Tải bản đầy đủ (.pdf) (19 trang)

tiểu luận nghiệp vụ ngân hàng thương mại cho vay kích cầu đối với các doanh nghiệp của các nhtm hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (276.4 KB, 19 trang )

Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGÂN HÀNG





TIỂU LUẬN NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI




Tiểu luận

Cho vay kích cầu đối với các Doanh nghiệp của
các NHTM ở Việt Nam hiện nay


P




Giảng viên hướng dẫn: TS. Lại Tiến Dĩnh
Học viên thực hiện:
Lớp: Cao Học – Ngân Hàng – Ngày 1
Khóa: 17















Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2008

Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh

LỜ I MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường, sự phân bổ các nguồn lực – theo đó, phân bố cơ cấu kinh
tế và phân chia của cải xã hội được dựa chủ yếu vào các qui luật của thị trường như: Cung –
cầu, Giá trị, Cạnh tranh được biểu hiện qua hình thức tiền tệ. Vì vậy, còn có cách gọi khác
của kinh tế thị trường là kinh tế tiền tệ. Với đặc trưng đó, mặc nhiên n gành Ngân hàng cùng
những hoạt dộng dịch v ụ của nó đã trở thành một trong những công cụ hàng đầu để điều hành
kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia có kinh tế thị trường.
Ngành Ngân hàng đặc biệt có vai trò quan trọng trong việc đổi mới chính sách tín
dụng theo hướng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Khi thị trường tài chính chưa phát triển
dồng bộ thì những năm qua ngành ngân hàng đã tham gia cung ứng bình quân tới gần 70%
tổng đầu tư toàn xã hội hàng năm (với vai trò là trung gian tài chính). Trong đó hầu hết các
NHTM đã cung ứng tín dụng bình đẳng với mọi thành phần, mọi ngành. Ngành Ngân h àng

ngày càng trở thành Ngân hàng của toàn dân
Nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành Ngân hàng Việt Nam nói riêng đã trải qua
hơn 10 năm kinh nghiệm chuyển đổi sang cơ chế thị trường, đã thu được những thành tựu ban
đầu rất khả quan, đồng thời cũn g đã và đang tiếp tục phải đối mặt với những thách thức suốt
tiến trình đổi mới, nhất là trong bối cảnh tự do hoá thương mại và hội nhập kinh tế đang vận
động mạnh mẽ theo xu hướng toàn cầu hoá mà Việt Nam không nằm ngoài tiến trình khách
quan này


Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh




Phần I
LÝ THUYẾT C HUNG VỀ C HO VAY ĐỐI VỚ I DOANH NGHIỆP
1. C ác vấn đề chung về cho vay doanh nghiệp:
1.1 Khái niệm:
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng
một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận v ới nguyên tắc
có hoàn trả cả gốc v à lãi.
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn
vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín
dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng.
Dựa vào thời hạn, có thể chia cho vay doanh nghiệp thành:
+ Cho vay ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn vay đến 12 tháng
+ Cho vay trung hạn là các khoản cho vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60
tháng.
+ Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên.
1.2.Nguyên tắc vay vốn:

- Sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích thỏa thuận nhằm bảo đảm hiệu quả sử dụng
vốn vay và khả năng thu hồi nợ sau này.
Việc sử dụng vốn vay đúng mục đích góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay đồng
thời giúp doanh nghiệp đảm bảo khả năng hoàn trả nợ cho ngân hàng.
- Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín
dụng.
Hoàn trả nợ gốc và lãi vay vốn là một nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt độn g cho
vay. Điều này x uất phát từ tính chất tạm thời nhàn rỗi của nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng
để cho vay. Đại đa số nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay là vốn huy động từ khách
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh

hàng gửi tiền, do đó, sau khi cho vay trong thời hạn nhất định khách hàng vay tiền phải ho àn
trả lại cho ngân h àng để ngân h àng trả lại cho khách h àng gửi tiền.
1.3.Điều kiện vay vốn
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự
theo qui định của pháp luật.
- Có mục đích vay vốn pháp luật.
- Có khả n ăng tài chính đảm bảo trả nợ tron g thời hạn cam kết.
- Có phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả.
- Thực hiện các qui định về đảm bảo tiền vay theo qui định của Chính phủ và hướng
dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
1.4.Hồ sơ vay vốn
Thông thường hộ hồ sơ vay vốn bao gồm:
- Giấy đề nghị vay vốn.
- Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nh ân của khách hàng, chẳng hạn như giấy phép
thành lập, quyết định bổ nhiệm giám đốc, điều lệ hoạt độn g.
- Phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ.
- Báo cáo tài chính cửa thời kỳ gần nhất.
- Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh vay nợ.

- Các giấy tờ liên quan khác nếu cần thiết.
1.5.Thẩm định và quyết định cho vay
Thẩm định và quyết định cho vay là khâu rất quan trọng trong toàn bộ qui trình tín
dụng. Để có căn cứ quyết định cho vay hay không cho vay, các tổ chức tín dụng sẽ:
 Tổ chức tín dụng xây dựng quy trình xét duyệt cho vay theo nguyên tắc bảo đảm
tính độc lập và phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm giữa khâu thẩm
định và quyết định cho vay.
 Tổ chức tín dụng xem xét, đánh giá tính khả thi, hiệu quả của dự án đầu tư, phương
án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục v ụ đời sống và
khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng để quyết định cho vay.
 Tổ chức tín dụng quy định cụ thể và niêm yết công khai thời hạn tối đa phải thông
báo quy ết định cho vay hoặc khôn g cho vay đối với khách hàng, kể từ khi nhận được
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh

