Tải bản đầy đủ (.docx) (21 trang)

Vai trò của công nghệ đối với hoạt động của doanh nghiệp liên hệ ở một số doanh nghiệp tại việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (175.16 KB, 21 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế thế giới đặc biệt là ở các nước phát triển đang ngày càng tăng lên không
ngừng. Bước sang thế kỷ 21 thế giới đang chứng kiến những biến đổi lớn lao trong mọi
lĩnh vực từ sản xuất kinh doanh, phục vụ đến hoạt động văn hoá quản lý xã hội. Cùng với
sự bùng nổ thông tin mạnh mẽ đã đang làm thế giới chuyển sang một kỷ nguyên mới, kỷ
nguyên tin học.Một trong những nguyên nhân chủ yếu khá quan trọng của những biến đổi
này là sự tác động mạnh mẽ và sâu rộng của tiến bộ khoa học và côngnghệ. Đặc biệt
trong thời đại thông tin đang chi phối gần như toàn bộ nền thương mại thế giới buộc các
doanh nghiệp muốn tồn tại phải khẳng định được chỗ đứng của mình trên thương trường
không còn con đường nào khác là phải đổi mới các trang thiết bị ứng dụng tiến bộ của
khoa học công nghệ vào sản xuất nhằm đem lại hiệu quả trong quá trình sản xuất kinh
doanh.
Nước ta từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung chuyển sang nền kinh tế thịtrường theo
định hướng XHCN có sự điều tiết và quản lý vĩ mô của nhà nước. Đây là một điều kiện
rất thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp xúc với thị trường thế giới vớinhững công nghệ,
kỹ thuật tiên tiến cùng mô hình tổ chức và phương pháp quản lý mới hiện đại. Đối với
một nước đang phát triển như nước ta hiện nay thì công cuộc đổi mới càng trở nên bức
thiết hơn bao giờ hết vì thiết bị phục vụ cho sản xuất trong các doanh nghiệp công nghiệp
của ta còn rất lạc hậu, năng suất lao động rất thấp, bên cạnh đó việc đầu tư đổi mới công
nghệ phục vụ sản xuất ở các doanh nghiệp công nghiệp nước ta nhiều bất cập. Để chuyển
sang nền kinh tếthị trường với sự phát triển công nghiệp hiện đại từ điểm xuất phát thấp
nướcta không thể đi theo các bước tuần tự như các nước đi trước đã làm mà phảiphát
triển theo kiểu nhảy vọt rút ngắn, đây là cơ hội tận dụng lợi thế vềkhoa học công nghệ
của các nước phát triển sau vừa là thách thức đòi hỏi phảivượt qua.
Thấy rõ được vai trò hết sức quan trọng của công nghệ, tôi quyết định chọn đề tài:
“Vai trò của công nghệ đối với hoạt động của doanh nghiệp. Liên hệ ở một số doanh
nghiệp tại Việt Nam”. Dù đã cố gắng hết mình song vẫn không tránh khỏi những hạn chế
và thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ cô giáo và các bạn sinh viên. Xin
chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I. Những vấn đề cơ bản về công nghệ.


1. Khái niệm về công nghệ
Công nghệ là một sản phẩm do con người tạo ra làm công cụ để sảnxuất ra của cải vật
chất , tuy vậy cho đến tận bây giờ, định nghĩa về côngnghệ lại chưa hoàn toàn thống nhất.
Điều đó được giải thích là do sốlượng các loại công nghệ có nhiều đến mứckhông thể
thống kê hết được,ngay một sản phẩm lại có nhiều công nghệ khác nhau nên những
ngườisử dụng công nghệ ở trong các điều kiện và hoàn cảnh khác nhau sẽ dẫnđến sự hiểu
biết của họ về công nghệ không thể giống nhau.
Xuất phát từ các luận điểm trên, chúng ta thừa nhận một số định nghĩa
thông dụng nhất hiện nay.
 Theo tổ chức ESCAP (Ủy ban kinh tế và xã hội Châu Á-Thái Bình Dương)
đưa ra định nghĩa “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ
thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Công nghệ bao gồm kiến thức, kỹ năng,
thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch
vụ.”
