Tải bản đầy đủ (.pdf) (40 trang)

Nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (582.76 KB, 40 trang )



TRƯ
ỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
KHOA NGÂN HÀNG


ĐỀ TÀI:

TP.HCM, tháng 01/2014
NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM
GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương
Nhóm 5 – NH Đêm 1

Đặng Thị Ngọc Diễm
Nguyễn Hoàng Nam
Ngô Thị Hồng Nga
Lê Hoài Khánh Vi
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 2


LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời gian vừa qua, hoạt động của hệ thống ngân hàng
thương mại Việt Nam đã và đang trải qua nhiều khó khăn và thách thức.


Sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã kéo theo nhiều hệ lụy và gây ra
không ít những hậu quả nghiêm trọng. Vấn đề nóng bỏng hiện nay là xử
lý nợ xấu – cơn ác mộng kéo dài vẫn chưa tìm được hồi kết. Nợ xấu
không những làm tắc nghẽn dòng tín dụng trong nền kinh tế mà còn ảnh
hưởng không nhỏ đến uy tín, chất lượng cũng như hiệu quả hoạt động
kinh doanh của ngân hàng thương mại. Do vậy, xử lý nợ xấu là bước đi
quan trọng trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng.
Chính vì lý do đó, nhóm chúng tôi đã chọn đề tài : “NỢ XẤU
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM” để lý giải, minh
chứng cũng như đế xuất những giải pháp nhằm hạn chế, khắc phục tình
trạng nợ xấu.
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 3

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỢ XẤU
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm nợ xấu
Tín dụng là một hoạt động luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, hoạt động tín dụng
còn được xem như một nghiệp vụ quản trị rủi ro để sinh lợi trong kinh doanh ngân
hàng. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng nhưng tập trung lại rủi ro tín
dụng có thể được hiểu là việc ngân hàng không thể thu hồi được toàn bộ gốc và lãi
khi khoản vay đến hạn. Và khi một khoản vay không thể thu hồi hay có nguy cơ
không thể thu hồi nợ gốc và lãi thì người ta gọi đây là một khoản nợ xấu.
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về nợ xấu, sau đây là một số quan
điểm về nợ xấu đang được áp dụng trên thế giới và Việt Nam:
Theo quốc tế:
Theo một số tiêu chí của NHTW Liên minh châu Âu: Nợ xấu trong hoạt
động kinh doanh của NHTM không chỉ có những khoản vay quá hạn thông thường
không có khả năng thu hồi theo hợp đồng mà còn có các khoản nợ chưa quá hạn

nhưng tiềm ẩn các rủi ro dẫn đến việc có thể không thanh toán đầy đủ gốc và lãi
cho ngân hàng.
Theo quan điểm của Phòng thóng kê – liên hiệp quốc: Về cơ bản một khoản
nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản
lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo
thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn 90 ngày nhưng có lý do
chắc chắn để nghi ngờ về khả năng sẽ được thanh toán đầy đủ.
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế - IAS: nợ xấu là những khoản nợ quá hạn
trên 90 ngày và/hoặc khả năng trả nợ nghi ngờ.
Ngoài ra còn có một định nghĩ về nợ xấu theo chuẩn mực báo cáo tài
chính quốc tế (IFRS) và IAS 39 vừa được chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS)
công bố tháng 12 năm 1999 và sau 2 lần chỉnh sửa (lần 1 vào tháng 12 năm 2000,
lần 2 vào tháng 12 năm 2003) và được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát
triển vào đầu năm 2005. Về cơ bản IAS 39 chỉ chú trọng đến khả năng hoàn trả
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 4

của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá
hạn.Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương
pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay (xếp hạng khách
hàng).Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết nhưng việc áp dụng
thực tế gặp nhiều khó khăn.Vì vậy, nó đang được ủy ban kế toán quốc tế tiếp tục
nghiên cứu để hoàn chỉnh.
Một định nghĩa khác của từ điển tài chính Farlex: “Nợ xấu là một khoản
nợ từ việc tín dụng bán hàng mà chủ nợ không có khả năng thu hồi. Chủ nợ đã tiến
hành tất cả mọi nỗ lực có thể để thu hồi nợ nhưng không thành công. Thông
thường, nợ xấu xuất hiện khi con nợ tuyên bố phá sản hay chủ nợ thực hiện nhiều
hoạt động thu nợ mà chi phí của chúng là tương đối so với khoản nợ. Một doanh
nghiệp xóa sổ và kê khai nợ xấu như một chi phí làm giảm thu nhập chịu thuế của

họ. Hầu hết các doanh nghiệp đều chấp nhận nợ xấu ở một tỉ lệ nhất định (được
xác định bằng số liệu nợ xấu ở kì trước) vì chắc chắn không thể thu hồi được tất cả
các khoản nợ một cách đầy đủ nhất.”
Ở Việt Nam:
Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị
nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường
xảy ra khi các con nợ đã tuyên bốphá sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Nợ xấu gồm gồm
các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên thường quá ba tháng căn cứ vào khả
năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp.
Các dấu hiệu của những khoản nợ xấu
Thực tế cho thấy việc thất bại trong hoạt động kinh doanh thường được
biểu hiện qua một vài dấu hiệu báo động. Có những dấu hiệu mờ nhạt, có những
dấu hiệu biểu hiện rất rõ ràng. Ngân hàng cần có cách nhận ra những dấu hiệu ban
đầu của khoản vay có vấn đề và có những hành động cần thiết để ngăn ngừa và xử
lí chúng. Các dấu hiệu của khoản tín dụng có vấn đề có thể được chia thành các
nhóm sau:
Nhóm 1: Nhóm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng:
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 5

Trong quá trình hạch toán của khách hàng, xu hướng của các tài khoản của
khách hàng qua một quá trình để cung cấp cho ngân hàng một số dấu hiệu quan
trọng gồm:
- Phát hành séc quá bảo chứng hoặc bị từ chối.
- Khó khăn trong thanh toán lương.
- Sự giảm sút số dư tài khoản tiền gửi.
- Tăng mức sử dụng bình quân trong các tài khoản.
- Thường xuyên yêu cầu hỗ trợ nguồn vốn lưu động có khả năng thanh
toán nợ khi đến hạn.