đầy đủ hồ sơ vay vốn và thông tin cần thiết của khách hàn g. Trường h ợp quyết định
không cho vay, tổ chức tín dụng phải thông báo cho khách hàng bằng văn bản, trong
đó nêu rõ căn cứ từ chối cho vay.
1.6.Hợp đồng tín dụng
Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải được lập thành hợp đồng
tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đich sử dụng vốn vay,
phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản
bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận.
1.7.Giới hạn cho vay
Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của
tổ chức tín dụng, trừ trường hợp đối với những khoản cho vay từ các nguồn vốn uỷ thác của
Chính phủ, của các tổ chức và cá nhân. Trường hợp nhu cầu vốn của một khách hàng vượt
quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng hoặc khách hàng có nhu cầu huy động vốn từ nhiều
nguồn thì các tổ chức tín dụng cho vay hợp vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam.
Trong trường hợp đặc biệt, tổ chức tín dụng chỉ được cho vay vượt quá mức giới hạn

cho vay quy định này khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép đối với từng trường hợp cụ
thể.
Việc xác định vốn tự có của các tổ chức tín dụng để làm căn cứ tính toán giới hạn cho
vay được thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
1.8.Hạn chế cho vay
Tổ chức tín dụng không được cho vay không có bảo đảm, cho vay với những điều
kiện ưu đãi về lãi suất, về m ức cho vay đối với những đối tượng sau đây:
- Tổ chức kiểm toán, Kiểm toán viên có trách nhiệm kiểm toán tại tổ chức tín dụng
cho vay; Thanh tra viên thực hiện nhiệm vụ thanh tra tại tổ chức tín dụng cho vay; Kế toán
trưởng của tổ chức tín dụng cho vay.
- Các cổ đông lớn của tổ chức tín dụng.
- Doanh nghiệp có m ột trong những đối tượn g quy định tại khoản 1 Điểu 77 của Luật
Các tổ chức tín dụng sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó.
1.9.Những trường hợp không cho vay
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh

Tổ chức tín dụng không được cho vay đối với khách hàng trong các trường hợp sau
đây (trừ trường h ợp đối với các tổ chức tín dụng hợp tác):
- Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng
giám đốc (Phó Giám đốc) của tổ chức tín dụng.
- Cán bộ, nhân viên của chính tổ chức tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm định,
quyết định cho vay.
- Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám
đốc (Giám đốc), Phó tổng giám đốc (Phó giám đốc).
2.Cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp
2.1.Nhu cầu vốn ngắn hạn của doanh nghiệp
Trong quá trình hoạt độn g doanh nghiệp cần đầu tư vào tài sản lưu động và tài sản cố
định. Về nguyê tắc, doanh n ghiệp có thể sử dụng nguồn vốn ngắn hạn hoặc dài hạn để đầu tư
vào tài sản lưu động. Tuy nhiên, do nhu cầu vốn dài hạn để đầu tư vào tài sản cố định rất lớn
nên thông thường doanh nghiệp khó có thể sử dụng nguốn vốn dài hạn để đầu tư vào tài sản

lưu động. Do vậy, để đầu tư vào tài sản lưu động. doanh nghiệp thường phải sử dụng nguồn
vốn ngắn hạn.
2.1.1.Nhu cầu tài trợ ngắn hạn thường xuyên
Xuất phát từ sự chênh lệch hoặc không ăn khớp nhau v ề thời gian và quy mô giữa tiền
vào và tiền ra của doanh nghiệp. Nếu dòng tiền chi ra lớn hơn dòng tiền thu vào, doanh
nghiệp cần bổ sung thiếu hụt. Khoản thiếu hụt này trước hết bổ sung từ vốn chủ sở hữu và các
khoản nợ phải trả khác mà doanh nghiệp có thể huy động được. Phần còn lại doanh nghiệp sử
dụng tài trợ ngắn hạn của ngân hàng. Đây là nguyên tắc mà cán bộ tín dụng n gân hàng cần
nắm vững để xác định hạn mức tín dụng sau này.
2.1.2.Nhu cầu tài trợ ngắn hạn thời vụ
Nhu cầu vốn thời vụ xuất phát từ đặc điểm thời vụ của hoạt động sản xuất kinh doanh
khiến cho nhu cầu vốn ngắn hạn tăng đột biến.
Ví dụ: Nhu cầu vốn ngắn hạn của công ty sản xuất chế biến xuất khẩu tôm có thể có nhu
cầu vốn ngắn hạn tăn g đột biến vào mùa thu ho ạch tôm.
2.2.Phương thức cho vay
Hai phương thức cho vay ngắn hạn áp dụng phổ biến hiện nay là:
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh

- Cho vay từng lần: mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân h àng thương mại thực hiện
thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: ngân hàng thương mại và khách hàng xác định và
thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
2.2.1.Cho vay từng lần theo món
Khách hàng xin vay món nào thì phải làm hồ sơ xin vay món đó. Nếu trong một quý
khách hàng có bao nhiêu món vay thì khách hàng phải làm bấy nhiêu hồ sơ xin vay. Bộ phận
tín dụng tiến hành phân tích hồ sơ x in vay và xem xét cho vay đối với từng hồ sơ cụ thể.

2.2.2.Cho vay theo hạn mức tín dụng
Đặc điểm cơ bản của loại cho vay này là một hồ sơ xin vay dùng để x in vay cho nhiều
món vay. Khách hàn g nộp hồ sơ vay vốn một lần vào đầu quý.Ngân hàng tiến hành phân tích

tín dụng và nếu đồng ý cho vay, hai bên ký kết hợp đồng tín dụng, trong hợp đồng tín dụng
ngân hàng sẽ xác định hạn m ức tín dụng cho khách hàng.
3.Chiết khấu chứng từ có giá
3.1.Khái niệm chiết khấu
Chiết khấu là một hình thức cấp tín dụng theo đó các tổ chức tín dụng nhận các chứng
từ có giá và trao cho khách hàng một số tiền bằng mệnh giá của chứng từ nhận chiết khấu trừ
đi phần lợi nhuận và chi phí mà ngân h àng được hưởng.
Các ngân hàng thương mại hiện nay thường nhận chiết khấu hai loại chứng từ có giá
cơ bản: thương phiếu và chứng từ có giá khác như trái phiếu, kỳ phiếu…
3.2.Chiết khấu thương phiếu
Thương phiếu là chứng từ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh
toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định. Thương phiếu gồm
có 2 loại: hối phiếu và lệnh phiếu.
Theo pháp lệnh thương phiếu của Việt Nam:
Hối phiếu là chứng chỉ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh
toán không điều kiện m ột số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời gian nhất định
trong tương lai cho người thụ hưởng.
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh

