Tải bản đầy đủ (.docx) (22 trang)

Vài nét về cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2007 - 2010

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (340.58 KB, 22 trang )

Bìa
Vài nét về cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
2007 - 2010
Lời nói đầu
Cả thế giới vừa trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế chưa từng có trong
lịch sử mà hậu quả của nó vẫn còn ảnh hưởng đến hôm nay. Xuất phát từ
yêu cầu làm bài tập môn những NLCB của CN Mac LeNin cũng như
mong muốn có thêm một tài liệu tham khảo về vấn đề khủng hoảng kinh tế
thế giới hiện nay, chúng tôi Nhóm lớp Y1A với kiến thức của mình và
tham khảo them các tài liệu trên mạng đã làm tập san này
Vì đây là lần đầu làm tập san nên sẽ không tránh khỏi những sai sót
Chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ bạn đọc, mọi ý kiến
đóng góp xin gửi về Lớp Y1A.
Xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
I. Tổng quan về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007
– 2010
1.Thế nào là khủng hoảng kinh tế?
2.Nguyên nhân của khủng hoảng?
a.Chứng khoán hóa
b.Bong bóng thị trường nhà ở
3.Diễn biến của cuộc khủng hoảng?
II. Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
1.Đối với Mĩ
2.Đối với thế giới
3.Chính sách của các nền kinh tế lớn
III. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới
đến Việt Nam
IV. Bài học rút ra
I.TỔNG QUAN VỀ CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN
CẦU 2007-2010


1. Thế nào là khủng hoảng kinh tế?
Khủng hoảng kinh tế: là sự suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài và trầm trọng hơn cả
suy thoái trong chu kỳ kinh tế.( bao gồm 3 pha: suy thoái, phục hồi,hưng thịnh) .
Theo học thuyết Kinh tế chính trị của Mác-Lênin , Khủng hoảng kinh tế chỉ khoảng thời
gian biến chuyển rất nhanh sang giai đoạn suy thoái kinh tế, là căn bệnh kinh niên của chủ
nghĩa tư bản và diễn ra có tính chất chu kì, trải qua những giai đoạn có liên quan kế tiếp
nhau: khủng hoảng - tiêu điều - phục hồi - hưng thịnh.
Bao gồm các xu hướng:
• Xu hướng suy giảm tỷ suất lợi nhuận: Tích tụ tư bản gắn liền xu hướng chung của
mức độ tập trung tư bản. Điều này tự nó làm giảm tỷ suất lợi nhuận rồi kìm hãm
chủ nghĩa tư bản và có thể đưa đến khủng hoảng.
• Tiêu thụ dưới mức: Nếu giai cấp tư sản thắng thế trong cuộc đấu tranh giai cấp với
mục đích cắt giảm tiền lương và bóc lột thêm lao động, nhờ đó tăng tỷ suất giá trị
thặng dư, khi đó nền kinh tế tư bản đối mặt với vấn đề thường xuyên là nhu cầu tiêu
dùng không tương xứng với quy mô sản xuất và tổng cầu không tương xứng với
tổng cung.
• Sức ép lợi nhuận từ lao động: Tích tụ tư bản có thể đẩy nhu cầu thuê mướn tăng
lên và làm tăng tiền lương. Nếu tiền lương tăng cao sẽ ảnh hưởng đến tỷ suất lợi
nhuận và khi đạt đến một mức độ nhất định sẽ gây ra suy thoái kinh tế
Thời gian khủng hoảng làm những xung đột giữa các giai tầng trong xã hội thêm căng
thẳng, đồng thời nó tái khởi động một quá trình tích tụ tư bản mới.
Có thể khẳng định rằng: Khủng hoảng là giai đoạn cơ bản của chu kì kinh tế tư bản chủ
nghĩa, Mac đã từng viết “cản trở của nền sản xuất tư bản chính là tư bản”.
II. NGUYÊN NHÂN CỦA KHỦNG HOẢNG
Cuộc khủng hoảng kinh tài chính thế giới 2007 – 2010 xảy ra chủ yếu do 2 nguyên nhân là
việc chứng khoán hóa không lành mạnh và vỡ bong bóng nhà đất
1.Chứng khoán hóa
• Chứng khoán hóa là một phát minh lớn về công cụ tài chính bao gồm các sản phẩm
như chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS), giấy nợ đảm bảo bằng tài
sản (CDO) và các loại tương tự. Tuy nhiên, vì có ít nhất tới 4 loại chủ thể kinh tế

