Tải bản đầy đủ (.docx) (64 trang)

Vận dụng pp grap dh giải phẫu sinh lý người cho hs

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (425.48 KB, 64 trang )

SỞ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TỈNH HÀ GIANG
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM

Hoàng Thị Hường - Nguyễn Thị Kim Dung - Nguyễn Quang
Huy

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NĂM HỌC 2012 - 2013

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP GRAP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC
HỌC PHẦN GIẢI PHẪU-SINH LÝ NGƯỜI CHO HỌC SINH NGÀNH
GIÁO DỤC MẦM NON TRƯỜNG CĐSP HÀ GIANG

Hà Giang, tháng 5 năm 2013

1


Phần I: MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
1. Xuất phát từ nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích
cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là một mục tiêu quan trọng của sự
nghiệp đổi mới giáo dục hiện nay ở nước ta, trong đó đổi mới phương pháp dạy học
được coi là một trong những nhiệm vụ chiến lược.
Với xu thế chung của việc đổi mới PPDH là sử dụng các PPDH có nhiều tiềm
năng phát huy cao độ tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS, chuyển từ hình thức
GV chỉ giới hạn vào việc truyền đạt thơng tin cho trị sang hình thức thày tổ chức hoạt
động độc lập nhận thức của trị qua đó phát huy tích tích cực, độc lập và sáng tạo của
HS. Giáo viên có vai trị tổ chức hoạt động nhận thức của HS theo tiếp cận hướng vào
người học, dạy cách học thơng qua q trình dạy, tạo năng lực học tập cho HS qua đó


vừa phát huy tính tích cực nhận thức vừa rèn luyện phương pháp tự học, chuyển thành
phong cách học tập độc lập sáng tạo, thành năng lực để học suốt đời. Thơng qua q
trình DH bộ mơn mà rèn luyện các năng lực tư duy sáng tạo, lôgic, biện chứng, công
nghệ và kinh tế, thực tiễn. Các năng lực tư duy trên chỉ được hình thành một cách định
hướng và có kế hoạch gắn liền với sự đổi mới PPDH nhằm hướng dẫn HS phương
pháp tự học, tự lĩnh hội tri thức, nhờ vậy mà bước vào cuộc sống sau giai đoạn học tập
tại nhà trường, người học có được bản lĩnh để có thể bước vào hoạt động học liên tục
và học suốt đời.
Đổi mới phương pháp dạy học thực chất là tiến hành một cuộc cách mạng trong
giáo dục, đào tạo; làm thay đổi mối quan hệ thày - trò vẫn diễn ra trong các hoạt động
giáo dục từ xưa đến nay. Từ chỗ thầy giữ vị trí trung tâm “cung cấp” thơng tin cho trị,
chuyển sang lấy trị là trung tâm, chủ thể nhận thức; từ độc thoại sang đối thoại; từ học
kiến thức làm trọng sang học phương pháp chiếm lĩnh kiến thức; từ học “giáp mặt”
đến tự học... Muốn vậy, thầy phải tự nguyện từ bỏ vai trò “ban cấp” kiến thức, lạm
dụng các phương pháp giảng giải, thuyết trình, độc thoại; chuyển sang vai trị là nhà
đạo diễn và thiết kế, người tổ chức - kích thích, người trọng tài - cố vấn trong dạy
học..., trả lại cho trò vai trò chủ thể nhận thức, làm cho trị khơng cịn học thụ động mà
học tích cực bằng hành động của chính mình, nhằm tham gia vào các khâu giáo dục
qua đó hình thành và hồn thiện nhân cách. Với tình hình đó việc tìm tịi những
phương pháp dạy học có tiềm năng nâng cao chất lượng dạy học theo hướng tích cực
hố hoạt động nhận thức của HS là một việc làm cần thiết
2. Xuất phát từ những ưu điểm của phương pháp grap
Grap là một chuyên ngành toán học hiện đại đã được ứng dụng vào nhiều
ngành khoa học khác nhau như: khoa học, kỹ thuật, kinh tế học, điều khiển học, vận

2


trù học, xây dựng, giao thông, quản lý, nghiên cứu khoa học, thiết kế dự án, tâm lý học
và khoa học giáo dục...

Về mặt nhận thức luận, có thể xem grap tốn học là phương pháp khoa học có
tính khái qt cao, có tính ổn định vững chắc để mã hoá các mối quan hệ của các đối
tượng được nghiên cứu.
Những nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy grap tốn học là đồ thị biểu diễn
quan hệ mang tính hệ thống giữa các đối tượng được mô tả, mà trong cấu trúc nội
dung các môn học các thành phần kiến thức dạy học trong một giáo trình, một chương,
một bài cũng được sắp xếp thành hệ thống kiến thức có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau; nếu vận dụng lý thuyết grap trong dạy học để mơ hình hố các mối quan hệ,
chuyển thành PPDH đặc thù, sẽ nâng cao được hiệu quả dạy học, thúc đẩy quá trình tự
học, tự nghiên cứu của HS, theo hướng tối ưu hoá, đặc biệt nhằm rèn luyện năng lực
hệ thống hoá kiến thức và năng lực sáng tạo của HS.
Trong lý luận dạy học, lý thuyết grap đã trở thành một tiếp cận mới thuộc lĩnh
vực PPDH, cho phép GV quy hoạch được quá trình dạy học tổng quát cũng như từng
mặt của nó, thiết kế tối ưu hoạt động dạy - học và điều khiển hợp lý quá trình này tiến
tới cơng nghệ hố một cách có hiệu quả q trình dạy học trong nhà trường theo
hướng tích cực hố hoạt động nhận thức của HS.
3. Xuất phát từ đặc điểm mơn học
Giải phẫu - sinh lí người là mơn khoa học nghiên cứu về cấu tạo và chức năng
sinh lý của các cơ quan trong cơ thể con người, trên cơ sở coi cơ thể là một khối thống
nhất toàn vẹn và thống nhất với ngoại cảnh dưới sự điều khiển, điều hoà và phối hợp
của hệ thần kinh và thể dịch. Kiến thức GP-SLN thể hiện các mối quan hệ như: quan
hệ giữa cấu trúc với cấu trúc, giữa cấu trúc với chức năng, giữa cấu trúc và chức năng
với mơi trường của cơ thể người, grap có nhiều ưu thế trong việc “mã hoá” các mối
quan hệ đó thành những sơ đồ mang tính trực quan.
Kiến thức GP-SLN giúp cho HS hiểu về cấu tạo và sự hoạt động của các cơ
quan trong cơ thể bản thân mình, từ đó có những biện pháp rèn luyện, bảo vệ sức
khoẻ, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần xây dựng cuộc sống lành mạnh. Kiến
thức GP-SLN còn là cơ sở cho việc giáo dục dân số, kế hoạch hố gia đình, giáo dục
ni dưỡng, chăm sóc sức khoẻ, sinh sản vị thành niên nhằm góp phần nâng cao chất
lượng cuộc sống, bảo vệ mơi trường…, đó là những mặt giáo dục mà Đảng và nhà

nước hiện đang hết sức quan tâm. Do đó, nâng cao chất lượng dạy học GP-SLN cho
HS ngành sư phạm Mầm non là một việc làm cần thiết.
Giải phẫu - sinh lí người đã được đưa vào dạy - học cho ngành giáo dục Mầm
non với các PPDH đặc trưng là phương pháp trực quan và phương pháp thực hành - thí
nghiệm. Đã có nhiều tác giả nghiên cứu tìm tịi các phương pháp và biện pháp DH nhằm