Lệnh phiếu là chứng chỉ có giá do người phát hành lập, cam kết thanh toán không điều
kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời gian nhất định trong tương lai cho
người thụ hưởng.
Chiết khấu thương phiếu là hình thức tín dụng n gắn hạn của n gân hàng thương mại
được thực hiện dưới hình thức khách hàng sẽ chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu
chưa đến hạn thanh toán cho ngân hàng để nhận một khoản tiền thấp hơn mệnh giá của
thương phiếu. Số tiền chênh lệch giữa mệnh giá thương phiếu so với số tiền khách hàng nh ận
được gọi là lãi chiết khấu và phí hoa hồng.
Chiết khấu thương phiếu là một hợp đồng được phép truy đòi, thực chất chiết khấu
thương phiếu là hình thức tín dụng ngắn hạn.
Khi thực hiện chiết khấu thương phiếu, n gân hàng xác định số tiền phát ra cho khách

hàng như sau:
Số tiền chuyển
cho người xin
chiết khấu
= Mệnh giá TP - Lãi suất chiết khấu - Hoa hồng phí
Trong đó:
Hoa hồng phí = Mệnh giá TP x Tỷ lệ hoa hồng (%)
Lãi chiết khấu =
Mệnh giá TP x Lãi suất chiết khấu (%/năm) x Số ngày nhận chiết khấu
360
Số ngày nhận chiết khấu tính từ ngày xin chiết khấu đến ngày đáo hạn (khôn g tính
ngày xin chiết khấu và ngày đáo hạn).
Cách thức thu lãi được thực hiện ngay khi chiết khấu bằng cách khấu trừ vào mệnh
giá. Đến ngày thanh toán ghi trên thương phiếu, ngân hàng thực hiện thu nợ ở người trả tiền
bằng cách thông báo cho người trả tiền hoặc gửi thương phiếu đến ngân hàng ủy nhiệm nhờ
thu hộ.
3.3.Chiết khấu chứng từ có giá khác
Ngoài thương phiếu, các chứng từ có giá trị khác nh ư trái phiếu, tín phiếu Kho bạc
Nhà nước, kỳ phiếu, sổ tiền gửi tiết kiệm cũng được ngân hàng thực hiện chiết khấu.
Khi ch iết khấu, cần phân biệt 2 loại:
+ Trái phiếu chiết khấu: phương pháp tính chiết khấu của trái phiếu chiết khấu giống
như tính chiết khấu thương phiếu.
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh

+ Trái phiếu được hưởng lãi định kỳ: ph ương pháp tính như sau:

Số tiền chuyển
cho người xin
chiết khấu
= Trị giá chiết khấu - Lãi chiết khấu - Hoa hồng phí


Trị giá chiết khấu = Mệnh giá + Lãi được hưởng định kỳ

Lãi được hưởng định kỳ = Mệnh giá x Lãi suất được hưởng định kỳ

Hoa hồng phí = Trị giá nhận chiết khấu x Tỷ lệ hoa hồng (%)

Lãi chiết khấu =
Trị giá chiết khấu x Lãi suất chiết khấu (%/năm) x Số n gày nhận chiết khấu
360

4.Cho vay trung và dài hạn đối với doanh nghiệp
4.1.Mục đích của tín dụng trung và dài hạn
- Nhằm để tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định và đầu tư vào một phần tài sản
lưu động thường xuyên.
- Góp phần đem lại lợi nhuận cho hoạt động ngân hàng.
4.2.Thủ tục vay vốn trung và dài hạn
Để vay vốn trung và dài hạn, khách hàng phải lập và nộp bộ hồ sơ vay vốn giốn g như
vay vốn ngắn hạn và thay phương án sản xuất kinh doanh hoặc kế hoạch vay vốn như khi vay
ngắn hạn bằng dự án đầu tư vốn dài hạn.
Dự án đầu tư là căn cứ để ngân hàng đánh giá tính khả thi về tài chính của dự án,
nhằm bảo vệ lợi ích khách hàng và đảm bảo kh ả năng thu hồi vốn của ngân hàng.
4.3.C ác phương thức cho vay trung và dài hạn
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh

Dựa vào mục đích vay, ngân hàng có thể cho khách hàng vay vốn dài hạn để đầu tư
mua sắm tài sản cố định hoặc cho khách hàng vay vốn dài hạn đầu tư vào một dự án đầu tư.
Cho nên về phương thức cho vay dài hạn có thể là:
+ Cho vay mua sắm máy móc thiết bị.
+ Cho vay đầu tư dự án.


