợp với
nông nghiệp bằng nhiều hình thức tổ chức mối liên hệ sản xuất đa dạng ở trình độ
hoàn thiện và tiên tiến hơn. Hoạt động sản xuất nông nghiệp xuất hiện trong lịch sử
phát triển của loài ngời rất sớm, từ khi loài ngời bắt đầu săn bắt hái lợm, hoạt động
khai thác tài nguyên động thực vật trong tự nhiên tạo nguồn thực phẩm để sinh
sống. Sau đó là các hoạt động sản xuất thủ công nghiệp chế tạo ra những dụng cụ
lao động và các đồ dùng thô sơ phục vụ cho hoạt động hái lợm, săn bắt và sinh hoạt.
Cùng với sự phát triển của lực lợng sản xuất, do yêu cầu thoả mãn nhu cầu của loài

ngời, các hoạt động nông nghiệp phát triển thành loại hình sản xuất công nghiệp
nằm trong công nghiệp. Hình thức sản xuất này có tính tự cung, tự cấp do sử dụng
thời gian nông nhàn để tiến hành sản xuất.
Sự phát triển nền sản xuất xã hội gắn liền với sự phát triển của phân công
lao động xã hội, cuộc phân công lao động lớn lần thứ hai, công nghiệp đã tách ra
hoạt động sản xuất độc lập. Tuy có quá trình hoàn thành phát triển rất sớm, song
công nghiệp cho đến thời kỳ tiền t bản chủ nghĩa về cơ bản vẫn là một nền sản xuất
nhỏ, cá thể của những ngời thợ thủ công tiến hành.
Công nghiệp tách khỏi nông nghiệp thành một ngành sản xuất độc lập. Tuy
vậy, giữa hai ngành này có mối liên hệ sản xuất rất mật thiết với nhau. Do đó, đòi
hỏi công nghiệp phải quay lại kết hợp với nông nghiệp bằng các hình thức tổ chức
mối liên hệ sản xuất với những hình thức đa dạng và ngày càng hoàn thiên nh : tổ
chức và cung ứng nguyên liệu và t liệu lao động cho nhau; các hình thức liên kết
liên doanh, các loại hình xí nghiệp liên kết sản xuất, các công ty, tổng công ty nông-
công nghiệp hoặc công-nông nghiệp
3. Quá trình phát triển công nghiệp từ nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn.
Đây là quá trình phát triển hoàn thiện về tổ chức sản xuất, ứng dụng tiến bộ
khoa học và công nghệ. Quá trình đó trải qua 3 giai đoạn chủ yếu : hiệp tác giản
đơn; công trờng thủ công; công xởng-đại công nghiệp cơ khí.
13
Tính quy luật này của sự phát triển công nghiệp đã đợc Lênin phát hiện và
đợc đề cập trong tác phẩm sự phát triển của chủ nghĩa t bản ở nớc Nga. Các giai
đoạn phát triển trên có nhiều điểm khác nhau, trong đó có 2 điểm nổi bật là sự khác
nhau về mức độ phát triển phân công lao động xã hội và sự hoàn thiện của các công
cụ lao động. So với giai đoạn hiệp tác giản đơn, ở giai đoạn công trờng thủ công, ng-
ời ta vẫn sử dụng công cụ thủ công, nhng do có sự phân công và hiệp tác lao động
nên sức sản xuất giai đoạn này tăng lên nhiều. Trong giai đoạn đại công nghiệp cơ
khí, phân công lao động và công cụ lao động đã có sự thay đổi căn bản : công cụ cơ
khí đợc sử dụng phổ biến, phân công và hiệp tác lao động đợc thực hiện sâu rộng
hơn. chính vì vậy, khả năng sản xuất đợc mở rộng, hiệu quả sản xuất đợc nâng cao.

Sự phát triển công nghiệp có thể diễn ra tuần tự theo các giai đoạn nêu trên,
nhng cũng có thể phát triển nhảy vọt từ trình độ thấp lên trình độ cao, khi nó đợc
bảo đảm những điều kiện phù hợp. Trong thời đại ngày nay, con đờng phát triển
nhảy vọt đợc áp dụng ngày càng phổ biến ở các nớc đang phát triển. Nhờ chính sách
huy động hợp lý các nguồn lực bên trong và sự hỗ trợ có hiệu quả từ bên ngoài,
nhiều nớc đã rút ngắn quá trình xây dựng nền đại công nghiệp, từ một nớc lạc hậu
trở thành nớc có nền công nghiệp phát triển. Các nớc công nghiệp mới (NIC) là
những điển hình về sự phát triển này.
Nghiên cứu tính quy luật này không những có ý nghĩa thực tiễn về tổ chức
sản xuất, ứng dụng máy móc thiết bị mà còn góp phần thúc đẩy việc thực hiện công
cuộc cải tạo quan hệ sản xuất trong công nghiệp.
14
Chơng II
Thực trạng phát triển công nghiệp-tiểu
thủ công nghiệp ở Huyện Thạch Thất-Tỉnh Hà Tây
I. Điều kiện tự nhiên của huyện.
-Vị trí địa lý: Thạch Thất là một vùng bán sơn địa, nằm ở phía tây bắc tỉnh Hà Tây.
Với diện tích tự nhiên 119,5km
2
. Có toạ độ địa lý 20
o
58