 Theo tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc UNIDO “Công
nghệ
là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp, bằng cách sử dụng các kết quả
nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và có phương pháp”.
 Ở Việt Nam, theo luật chuyển giao công nghệ (2006)“Công nghệ là giải pháp, quy trình,
bí quyết, kỹ thuật,có kềm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến
đổi nguồn lực thành sản phẩm”
2. Các thành phần cấu thành của công nghệ
 Phần vật tư kỹ thuật
Công nghệ hàm chứa trong các vật thể bao gồm các công cụ, thiết bị, máy móc,
phương tiện và các cấu trúc hạ tầng xây dựng như nhà xưởng. Trong công nghệ sản xuất,
các vật thể này thường làm thành dây chuyền để thực hiện quá trình biến đổi. Đây là phần
cốt lõi của công nghệ
 Phần con người
Công nghệ được hàm chứa trong khả năng công nghệ của con người vận hành sử dụng
công nghệ bao gồm kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng do học hỏi tích lũy được trong quá

trình hoạt động. Nó cũng bao gồm các tố chất của con người như tính sáng tạo, sự khôn
ngoan, khả năng phối hợp, đạo đức lao động,…
 Phần thông tin
Công nghệ hàm chứa trong các dữ liệu đã được tư liệu hóa để sử dụng trong các hoạt
động đối với công nghệ bao gồm các dữ liệu về máy móc, về phần con người và phần tổ
chức
 Phần tổ chức
Công nghệ hàm chứa trong các khung thể chế dể xây dựng cấu trúc tổ chức: những
quy định về trách nhiệm, quyền hạn, mối quan hệ, sự phối hợp của các cá nhân trong hoạt
động của công nghệ; những quy định đào tạo công nhân, bố trí sắp xếp thiết bị nhằm sử
dụng tốt nhất phần vật tư kỹ thuật và phần con người.
3. Phân loại công nghệ
Tuỳ theo mục đích, người ta phân loại các công nghệ như sau:
• Theo tính chất : Công nghệ sản xuất, công nghệ dịch vụ, công nghệ thông tin, công
nghệ đào tạo.
• Theo ngành nghề : Công nghệ công nghiệp, nông nghiệp, công nghệ sản xuất hàng tiêu
dùng, công nghệ vật liệu.
• Theo sản phẩm : Phân theo sản phẩm mà công nghệ sản xuất ra: công nghệ xi măng,
năng lượng, ô tô, xe đạp…
• Theo đặc tính công nghệ: Công nghệ đơn chiếc, hàng loạt, liên tục.
• Theo mức độ hiện đại: Cổ điển, trung gian, tiên tiến.
• Theo đặc thù : Then chốt, truyền thống, mũi nhọn
• Theo mục tiêu : Dẫn dắt, thúc đẩy phát triển.
• Theo đặc thù của công nghệ: Công nghệ cứng, công nghệ mềm.
II. Vai trò của công nghệ đối với hoạt động của doanh nghiệp
1. Đối với hoạt động bán hàng
Bán hàng là khâu cuối cùng và đóng vai trò quyết định phát triển lưu thông hàng
hoá,đưa hàng hoá từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng và chuyển hàng hoá thành tiền tệ. Để
kinh doanh có hiệu quả ngoài những kỹ năng kinh doanh có sẳn còn đòi hỏi sự nhạy bén
cập nhật thông tin thị trường một cách nhanh nhất của doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp nước ta hiện nay chủ yếu là các doanh nghiệp trẻ,tuy chưa có
nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh nhưng họ năng động và có tính sáng tạo cao,nhạy
bén với thị trường kinh doanh.Vậy nên họ rất quan tâm tới hoạt động bán hàng của doanh
nghiệp mình và hiểu rõ tầm quan trọng của hoạt động bán hàng. Ngoài việc sử dụng
những hình thức bán hàng cổ điển như bán buôn công nghiệp,bán lẻ cho các đại lý,doanh
nghiệp còn sử dùng nhiều hình thức bán hàng mới nhằm thu hút sự quan tâm của khách
hàng tới sản phẩm của mình.Đặc biệt là áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ thông
tin vào phục vụ cho việc bán hàng.