PHẦN II
THỰC TRẠNG CHO VAY ĐỐ I VỚI DO ANH NGHIỆP 2008
2. Thực trạng về cho vay và tình hình kinh tế của các doanh nghiệp năm 2008:
2.1 Những m ặt đạt được:
Trong quá trình đổi mới, hệ thống ngân hàng có tầm quan trọng đặc biệt, là kênh cơ
bản cung ứng vốn cho nền kinh tế để thực hiện các chỉ tiêu vĩ mô của nền kinh tế. Ngoài cho
vay thương mại đối với các tổ chức và cá nhân, hệ thống ngân hàng còn là nguồn tài chính
quan trọng để thực hiện các chủ trương, chính sách của Đản g và Chính phủ như cho vay đối
với hộ nghèo, vùng sâu, vùng xa, góp phần hạn chế đáng kể sự chênh lệch phát triển giữa các
nhóm thu nhập và giữa các vùng trong nước, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong điều kiện thị trường tài chính còn sơ khai, tín
dụng ngân hàng là kênh chủ yếu cung ứng vốn cho chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế
trong suốt 20 năm qua. Dư nợ tín dụng ngân hàn g tăng trung bình khoảng 25%/năm và hiện
chiếm khoảng 50% GDP.
Năm 2008 đang dần khép lại với biết bao sự kiện, diễn biến phức tạp và khó lường
của nền kinh tế thế giới, cũng là năm hệ thống Ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với những
khó khăn, thách thức chưa từng có trong hơn h ai mươi năm đổi mới.
Ngay từ đầu năm, căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội và của Chính phủ về mục tiêu,
nhiệm vụ phát triển kinh tế -xã hội n ăm 2008, Ngân h àng Nhà nước đã xác định 11 nhóm
nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm của ngành Ngân hàng năm 2008 với nội dung ch ủ yếu là:
+ Hoàn thiện hệ thống thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; tiếp tục đổi mới và
nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường phù hợp với mục
tiêu kiềm chế lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; đáp ứng có hiệu quả các nhu cầu vốn
cho phát triển kinh tế, đồng thời kiểm soát chặt chẽ qui mô và chất lượng tín dụng.
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh

+ Ccơ cấu lại tổ chức, bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát
ngân hàng; đẩy nhanh chươn g trình tái cơ cấu, nâng cao năng lực hoạt động và khả năn g cạnh
tranh của các tổ chức tín dụng trong nước.

+ Đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, hệ thống thanh toán, hệ
thống thông tin ngân hàng; tuân thủ lộ trình mở cửa hoạt động ngân hàng đã cam kết khi gia
nhập WT O.
+ Thực h iện tốt công tác in đúc, lưu thông tiền mặt phù hợp với yêu cầu của nền kinh
tế.
+ Củng cố, sắp xếp lại bộ máy tổ chức, điều hành, ch ức năng, nhiệm vụ của các đơn vị
thuộc Ngân hàng Nhà nước; tập trung thực hiện các nhiệm vụ về cải cách hành chính;.
+ Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về các m ặt hoạt độn g n gân hàng.
Cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp nhà tại Mỹ lan rộng thành khủng khoảng tài
chính và suy thoái kinh tế toàn cầu vẫn chưa đến hồi kết thúc và đang tiếp tục đẩy tình trạng
nợ xấu, vỡ nợ leo thang khiến số lượng ngân hàng ở Mỹ và ở nhiều nền kinh tế khác bị đóng
cửa ngày càng tăng. Chỉ tính riêng ở Mỹ, từ đầu năm đến nay đã có 23 ngân hàng Mỹ bị giải
thể, đóng cửa, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng mạnh, đến tháng 10 tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ lên tới
6,7%, tăng 2% so với tỷ lệ thất nghiệp năm 2007.
Những thách thức mà các nền kinh tế phải đối mặt trong n ăm 2008 diễn biến vô cùng
phức tạp, khó lường. Nếu như trong 6 tháng đầu năm, sự gia tăng mạnh của giá dầu, giá
lương thực, sự giảm giá của thị trường bất độn g sản, thị trường chứng khoán, cùng với những
bất ổn chính trị đã gây áp lực lạm phát mang tính toàn cầu và tăng trưởng kinh tế của các quốc
gia gặp khó khăn trước áp lực lạm phát, thì trong 6 tháng cuối năm, giá dầu giảm mạnh từ
mức kỷ lục 147 USD/thùng vào giữa tháng 7 và xuốn g mức thấp xung quanh dưới 40
USD/thùng vào trung tuần tháng 12, giá lương thực cũng giảm mạnh cùng với tỷ lệ thất
nghiệp tăng cao gây ra áp lực giảm phát. Kinh tế thế giới lại chuyển từ áp lực lạm phát cao
sang xu hướng thiểu phát và giảm phát cùng với suy thoái kinh tế toàn cầu và tình trạng này
sẽ tiếp tục diễn ra trong năm 2009.
Nền kinh tế Việt Nam trong năm 2008, không những phải đối mặt với những diễn biến
khó lường của kinh tế thế giới, mà còn phải đối mặt với nhiều khó kh ăn nội tại: Lạm phát tăng
mạnh, thâm hụt cán cân thương mại cũng đạt mức kỷ lục (hơn 14% GDP), thị trường chứng
khoán liên tục sụt giảm. Trước tình hình đó, để giữ ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng cho
tăng trưởng bền vững, Chính phủ đã điều chỉnh từ m ục tiêu tăng trưởng cao sang mục tiêu
kiềm chế lạm phát là ưu tiên hàng đầu và tăng trưởng duy trì ở mức hợp lý. Tuy nhiên, những

Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh

tháng cuối năm, diễn biến kinh tế và lạm phát của Việt Nam cũng nằm trong xu hướng chung
của kinh tế thế giới, nên các giải pháp vĩ mô cũng có sự thay đổi cho phù hợp. Tháng 11/2008,
Chính phủ đã đưa ra 5 nhóm giải ph áp nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, ổn định vĩ mô, trong
đó đặc biệt quan tâm đến nhóm giải pháp về chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ theo
hướng chặt chẽ, linh hoạt, hiệu quả để vừa duy trì tốc độ tăng trưởng, vừa ổn định kinh tế vĩ
mô.