- Không có khả năng thực hiện các hoạt động cắt giảm chi phí.
- Gia tăng các khoản nợ thương mại hoặc không có khả năng thanh toán
nợ khi đến hạn.
Các hoạt động cho vay:
- Mức độ vay thường xuyên gia tăng.
- Thanh toán chậm các khoản nợ gốc và lãi.
- Yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến,…
Phương thức tài chính:
- Sử dụng nhiều các khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động phát triển
dài hạn.
- Chấp nhận sử dụng các nguồn tài trợ đắt nhất (ví dụ: thường xuyên sử
dụng nghiệp vụ factoring…)
- Giảm các khoản phải trả và tăng các khoản phải thu.
- Các hệ số thanh toán phát triển theo chiều hướng xấu …
Nhóm 2: Nhóm các dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lí của
khách hàng:
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 6

Thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản trị hoặc ban điều hành.
Hệ thống điều hành luôn bất đồng vì mục đích, quản trị, điều hành độc đoán hoặc
quá phân tán.Cách thức hoạch định của khách hàng có biểu hiện:
- Được hoạch định bởi HĐQT hoặc giám đốc điều hành ít hay không có
kinh nghiệm
- Thiếu quan tâm đến lợi ích của cổ đông, chủ nợ.
- Thuyên chuyển nhân viên diễn ra thường xuyên.
Có các chi phí quản lí bất hợp lí: tập trung quá mức chi phí để gây ấn tượng
như thiết bị văn phòng rất hiện đại, phương tiện giao thông đắt tiền, ban giám đốc
có cuộc sống xa hoa, lẫn lộn giữa chi phí kinh doanh và chi phí cá nhân.

Nhóm 3: Nhóm các dấu hiệu thuộc vấn đề kỹ thuật và thương mại biểu
hiện:
Khó khăn trong việc phát triển sản phẩm.
- Thay đổi trên thị trường: tỷ giá, lãi suất, mất nhà cung ứng hoặc khách
hàng lớn, thêm đối thủ cạnh tranh, thay đổi thị hiếu…
- Những thay đổi từ chính sách của nhà nước như: chính sách thuế, điều
kiện thành lập và hoạt động…
- Sản phẩm của khách hàng mang tính thời vụ cao.
- Có biểu hiện cắt giảm các chi phí sữa chữa, thay thế.
Nhóm 4: Nhóm các dấu hiệu về xử lí thông tin tài chính kế toán:
Chuẩn bị không đầy đủ số liệu tài chính hoặc chậm trễ, trì hoãn các báo cáo
tài chính.
Những kết luận về phân tích tài chính cho thấy:
- Sự gia tăng không cân đối về tỷ lệ nợ thường xuyên.
- Tăng doanh số nhưng giảm lãi hoặc không có lãi.
- Các tài khoản hạch toán vốn điều lệ không khớp.
- Lượng hàng hóa tăng nhanh hơn doanh số bán …
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 7

Những dấu hiệu phi tài chính khác: là dấu hiệu mà mắt thường cán bộ tín
dụng có thể nhận biết dược như:
- Những vấn đề về đạo đức, thậm chí dáng vẻ nhà kinh doanh cũng biểu
hiện những điều đó.
- Sự xuống cấp trông thấy của nơi kinh doanh.
- Nơi lưu trữ hàng hóa quá nhiều, hư hỏng, lạc hậu…
1.2 Phân loại nợ xấu
Bản chất nợ xấu:
- Bản chất của nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không

thể thu hồi lại được và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ.
Đối với các ngân hàng, nợ xấu tức là các khoản tiền cho khách hàng vay, thường
là các doanh nghiệp, mà không thể thu hồi lại được do doanh nghiệp đó làm ăn
thua lỗ hoặc phá sản, Nhìn chung, một doanh nghiệp luôn phải ước tính trước
những khoản nợ xấu trong chu kỳ kinh doanh hiện tại dựa vào những số liệu nợ
xấu ở kì trước.
- Nợ xấu là một số tiền được viết bởi các doanh nghiệp như là một tổn thất
cho doanh nghiệp và được phân loại như là một khoản chi phí vì nợ cho doanh
nghiệp là không thể được thu thập, và tất cả những nỗ lực hợp lý đã được tận dụng
để thu thập các số tiền nợ. Điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá
sản hoặc chi phí của việc theo đuổi hành động hơn nữa trong một nỗ lực để thu
thập các khoản nợ vượt quá các khoản nợ của chính nó.
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN được ban hành ngày
22/4/2005, nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5. Đến ngày
21/1/2013, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 02. Thông tư này đã sửa đổi,
bổ sung cho Quyết định 493 về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng
để xử lý rủi ro tín dụng. Theo đó, việc phân loại nợ để trích lập dự phòng cụ thể
được quy định lại theo hướng siết chặt hơn so với Quyết định 493. Cụ thể là các
khoản nợ được xếp vào loại nợ xấu bao gồm những khoản nợ từ Nhóm 2 đến
Nhóm 5 và một phần nợ nhóm 1.
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 8

Thông tư 02 sẽ được áp dụng từ ngày 1/6/2013.Nhưng vào ngày 27/5/2013
thống đốc NHNN đã ban hành Thông tư số 12/2013/TT-NHNN sửa đổi một số
điều trong Thông tư 02.Theo đó, ngày áp dụng Thông tư 02/2013/TT-NHNN sẽ
được gia hạn thêm 1 năm và bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/6/2014.Vì
vậy chuyên đề này được nghiên cứu dựa trên Quyết định 493.
Các nhóm nợ thuộc khoản nợ xấu:

 Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày;
Các khoản nợ này được đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi
khi đến hạn, có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.
 Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày; Các
khoản nợ này được đánh giá là có khả năng tổn thất cao
 Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
Các khoản nợ này được đánh giá là không có khả năng thu hồi, nguy cơ mất
vốn

NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 9

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH
NỢ XẤUCỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM
2.1 Khái quát tình hình nợ xấu ở Việt Nam hiện nay:
Việt Nam là một trong những nước tốc độ tăng trưởng huy động và cho vay
cao nhất trong khu vực, trong đó, hệ thống ngân hàng đóng vai trò chủ lực với thị
phần tín dụng chiếm tới xấp xỉ 95% của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng
(TCTD). Trong các giai đoạn phát triển của nền kinh tế khi mà bối cảnh thị trường
vốn còn chưa phát triển, tín dụng ngân hàng (TDNH) luôn đóng vai trò là kênh
dẫn vốn chủ đạo trên thị trường tài chính, bảo đảm đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu
tư, phát triển sản xuất kinh doanh và góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế.TDNH đã tăng trưởng bình quân trên 30%/năm trong giai đoạn 2001-2010,
tỷ lệ tín dụng/GDP đã tăng từ 40,1% vào năm 2000 lên tới 125% vào năm 2010.
Bên cạnh sự tăng trưởng mạnh mẽ với những đóng góp tích cực cho nền
kinh tế trong thời gian vừa qua, hoạt động TDNH cũng còn rất nhiều vấn đề tồn
đọng mà nổi bật và luôn được quan tâm nhiều là vấn đề nợ xấu.
Nợ xấu là sự tồn tại tất yếu trong hoạt động của hệ thống ngân hàng. Sự tồn
tại của nợ xấu chỉ thực sự nguy hiểm khi nó vọt lên ngưỡng cao, tình hình tài

chính hiện tại của các chủ thể trong nền kinh tế có thể đẩy nợ xấu lên mức nguy
hiểm trong tương lai. Với Việt Nam, tình hình nợ xấu chưa tới mức báo động song
rất cần xử lý quyết liệt để không gây hậu quả nghiêm trọng.
 Nợ xấu NHTM VN từ 2008-2012
Đơn vị: tỷ đồng






NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 10



Nguồn: www.Cafef.vn
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, từ năm 2008 đến nay, nợ xấu của
các tổ chức tín dụng tại Việt Nam có xu hướng tăng nhanh. Trung bình giai đoạn
2008 - 2011, dư nợ bình quân nợ xấu khá cao, khoảng 51%. Theo báo cáo của các
ngân hàng thương mại, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành tại thời điểm 30-11-2012 là 3,43%,

2008 2009 2010 2011 2012
Tổng nợ xấu 26970 35875 49064 87967 185205
Tổng dư nợ
1242857 1630682 2292720 2665670 3086750
Tỷ lệ nợ xấu/ Tổng
dư nợ %


2.17 2.22 2.14 3.3 6
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 11

song theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước trước Quốc hội, nợ xấu tại thời điểm
thanh tra của Ngân hàng Nhà nước là 8,82% tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế,
khoảng 250.000 tỷ đồng (khoảng 12 tỷ USD), tương đương 10% GDP.
Ngoài ra, con số nợ xấu này chưa tính đến nợ tồn đọng xây dựng cơ bản
(chủ yếu của các địa phương), hiện đang dự tính khoảng 90.000 tỷ đồng. Theo các
chuyên gia kinh tế, nợ xấu tập trung chủ yếu vào lĩnh vực bất động sản và chứng
khoán; trong đó nợ xấu tại khu vực doanh nghiệp nhà nước rất lớn. Những số liệu
của một số nhà nghiên cứu cho thấy, khu vực doanh nghiệp nhà nước hiện đóng
góp vào 70% nợ xấu của toàn hệ thống, trong đó các tập đoàn kinh tế, tổng công ty
chiếm 53% số nợ xấu. Xu hướng gia tăng nợ của các doanh nghiệp sẽ góp phần
làm cho tình hình nợ xấu của các tổ chức tín dụng ngày càng nghiêm trọng hơn.
Nợ xấu theo nhóm ngành nghề của các tổ chức tín dụng cũng tăng, trong đó
có 6 ngành kinh tế chiếm tỷ lệ nợ xấu cao nhất, là: công nghiệp chế biến, chế tạo
chiếm 22,5% tổng nợ xấu toàn hệ thống; hoạt động kinh doanh bất động sản và
dịch vụ là 7,83% và 19,25%; buôn bán, sửa chữa, ô tô, xe máy 18,52%; vận tải,
kho bãi chiếm 11% và xây dựng là 9,5%. Việc gia tăng nợ xấu nhóm thương mại
và dịch vụ, trong đó có ngành vận tải biển, cho thấy khó khăn của thị trường tiêu
thụ hàng hóa và dịch vụ trong nước và quốc tế đã tác động mạnh đến ngành này.
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 12

2.1.1 Tình hình nợ xấu của hệ thống NHTM trong giai đoạn 2008-2010
Chất lượng tài sản có của NHTM Việt Nam hiện nay đang thay đổi theo
chiều hướng tốt, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của những ngân hàng chiếm thị phần

lớn ở Việt Nam đều nằm trong giới hạn an toàn cho phép, trong đó tỷ lệ nợ xấu
của các NHTMCP có dấu hiệu được kiểm soát tốt hơn các NHTMQD.
Biểu đồ: Tỷ lệ nợ xấu tại một số NHTM Việt Nam có niêm yết từ 2008-
2010

Nguồn: Thư viện quốc gia Việt Nam (nlv.gov.vn)
Theo báo cáo tổng kết ngành của NHNN, năm 2008 tỷ lệ nợ xấu của toàn
hệ thống tăng lên đến 2,1% nhưng vẫn còn thấp hơn mức cho phép theo tiêu chuẩn
quốc tế 5%, trong khi tỷ lệ nợ xấu của Trung Quốc năm 2007 đang ở mức 6,17%,
đây là một dấu hiệu rất khả quan. Đến cuối năm 2009 tỷ lệ nợ xấu là 2,6% và 2010
khoảng 3% tổng dư nợ tín dụng nên vẫn nằm trong tỷ lệ an toàn cho phép của
NHNN
Tốc độ “tăng trưởng” của nợ xấu hàng năm, hiện đã được được tính theo
cấp số hàng chục %.
Tính đến cuối năm 2008, nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam ở
khoảng 43.500 tỷ đồng, chiếm 3,5% tổng dư nợ tín dụng Đây là số liệu có từ hội
nghị toàn ngành ngân hàng tổ chức tại Hà Nội 30/12/2008
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 13