Cùng với sự phát triển của kỹ thuật tiên tiến và công nghệ thông tin thì các hình thức
bán hàng ngày càng phong phú đa dạng, nên mỗi một doanh nghiệp đều tìm cho mình
một cách bán hàng hợp lý, áp dụng một cách triệt để như bán hàng qua điện thoại, ti vi,
báo, đài, bưu điện,thư tín,…đặc biệt là sử dụng mạng internet vào hoạt động bán hàng
giúp việc bán hàng trở nên nhanh chóng và thuận lợi hơn.
Bên cạnh đó việc nhập thêm cách máy móc, trang thiết bị hiện đại giúp việc bán hàng
được dễ dàng hơn giảm thời gian chờ của khách hàng. Đặc biệt, trong thời gian hiện nay
có nhiều doanh nghiệp sử dụng các máy bán hàng tự động vừa giảm số lượng nhân viên
bán hàng vừa giúp cho khách hàng thuận tiện hơn trong việc mua hàng. Cùng với đó là
các phần mền quản lý bán hàng như phần mềm quản lý Tiger ProPro cho phép phân
quyền chi tiết đến từng chức năng trong hệ thống, định nghĩa nhiều đơn vị tính phục vụ
cho công tác bán hàng và nhập hàng theo đơn vị tính: thùng, hộp, cái, chiếc… Cho phép
tiến hành gói hàng, quà khuyến mại trong các dịp lễ tết, ngày hội của siêu thị. Tích hợp
với cân điện tử để in mã vạch và tính tiền đối với siêu thị rau củ quả, hải sản…; quản lý
hạn sử dụng của các mặt hàng, đưa ra các cảnh báo về hạn sử dụng giúp cho bộ phận
nhập hàng và bán hàng có kế hoạch đối với những mặt hàng sắp hết sạn sử dụng (Điều
này đặc biệt quan trọng đối với những mặt hàng thực phẩm có Date) và quản lý hàng hóa
theo Serial để nhập xuất phục vụ bảo hành sản phẩm tại siêu thị (ứng dụng trong các mô
hình siêu thị điện máy)
• Giúp người lãnh đạo doanh nghiệp đưa ra những quyết định nhanh và chính xác cho
các chi nhánh dựa trên hệ thống các báo cáo chính xác.
• Giúp người quản lý doanh nghiệp tăng khả năng kiểm soát các hoạt động giao dịch của

các cửa hàng, siêu thị trong toàn bộ hệ thống chuỗi của doanh nghiệp.
• Khắc phục được tình trạng hàng tồn kho tại các chi nhánh và khai thác nguồn hàng từ
các nhà cung cấp.
• Cải tiến quy trình quản lý trong hệ thống chuỗi các cửa hàng, siêu thị.
• Tiết kiệm thời gian giữa các khâu: mua hàng, bán hàng, kiểm kê hàng tồn kho và tính
toán lập báo cáo.
• Cắt giảm chi phí tồn kho và tránh tình trạng hết hàng tồn kho.
Tuy nhiên áp dụng các công nghệ vào việc bán hàng này còn rất mới mẻ so với đất
nước ta nên chưa áp dụng rộng rãi và đồng bộ với tất cả các doanh nghiệp.Nhưng đây là
một tiềm năng,một hình thức bán hàng tương lai để cho các doanh nghiệp khai thác và
phát triển.
2. Đối với hoạt độngquảng cáo giới thiệu sản phẩm
Hiện nay, bất kể ngành nghề, lĩnh vực nào cũng đề cao yếu tố nhanh - gọn - hiệu quả
và ứng dụng công nghệ chính là giải pháp tối ưu cho những yêu cầu này. Nhờ thường
xuyên cập nhật công nghệ hiện đại, các doanh nghiệp tiến hành quảng cáo có thể dễ dàng
tối ưu hóa chi phí (xét về mặt lâu dài), thời gian và tăng tốc mạnh mẽ. Đồng thời, việc
cập nhật và ứng dụng các công nghệ mới giúp tăng cường tính năng tương tác, kiểm soát
hiệu quả kinh doanh, nhất là các ứng dụng về đánh giá, đo kiểm và phân tích.Mặt khác,
quảng cáo trực tuyến còn có thể tạo nên bước tiến khi liên kết chặt chẽ với các trang
thương mại điện. Tận dụng công nghệ còn là bước đệm để quảng cáo trực tuyến dễ dàng
bắt nhịp với xu thế, nhu cầu, thị hiếu và thói quen sử dụng của doanh nghiệp cũng như
người tiêu dùng.