3


nâng cao chất lượng DH môn học này. Theo chúng tôi, các PPDH đặc thù trên cần được
hỗ trợ bằng các phương pháp tư duy như phương pháp mơ hình hoá mà phương pháp
grap là một ưu thế. Tức là, từ các hình ảnh trực quan và các kết quả thí nghiệm có thể
dùng grap để mơ hình hố mối quan hệ về mặt cấu trúc và về mặt chức năng của các đối
tượng nghiên cứu, giúp cho HS hiểu bài và hệ thống hoá kiến thức tốt hơn.
Như vậy, việc vận dụng phương pháp grap trong dạy học GP-SLN được xem
như là một trong những tiếp cận mới vừa bổ sung vào hệ thống PPDH truyền thống
vừa làm phong phú thêm kho tàng các PPDH sinh học.
Với những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Vận dụng phương pháp Grap
nâng cao hiệu quả giảng dạy học phần Giải phẫu - Sinh lý người cho HS ngành Sư
phạm Mầm non Trường CĐSP Hà Giang”
II. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Vận dụng phương pháp grap trong giảng dạy học phần “Giải phẫu - sinh lý
người” để nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn cho HS ngành Sư phạm Mầm non..
III. Đối tượng, khách thể nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: chuyển hoá grap toán học thành grap dạy học áp dụng
với giáo trình “Giải phẫu - sinh lý người”.
- Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học GP-SLN cho HS ngành giáo dục
Mầm non.
IV. Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng hợp lý phương pháp grap trong quá trình dạy học “Giải phẫu sinh lý người” sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy - học môn học này ở hai mức độ:

HS hiểu bài và hệ thống hoá kiến thức tốt hơn.
V. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc chuyển hoá grap
toán học thành grap dạy học GP-SLN, đồng thời xác định các nguyên tắc của việc
chuyển hoá grap toán học thành grap dạy học GP-SLN.
- Đề xuất quy trình kỹ thuật thiết kế grap nội dung và grap hoạt động trong dạy
học GP-SLN.
- Đề xuất các hình thức sử dụng grap trong dạy học GP-SLN nhằm nâng cao
chất lượng giảng dạy học phần này.
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính hiệu quả và tính khả thi của việc
sử dụng phương pháp grap để dạy học GP-SLN cho HS ngành giáo dục Mầm non ở
trường CĐSP Hà Giang.
VI. Phương pháp nghiên cứu
1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu về chủ trương đường lối của Đảng và nhà nước trong

4


công tác giáo dục chỉ đạo của bộ giáo dục và đào tạo về đổi mới nội dung, PPDH ở các
cấp bậc học làm cơ sở định hướng cho việc nghiên cứu.
- Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc chuyển hoá grap toán học thành grap dạy
học SH, đồng thời xác định các nguyên tắc của việc chuyển hoá grap tốn học thành
grap dạy học SH nói chung và dạy học GP-SLN nói riêng.
- Nghiên cứu cấu trúc nội dung chương trình học phần Giải phẫu sinh lý người.
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan làm cơ sở cho việc thiết kế và vận dụng
Grap trong giảng dạy học phần Giải phẫu sinh lý người.
2. Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến của những chuyên gia có kinh nghiệm về phương pháp dạy
học nói chung và phương pháp grap trong quá trình dạy học GP-SLN (các nhà quản lí,

giảng viên giảng dạy học phần GP-SLN lâu năm) để nhận định, đánh giá việc vận dụng
phương pháp grap trong giảng dạy học phần “Giải phẫu - sinh lý người” hiện nay.
3. Phương pháp quan sát sư phạm
- Quan sát trực tiếp: dự giờ, trao đổi, phỏng vấn giáo viên và học sinh.
- Quan sát gián tiếp: nghiên cứu kế hoạch giảng dạy, tham khảo các giáo án, sổ
điểm của giáo viên.
4. Phương pháp thống kê toán học
Các số liệu trong thực nghiệm sư phạm được xử lý thống kê bằng phần mềm
Microsoft Excel.
5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
5.1. Mục đích
Đây là phương pháp quan trọng nhất để có thể đánh giá tính đúng đắn của giả
thuyết khoa học và mức độ đạt mục tiêu của đề tài. Qua thực nghiệm nhằm kiểm tra
hiệu quả của việc vận dụng phương pháp grap trong giảng dạy học phần GP-SLN.
5.2. Phương pháp thực nghiệm
Do điều kiện khách quan chúng tôi chỉ tiến hành thực nghiệm ở 02 lớp giáo
dục Mầm non K2C 12+2 để tiến hành dạy thực nghiệm thực nghiệm có đối chứng, áp
dụng cách đánh giá như nhau về kết quả học tập của HS ở lớp TN và lớp ĐC, qua đó
thu thập các số liệu rồi dùng thống kê xử lý các số liệu (tính một số tham số đặc
trưng) rút ra các kết luận về hiệu quả của việc vận dụng grap trong dạy học GP-SLN.
5.3. Nội dung thực nghiệm
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành đối với các bài mà nội dung cho phép
thiết kế grap.
Trong các bài thực nghiệm chúng tôi chọn một số bài để khảo sát kết quả học
tập của HS.
VII. Những đóng góp của đề tài

5



- Xác định các nguyên tắc thiết kế và sử dụng grap trong dạy học. Những
nguyên tắc này sẽ giúp GV có định hướng đúng trong việc vận dụng grap vào dạy học
nói chung và dạy học GP-SLN nói riêng.
- Xây dựng quy trình thiết kế và sử dụng grap trong dạy học GP-SLN. Dựa vào
các quy trình này, GV có thể tự thiết kế và sử dụng grap một cách sáng tạo.
- Thiết kế bộ mẫu grap dùng cho giáo trình GP-SLN, GV có thể sử dụng ngay
những mẫu này trong thực tế dạy học.
- Đề xuất quy trình sử dụng phương pháp Grap vào dạy học bài lờn lớp.
VIII. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài.
Chương 2: Vận dụng phương pháp Grap trong dạy học giải phẫu sinh lý người
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
Tài liệu tham khảo và phụ lục.