Biểu:Lãi suất cơ bản các thời điểm năm 2008
Thời điểm áp Lãi suất
01-2008

8,25%
01-2-2008

8,75%
03-2008

8,75%
04-2008

8,75%
19
-


05
-
2008

12%

11
-
06
-
2008

14%

07-2008

14%
08-2008

14%
09-2008

14%
20-10-2008

13%
03-11-2008

12%
05-12-2008


10%
22/12/2008

8,5%
Với mức lãi suất trong tháng 11/2008 cho dù đã giảm so với mức 21%/năm tháng
09/2008 nhưng vẫn rất cao và hiếm có doanh n ghiệp sản x uất kinh do anh nào dám vay vì khó
có thể đạt được lợi nhuận tới 18-20%/năm để đủ trả lãi ngân hàng. Cá biệt Ngân hàng Đầu tư
& Phát triển Việt Nam đưa mức lãi suất thấp nhất là 15%/năm; Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam thấp nhất cũng là 15,2%/năm; Ngân hàn g Công thương Việt Nam và Ngân hàng Nông
nghiệp & Phát triển nông thôn Việt Nam có mức lãi suất thấp nhất là 15,5%/năm.
Tuy nhiên, khôn g phải là doanh nghiệp nào cũng vay được lãi suất đó. Thậm chí
không loại trừ mức lãi suất cho vay 15%-15,5%/năm được thông báo chỉ có tính chất “tượng
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh

trưng”, hay tuyên truyền về mặt tâm lý trong bối cảnh kinh tế chung hiện nay. Những doanh
nghiệp vay được thường thuộc diện có kim ngạch xuất khẩu khá, thị trường ổn định và sử
dụng trọn gói dịch vụ của NHTM đó như cam kết chiết khấu bộ chứng từ, mua bán n goại tệ,
thanh toán quốc tế qua ngân hàng, … Tức là NHTM chấp nhận lỗ khi cho vay lãi suất 15%-
15,5%/năm nhưng bù lại họ thu lãi ở các dịch vụ khác có liên quan. Hoặc là các doanh nghiệp
sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu, hàng hoá thuộc danh mục ưu tiên của Chính ph ủ.
Lãi suất cho vay phổ biến vẫn là 18%/năm. Mức lãi suất đó quả thực vẫn rất cao nếu
đặt trong bối cảnh sức mua giảm hiện nay. Nhiều mặt hàng vật liệu xây dựng mặc dù giảm giá
nhưng vẫn ứ đọng và rất khó tiêu thụ. Giá các mặt hàng nông sản, thực phẩm cũng giảm
mạnh, người sản xuất kinh doanh có nguy cơ thua lỗ Kim ngạch xuất khẩu tháng 10/2008
giảm hơn 3% so với tháng 9/2008.
Trước bối cảnh phức tạp của kinh tế thế giới và trong nước, trong 6 tháng đầu năm,
NHNN đã có những phản ứng chính sách kịp thời, sử dụng đồng bộ v à quyết liệt về điều hành
chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát có hiệu quả và ổn định kinh tế vĩ mô. Các
công cụ chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt để h út tiền từ lưu thông nhưng vẫn đảm

bảo tính thanh khoản cho nền kinh tế và thị trường, điều hành linh hoạt tỷ giá theo tín hiệu thị
trường. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước đã tăng cường công tác thanh tra, giám sát hoạt động
của thị trường ngoại hối và của các tổ chức tín dụng, hạn chế tăng trưởng tín dụng quá nóng
có thể gây mất an toàn hệ thống của các tổ chức tín dụng.
Các biện pháp về điều hành chính sách tiền tệ trong 6 tháng đầu năm đã đạt được
những kết quả tích cực, góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ m ô, kiềm chế lạm phát. Trước
những tín hiệu khả quan về kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát của nước ta từ tháng 7/2008
đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã từng bước nới lỏng chính sách tiền tệ bằng các giải ph áp
linh hoạt để thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh và ch ủ động ngăn ngừa nguy cơ suy giảm
kinh tế. Cụ thể: Kịp thời điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nâng lãi suất
trả cho tiền gửi dự trữ bắt buộc để tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho
vay, giúp doanh nghiệp tiếp cận được n guồn vốn ngân hàng với mức lãi suất có thể duy trì và
mở rộng sản xuất; nới rộng biên độ tỷ giá mua, bán đồng Đô la Mỹ của các tổ chức tín dụng
lên +3% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng; đồng thời, điều h ành tỷ giá bình quân liên
ngân hàng theo hướng tăng dần phù hợp với cung cầu ngoại tệ trên thị trường v à mục tiêu hỗ
trợ xuất khẩu, hạn chế nhập siêu. Thực tế, sau những động thái chính sách của Ngân hàng Nhà
nước, các NHTM đã hạ thấp lãi suất cho vay. Mức lãi suất cho vay ngắn hạn nền kinh tế của
các NHTM trong tháng 12/2008 phổ biến ở mức 12-13%/năm. Đối với một số dự án, lĩnh vực
sản xuất ưu tiên như đối tượng xuất khẩu, doanh n ghiệp vừa và nhỏ, nông dân, một số NHTM
chỉ cho vay ở mức 10-11%/năm.
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh

Bảng: Dư nợ cho vay của hệ thống NHTM ở Việt Nam thời kỳ 2006 - 2008

N
ă
m

2006


2007

2008

GDP

(t


đ
ồng
)

839.200

974.200

1.144.000

D
ư

n


cho vay (t


đô
ng)


732.023

992.013

1.124.723

T
ốc

đ


t
ă
ng trư
ởng

(%)

22,8

25,2

53,7

(Nguồn: Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước)
Hiện NHTM đang là kênh huy độn g, cung ứng vốn cho nền kinh tế với 30% vồn đầu
tư phát triển hàng năm và 40% tổng nhu cầu vốn của doanh nghiệp được tài trợ bởi tín dụng
ngân hàng. Tuy còn thấp hơn sơ với một số nước khác, nhưng tổng dư nợ cho vay qua hệ