23

-21
o
06

10


độ vĩ bắc
105
o
27

54

-105
o
32

22

độ kinh đông. Phía bắc giáp huyện Phúc Thọ; phía nam, đông
giáp huyên Quốc Oai; phía tây giáp huyện Lơng Sơn-Hoà Bình, huyện Ba Vì, thị xã
Sơn Tây.
Trung tâm huyện cách thị xã 13km về phía Tây Bắc, cách thị xã Hà Đông
28km về phía Đông nam, cách thủ đô Hà Nội khoảng 40km về phía Đông, gồm 19
xã và 1 thị trấn. Có đờng quốc lộ 32 chạy qua phía bắc huyện, quốc lộ 21A ở phía
Tây, đờng cao tốc Láng-Hoà Lạc chạy qua ở phía Nam huyện, tỉnh lộ 80, 84 chạy
qua huyện tạo nên mạng lới giao thông khá thuận lợi cho việc phát triển kinh tế-xã
hội.
Địa hình huyện là khu vực chuyển tiếp của vùng núi tỉnh Hoà Bình xuống
đồng bằng sông Hồng. Hình dáng địa hình có xu hớng dốc từ phía Tây-Bắc xuống
Đông-Nam, nghiêng từ Tây sang Đông, đợc chia thành 2 vùng chính:
+ Vùng đồi gò bán sơn địa: Nằm phía hữu ngạn sông Tích thuộc khu vực phía Tây
huyện với diện tích 70,56km
2
chiếm 60,7% diện tích toàn huyện.

+ Vùng đồng bằng: Nằm phía tản ngạn sông Tích thuộc khu vực phía Đông của
huyện, nói chung địa hình tơng đối bằng phẳng, ở phía đông nam có nhiều vùng
trũng.
-Về khí hậu: Thạch Thất thuộc vùng khí hậu miền bắc Việt Nam, khí hậu nhiệt đới
gió mùa, mùa nóng ấm và mùa khô hanh, nhiệt độ trung bình hàng năm 23,8
o
C. Độ
ẩm không khí trung bình từ 80%- 85%.lợng ma trung bình 1753mm, số ngày nắng
trong năm khoảng 270 ngày. Hớng gió chủ yếu là tây- bắc, đông- nam, ngoài ra còn
chịu ảnh hởng của gió Lào khoảng từ tháng 5 đến tháng 7. Với đặc điểm khí hậu
15
nêu trên là điều kiện thận lợi để nuôi trồng các loại cây, con vùng nhiệt đới, nhng
cũng có hạn chế là mùa ma thờng ngập úng, mùa khô hanh thờng bị hạn đặc biệt là
vùng đồi gò, còn gần 800 ha thờng bị hạn do cha có công trình tới nớc.
-Về tài nguyên:
+ diện tích đất tự nhiên của Huyện Thạch Thất 11948,84 ha trong đó đã khai thác
đa vào sử dụng 10775,45 ha chiếm 90,18% quĩ đất, chử dụng 1173,39 ha bằng
9,82%.
+ Theo hệ thống phân loại đất Việt Nam vể thổ nhỡng đất đai của huyện đợc chia
làm 4 nhóm chính.
- Nhóm đất phù sa: với diện tích 7.979 ha bằng 90,31%.
- Nhóm Feralit: với diện tích 138 ha chiếm 1,56%.
- Nhóm dốc tụ: diện tích 407 ha bằng 4,61%.
- Nhóm đất vàng đỏ trên đồi cao diện tích 311 ha bằng 3,52%.
Nhìn chung đất đai ở các vùng đồng bằng có độ phì nhiêu cao, với nhiều
loại địa hình nên có thể bố trí nhiều loại cây trồng.
+ Tổng quỹ đất của huyện phân bố không đều, các xã vùng đồi gò bán sơn địa dân
c tha, diện tích lớn, các xã vùng đồng bằng dân c đông đúc, diện tích nhỏ. Bình
quân diện tích đất tự nhiên trên đầu ngời khoảng 0,09 ha. Đất nông nghiệp chiếm
65%, bình quân khẩu nông nghiệp 562m

2
/ngời. Đất lâm nghiệp có khoảng 905,06
ha thuộc loại rừng trồng. Đất chuyên dùng 2.070,81 ha chiếm 17,33% diện tích đất
tự nhiên.
+ Tài nguyên nớc: Nớc mặt chủ yếu ở các sông, suối trong nội huyện cung cấp và
sự điều tiết ở nơi khác đến bằng các hệ thống công trình thủy lợi nh trạm bơm tới
phù sa và hồ Đồng mô.
Nớc ngầm ở vùng đồng bằng tơng đối dồi dào và ở mức nông, vùng đồi gò cha có
tài liệu khoan địa chất nhng với giếng đào của dân khoảng 6-10m đã có nớc.
+ Khoáng sản: Từ trớc đến nay cha có tài liệu nghiên cứu, đánh giá đầy đủ nguồn
khoáng sản trên địa bàn 20 xã của huyện, chỉ có phát hiện ra đất sét ở Minh Nghĩa,
Đại Đồng vào năm 1971 do đoàn địa chất 307 lập năm 1982.
16

×