liên quan đến chứng khoán hóa (thay vi 2 loại chủ thế kinh tế là người thế chấp - đi
vay và tổ chức tín dụng cho vay - nhận thế chấp như giao dịch tín dụng truyền
thống), sự xuất hiện của bảo hiểm cho các sản phẩm chứng khoán hóa như hợp
đồng hoán đổi tổn thất tín dụng (CDS), sự ra đời của các thể chế như các thể chế
mục đích đặc biệt (SPV) và những công cụ đầu tư kết cấu (SIV) để mua bán MBS
và CDO, nên đã tồn tại những rủi ro gồm rủi ro đạo đức và lựa chọn trái ý. Trong
khi đó, nước Mĩ trước khủng hoảng không đủ năng lực giám sát các rủi ro này.
• Những rủi ro đã tồn tại cộng với sự cố bong bóng thị trường tài sản xảy ra thì những
rủi ro này sẽ làm mất lòng tin của các bên liên quan. Thêm vào đó, việc cho vay liên
ngân hàng sẽ làm cho những tổn thất tín dụng lây lan ra toàn hệ thống ngân hàng
(một ngân hàng phá sản sẽ kéo theo nhiều ngân hàng khác phá sản). Và mất lòng tin
ở người gửi tiền gây ra đột biến rút tiền gửi càng làm cho tình hình thêm nghiêm
trọng và diễn ra nhanh chóng hơn.
• Thực tế, thị trường nhà ở bắt đầu tự điều chỉnh từ năm 2005 khiến cho giá nhà đất
giảm và chất lượng tài sản đảm bảo cho các MBS và các CDO giảm theo. Rủi ro
mang tính hệ thống đã làm cho khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra vào tháng
5 năm 2006 khi mà nhiều tổ chức phát hành MBS và CDO cũng như một số tổ chức
tài chính mà trong danh mục tài sản của mình có nhiều MBS và CDO sụp đổ. Tiếp
theo đó, khủng hoảng tài chính nổ ra vào tháng 8 năm 2007 khi đến lượt cả các SPV
và SIV cũng sụp đổ, rồi phát triển thành khủng hoảng tài chính toàn cầu từ tháng
9/2008 khi cả những tổ chức tài chính khổng lồ như Lehman Brothers sụp đổ.
2. Bong bóng thị trường nhà đất

Diễn biến thay đổi giá nhà trong thời kỳ bong bóng thị trường nhà ở.
• Từ lâu nay đa số người Mĩ vay tiền từ các ngân hàng để mua nhà, với thời hạn hợp
đồng từ 10 năm đến 30 năm (đó là việc bình thường). Nhưng trong 10 năm trở lại
đây thị trường nhà đất phát triển mạnh, các ngân hàng và các tổ chức cho vay ào ạt
tiếp thị tạo ra những hợp đồng cho vay không đạt tiêu chuẩn và khuyến khích cả
những người không đủ khả năng tài chính cũng đi vay tiền để mua nhà.
Ngoài ra, các tổ chức cho vay còn “sáng chế” ra những hợp đồng bắt đầu với lãi

suất rất thấp trong những năm đầu và sau đó điều chỉnh lại theo lãi suất thị trường.
Hậu quả là một số lớn hợp đồng cho vay không đòi được nợ. Nguy hại hơn, các tổ
chức tài chính phố Wall đã gom góp các hợp đồng cho vay bất động sản này lại làm
tài sản bảo đảm, để phát hành trái phiếu ra thị trường tài chính quốc tế. Các loại trái
phiếu này được mệnh danh là “Mortgage backed securities – MBS”, một sản
phẩm tài chính phái sinh được bảo đảm bằng những hợp đồng cho vay bất động sản
có thế chấp. Và nó được các ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí
trên toàn thế giới mua mà không biết rằng các hợp đồng cho vay bất động sản dùng
để bảo đảm là không đủ tiêu chuẩn.
Trong vài năm trở lại đây thị trường bất động sản liên tiếp hạ nhiệt, người đi vay đã
không có khả năng trả được nợ lại cũng rất khó bán bất động sản để trả nợ, và kể cả
bán được thì giá trị của bất động sản cũng đã giảm thấp tới mức không đủ để thanh
toán các khoản còn vay nợ. Hậu quả là một số lớn hợp đồng cho vay bất động sản
dùng để bảo đảm cho các trái phiếu MBS là nợ khó đòi, các trái phiếu MBS mất giá
trên thị trường, thậm chí không còn mua bán được khiến cho các ngân hàng, các nhà
đầu tư nắm giữ những trái phiếu này bị lỗ nặng và mất cả khả năng thanh toán.
• Theo ước tính trong 22.000 tỷ USD giá trị bất động sản tại Mỹ thì có tới hơn 12.000
tỷ USD là tiền đi vay, trong đó khoảng 4.000 tỷ USD là nợ xấu. Các nước khác
cũng bắt chước Hoa Kỳ và bán ra loại trái phiếu phái sinh MBS này trong thị trường
tài chính của họ.
Vì vậy trên toàn thế giới tổng số nợ bất động sản khó đòi và tổng số MBS bị “nhiễm
độc” chưa thể tính hết được. Bear Stern, Indy Mac, Fannie Mae, Freddie Mac,
Lehman Brothers, Meryll Lynch, Washington Mutual, Vachovia, Morgan Stanley,
Goldman Sachs v.v. (Mỹ), New Century Financial, Northern Rock, HBOS, Bradford
& Bringley (Anh quốc), Dexia (Pháp-Bỉ-Luxembourg), Fortis, Hypo (Đức-Bỉ),
Glitner (Iceland) hoặc bị lung lay hoặc bị ngã gục.
Cơn chấn động tài chính ở Hoa Kỳ chắc chắn sẽ khiến nhiều thị trường tài chính,
nhiều ngân hàng trên khắp thế giới bị rung động theo, bởi hàng loạt ngân hàng lớn
trên thế giới đã đầu tư mua loại trái phiếu MBS này.Trầm trọng hơn nữa là những
“hợp đồng bảo lãnh nợ khó đòi”, tiếng Mỹ gọi là “Credit Default Swap – CDS”.