6


Phần II: NỘI DUNG
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
I. Cơ sở lý luận
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và vận dụng lý thuyết grap trong dạy học
1.1. Trên thế giới
Các cơng trình việc nghiên cứu việc ứng dụng lý thuyết grap ra đời cách đây
khoảng 250 năm. Thời điểm xác định bước nhảy vọt của lý thuyết grap là thời điểm
cùng với sự phát triển của toán học và nhất là toán học ứng dụng.
Trong lí luận dạy học, việc nghiên cứu và vận dụng lý thuyết grap được quan
tâm từ những năm 60 của thế kỷ xx với một số công trình của các nhà khoa học Xơ
Viết. Người đầu tiên là A.M.Xokhor, ông đã vận dụng phương pháp graph để mơ hình

hố một đoạn nội dung tài liệu sách giáo khoa. Grap nội dung của tài liệu giáo khoa
giúp cho HS phát hiện được chúng một cách trực quan, không những số lượng các
khái niệm cơ bản tạo nên nội dung tài liệu SGT, mà còn nắm được cả mối liên hệ giữa
chúng với nhau, A.M.Xokhor đã giúp cho việc nhận dạng được cấu trúc của kiến thức.
Tiếp đó, nhà lý luận dạy học hoá học V.X.Polosin đã dùng phương pháp grap
để lập mơ hình trình tự các thao tác dạy và học trong một tình huống cụ thể. Grap của
tình huống DH do ơng xây dựng giúp chúng ta phân tích được bản chất của PPDH
được áp dụng trong tình huống DH đó và giải thích được hiệu quả của nó.
Năm 1972, V.P.Garkunov đã sử dụng phương pháp grap để lập mơ hình các
tình huống dạy học của PPDH nêu vấn đề. Trên cơ sở đó, ơng phân loại ra các tình
huống khác nhau trong dạy học nêu vấn đề.
Tuy nhiên, phương pháp grap do Xokhor, Polosin, Garkunov và những tác giả khác
đã đề xuất mới chỉ dừng ở mức là phương pháp nghiên cứu khoa học trong lý luận DH.
Sau này, các nhà nghiên cứu và các GV kinh nghiệm lâu năm trong nghề đã
đưa grap vào kiểm nghiệm trong thực tiễn giảng dạy và thấy rõ hiệu quả của giờ lên
lớp khi dạy bằng grap. Tiêu biểu có một số tác giả:
Cơng trình “grap và ứng dụng của nó” với bố cục 8 chương, L.Iu.Berezina đã
dành những chương đầu cho việc nêu khái niệm garp và ứng dụng có tính chất riêng biệt
để minh họa cho lý thuyết này. Những chương sau, tác giả đã dành sự chú ý cho những
ứng dụng cuả grap trong lĩnh vực kinh tế và điều khiển. Ơng khẳng định mục đích chính
khi viết cuốn sách là “giúp đỡ giáo viên, kể cả học sinh, nắm vững khái niệm cơ bản của
lý thuyết đồ thị... và làm quen với một vài ứng dụng của nó dưới dạng phổ cập”
Ngồi ra, có thể kể đến một số cơng trình khác như: “grap và mạng lưới hữu
hạn” của R.Baxep, T.Xachi; “lý thuyết grap” của V.V.Belop, E.M.Vơpơbơep... đều có

7


nêu những định hướng cho việc ứng dụng grap vào nghiên cứu, giảng dạy các bộ môn
trong nhà trường như: văn học, vật lí, hố học, sinh học...

Hiện nay, nhiều nước khác nhau trên thế giới, các cơng trình nghiên cứu về lý
thuyết grap cũng như tìm hiểu vận dụng grap trong dạy học ở tất cả các môn học, các
cấp học số lượng ngày càng lớn với chất lượng ngày càng sâu sắc.
1.2. Ở Việt Nam
- Ở Việt Nam, nhà sư phạm đầu tiên đề xuất việc nghiên cứu và vận dụng
phương pháp grap trong khoa học thành phương pháp grap DH, mở ra một hướng đi
mới cho những nhà nghiên cứu lí luận DH là G.S. Nguyễn Ngọc Quang. GS đã cùng với
các cộng sự tiến hành thực nghiệm đưa lý thuyết grap vào DH trong nhà trường phổ
thông và đại học. Năm 1979, giáo sư viết cuốn sách “lí luận dạy học- khoa học về trí dục
và dạy học” như một lời tun ngơn cho việc “tìm cách vận dụng những phương pháp
thâm nhập khoa học (như TN, dự đốn, mơ hình, algorit, sơ đồ mạng ...) vào thực tiễn
DH ở trường phổ thơng”. Sau đó vào năm 1981 ông công bố bài báo: “phương pháp
grap trong dạy học”; năm 1983 ông công bố bài: “Sự chuyển hoá phương pháp khoa học
thành PPDH”... Qua những nghiên cứu của mình, giáo sư khẳng định việc sử dụng
phương pháp grap trong DH có giá trị rất lớn về mặt trí dục, vì: “khi lập được grap nội
dung của một vấn đề có nghĩa là nắm vững được cả cấu trúc và lơgic phát triển của nội
dung vấn đề đó, đồng thời grap nội dung của vấn đề chính là điểm tựa cho sự lĩnh hội,
tái hiện nội dung đó”. Song song với giá trị trí dục, phương pháp này có giá trị rất lớn về
mặt đức dục, vì: “grap nội dung của một bài lên lớp là công cụ cho cả GV và HS nhằm
đạt được chất lượng cao của dạy và học đặc biệt là của tự học”...
- Năm 1984 nhà giáo Phạm Tư đã nghiên cứu: “Dùng grap nội dung của bài lên
lớp để dạy học chương “Nitơ-Phốtpho”, tác giả đã nghiên cứu việc dùng phương pháp
grap với tư cách là phương pháp dạy học (biến phương pháp grap trong toán học thành
phương pháp dạy học hoá học). Năm 2003, TS. Phạm Tư một lần nữa khẳng định hiệu
quả của grap trong việc nâng cao chất lượng dạy học qua hai bài báo “Dạy học bằng
phương pháp grap nâng cao chất lượng giờ giảng” và “Dạy học bằng phương pháp
grap góp phần nâng cao chất lượng học tập, tự học”.
- Năm 1993, Hoàng Việt Anh đã nghiên cứu “Vận dụng phương pháp sơ đồ grap vào giảng dạy địa lý. Tác giả đã tìm hiểu và vận dụng phương pháp grap vào quá
DH và đã bổ sung một phương pháp dạy học cho những bài thích hợp, trong tất cả các
khâu lên lớp (chuẩn bị bài, nghe giảng, ôn tập, kiểm tra) nhằm nâng cao năng lực lĩnh

hội tri thức, nâng cao chất lượng dạy học bộ môn địa lý.
- Trong những năm gần đây, nhất là sau khi thực hiện chương trình cải cách
giáo dục, các bài viết về việc dùng grap trong dạy học đã có những bước chuyển nhất
định. Các vấn đề nghiên cứu trở nên đa dạng, phong phú và đội ngũ tác giả ngày một