Minh chứng cụ thể chính là sự nở rộ của các sản phẩm điện tử hay những ứng dụng mới
trên nền tảng công nghệ thông tin như: smartphone, máy tính bảng, mạng xã hội… đã tạo
điều kiện cho quảng cáo trực tuyến đa dạng hóa, mở rộng quy mô, đối tượng tác động
một cách nhanh chóng và mạnh mẽ.
Trên thực tế, những xu thế công nghệ mới luôn thu hút được sự quan tâm và tạo nên
rất nhiều trào lưu trong đời sống hiện đại. Theo tổng hợp mới nhất, đã có 326 tỷ lượt xuất
hiện của banner trên Facebook, trải rộng trên 205 quốc gia với 70% là sự xuất hiện quảng
cáo thuộc các ngành tài chính, bán lẻ, game và giải trí. Điều này cho thấy các nhà quảng

cáo trực tuyến đang chớp lấy thời cơ này để tạo ra lợi nhuận.
3. Đối với hoạt động thiết kế sản phẩm
Đổi mới là phát triển các sản phẩm và các sản phẩm này thực sự tạo ra nhu cầu và sự
hứng thú. Những sản phẩm tiêu dùng sáng tạo nhất được đưa ra thị trường bởi những
công ty luôn tập trung vào việc thiết kế như một hoạt động chủ chốt.Việc thiết kế ở khía
cạnh tốt nhất của nó mang đến những giá trị còn hơn cả những giải pháp cho sản phẩm
mới. Nó còn có thể giải quyết những vấn đề khó khăn trong nội bộ công ty hay những thử
thách mới của môi trường kinh doanh. Tiếp cận bất kỳ vấn đề nào theo hương hội nhập
đều mang lại kết quả tốt đẹp. Ngoài ra, việc áp dụng các ý tưởng thiết kế như một chiến
lược kinh doanh chung, chính xác là việc mà bất kì công ty nào đang hoạt động trong môi
trường kinh tế cực kỳ sôi động ngày nay đều cần phải làm.
Hiện nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ, công việc thiết kế sản phẩm đã trở
nên nhanh chóng và tiện lợi hơn rất nhiều. Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng và
mua các phần mềm chuyên dụng cho việc thiết kế sản phẩm. Các phần mền này giúp các
doanh nghiệp có thể xem xét, thiết kế sản phẩm của mình dưới định dạng đa chiều nhìn
rõ hình ảnh sản phẩm kể cả khi nó chưa được sản xuất mà điển hình là phần mềm CAD -
Computer Aided Design: Thiết kế trợ giúp bằng máytính. Mục tiêu của lĩnh vực CAD là
tự động hóa từng bước, tiếntới tự động hóa cao hơn trong thiết kế sản phẩm.Đây là một
phương pháp hiện đại để thiết kế sản phẩm hoặc thiết kế quy trình dựa trên sức mạnh của
máy tính. CAD bao phủ nhiều công nghệ tự động, như đồ hoạ vi tính nhằm khảo sát
những hình ảnh ảo của một sản phẩm và kỹ thuật với sự hỗ trợ của máy tính nhằm đánh
giá các đặc tính kỹ thuật của sản phẩm gồm những công nghệ liên quan đến việc thiết kế
quy trình sản phẩm, như hoạch định quy trình sản xuất với sự hỗ trợ của máy tính. Hệ
thống CAD phức tạp có thể thực hiện các thử nghiệm giả , thay thế các công đoạn đầy đủ
của quá trình thử nghiệm mẫu và bổ sung mẫu. Có vai trò giúp:
+ Nâng cao năng suất vẽ và thiết kế.
+ Rút ngắn thời gian kể từ khi nhận đơn đặt hàng đến khi giao sản phẩm.