Ngân hàng Nhà nước cho biết, về số nợ xấu nói trên, cơ bản đã được các
ngân hàng trích lập đủ dự phòng rủi ro.
Liên quan đến tình hình hoạt động của các ngân hàng thương mại, cũng
theo thông tin từ hội nghị trên, trong năm 2008 không có ngân hàng nào rơi vào
thua lỗ; một số chỉ số chính cho thấy hệ thống vẫn an toàn và đạt kết quả khả quan
trong năm 2008
Trong năm 2008, theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, vốn tín dụng đầu
tư vào khu vực dân doanh tăng khoảng 35% - 37%, lĩnh vực xuất khẩu có mức
tăng tương ứng, khu vực sản xuất tăng 34% - 36%, khu vực nông nghiệp và nông

thôn tăng 30%, cho vay hộ nghèo và đối tượng chính sách khác tăng 40% - 42%;
riêng khu vực doanh nghiệp nhà nước có mức tăng thấp nhất, chỉ tăng 12% - 14%.
Đến cuối năm 2008, vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống đã tăng 30% so với
cuối năm 2007; tỷ lệ an toàn vốn tăng từ 8,9% lên 9,7%; vốn đảm bảo thanh toán
thường xuyên lớn hơn mức phải dự trữ bắt buộc; tỷ lệ khả năng chi trả ngắn hạn
lớn hơn 100%; khả năng sinh lời tiếp tục được cải thiện do tốc độ tăng tổng tài sản
có và vốn chủ sở hữu thấp hơn tốc độ tăng chênh lệch thu – chi.
Trong năm 2009, yêu cầu mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra là tiếp tục kiểm
soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, thực hiện tăng trưởng tín dụng phù hợp với mức
độ kiểm soát lạm phát.
Các ngân hàng thương mại sẽ thực hiện chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo
hướng tập trung nguồn vốn cho các dự án có hiệu quả thuộc lĩnh vực sản xuất,
xuất khẩu, phát triển nông nghiệp, nông thôn, mở rộng cho vay các doanh nghiệp
nhỏ và vừa.
Theo báo cáo của NHNN, nợ xấu toàn hệ thống tính đến ngày 31/12/2007
là 16.000 tỷ đồng, chiếm 1,55% tổng dư nợ nền kinh tế, đến 31/12/2008 là 27.610
tỷ đồng, chiếm 2,17% tổng dư nợ nền kinh tế và đến 31/12/2009 là 35.522 tỷ đồng
chiếm 2,05% tổng dư nợ nền kinh tế.
Nguyên nhân là do tăng trưởng huy động vốn thấp hơn tăng trưởng tín dụng
nên tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu đã thấp hơn mức quy định của NHNN; nhiều ngân
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 14

hàng đã không đảm bảo khả năng chi trả, phải xin tái cấp vốn của NHNN và vay
các tổ chức tín dụng trên thị trường liên ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu để bù
đắp thiếu hụt thanh khoản.
Hiệu quả kinh doanh ở những đơn vị này đạt thấp, chất lượng tín dụng năm
2009 sụt giảm so với năm 2008. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thông
(Agribank) tỷ lệ nợ xấu năm 2008 là 2,7% năm 2009 tăng lên 3,97%).

2.1.2. Tình hình nợ xấu của hệ thống NHTM trong giai đoạn 2010-2011
Theo thống kê của Ngân Hàng Nhà nước, cuối năm 2010, tỷ lệ nợ xấu trên
tổng dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng là 2,5%, chưa bao gồm dư nợ của hệ
thống ngân hàng đối với Tập Đoàn Công Nghiệp và Tàu Thủy Việt Nam
(Vinashin). Nếu tính thêm cả dư nợ đối với Vinashin thì tỷ lệ nợ xấu cuối năm
2010 sẽ là 3,2% tổng dư nợ cho vay. Trong đó nợ xấu từ phía các doanh nghiệp
quốc doanh chiếm đến 60% tổng số nợ xấu. Đến cuối năm 2011, tỷ lệ nợ xấu trên
tổng dư nợ lại tiếp tục tăng lên đến mức 3,3%. Hầu hết các ngân hàng niêm yết
đều có tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh so với năm 2010. Cụ thể là tính đến 30/9/2011, tổng
nợ xấu của 8 NHTM niêm yết là 15.018 tỷ đồng, trong đó nợ có khả năng mất vốn
(nợ nhóm 5) chiếm 55,22% tương ứng với số tiền cụ thể là 8.293 tỷ đồng. Tình
hình gia tăng tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của 8 ngân hàng niêm yết được thể hiện
qua biểu đồ sau:
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 15


Hình 1: Biểu đồ tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của các NHTM tại 30/09/2011
(Nguồn: Theo CafeF/TTVN/BCTC các NHTM)
CTG: Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
VCB: Ngân Hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
STB: Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
EIB: Ngân Hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
ACB: Ngân Hàng TMCP Á Châu
SHB: Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội
HBB: Ngân Hàng TMCP Nhà Hà Nội
NVB: Ngân Hàng TMCP Nam Việt

NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương


NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 16

Biểu đồ trên cho thấy tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng nêu trên đều tăng
trong giai đoạn 2010-2011. Trong năm 2011, phần lớn các ngân hàng trên có tỷ lệ
nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) chiếm tỷ trọng cao nhất trong 3 nhóm nợ
thuộc nợ xấu. Cũng trong năm 2011, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của Ngân Hàng
TMCP Ngoại Thương Việt Nam (VCB) là cao nhất (3,4%), cao hơn cả tỷ lệ nợ
xấu bình quân của cả hệ thống ngân hàng (3,3%) ở cùng thời điểm. Bên cạnh đó,
Ngân Hàng TMCP Nhà Hà Nội, Ngân Hàng TMCP Nam Việt cũng có tỷ lệ nợ xấu
trên tổng dư nợ khá cao (2,8%). Bên cạnh những ngân hàng đang lo ngại về tỷ lệ
nợ xấu khá cao, thì cũng có những ngân hàng với tỷ lệ nợ xấu thấp như Ngân
Hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (0,6%). Dù tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng năm
2011 không đồng đều nhau, nhưng nhìn chung các tỷ lệ nợ xấu đều tăng so với
năm 2010.
2.1.3. Tình hình nợ xấu của hệ thống NHTM trong giai đoạn 2011-2013
Ngân hàng Nhà nước cho biết, đến thời điểm cuối tháng 10, nợ xấu của
toàn hệ thống chiếm khoảng 8,8 - 10% trên tổng dư nợ và tốc độ tăng nợ xấu đã
chậm lại kể từ sau tháng 6. Còn theo báo cáo tài chính của các ngân hàng thương
mại, tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng đều tăng trong 9 tháng qua. Nợ xấu đặc biệt
tăng mạnh tại các ngân hàng như Vietcombank tăng 1,21%, ACB tăng 1,2%,
Sacombank tăng 0,83%, BaoVietBank tăng 1,57%, NaviBank tăng 1,05%. Tuy
nhiên, một số ngân hàng vẫn giữ được tốc độ nợ xấu tăng không quá mạnh, như ở
Techcombank chỉ tăng 0,12%, KienLongBank 0,01%. Riêng ngân hàng PGBank
giảm được nợ xấu từ 3,06% (cuối năm 2011) xuống còn 2,96%. Cụ thể, tỷ lệ nợ
xấu 9 tháng đầu năm của một số các NHTM được thể hiện qua biểu đồ sau:

NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 17


(Nguồn: BCTC/CafeF)
Hình 2: Biểu đồ tỷ lệ nợ xấu của một số ngân hàng qua 9 tháng đầu năm 2012
Đáng lưu ý trong bức tranh nợ xấu của các ngân hàng thời gian qua là nhóm
nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5) mà ngân hàng phải trích dự phòng rủi ro
100%. Theo báo cáo tài chính, hiện nay tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn trên dư nợ
cho vay khách hàng của BaoVietBank đang ở mức cao nhất với 2,93%, tiếp đến là
của LienVietPostBank với 1,46%; của Vietcombank là 1,42%; của BIDV là
1,22%; của MB là 1,07%; của KienLongBank là 1,36%. Nợ có khả năng mất vốn
của các ngân hàng khác trong khi đó cũng xấp xỉ mức 1% như Vietinbank là
0,86%; của Techcombank 0,99%; của ACB là 0,81%; PGBank 0,83%







NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 18

(Nguồn: BCTC/CafeF)
Hình 3: Biểu đồ tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn trên tổng dư nợ cho vay khách hàng
tại thời điểm 30/9/2012
Về con số cụ thể, ngân hàng BIDV có khoản nợ có khả năng mất vốn cao
nhất, lên tới 3.984,4 tỷ đồng tại thời điểm cuối tháng 9/2012; của Vietcombank
cũng hơn 3.200 tỷ đồng; của Vietinbank là 2.578 tỷ đồng. Ngân hàng ACB hiện có
829,1 tỷ đồng nợ có khả năng mất vốn; MB có 629,4 tỷđồng; Techcombank là
610,8 tỷđồng So với thời điểm cuối năm 2011, nợ có khả năng mất vốn của các

ngân hàng đặc biệt tăng rất mạnh, ngoại trừ KienLongBank giảm gần 4%. Có thể
kể đến một số cái tên như LienVietPostBank tăng đến 53 lần so với cuối 2011 (từ
4,48 tỷđồng lên 243,8 tỷđồng); của BaoVietBank tăng hơn 6 lần từ 23,5 tỷđồng
lên hơn 170 tỷđồng. Một số khác cũng có mức tăng nợ nhóm 5 khá mạnh như tại
Techcombank là 1,7 lần; của ACB gần 1,8 lần; Sacombank hơn 1,5 lần,
Vietinbank 1,82 lần Ngân hàng Vietcombank tăng nợ nhóm 5 thêm 41%; của MB
tăng 33,5%; của Navibank tăng 79%.
Qua đó cho thấy tốc độ nợ xấu vẫn tăng chóng mặt so với các năm trước,
khi năm 2008 tỷ lệ nợ xấu chỉ là 2,17%; năm 2009 là 2,2%; 2010 là 2,14% và
2011 là 3,3% trên tổng dư nợ thì đến năm 2012 tỷ lệ này đã tăng gần gấp đôi và
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 19

hiện đạt mức 6% (theo công bố của Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình tại thời
điểm đầu năm 2013).
Trong đó, tồn tại những ngân hàng có nợ xấu rất cao, điển hình như
Agribank với nợ xấu chiếm 5,8% trên tổng dư nợ và con số tuyệt đối là 27.803 tỷ
đồng. Nợ xấu của Agribank cũng tương đương với tổng nợ xấu của Vietcombank,
BIDV, Vietinbank, SHB và ACB cộng lại. Ngân hàng SHB năm 2012 có tỷ lệ nợ
xấu cũng rất cao, tới 8,53% tương đương 4.844 tỷ đồng do ngân hàng này phải
gánh thêm nợ xấu sau khi hợp nhất với Habubank.
Theo ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 9.2013, tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ
thống chiếm 4,62% trên tổng dư nợ, giảm so với mức 8% của cuối năm 2012.
Hiện tại, công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đã
tích cực mua nợ xấu, tính đến ngày 20.11 VAMC đã mua 17.700 tỉ đồng nợ xấu
của các ngân hàng
Tính đến thời điểm hiện tại hầu hết các ngân hàng thương mại đã công bố
báo cáo tài chính quý 3/2013. Mặc dù theo báo cáo đa số các ngân hàng đều có lãi
tuy nhiên nợ xấu ở nhiều ngân hàng cũng tăng đáng kể, chất lượng nợ xấu đi.