8


đông đảo hơn. Việc ứng dụng lý thuyết grap cũng được mở rộng ở nhiều môn khác
nhau trong nhà trường. Có thể kể đến các tác giả sau:
Phạm T. Trinh Mai (1997) với bài viết: “Dùng grap dạy tổng kết hoá học theo chủ đề”.
Nguyễn Phúc Chỉnh với: “Sử dụng Grap nhằm tích cực hố hoạt động nhận thức
của học sinh trong dạy học sinh thái học’’, và “Sử dụng Grap trong DH sinh học góp phần
phát triển tư duy hệ thống”. Năm 2005 tác giả nghiên cứu: “ Nâng cao hiệu quả dạy học
giải phẫu sinh lý người ở THCS bằng áp dụng phương pháp grap”. Trong lĩnh vực dạy
học sinh học ở trờng phổ thông, Nguyễn Phúc Chỉnh là người đầu tiên đi sâu nghiên cứu
một cách hệ thống về lý thuyết grap và ứng dụng lý thuyết grap trong dạy học GP-SLN.
Phạm Thị My (2000) nghiên cứu “ứng dụng lý thuyết Grap xây dựng và sử
dụng sơ đồ để tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh trong DH sinh học ở THPT”.
Nguyễn Thị Ban: “Sử dụng grap để dạy những bài về từ và tiếng việt ở
THCS”, “Sử dông graph trong dạy học tiếng việt cho học sinh TH cơ sở”, và “sử dụng
grap vào việc phân tích mối quan hệ nghĩa giữa các câu trong đoạn văn”.
Phạm Minh Tâm, với: “Sử dụng grap vào dạy học địa lý lớp 12 THPT ”.
Nguyễn Mạnh Chung: “Hướng dẫn học sinh giải toán bằng phương pháp grap”.
Trịnh Quang Từ: “Sử dụng grap trong thiết kế phương pháp dạy học”.
Phan Xuân Đạm, Phạm Trọng Tân (2007): “Sử dụng grap trong dạy học từ loại
tiếng việt cho SV dân tộc thiểu số theo chương trình CĐSP 2004”...
Như vậy, chúng ta thấy việc vận dụng lý thuyết grap vào quá trình dạy học ở
nước ta đã bước đầu được quan tâm và ngày càng thu hút được sự chú ý của nhiều nhà
sư phạm cùng đông đảo các thầy cô giáo.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu về dạy học GP-SLN
- Ở Việt Nam, từ năm 1980 do đặc thù kiến thức, PPDH chủ yếu được dùng để
dạy GP-SLN là phương pháp trực quan và phương pháp thực hành - thí nghiệm.
- Năm 1973, tác giả Nguyễn Quang Vinh đã nghiên cứu về những thí nghiệm
trên ếch và cóc để giảng dạy Giải phẫu sinh lý. Tác giả cũng đã nghiên cứu về cải tiến
phương pháp thí nghiệm sử dụng thí nghiệm trong DH để phát triển óc sáng tạo của HS.
- Năm 1996, trong luận án phó tiến sĩ khoa học giáo dục, tác giả Nguyễn Thị
Dung đã nghiên cứu “Nâng cao chất lượng dạy học GP-SLN bằng dạy học giải quyết
vấn đề”. Trong cơng trình này tác giả đã trình bày kỹ thuật tạo tình huống có vấn đề và
giải quyết vấn đề trong dạy học GP-SLN nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của HS.
- Năm 2004 trong luận án tiến sĩ khoa học giáo dục, tác giả nguyễn phúc Chỉnh
đac nghiện cứu "Vận dụng lý thuyết grap để nâng cao chất lượng dạy - học môn GPSLN sinh học 8 ở trường phổ thông"
- Hiện nay GV vẫn giảng dạy học phần GP-SLN bằng phương pháp giảng giải,
nội dung bài giảng được truyền đạt gần như y nguyên nội dung bài khoá, do vậy HS

9


thường phải học thuộc lịng ghi nhớ máy móc theo bài chép tại lớp hay theo giáo trình.
Nguyên nhân của tình trạng này được các GV lý giải rằng: do còn thiếu thốn, nghèo
nàn đồ dùng dạy học; hoặc do GV khơng có thời gian để chuẩn bị bài giảng….
- Đa số GV có sử dụng phương tiện trực quan (tranh vẽ, mơ hình) trong bài
giảng, nhưng chỉ để minh hoạ cho lời giảng của GV chứ chưa coi phương tiện trực
quan như một nguồn thông tin để HS tiếp nhận trực tiếp.
- Cịn ít GV sử dụng phương tiện trực quan để tổ chức quá trình dạy học theo
hướng tích cực hố và độc lập hoạt động nhận thức của HS.
3. Tình hình nghiên cứu vận dụng lý thuyết grap trong dạy học GP-SLN
Cho đến nay việc sử dụng grap để dạy học vẫn chưa được ứng dụng ở diện rộng
và chưa thực sự trở thành phương pháp dạy học phổ biến, đặc biệt là trong mơn sinh
học nói chung và học phần GP-SLN nói riêng. Ở mơn Sinh học nghiên cứu về grap có

thể nói mới chỉ có thầy Nguyễn Phúc Chỉnh là người đầu tiên nghiên cứu và vận dụng
lí thuyết grap để soạn giảng từng phần kiến thức bài giảng sinh học cụ thể trong
chương trình phổ thơng và đây là những gợi mở góp phần giúp chúng tôi định hướng
bước đầu cũng như hiểu biết khái quát về grap và sử dụng nó để dạy học trong nhà
trường Cao đẳng sư phạm. Như vậy, việc sử dụng grap vào dạy học sinh học nhằm
nâng cao chất lượng học tập của học sinh khơng cịn là một vấn đề mới mẻ, nhưng để
cụ thể hoá phương pháp này trong giảng dạy học phần GP-SLN và ứng dụng nó, triển
khai nó trong việc DH mơn sinh học nói chung và học phần GP-SLN nói riêng ở diện
rộng là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu.
II. Cơ sở thực tiễn
1. Tình hình sử dụng phương pháp dạy học trong giảng dạy GP-SLN
Học phần GP-SLN là kiến thức chun mơn trong chương trình đào tạo Ngành
giáo dục mầm nong. Đã có nhiều tác giả nghiên cứu tìm tịi các phương pháp và biện
pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng DH môn học này.
Tại Liên xô (cũ), nhiều tác giả đã nghiên cứu sử dụng các phương tiện trực
quan (tranh vẽ, mơ hình, mẫu vật) và thí nghiệm trong dạy học GP-SLN, tiêu biểu là
E.P.Brunôp (1954), I.V.Kôzưp, P.I.Xuvôrôva, A.M. Xuđơme (1960), E.A. Sokhôlova
(1961)…[38].
Ở Việt Nam, từ năm 1980 về trước nhìn chung do đặc thù kiến thức, PPDH chủ
yếu được dùng để dạy GP-SLN là phương pháp trực quan và phương pháp thực hành thí nghiệm.
Năm 1973, tác giả Nguyễn Quang Vinh đã nghiên cứu về những thí nghiệm
trên ếch và cóc để giảng dạy Giải phẫu sinh lý. Tác giả đã cải tiến một số thí nghiệm
về đối tượng nghiên cứu như: lấy máu ếch để tiến hành các thí nghiệm về thành phần
của máu, hiện tượng đơng máu và vai trị của máu trong trao đổi khí; nghiên cứu sự