thống ngân hàng đề tăng và đến cuối năm 2008 đã đạt tốc độ tăng trưởng 53,7%, cao hơn mức
bình quân chung của các nước có thu nhập thấp.
Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các NHTM điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, cơ cấu
tín dụng phù hợp với chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, của
ngành đi đôi với kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng; ưu tiên vốn cho các lĩnh v ực sản
xuất, xuất khẩu, nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu, nông n ghiệp nông thôn, doanh n ghiệp vừa
và nhỏ, các dự án đầu tư có hiệu quả….Đảm bảo đáp ứng có hiệu quả các nhu cầu vốn phục
vụ mục tiêu tăng trưởng hợp lý, n găn chặn suy giảm kinh tế. So với cuối năm 2007, vốn tín
dụng đầu tư cho khu vực dân doanh tăng 37%, khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 12%,
lĩnh vực xuất khẩu tăng 37%, khu vực sản x uất tăng 34%, khu vực nôn g nghiệp, nông thôn
tăng 30%, cho vay hộ nghèo đối tượng chính sách khác tăng 40%. Dư nợ xấu toàn hệ thống
chỉ chiếm 3,5% tổng dư nợ tín dụng.
Đến cuối năm 2008, vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống ngân hàng tăng 30% so với
cuối năm 2007, tỷ lệ an toàn vốn tăng từ 8,9% lên 9,7%. Các tổ chức tín dụng tiếp tục chú
trọng phát triển nhiều công nghệ, dịch vụ, tiện ích n gân hàng hiện đại; mạng lưới hoạt động
tiếp tục được củng cố và mở rộng hiệu quả, tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho doanh
nghiệp và người dân tiếp cận với dịch vụ ngân hàng; đặc biệt, trong năm 2008, đã có một
ngân hàng thương mại cổ phần mở chi nhánh hoạt độn g tại nước ngoài.
Tốc độ huy động vốn trong năm 2008 tăng 15,3%, đạt 561.500 tỷ đồn g (năm 2007 tốc
độ huy động vốn tăng 70,6%). Trong đó tiền gửi thanh toán của tổ chức kinh tế, cá nhân
không tăng v à liên tục giảm qua các tháng do các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa
và nhỏ cơ cấu lại sản xuất, khai thác tối đa vốn tự có để sản xuất kinh doanh. Còn tiền gửi tiết
kiệm của dân cư tăng cao 33,4% do lãi suất hấp dẫn. Tốc độ h uy động ngoại tệ cao hơn so với
tiền đồng.
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh

Trong khi đó, các tổ chức tín dụng cho vay tăng 20,6% so với năm 2007, đạt 490.000
tỷ đồn g. Các tổ chức tín dụng cho doanh nghiệp v ừa và nhỏ v ay 205.000 tỷ đồn g, chiếm 42%
tổng dư nợ tín dụng. 85,23% hồ sơ vay vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ được giải quyết, số
hồ sơ còn lại không được giải quyết do khách hàng không đủ điều kiện cho vay, vi phạm

nguyên tắc cho vay, n gân hàng thiếu vốn Tỷ lệ n ợ xấu của các ngân hàng chiếm 2,5% so với
tổng dư nợ cho vay.
2.2 Tình hình kinh tế các doanh nghiệp năm 2008
Tỷ trọng các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng lớn nhất. Các doanh n ghiệp n ày
lại có nhu cầu vay vốn nhiều nhất nhưng lại gặp khó khăn liên quan đến thiếu tài sản thế chấp,
phương án lập kế hoạch kinh doanh và các vướng mắc về thủ tục hành chính khi đi vay vốn
và tuân theo các thủ tục vay vốn nên khó nhận được vốn vay của n gân hàng.
Nhu cầu vốn dài hạn của doanh nghiệp là rất lớn nhưng thị trường chứng khoán vẫn
chưa được coi là kênh huy độn g vốn quan trọng. Chỉ có 4,26% doanh nghiệp lựa chọn k ênh
này, 75% doanh nghiệp xem n gân hàng là kênh huy động vốn chủ yếu của mình. Tiếp đó là
các quỹ đầu tư.
Mặt khác, nhìn chung trong năm qua lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại
tăng cao cùng với yếu tố lạm phát làm sức tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ toàn xã hội giảm hẳn
khiến hầu hết các doanh n ghiệp ph ải thu hẹp sản xuất, tạm ngừng triển khai các dự án mở
rộng sản xuất, giảm bớt lao độn g…Nhiều doanh n ghiệp cho biết năm nay nh u cầu đối với sản
phẩm của họ giảm đi từ 30-40 %, thời gian qua đã khó khăn đầu ra, thời gian tới doanh n ghiệp
cũng chưa nhìn thấy các dấu hiệu khả quan của thị trường.
Cụ thể, 84,09% DN xuất khẩu thường xuyên phải đối đầu với việc tăng giá đầu vào.
Trong đó, con số DN thường xuyên gặp phải vấn đề chi phí nhập khẩu nguyên liệu cao là
61,47% . Các yếu tố tác động khác đến hiệu quả sản x uất kinh doanh như rủi ro về tỷ giá
trong giao dịch; thiếu ngoại tệ thanh toán hay sức mua giảm tại các thị trường nh ập khẩu cũng
được các DN trên đề cập. một số DN, dù doanh thu đầu n ăm 2008 có tăng nhưng tốc độ tăng
đã không bằng so với cùng kỳ năm 2007. Ngoài ra, hơn một nửa số DN có doanh thu và mức
tăng trưởng của doanh thu tốt hơn năm 2007 nhưng chỉ có 1/4 trong số đó có lợi nhuận và
mức tăng trưởng về lợi nhuận tốt hơn năm 2007. Điều này cho thấy, sự gia tăng về doanh thu
không đồng n ghĩa với sự gia tăng về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Vì vậy, tất cả các doanh nghiệp đều cố gắng hạn chế tối đa việc vay vốn. Họ tìm cách
đẩy nhanh bán hàng, sử dụng triệt để vốn tự có. Mặc dù tốc độ tăng trưởng doanh thu trung
bình của các DN trong 6 tháng đầu năm nay là khá tốt, ở mức 10,9% so với mức 5% của năm
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh


2007 sự tăng doanh thu kể trên là do thừa hưởng từ đà tăng trưởng của năm trước đó. Đây là
một trong những nguyên nhân vì sao các Ngân hàng thương mại phản ánh là rất khó tăng dư
nợ. Tuy nhiên, gặp nhiều khó khăn về vốn và chi phí đầu vào tăng cao nhưng phần lớn doanh
nghiệp, đặc biệt là nhóm có vốn đầu tư nước ngoài vẫn rất lạc quan về sự ổn định, tăng trưởng
của nền kinh tế các tháng cuối năm 2008.
2.3 Những mặt hạn chế:
- Bên cạnh những kết quả đạt được, trong bối cảnh tình hình kinh tế vĩ mô, tài chính
thế giới và trong nước liên t ục có nhữn g biến độn g phức tạp, khả năng phân tích, dự báo còn
hạn chế, nên quá trình thực thi các giải pháp điều hành tiền tệ của Ngân hàng Nhà n ước có
thời điểm còn thiếu nhịp nhàng, đồn g bộ.
- Thị trường tiền tệ, ngoại hối trong những tháng đầu năm còn có những biến động
gây khó khăn nhất định cho hoạt động của các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp.
+ Lãi suất tăng làm tăng chi phí vốn vay của doanh nghiệp và người kinh doanh, từ đó
làm tăng giá thành sản phẩm và dịch vụ, tác động tăng giá trên thị trường xã hội, đi ngược lại
mục tiêu kiềm chế lạm phát của việc NHNN thực h iện chính sách tiền tệ thắt chặt.
+ Lãi suất đầu vào của NHTM, tức lãi suất huy động vốn tăng cao, cộn g với chi phí
cao do tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng mạnh, chi phí bù lỗ cho việc mua tín phiếu NHNN, nhưng lãi
suất cho vay tăng chậm, khoảng cách chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất đầu vào thu
hẹp. Bên cạnh đó tốc độ tăng trưởng dư nợ chậm hơn tốc độ tăng huy động vốn. Cả hai nh ân
tố đó làm cho lợi nhuận của NHTM ngày càng thấp, làm ảnh hưởng đến năng lực tài chính và
khả năng cạnh tranh, uy tín của NHTM.
+ Việc vay vốn của doanh nghiệp, của khách hàng khó khăn h ơn. Một mặt tạo điều
kiện cho tiêu cực nảy sinh trong quan hệ tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng, tức là
NHTM buộc phải lựa chọn dự án, lựa chọn khách hàng, việc cho vay vốn khắt khe hơn. Mặt
khác nhiều dự án bị từ chối vay vốn, hoặc doanh nghiệp không dám vay, khôn g dám triển khai
dự án, từ đó ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng kinh tế mà Chính phủ đặt ra mục tiêu 9% trong
năm 2008, cao hơn mức 8,44% của năm 2007. Bởi vì hiện nay vốn đầu tư của nền kinh tế,
vốn hoạt động kinh doanh của doanh n ghiệp và hộ gia đình chủ yếu là vốn vay ngân hàng. Mà
hiệu quả của vốn đầu tư có độ trễ, ít nhất là 6 tháng. Tức là việc hạn chế đầu tư vốn tín dụng

ngân hàng hiện nay sẽ có tác động làm chậm tốc độ tăng trưởng trong những tháng cuối năm
2008 và đầu năm 2009.
- Hoạt động của các tổ chức tín dụng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh

- Chất lượng dịch vụ ngân hàng còn có những bất cập, chưa đáp ứng được nh u cầu của
xã hội…
- Do tác động của kh ủng hoảng tài chính thế giới, dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới
trong năm 2009 sẽ thấp hơn năm 2008; các nước phát triển có khả năng suy thoái, các nước
mới nổi và đang phát triển suy giảm hoặc tăng trưởng ở mức thấp. Tiết kiệm, đầu tư và khối
lượng vốn luân chuyển ở các nền kinh tế suy giảm hoặc tăng trưởng với mức độ thấp so với
các n ăm trước. Tình hình này tác động bất lợi đối với tăng trưởng kinh tế của nước ta, vì vậy
hoạt động ngân hàng cũng sẽ đối mặt với nhiều khó kh ăn, thách thức trong năm 2009.
3. Giải pháp
3.1 Định hướng về mặt chiến lược trong năm 2009:
- Toàn ngành Ngân hàng tập trung xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp luật về ngân
hàng phù hợp với định hướng, chiến lược phát triển ngành Ngân hàng và lộ trình thực hiện
các cam kết quốc tế trong lĩnh vực tiền tệ n gân hàng, cụ thể là tập trung xây dựng, hoàn thiện
dự án Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Bảo hiểm tiền gửi và Luật
Giám sát an toàn hoạt động ngân hàng; tập trung nghiên cứu, chỉnh sửa, hoàn thiện các qui
định về ngo ại hố i,về đảm bảo an toàn, về cơ cấu tổ chức và ho ạt động của các tổ chức tín
dụng…
- Chính sách tiền tệ bám sát mục tiêu ngăn chặn suy giảm kinh tế, kiểm soát lạm
phát ở mức hợp lý, ổn định thị trường tiền tệ và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng
trước những biến động của tình hình tài chính quốc tế. Để đạt được mục tiêu đó, Ngân
hàng Nhà nước tiếp tục điều hành linh hoạt, đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, kết hợp
hài hoà, linh hoạt giữa điều hành tỷ giá và lãi suất; tăng cường phối hợp với các bộ, ngành để
đảm bảo nhất quán giữa các chính sách kinh tế vĩ mô, nhất là giữa chính sách tiền tệ và chính
sách tài khóa; nâng cao hiệu quả công tác thống kê, dự báo, phản ứng kịp thời trước những
diễn biến kinh tế, tiền tệ trong nước và quốc tế; đảm bảo tính thanh khoản của các tổ chức tín