Ngân hàng TMCP Xăng Dầu (PG Bank) đang là ngân hàng dẫn đầu về tỷ
lệ nợ xấu, tính đến hết tháng 9.2013, PGBank có 1.240 tỉ đồng nợ xấu chiếm 9,5%
trên tổng dư nợ 13.057 tỉ đồng.
Ngân hàng TMCP Nam Việt (Navibank) xếp thứ hai về tỷ lệ nợ xấu khi có
1.034 tỉ đồng nợ xấu, chiếm 8,87% dư nợ. Navibank có tổng dư nợ cho vay chín
tháng đầu năm đạt 11.786 tỉ đồng, âm 9% so với đầu năm.
Ngân hàng Phương Nam có tỷ lệ nợ xấu 3,79% (1.650 tỉ đồng) trên tổng
dư nợ 43.539 tỉ đồng. So với đầu năm, số tuyệt đối thì nợ xấu của ngân hàng này
đã tăng 474 tỉ đồng. Đặc biệt, nợ có khả năng mất vốn tăng 25% lên 999 tỉ đồng.
Ngân hàng TMCP Đại Dương (Ocean Bank) là trường hợp ngân hàng có
mức độ tăng nợ xấu thuộc loại nhanh nhất trong các ngân hàng. Thời điểm đầu
năm chỉ có 666 tỉ đồng nợ xấu, chiếm 2,26% trên tổng dư nợ. Tuy nhiên đến 30.9
nợ xấu của Ocean Bank đã tăng lên 1.458 tỉ đồng, chiếm 5,21% trên tổng dư nợ
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 20

cho vay 27.948 tỉ đồng. Trong cơ cấu nợ xấu, nợ có khả năng mất vốn chiếm đến
986 tỉ đồng, tương đương 67,7% tổng nợ xấu và gấp hơn hai lần so với con số 355
tỉ đồng nợ có khả năng mất vốn hồi cuối năm 2013.
Trong các ngân hàng có mức vốn hoá nhỏ thì ngân hàng TMCP Nam Á
(Nam A Bank) có tỷ lệ nợ xấu khá thấp 2,17% trên tổng dư nợ. Nam A Bank đã
kiểm soát khá tốt chất lượng tín dụng của mình khi chỉ có 188,5 tỉ đồng nợ xấu
trên 8.664 tỉ đồng dư nợ cho vay. So với cuối năm 2012 thì tỷ lệ nợ xấu của Nam
A Bank đã giảm 0,30%.
Thời điểm đầu năm 2013, tỷ lệ nợ xấu của Dong A Bank chiếm 3,95% với
gần 2.000 tỉ đồng, nhưng nhờ triển khai các biện pháp xử lý mạnh đã kéo nợ xấu
giảm xuống còn 1.503 tỉ đồng, chiếm 2,93% trên tổng dư nợ.
Nợ xấu của các ngân hàng “top dưới” kể trên có trường hợp tăng hoặc
giảm, thì đối với các ngân hàng được cho là “top trên” nợ xấu hầu hết đều tăng,

đặc biệt là nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5).
Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) có tổng cộng 5.072 tỉ đồng nợ
xấu, chiếm 7,74% trên tổng dư nợ. Tỷ lệ nợ xấu giảm so với 8,5% ở thời điểm
cuối năm 2012, nhưng chất lượng nợ lại kém đi khi có 3.602 tỉ đồng nợ nhóm 5,
tăng 74% so với năm 2012 và chiếm 71% trong tổng nợ xấu.
Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) cũng có tỷ lệ nợ xấu vượt chuẩn (3%)
khi có 3.491 tỉ đồng nợ xấu, chiếm 3,34% tổng dư nợ, tăng 0,84% so với đầu năm.
Hai ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu nằm trong ngưỡng an toàn là VietinBank
2,47%, Sacombank 2,25%. Tuy nhiên, nợ có khả năng mất vốn của hai ngân hàng
này lại chiếm tỷ trọng cao. VietinBank có 5.431 tỉ đồng nợ nhóm 5, chiếm 63,7%
của tổng nợ xấu. Sacombank có 1.289 tỉ đồng nợ nhóm 5, chiếm 52,4% tổng nợ
xấu.
Một số ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu ngấp nghé ngưỡng 3% là Vietcombank
2,98%, KienLong Bank 2,73%, MB Bank 2,58%. Nợ xấu ở BIDV là 2,35%,
VPBank 2,27%, Eximbank 1,8%.

NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 21

Nợ xấu trên tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng đã đạt 146,5 nghìn tỷ đồng
(6,94 tỷ USD) trong năm 2013, tăng 23,73% so với năm 2012
Ngày 21/01/2014, tại buổi gặp mặt báo chí cuối năm, Chánh văn phòng
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) - ông Lê Đức Thọ cho biết: Tính đến ngày 31/12/
2013, tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam là 3,79% - giảm gần 1% so
với hồi đầu năm 2013. Về việc mua nợ xấu, gần 40.000 tỷ đồng nợ xấu đã được
VAMC mua lại từ các ngân hàng.
“Năm 2014 NHNN sẽ tiếp tục xử lý nhanh hơn các khoản nợ xấu, xử lý có
kết quả các khoản nợ này để đưa tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống xuống mức phù hợp.
Bên cạnh đó, NHNN cũng sẽ triển khai các giải pháp hạn chế nợ xấu phát sinh

trong tương lai, không được thực hiện việc cơ cấu lại nợ và các biện pháp nghiệp
vụ khác để che giấu nợ xấu hoặc làm sai lệch chất lượng tín dụng”- ông Thọ phát
biểu.
2.2 Tỷ lệ nợ xấu theo lĩnh vực cho vay và đối tượng vay
Nợ xấu là một trong những con số nhạy cảm, những thông tin chi tiết về nợ
xấu của toàn hệ thống ngân hàng mà được công bố thì rất hiếm hoi. So với năm
2010 thì chỉ có năm 2011 những thông tin về nợ xấu mới được thống đốc ngân
hàng nhà nước công bố một cách chi tiết hơn. Do đó khi phân tích tỷ lệ nợ xấu
theo lĩnh vực cho vay thì đề tài này chỉ tập trung vào năm 2011.
2.2.1. Tỷ lệ nợ xấu đối với tín dụng bất động sản và cho vay phi sản
xuất
Như đã biết thì hầu hết các ngân hàng thường cho vay ở nhiều lĩnh vực
khác nhau như cho vay sản xuất và cho vay phi sản xuất, xuất khẩu, phát triển
nông thôn. Theo như các chuyên gia kinh tế phân tích thì những khoản cho vay phi
sản xuất thường không được ưu tiên và khuyến khích so với các lĩnh vực khác bởi
vì tỷ lệ rủi ro cao và dễ gây ra nợ xấu. Đó là lí do tại sao Ngân Hàng Nhà Nước
quy định tỷ lệ tối đa các ngân hàng cho vay vào lĩnh vực phi sản xuất không vượt
quá 16% (theo Chỉ thị số 01/CT-NHNN, thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban
hành vào ngày1/3/2011). Tỷ trọng cho vay phi sản xuất tính đến cuối năm 2011 là
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 22