10


biến đổi của protêin bằng dịch vị chế từ dạ dày ếch; tạo ảnh ở mắt ếch. Tác giả cũng
nghiên cứu về cải tiến phương pháp thí nghiệm như: cải tiến phương pháp phá tuỷ các

con vật để mổ; cải tiến phương pháp tìm dây thần kinh mê tẩu - giao cảm ở ếch...
Đồng thời tác giả đã nghiên cứu sử dụng thí nghiệm trong dạy học để phát triển óc
sáng tạo của của người học [38].
Năm 1996, trong luận án phó tiến sĩ khoa học giáo dục, tác giả Nguyễn Thị Dung
đã nghiên cứu “Nâng cao chất lượng dạy học GP-SLN lớp 9 bằng dạy học giải quyết vấn
đề” [9]. Trong cơng trình này tác giả đã trình bày kỹ thuật tạo tình huống có vấn đề và giải
quyết vấn đề trong dạy học GP-SLN nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của HS.
Năm 2004, trong luận án tiến sĩ khoa học giáo dục, tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh
đẫ nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả dạy học GP-SLN ở trung học cơ sở bằng áp dụng
phương pháp grap”.
- Hiện nay đa số GV dạy học học phần GP-SLN đã và đang sử dụng phương
tiện trực quan (tranh vẽ, mơ hình) trong bài giảng, nhưng chỉ để minh hoạ cho lời
giảng của GV chứ chưa coi phương tiện trực quan như một nguồn thông tin để người
học tiếp nhận trực tiếp kiến thức.
- Rất ít GV sử dụng phương tiện trực quan để tổ chức quá trình dạy học theo
hướng tích cực hố và độc lập hoạt động nhận thức của HS.
Vì vậy; nội dung bài giảng được truyền đạt gần như y nguyên nội dung bài khoá
và HS thường phải học thuộc lịng ghi nhớ máy móc theo giáo trình.
2. Sử dụng tranh vẽ, bảng số liệu, sơ đồ, đồ thị trong dạy học GP-SLN
Qua phương pháp quan sát sư phạm chúng tôi nhận thấy hiện nay trong dạy học
GP-SLN giáo viên sử dụng tranh vẽ, bảng số liệu trong các bài giảng nhiều hơn so với
sử dụng các sơ đồ và đồ thị.
Còn theo phương pháp chuyên gia chúng tôi được biết do đặc thù của bộ mơn
và cấu trúc của chương trình - giáo trình nên hiện nay tranh ảnh, mơ hình, mẫu vật
đang được sử dụng rộng rãi trong các bài giảng, còn các sơ đồ và đồ thị trong dạy học
GP- SLN hầu như GV ít và khơng tự thiết kế.
Ngun nhân là do một số giáo viên tập trung lo đến việc dạy tri thức mà ít chú
ý đến việc rèn luyện các kỹ năng cho học sinh, đặc biệt là kỹ năng gia công tài liệu và
kỹ năng tự học với giáo trình. Bên cạnh đó cịn một số ít GV ngại khó và khơng có
thời gian để chuẩn bị bài giảng...

Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu cải tiến PPDH nhằm nâng cao hơn nữa
chất lượng dạy học học phần GP-SLN cho HS ngành giáo dục Mầm non trong trường
CĐSP Hà Giang.

11


Chương II
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP GRAP TRONG DẠY HỌC
GIẢI PHẪU SINH LÝ NGƯỜI
I. Đặc điểm kiến thức giải phẫu sinh lý người
- Kiến thức mô, tế bào: Khái niệm về mô, tế bào. Các loại mô, các loại tế bào và
chức năng của chúng trong cơ thể.
- Kiến thức giải phẫu: Cấu tạo các cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể con người
nói chung, trẻ em nói riêng.
- Kiến thức sinh lý: Mơ tả các q trình hoạt động của các cơ quan, hệ cơ quan
trong cơ thể con người.
- Kiến thức vệ sinh: Q trình chăm sóc, bảo vệ và phịng bệnh...
II. Chuyển hố Grap tốn học thành Grap dạy học GP – SLN
1. Cơ sở khoa học của việc chuyển hoá grap toán học thành grap dạy học
GP-SLN
Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Quang hệ thống các phương pháp khoa học gắn bó với
nhau, thâm nhập vào nhau và sinh thành ra nhau, các phương pháp khoa học có thể
chuyển hố cho nhau để hình thành những nhóm phương pháp mới phù hợp với mục tiêu
và nội dung đặc thù của từng hoạt động [21]. Chuyển hoá các phương pháp khoa học
thành PPDH, thông qua xử lý sư phạm là một trong những hướng của chiến lược đổi mới
và hiện đại hoá PPDH.
Phương pháp khoa
học


Chuyển hoá

PPDH ở nhà
trường

Theo quy trình trên, những năm cuối thế kỷ XX, trên thế giới đã xuất hiện xu
hướng chuyển hoá phương pháp algorit của tốn học thành PPDH nhiều bộ mơn khơng
phải là toán học, nhằm cung cấp cho HS một phương pháp tư duy và tự học có hiệu
quả [37]. Trong dạy học, lý thuyết grap cũng cung cấp một phương pháp khoa học
thuộc loại khái quát như phương pháp algorit, nó thuộc nhóm “phương pháp riêng
rộng” [21] và đã được một số nhà lý luận DH cải biến theo những quy luật tâm lý và lý
luận dạy học để sử dụng vào dạy học với tư cách là một PPDH. Như vậy, có thể
chuyển hố grap tốn học thành grap dạy học.
1.1. Cơ sở tốn học
Nội dung chính của lý thuyết grap bao gồm các khái niệm, định lý và nguyên tắc
của grap toán học thuộc nhiều vấn đề, trong đó có bốn vấn đề cơ bản sau: một số khái
niệm về grap có hướng; các bài tốn về đường đi; khảo sát về cây; bài toán về con đường
ngắn nhất. Trong mỗi nội dung trên đều có nhiều khái niệm, định lý đã được chứng minh
bằng cơng thức tốn học. Đề tài không đi sâu nghiên cứu về lý thuyết grap, mà chỉ tìm

12


hiểu những tư tưởng cơ bản của lý thuyết grap từ đó vận dụng vào q trình dạy học SH ở
trường CĐSP Hà Giang.
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về grap có hướng
Trong nhiều tình huống, chúng ta thường vẽ những sơ đồ, gồm những điểm biểu
thị các đối tượng được xem xét và các đường nối các điểm với nhau tượng trưng cho một
quan hệ nào đó giữa các đối tượng - đó chính là các grap.
Định nghĩa: Một grap (G) gồm một tập hợp điểm gọi là đỉnh (vertiex) của grap

cùng với một tập hợp đoạn thẳng hay đường cong gọi là cạnh (edge) của grap, mỗi
cạnh nối hai đỉnh khác nhau và hai đỉnh khác nhau được nối bằng nhiều nhất là một
cạnh [7], [23].
Mỗi đỉnh của grap được ký hiệu bằng một chữ cái (A,B,C…) hay chữ số (1,2,3…).
Mỗi grap có thể được biểu diễn bằng một hình vẽ trên một mặt phẳng. Ví dụ, grap trong
hình 1.