Các hợp đồng này do các tổ chức tài chính và các công ty bảo hiểm quốc tế bán ra,
theo đó bên mua CDS được bên bán bảo đảm sẽ hoàn trả đầy đủ số nợ cho vay nếu
bên vay không trả được nợ.
Bên Mỹ tổng số CDS ước tính khoảng 35 nghìn tỷ USD, và toàn thế giới khoảng
54.600 tỷ USD (theo ước tính của Hiệp hội “International Swap and Derivatives
Association”).
Tập đoàn tài chính và bảo hiểm hàng đầu thế giới AIG bị đổ vỡ, một phần là do đầu
tư vào MBS và phần lớn là do các hợp đồng CDS này. Rồi đây, nếu thị trường tài
chính Mỹ không được giải cứu kịp thời, và thị trường tài chính thế giới bị đóng
băng, các hợp đồng CDS sẽ tàn phá các ngân hàng và các định chế tài chính khác
đến mức khủng khiếp chưa thể lường hết được.
Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ sẽ lan rộng ra trên khắp các thị
trường tài chính phát triển vì những lí do đã nói trên. Hàng loạt các ngân hàng lớn
nhỏ sẽ bị sụp đổ, sẽ bị sáp nhập hoặc quốc hữu hóa. Tín dụng toàn cầu sẽ bị co rút
lại. Các tập đoàn sản xuất kinh doanh sẽ gặp khó khăn tiếp cận nguồn vốn vay ngắn
hạn và dài hạn.

Tài sản của các ngân hàng trước và sau khi vỡ bong bóng nhà đất
• Đối với từng khu vực, từng lĩnh vực, tác động sẽ khác nhau vì nó phụ thuộc vào
mối quan hệ kinh tế thực tế trong lĩnh vực vay trả nợ, xuất nhập khẩu, đầu tư kỹ
thuật, công nghệ, những nước nào hoặc những khu vực nào phụ thuộc hoàn toàn
vào Mỹ sẽ chịu ảnh hưởng lớn và bị tác động trực tiếp.
Điều này chúng ta thấy không ít ngân hàng lớn tại Anh và Đức đang gánh chịu tác
động trực tiếp từ cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng này. Còn nước nào mà
quan hệ kinh tế chưa chặt chẽ lắm với Mỹ thì tác động cũng chỉ ở mức độ nào đó
thôi.
Dự đoán trong một vài tháng tới, sự đổ vỡ sẽ lần lượt như kiểu quân bài domino có
thể xẩy ra, chưa thể biết được cú gục ngã của Lehman Brothers và một số định chế
tài chính khác của Mỹ sẽ còn kéo thêm bao nhiêu ngân hàng, tổ chức tài chính, bảo
hiểm đi vào kết cục giống như vậy bởi nguy cơ thiếu thanh khoản.

Cơn chấn động tài chính ở Hoa Kỳ chắc chắn sẽ khiến nhiều thị trường tài chính,
nhiều ngân hàng trên khắp thế giới bị rung động theo. Có rất nhiều ngân hàng từ
châu Á sang châu Âu đều đã cho Lehman Brothers và các ngân hàng Mỹ trên bờ
phá sản vay những số tiền rất lớn.Ngoài ra, có nhiều ngân hàng quốc tế đã bị
“nhiễm độc” với trái phiếu MBS và các hợp đồng CDS.

×