14,7%. Tương ứng với con số cụ thể hơn 400.000 tỷ đồng cho vay ở lĩnh vực “phi
sản xuất”.
Thống kê toàn hệ thống ngân hàng đến 31/12/2011, tổng dư nợ cho vay bất
động sản là 201.000 tỷ đồng giảm 14,25% so với 31/12/2010(Cafeland - số liệu từ
báo cáo của NHNN), chiếm khoảng 8,45% tổng dư nợ của toàn hệ thống. Nếu chỉ
xét trên toàn hệ thống ngân hàng của Việt Nam, thì tỷ lệ nợ xấu trong lĩnh vực bất
động sản chỉ chiếm 8,45% tổng dư nợ, nhưng khi xét riêng các ngân hàng trên địa

bàn Thành Phố Hồ Chí Minh, nơi mà thị trường bất động sản được đánh giá là khá
sôi động, thì tỷ lệ này lại là một con số rất đáng quan tâm. Theo báo cáo của Ngân
Hàng Nhà Nước chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, tính đến cuối 7/2011, dư nợ
cho vay bất động sản lên đến 89.530 tỷ đồng, chiếm 11,96% so với tổng dư nợ,
giảm 8,88% so với năm 2010. Nợ xấu bất động sản chiếm 3,8% trong tổng dư nợ
bất động sản, trong đó khối ngân hàng cổ phần có tỷ lệ nợ xấu bất động sản cao
nhất, chiếm 2,61% trong tổng dư nợ cho vay bất động sản của khối này.
Đến 31/8/2012 dư nợ tín dụng bất động sản khoảng 203.000 tỷ đồng, trong
đó nợ xấu chiếm 6,6% (Vneconomy - số liệu từ báo cáo của NHNN). Trong khi
đó, dư nợ tín dụng liên quan đến bất động sản, như vay kinh doanh bất động sản,
vay đầu tư sản xuất kinh doanh và thế chấp bằng bất động sản… vào khoảng 57%
tổng dư nợ, tức là khoảng hơn 1 triệu tỷ đồng.
2.2.2. Tỷ lệ nợ xấu đối với những khoản vay đầu tư chứng khoán
Cùng với tín dụng bất động sản, tín dụng đầu tư chứng khoán cũng được
xem là lĩnh vực không được khuyến khích phát triển tín dụng. Do đó Ngân hàng
Nhà Nước giới hạn tỷ trọng dư nợ cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư,
kinh doanh chứng khoán không vượt quá 16% tổng dư nợ tín dụng. Chỉ có những
ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ không vượt quá 3% thì mới đủ diều kiên
để cấp tín dụng cho những khách hàng đầu tư chứng khoán.
Nếu căn cứ theo quy định này thì tổng dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán
tính trên toàn hệ thống phải rất thấp vì không được mấy ngân hàng đủ tiêu chuẩn
để cho vay đối với những khách hàng đầu tư chứng khoán, hầu hết các ngân hàng
đều có tỷ lệ nợ xấu vượt mức 3% trên tổng dư nợ. Tuy nhiên trên thực tế thì lại
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 23

khác, theo thống kê của Ngân hàng Nhà Nước hiện nay dư nợ cho vay để đầu tư,
kinh doanh cổ phiếu của các ngân hàng thương mại Việt Nam chiếm 6,5% vốn tự
có, và tổng dư nợ cho vay ở lĩnh vực này lên đến hơn 10.000 tỷ đồng, nếu tính cả

chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Tính đến ngày 31/5/2012, dư nợ cho vay đầu tư
kinh doanh chứng khoán khoảng 12.000 tỷ đồngtương đương 6,5% dư nợ cho vay
đầu tư kinh doanh BĐS và con số nợ xấu cho vay BĐS chiếm 10,3% tổng nợ xấu
của hệ thống và nợ xấu khoảng 485 tỷ đồng (tapchitaichinh - báo cáo của các
TCTD).
Cùng với kết quảnghiên cứu của nhóm chuyên gia thuộc Trung tâm nghiên
cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) thì tỷ trọng dư nợ chứng khoán và bất động
sản chiếm 10 đến 12% tổng dư nợ hệ thống ngân hàng. Kết hợp với tỷ lệ dư nợ bất
động sản của toàn hệ thống ngân hàng là 8,45% tổng dư nợ (nguồn báo cáo của
NHNN) thì tỷ lệ dư nợ của những khoản vay đầu tư vào chứng khoán tính toán
được là 1,55 - 3,55%.
Nhìn chung thì cho vay bất động sản và cho vay đầu tư chứng khoán là
những vực không đước khuyến khích, nhưng trên thực tế thì dư nợ trong hai lĩnh
vực này lại khá cao, do đó nguy cơ nợ xấu cũng có xu hướng tăng.
2.2.3. Tỷ lệ nợ xấu đối với các doanh nghiệp nhà nước
Trong những đối tượng vay tín dụng ở ngân hàng, thì các doanh nghiệp
quốc doanh là một trong những khách hàng lớn của các ngân hàng, đặc biệt là các
ngân hàng quốc doanh hoặc các ngân hàng mà cổ phần nhà nước chiếm đại đa số
như Vietinbank, Vietcombank, Agribank, Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt
Nam Vì vậy tỷ lệ nợ xấu ở những ngân hàng này cao hơn mức bình quân của
toàn ngành là 3,3% (tính đến cuối năm 2011).Cụ thể, nợ xấu của các NHTM Nhà
nước là 3,76% và của NHTM cổ phần ngoài quốc doanh lên tới 4,73%. Đơn
cửtrong nhóm NHTM Nhà nước, Agribank có tỷ lệ nợ xấu cao nhất lên tới 6,14%,
xấp xỉ gấp đôi mức bình quân của ngành, tiếp theo là Vietcombank 3,55% (báo
Dân Trí - báo cáo của các TCTD).
Theo thống kê năm 2010, nợ xấu từ phía các doanh nghiệp quốc doanh
chiếm 60% tổng số nợ xấu. Thêm vào đó đến thời điểm tháng 9/2012, theo báo
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 24