Hình 1. Grap với 6 đỉnh và 7 cạnh
Như vậy, một grap gồm một tập hợp các điểm gọi là đỉnh và một tập hợp đoạn
thẳng hay đoạn đường cong gọi là cạnh (cung). Mỗi cạnh nối hai đỉnh khác nhau và
hai đỉnh khác nhau được nối bằng nhiều nhất là một cạnh (grap đơn), [7].
Xét một đỉnh của grap, số cạnh tới đỉnh đó gọi là bậc (degree) của đỉnh. Các
cạnh của grap thẳng hay cong, dài hay ngắn, các đỉnh ở vị trí nào, đều khơng phải là
điều quan trọng, mà điều cơ bản là grap có bao nhiêu đỉnh, bao nhiêu cạnh và đỉnh
nào được nối với đỉnh nào.
Grap có thể được biểu diễn dưới dạng sơ đồ, dạng biểu đồ quan hệ hoặc dạng
bảng (ma trận). Một grap có thể có những cách thể hiện khác nhau, nhưng phải chỉ rõ
được mối quan hệ giữa các đỉnh.

Ví dụ, hình 2 là một grap có 4 đỉnh A, B, C, D được biểu diễn bằng hai kiểu
khác nhau, nhưng mối quan hệ của các đỉnh không thay đổi.
A

B

A

D
B
C

D
C

13


Hình 2. Hai cách thể hiện khác nhau của một grap
Dựa vào tính chất này, trong dạy - học chúng ta có thể lập được những grap
có cách sắp xếp các đỉnh ở các vị trí khác nhau, nhưng vẫn thể hiện được mối quan
hệ của các đỉnh.
Trong một grap có thể có đỉnh lại là một grap thì những đỉnh đó gọi là grap con.
Trong hình 3. đỉnh C là một grap con vì đỉnh C là một grap có các đỉnh e, g, h.

A

g

e

h
B

Hình 3. Grap con (Đỉnh C là grap con)
Ví dụ, tế bào là đơn vị cấu trúc và chức năng của cơ thể sinh vật đa bào, các cấp
độ tổ chức trong cơ thể là: tế bào - mô - cơ quan - hệ cơ quan. Nếu lập grap mô tả các
cấp độ tổ chức trong cơ thể thì mỗi đơn vị tổ chức trên được coi là một đỉnh của grap.
Tuy nhiên, mỗi đỉnh đó lại có thể lập được một grap, ví dụ tế bào gồm: màng, tế bào
chất và nhân. Như vậy trong grap về cấu tạo cơ thể, đỉnh “tế bào” là một grap con.
Grap vơ hướng và grap có hướng
Nếu với mỗi cạnh của grap không phân biệt điểm gốc (đầu) với điểm cuối (mút)
thì đó là grap vơ hướng (Undirected grap). Hình 1. là grap vơ hướng.
Nếu với mỗi cạnh của grap, ta phân biệt hai đầu, một đầu là gốc cịn một đầu là
cuối (hình 4) thì đó là grap có hướng (Directed graph).
Trong dạy học, người ta thường chỉ quan tâm đến grap có hướng vì grap có
hướng cho biết cấu trúc của đối tượng nghiên cứu.
B

A

D

C
Hình 4. Grap có hướng

14


Ví dụ, cấu tạo tế bào gồm có 3 phần chính: màng, tế bào chất và nhân chúng ta
có thể dùng một grap để mô tả cấu trúc của tế bào như hình 5. (Mũi tên một chiều chỉ

các thành phần cấu tạo; mũi tên hai chiều chỉ mối quan hệ về mặt cấu trúc của tế bào)
Màng

TẾ BÀO

Tế bào chất

Nhân
Hình 5. Grap cấu trúc tế bào
1.1.2. Bài tốn về “đường đi” (chu trình)
Trong một grap nếu có một dãy cạnh nối tiếp nhau (hai cạnh nối tiếp là hai cạnh có
chung một đầu mút) thì được gọi là đường đi. Ví dụ, cho một grap P trong đó có một dãy
các đỉnh , , ,,  và có các cạnh e1, e2, e3, e4 nối các đỉnh đó để tạo ra đường đi P.
P =  e1 
e2 
e3 
e4 
Một grap được gọi là liên thông nếu mọi cặp đỉnh của nó đều được nối với
nhau bởi một đường đi. Bài toán về “đường đi” là một nội dung quan trọng của lý
thuyết grap.
Bài toán về đường đi có nhiều ý nghĩa trong thực tiễn. Trong dạy học, ứng dụng
bài tốn về chu trình có thể lập được các grap về các chu trình hoặc các vịng tuần hồn.
Ví dụ, vịng tuần hồn máu, hình 6.
Động mạch phổi

Mao mạch
Phổi

TÂM NHĨ PHẢI


TÂM NHĨ TRÁI

TIM

Van tim 3 lá
TÂM THẤT PHẢI

Tĩnh mạch

Tĩnh mạch phổi

Van tim 2 lá
TÂM THẤT TRÁI

Mao mạch các cơ
quan

Hình 6. Vịng tuần hồn máu
1.1.3. Bài tốn về “cây”

15

Động mạch


Khái niệm “cây’ trong lý thuyết grap: Cây (tree) còn gọi là cây tự do là một
grap liên thông không có chu trình (hình 7). Khảo sát về cây là một nội dung quan
trọng của lý thuyết grap và có nhiều ứng dụng trong thực tiễn.
Cho T là một cây, thì giữa hai đỉnh bất kỳ của T ln ln tồn tại một và chỉ
một đường trong T nối hai đỉnh đó.

Cây có gốc là một cây có hướng trên đó đã chọn một đỉnh là gốc và các cạnh được
định hướng, sao cho với mọi đỉnh ln ln có một đường hướng từ gốc đi đến đỉnh đó.
Có hai loại cây đó là cây đa phân và cây nhị phân.
* Cây đa phân
Nếu số cạnh của một đỉnh trong cây là khơng xác định thì đó là cây đa phân.
Trong hình 7 grap có cả đỉnh bậc 2, đỉnh bậc 3 và đỉnh bậc 4 nên gọi là cây đa phân.