dụng.
- Sử dụng đồng bộ các công cụ ch ính sách tiền tệ nhằm phát huy hiệu lực, hiệu quả
các công cụ tron g điều hành chính sách tiền tệ. Kết hợp chặt chẽ giữa điều hành chính sách
tiền tệ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm nâng cao hiệu quả của
chính sách tiền tệ trong kiểm soát lạm phát và ngăn chặn suy giảm kinh tế.
- Phát triển vững chắc và nâng cao h iệu quả hoạt động của hệ thống các tổ chức tín
dụng, nhằm huy độn g tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội và phân bổ có hiệu quả các
nguồn vốn đó cho đầu tư phát triển sản suất. Chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện chuyển
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh

dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vốn cho sản xuất, xuất khẩu, phát triển nông
nghiệp, nông thôn, mở rộng cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ; nâng cao năng lực hoạt
động và khả năng cạnh tranh của các tổ chức tín dụng trong nước.
- Tiếp tục đổi mới, nân g cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát ngân
hàng. Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về thanh tra, giám sát ngân hàng và các quy định về
đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng, đi đôi với việc củng cố bộ máy tổ chức, tăng cường
đào tạo đội ngũ cán bộ thanh tra ngân hàng.
- Phát triển mạnh công n ghệ ngân hàng và hoạt động thanh toán không dùn g tiền m ặt,
đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội về các hoạt động dịch v ụ n gân hàng.
- Tăng cường hợp tác quốc tế, nâng vai trò, vị thế của Việt Nam trong cộng đồng tài
chính, tiền tệ quốc tế.
- Đẩy mạnh công tác thông tin, t uyên truyền về hoạt động ngân hàng, nhằm tạo sự
đồng thuận của xã hội đối với hoạt động tiền tệ, ngân hàng, đồng thời, tạo thêm kênh giám sát
của xã hội đối với hoạt động của hệ thống n gân hàng
3.2 Biện pháp thúc đẩy cho vay kích cầu
- Điều chỉnh tỷ giá một cách hợp lý theo tín hiệu của thị trường, không tạo ra những
biến động về đồng tiền, tạo điều kiện cho DN ổn định sản xuất kinh doanh.
- Điều chỉnh hạ lãi suất để giảm chi phí, sẽ tạo điều kiện để giữ ổn định các ngân
hàng.
- Có chính sách hỗ trợ lãi vay cho các doanh nghiệp thực hiện các dự án đầu tư cơ sở

hạ tầng giao thông v à hạ tầng các khu kinh tế, các dự án cho khu vực nôn g n ghiệp, nông thôn,
nhà xã hội, các DN vừa và nhỏ.
- Nới lỏn g chính sách tiền tệ vừa đủ để kiểm soát vĩ m ô, vừa đủ để DN phát triển
trong giai đoạn khó khăn này.
- Mở rộng tín dụng có hiệu quả, phù hợp với quy định của pháp luật.
- Áp dụng lãi suất cho vay hợp lý trong điều kiện doanh nghiệp, hộ sản xuất đang gặp
khó khăn về sản xuất, kinh doanh.
- Xử lý kịp thời các vướng mắc về nợ vay và tiếp cận tín dụng của khách hàng.
- Phát triển hạ tầng, đặc biệt ưu tiên hạ tầng kinh tế là giao thông, thủy lợi, tăng vốn
đầu tư cho hạ tầng xã hội, tron g đó đặc biệt ưu tiên cho xây dựng trường học, bệnh viện ở
những vùng khó khăn, thiếu điều kiện cho phát triển nguồn nhân lực.
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh

3.3 Lĩnh vực cần cho vay kích cầu:
Trong giai đoạn kinh tế khó khăn hiện nay, kích cầu phải tập trung vào những lĩnh vực
tạo ra nhiều công ăn việc làm, kích thích luân chuyển hàng hóa để đẩy mạnh tiêu dùng. Để đạt
được những mục tiêu này, chúng ta phải:
- Miễn giảm thuế cho dân để tăng lượng tiền mặt của dân
- Giảm lãi suất vay để kích thích sản xuất hàng hóa cùng khuyến khích hoạt độn g v ay
tiêu dùng sôi độn g hơn.
Những lĩnh vực cần phải ưu tiên cho vay kích cầu là:
+ Sản xuất các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu như thực phẩm, quần áo…
+ Kích cầu vào cơ sở hạ tầng là kích cầu vào khâu then chốt, vì cơ sở hạ tầng của ta
còn kém. Hơn nữa, kích cầu vào cơ sở hạ tầng sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm hơn. Đầu tư
vào cơ sở hạ tầng hiện nay có thuận lợi hơn nhiều vì kinh tế vẫn có khả n ăng tăng trưởng.
+ Đầu tư vào ngành có mức độ lan tỏa lớn như: ngành chế biến lương thực thực phẩm,
ngành công nghiệp chế biến hàng hóa tiêu dùng và công nghiệp chế biến nguyên, vật liệu
phục vụ sản xuất. Kích cầu vào ba ngành này sẽ kích thích sản xuất của toàn ngành k inh tế.
+ Kích cầu vào các dự án cho khu vực nông nghiệp, nông thôn.
3.4 Xây dựng khung lãi suất và thời gian cho vay hợp lý

Thực hiện lãi suất thực dương. Xây dựng biểu lãi suất hợp lý: thời hạn vay càng dài
thì lãi suất càng cao, đồng thời cơ cấu lại biểu lãi suất chỉ còn giữ lại các kỳ hạn: không kỳ
hạn, 1, 3, 6, 9, 12 và trên 12 tháng, phân bổ mức lãi hợp lý để tạo nên “ đường cong lãi suất”.
Tình hình hiện nay, các ngân hàng nên chú trọng cho vay đối với các kho ản vay có
thời hạn ngắn hơn. Điều này sẽ được thay đổi khi tình hình kinh tế có những chuyển biến tích
cực hơn.
Trong thời gian tới, có thể hạ lãi suất cơ bản xuống tron g khoảng 8-8,5% /năm. Với
mức lãi suất này thì vừa với sức chịu đựng của các doanh nghiệp đồng thời thu hút được
nguồn vốn trong nhân dân, đảm bảo tính thanh khoản cho ngân hàng.


×