cáo trình Ủy ban thường vụ Quốc hội thì DNNN sử dụng vốn tín dụng chiếm tới
khoảng 70% tổng số nợ xấu, trong đó các tập đoàn kinh tế, tổng công ty chiếm
53% số nợ xấu.
Tốc độ tăng của tỷ lệ nợ xấu từ phía các DNNN giai đoạn 2010-2011 là
16,67% (nguồn Internet). Theo những số liệu từ Bộ Tài chính, tính đến 09/2011,
tổng dư nợ vay tại các ngân hàng của các DNNN lên đến 415.000 tỷ đồng, tương
đương 16,9% tổng dư nợ tín dụng. Từ thực tế trên có thể thấy được dư nợ tín dụng
của các doanh nghiệp nhà nước tại các ngân hàng thương mại nói chung và các
ngân hàng mà cổ phần nhà nước chiếm đại đa số nói riêng, đang tăng lên trong
giai đoạn 2010-2011, và kéo theo tỷ lệ nợ xấu của các doanh nghiêp quốc doanh
tăng từ 60% lên đến 70%. Những con số này đã góp phần đẩy tỷ lệ nợ xấu bình
quân của toàn ngành tăng lên mức mức 3,3% năm 2011 và sau đó là 6% năm
2012.
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc gia tăng tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân
hàng Việt Nam trong giai đoạn 2010-2012
Tình trạng nợ xấu trở nên căng thẳng như hiện tại do 5 nhóm nguyên nhân
chủ yếu: (i) do bản thân các Tổ chức tín dụng, (ii) do chính Doanh nghiệp đi vay,
(iii) do cơ chế chính sách vĩ mô, (iv) do môi trường, điều kiện trong và ngoài nước
từng thời kỳ và (v) công tác thanh tra, giám sát hạn chế.
- Chính sách tiền tệ nới lỏng kéo dài, tín dụng của ngân hàng là nguồn
chính để tài trợ cho đầu tư của nền kinh tế, nhưng một phần lớn tín dụng tập trung
vào các lĩnh vực phi sản xuất bao gồm cả thị trường bất động sản, làm suy giảm
chất lượng tín dụng và dẫn đến lạm phát cao. Lạm phát tăng mạnh đã làm xói mòn
sức mua của người tiêu dùng, người dân thắt chặt chi tiêu dẫn đến cầu nội địa suy
giảm mạnh. Cùng với đó, tác động của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu cũng khiến
cầu nước ngoài suy giảm. Tổng cầu giảm khiến lượng hàng tồn kho của các doanh
nghiệp ngày càng tăng cao, doanh nghiệp không tiêu thụ được hàng hóa, không
quay vòng được vốn, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh,
khiến nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng ngừng hoạt động, thậm chí phá sản,

giải thể. Ngoài ra, lạm phát biến động mạnh và bất thường làm cho môi trường
NH-Đêm 1- Nhóm 5 GVHD: PGS T.S Trầm Thị Xuân Hương

NỢ XẤU NHTM VIỆT NAM Trang 25

kinh doanh trở nên bất định hơn, gây ảnh hưởng xấu đến kết quả tài chính và khả
năng trả nợ ngân hàng của doanh nghiệp.
- Thị trường bất động sản trầm lắng cũng là một nguyên nhân chính gây ra
nợ xấu bất động sản tăng cao. Do tác động khủng hoảng tài chính cùng với chính
sách hạn chế tín dụng cho các lĩnh vực phi sản xuất, các dòng vốn chảy vào lĩnh
vực bất động sản (bao gồm cả tín dụng bất động sản và vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) đều suy giảm mạnh khiến giao dịch trên thị trường này khá ít ỏi, bất
chấp giá mặt hàng này đã giảm tương đối mạnh, số lượng hàng tồn bất động sản
ngày càng lớn. Nhiều dự án bị tạm ngưng do thiếu vốn, thị trường ảm đạm kéo dài
khiến nhiều doanh nghiệp bất động sản rơi vào tình trạng thua lỗ, không có tiền trả
nợ ngân hàng, dẫn đến nguy cơ nợ bất động sản trở thành nợ xấu.
- Áp lực cấp tín dụng cho doanh nghiệp nhà nước từ các ngân hàng thương
mại có vốn nhà nước chi phối cao. Cho đến nay, ngân hàng thương mại nhà nước
vẫn là người cho vay lớn nhất đối với doanh nghiệp nhà nước vì các lý do khác
nhau. Do vậy, nhiều dự án kém hiệu quả cũng như một số doanh nghiệp nhà nước
hoạt động yếu kém vẫn được vay vốn. Bên cạnh đó, việc sử dụng nguồn vốn
không được kiểm soát một cách chặt chẽ gây lãng phí lớn nguồn vốn vay. Trong
bối cảnh chu kỳ kinh tế biến động bất thường, hậu quả tất yếu là nhiều doanh
nghiệp, dự án không đủ khả năng để trả nợ, góp phần gia tăng nợ xấu trong khu
vực này.
- Năng lực quản trị của các tổ chức tín dụng còn nhiều bất cập so với quy
mô, tốc độ tăng trưởng và mức độ rủi ro trong hoạt động. Với nhiều ngân hàng
thương mại, nguồn vốn huy động ngắn hạn chiếm tới 70% - 80% tổng nguồn,
thậm chí đối với một số ngân hàng, tỷ trọng này còn cao hơn, trong khi tỷ trọng
cho vay trung hạn và dài hạn không nhỏ. Với độ vênh lớn về kỳ hạn giữa tài sản

có và tài sản nợ, thì vấn đề thiếu thanh khoản, tiềm ẩn rủi ro thanh toán là lớn. Mặt
khác, do áp lực tăng tổng tài sản, nhiều ngân hàng bằng mọi cách để có vốn, cách
mà các ngân hàng thương mại sử dụng chủ yếu là dùng lãi suất huy động cao, tất
yếu lãi suất cho vay cũng rất cao. Lãi suất cho vay càng cao, thì rủi ro từ phía

×