Hình 7. Cây đa phân
Trong dạy học SH cây đa phân được dùng để mô tả nguồn gốc phát sinh và tiến
hoá của sinh giới (cây tiến hoá).
Trong dạy học GP-SLN, có thể dùng cây đa phân để mơ tả cấu tạo và chức
năng của các cơ quan trong cơ thể.
Ví dụ, cấu tạo của hệ hơ hấp.
Cấu tạo

Chức năng

Khoang mũi

Cấu tạo

Chức năng

Khí quản, phế quản

Cấu tạo

Chức năng

Phổi


HỆ HƠ HẤP
Hình 8. Cấu tạo hệ hơ hấp
* Cây nhị phân
Cây nhị phân là cây có gốc sao cho mọi đỉnh đều có nhiều nhất là hai cạnh
(hình 9). Cây nhị phân có nhiều ứng dụng quan trọng trong các giải thuật của tin học.

16


Hình 9. Cây nhị phân
Trong dạy học SH, cây nhị phân thường được dùng để lập các sơ đồ nhánh như
dùng cây nhị phân để xác định kiểu gen của các loại giao tử trong phép lai hữu tính.
Ví dụ, dùng một “cây” để mô tả cấu trúc và chức năng của nơron (hình 10),
trong đó khái niệm “nơron” là gốc, các đỉnh “cấu trúc” và “chức năng” là cây con bậc
1; các đỉnh “thân”, “tua”, “cảm ứng” và “dẫn truyền” là cây con bậc 2... tiếp tục các
bậc như vậy đến đỉnh cuối cùng là “ngọn” của cây (tua ngắn, tua dài).
Tua ngắn (sợi nhánh)

Tua dài (sợi trục)

Tua

Thân

(Ngọn)

Hưng phấn

Dẫn truyền


(Cây con bậc 2)
Chức năng

Cấu trúc
(Cây con bên trái)

(Cây con bên phải)

NƠRON

(Gốc)

Hình 10. “Cây” về cấu trúc và chức năng của nơron
Xét cây từ gốc: Xét cây từ gốc tức là xem xét cây từ gốc đến cây con bên trái
rồi xét tiếp và đến cây con bên phải, cứ như vậy cho đến đỉnh cuối cùng (ngọn).
Trong hình 10, để hiểu cấu tạo và chức năng của nơron, từ đỉnh “nơron” (gốc)
xét đến cây con bậc 1 bên trái là đỉnh “cấu tạo”, sau đó xét tiếp các cây con bậc 2…
cho đến “ngọn”. Sau đó quay lại xét cây con bậc 1 bên phải “chức năng”. Sau khi các
thao tác xét cây hồn chỉnh, chúng ta sẽ có một “bức tranh ” tổng thể về một đối tượng
nghiên cứu, bao gồm các yếu tố cấu trúc và mối liên hệ của các yếu tố trong một hệ
thống. Giải thuật này tương ứng với thao tác phân tích trong tư duy.
Trong dạy học SH, giải thuật xét cây từ gốc sẽ giúp cho HS có hệ thống khái
niệm mang tính tầng bậc rõ rệt.
Xét từ giữa cây: Xét từ giữa cây tức là bắt đầu xét từ một cây con bất kỳ trong
cây trở về gốc, đồng thời xét đến các cây con khác cho tới ngọn.
Trong hình 10, có thể xét từ bất kỳ đỉnh nào trong cây. Ví dụ, “tua” là một
thành phần cấu trúc của nơron, gồm có tua ngắn (sợi nhánh) và tua dài (sợi trục).

17



Trong dạy học SH, khi tiếp xúc với bất kỳ một khái niệm nào cũng sử dụng giải
thuật này, trước hết xem khái niệm đó thuộc khái niệm nào ở cấp độ rộng hơn, rồi xem
trong khái niệm đó có khái niệm nào ở cấp độ nhỏ hơn (khái niệm giống và khái niệm
loài so với khái niệm đang xét).
- Xét từ ngọn: Ngược lại với giải thuật xét từ gốc, giải thuật xét từ ngọn tức là
xét một cây từ các yếu tố nhỏ nhất (ngọn) ngược trở về gốc. Giải thuật xét từ ngọn cần
được kết hợp với giải thuật xét từ trong giữa cây.
Nghiên cứu về các phép duyệt cây giúp chúng ta xác định được hướng nghiên
cứu cho những đối tượng cụ thể. Trong dạy học, điều đó sẽ định hướng cho các hoạt
động sư phạm của GV và hoạt động nhận thức của HS đối với những khái niệm mang
tính hệ thống.
1.1.4. Bài tốn con đường ngắn nhất (mạng liên thơng ngắn nhất)
Bài tốn con đường ngắn nhất là một ứng dụng quan trọng của lý thuyết grap, sử
dụng grap có hướng để nghiên cứu các vấn đề trong cuộc sống theo hướng tối ưu hóa
“Phương pháp đường găng - Con đường tới hạn”
Phương pháp đường chỉ ra các phương án có thể xảy ra khi thực hiện một hoạt
động. Trong đó, có những con đường thực hiện với thời gian tối thiểu hoặc tối đa để
hoàn thành các nhiệm vụ.
Như vậy, phương pháp đường găng cho biết con đường ngắn nhất và con đường
dài nhất để hoàn thành hoạt động.
Trong dạy học, phương pháp đường găng có thể được ứng dụng để xác định
trình tự các thao tác và các hoạt động trong mỗi bài học theo hướng tối ưu hố.
Ví dụ: dạy khái niệm “phản xạ” có 2 phương án để thực hiện các thao tác khi dạy.
Phương án 1. Theo con đường quy nạp có các bước sau.
Bước 1. Lấy một số ví dụ về phản xạ: sờ tay vào vật nóng thì rụt tay lại, hoặc
dùng đèn chiếu vào mắt thì mắt nhắm lại...
Bước 2. Phân tích nguyên nhân và cơ chế gây phản xạ: do sự tác động của các
yếu tố kích thích (nhiệt độ, ánh sáng…) xuất hiện xung thần kinh theo nơ ron hướng

tâm về trung ương thần kinh, rồi chuyển sang nơron ly tâm đến các cơ ở tay, ở mắt...
gây ra hiện tượng rụt tay hay nhắm mắt lại…
Bước 3. Nêu khái niệm phản xạ: phản xạ là một phản ứng của cơ thể trả lời kích
thích của mơi trường ngồi hay mơi trường trong thơng qua hệ thần kinh.
Phương án 2. Theo con đường diễn dịch có các bước sau.
Bước 1. Nêu khái niệm về phản xạ.
Bước 2. Nêu một ví dụ về phản xạ: khi sờ tay vào vật nóng, tay sẽ giật lại.
Bước 3. Dùng câu hỏi để HS phân tích nguyên nhân và cơ chế gây phản xạ trên.
Khi chạm tay vào vật nóng sẽ xuất hiện xung thần kinh từ da tay chuyển về trung ương

18


thần kinh được xử lý rồi chuyển sang nơron ly tâm đến cơ ở cổ tay gây ra hiện tượng giật
tay lại.
Bước 4. Yêu cầu HS lấy các ví dụ khác về phản xạ và chỉ rõ hướng đi của xung
thần kinh gây ra phản xạ.
Bước 5. Qua các ví dụ cụ thể yêu cầu HS nêu ý nghĩa của phản xạ.
Như vậy, cùng một khái niệm phản xạ nhưng có 2 cách khác nhau để thực hiện
các thao tác dạy - học. Việc xác định các phương án khác nhau rồi lựa chọn những
phương án theo hướng tối ưu hố bài học, chính là đã thực hiện tư tưởng của phương
pháp đường găng.
1.2. Cơ sở lý luận dạy học
Trong những năm gần đây, đã có những cơng trình khoa học xét q trình DH
dưới góc độ định lượng bằng những cơng cụ của tốn học hiện đại. Việc này có tác
dụng nâng cao hiệu quả của hệ DH cổ truyền, đồng thời mở ra những hệ DH mới tăng
cường tính khách quan hố (vạch kế hoạch chi tiết có tính algorit), cá thể hố (nâng
cao tính tích cực, tự lực và sáng tạo)… Theo lí thuyết thơng tin q trình DH tương
ứng với một hệ thơng báo gồm 3 giai đoạn: Truyền và nhận thông tin; Xử lý thông tin;
Lưu trữ và vận dụng thông tin [18].

Truyền thông tin khơng chỉ từ thày đến trị mà cịn truyền từ trò đến thày (liên
hệ ngược) hoặc giữa trò với các phương tiện DH (sách, đồ dùng DH...) hoặc giữa trò
với trò. Như vậy, giữa thày và trò; giữa phương tiện học tập với trị; giữa trị với trị
đều có các đường (kênh) để chuyển tải thơng tin đó là: kênh thị giác (kênh hình); kênh
thính giác (kênh tiếng); kênh khứu giác… Trong đó, kênh thị giác có năng lực chuyển
tải thơng tin nhanh nhất, hiệu quả nhất.
Grap có tác dụng mơ hình hố các đối tượng nghiên cứu và mã hố các đối tượng
đó bằng một loại “ngơn ngữ” vừa trực quan vừa cụ thể và cơ đọng. Vì vậy, DH bằng
grap có tác dụng nâng cao hiệu quả truyền thơng tin nhanh chóng và chính xác hơn.
Xử lý thơng tin là sử dụng các thao tác tư duy nhằm phân tích thơng tin, phân
loại thơng tin và sắp xếp các thông tin vào những hệ thống nhất định (thiết lập mối
quan hệ giữa các thông tin). Hiệu quả của những thao tác đó phụ thuộc vào chất lượng
thơng tin và năng lực nhận thức của từng HS. Tuy nhiên, nhờ các grap mã hố các
thơng tin theo những hệ thống logic hợp lý đã làm cho việc sử lý thông tin hiệu quả
hơn rất nhiều.
Lưu trữ thông tin là việc ghi nhớ kiến thức của HS. Những cách DH cổ truyền
thường yêu cầu HS ghi nhớ một cách máy móc (học thuộc lịng) vì vậy HS dễ qn.
Grap sẽ giúp HS ghi nhớ một cách khoa học, tiết kiệm “bộ nhớ” trong não HS. Hơn
nữa việc ghi nhớ các kiến thức bằng grap mang tính hệ thống sẽ giúp cho việc tái hiện
và vận dụng kiến thức một cách linh hoạt hơn.

19


2. Nguyên tắc xây dựng grap dạy học GP - SLN
2.1. Nguyên tắc thống nhất giữa mục tiêu - nội dung - PPDH
Nguyên tắc này đòi hỏi khi thiết kế grap dạy học phải thống nhất được ba
thành tố cơ bản của quá trình dạy học là mục tiêu - nội dung và PPDH. Ba thành tố đó
tác động qua lại với nhau một cách hữu cơ, giải quyết tốt mối quan hệ này quá trình
dạy học sẽ đạt kết quả cao.

Quá trình dạy học gồm 6 thành tố cơ bản: Mục tiêu - nội dung - phương pháp
- phương tiện - hình thức tổ chức - đánh giá, xét trong mối quan hệ giữa thày và trò.
Nhiệm vụ của các nhà lý luận dạy học là nghiên cứu tìm ra những quy luật của sự
tương tác giữa các thành tố này để điều khiển hợp lý quá trình dạy học nhằm đạt
hiệu quả cao nhất. Trong việc chuyển hoá grap tốn học thành grap dạy học SH nói
chung và dạy học GP-SLN nói riêng, cần chú ý tới mối quan hệ giữa mục tiêu, nội
dung và PPDH.
Mục tiêu dạy - học là những tiêu chí về mặt nhận thức và kỹ năng phải đạt
được khi thực hiện một hoạt động dạy - học, có thể là cho một bài hoặc một chương
cụ thể. Logic của mối quan hệ giữa mục tiêu - nội dung - PPDH là: dựa vào nội dung
sách giáo khoa đã được biên soạn, người GV phải phân tích nội dung, căn cứ vào đối
tượng cụ thể để xác định những mục tiêu mà HS phải đạt được sau khi học một bài
hoặc một chương. Để đạt được mục tiêu cần phải tập trung vào nội dung nào, sử
dụng PPDH nào, phương tiện dạy học nào để đạt hiệu quả cao nhất. Như vậy, mục
tiêu bài học được xác định chủ yếu dựa vào nội dung bài học, đặc điểm tâm lý nhận
thức của HS và năng lực sư phạm của GV. Mục tiêu và nội dung kiến thức là cơ sở
để xác định PPDH phù hợp, theo hướng phát huy cao độ óc tư duy tìm tịi khám phá
của HS để đạt được những mục tiêu đã đề ra. Thống nhất giữa mục tiêu - nội dung PPDH trong việc thiết kế grap DH, phải trả lời các câu hỏi sau:
a. Thiết kế grap để làm gì?
- HS phải đạt những gì sau khi kết thúc bài học?
- Các kiểu dạy học nào phù hợp với mục tiêu đặt ra?
- Cần đặt các tình huống học tập nào để đạt được các mục tiêu đề ra?
- Có cách nào biết được HS đã đạt hay không đạt những mục tiêu đã đề ra?
b. Grap được thiết kế như thế nào?
- Nội dung cần lập grap thuộc loại kiến thức nào ?
- Xác định các yếu tố cấu trúc trong một tổng thể nhất định?
- Các đơn vị cấu trúc trong nội dung đó liên hệ với nhau như thế nào?
c. Việc thiết kế grap liên quan với việc sử dụng grap như thế nào?
- Nội dung đó liên quan đến “kiểu dạy học nào” ?


20



×