+ Cho phép phân tích, thiết kế một cách cụ thể và hiệu quả hơn.
+ Giảm sai sót trong thiết kế.
+ Các tính toán trong thiết kế đạt độ chính xác cao hơn.

+ Dễ dàng tiêu chuẩn hoá trong thiết kế
4. Đối với hoạt động sản xuất
Mục đích của việc coi trọng thúc đẩy tiến bộ khoa học đổi mới côngnghệ là nhằm tăng
năng suất lao động, đổi mới mặt hàng, nâng cao chấtlượng và hạ giá thành sản phẩm. Từ
đó nâng cao hiệu quả kinh doanh và thulợi nhuận cho doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường không có sản phẩm nào mà chu kỳ sốngcủa nó tồn tại quá
lâu. Các nhà doanh nghiệp luôn phải tính toán trong thờigian bao lâu nên thay đổi sản
phẩm và thay đổi nhưthế nào.
Điều này chỉ thể hiện được nếu doanh nghiệp có một chiến lược sảnphẩm đúng đắn tức
là đổi mới nhanh công nghệ tạo ra sản phẩm mới vớichất lượng tốt. Nhân tố quyết định
sự thành công là chính bản thân sản phẩmcủa doanh nghiệp. Sản phẩm ở đây có thể là
hàng hoá hoặc cũng có thể làmột dịch vụ có khả năng thoả mãn nhu cầu của người tiêu
dùng trên thịtrường. Do vậy mục tiêu của đổi mới công nghệ là làm đa dạng hoá
sảnphẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, chiếm lĩnh thị trường.
Trong khi sự thay đổi công nghệ nói chung đều tác động đến hầu hết mọi ngành công
nghiệp, thì đôi khi có một số thay đổi công nghệ chỉ tác động trong một ngành công
nghiệp duy nhất. Ví dụ, gạch bông là một tiến bộ công nghệ diễn ra duy nhất trong ngành
công nghiệp xây dựng. Còn lại hầu hết những tiến bộ công nghệ trong những thập niên
gần đây đều có một ý nghĩa lớn và tác động rộng đối với nhiều ngành công nghiệp. Nhìn
chung, những tiến bộ trên mang lại sự tự động hoá nhiều hơn trong quá trính sản xuất,
trong đó máy móc được sử dụng thay thế trong các quy trình do con người thực hiện.
Những ví dụ về các loại máy móc chính trong công nghệ sản xuất là thiết bị điều khiển
bằng số, trạm nhóm các máy điều khiển bằng số, robô công nghiệp, hệ thống sản xuất và
thiết kế với sự hỗ trợ của máy tính (CAD, CAM), hệ thống sản xuất linh hoạt (FMS), hệ
thống điều khiển và hoạch định sản xuất tự động, và hệ thống sản xuất điều khiển bằng
máy tính. Sau đây, chúng tôi sẽ mô tả chi tiết về các loại công nghệ trên, đặc biệt là công
nghệ sản xuất điều khiển bằng máy tính và công nghiệp thiết kế với sự hỗ trợ của máy
tính.
- Thiết bị điều khiển bằng số bao gồm máy công cụ điều hành được sử dụng nhằm xoay,
khoan, mài các chi tiết khác nhau của nhiều bộ phận; và một máy vi tính điều khiển các

trình tự thực hiện của máy công cụ. Thiết bị điều khiển bằng số lần đầu tiên được sử dụng
tại các doanh nghiệp không gian Hoa Kỳ vào năm 1960 và từ đó được sử dụng nhiều ở
các ngành khác. Trong nhiều mô hình về phần phản hồi những thông tin điều khiển gần
đây nhằm xác định vị trí của máy công cụ trong suốt quá trình làm việc, nhằm so sánh vị
trí thực của máy so với vị trí của máy theo chương trình, và thực hiện sửa chữa khi cần
thiết.
- Trạm nhóm điều khiển bằng máy thể hiện tính tự động hoá và linh động cao hơn so với
thiết bị điều khiển bằng máy. Các trạm máy không chỉ cung cấp các máy móc điều khiển
tự động mà còn mang những công cụ và những công cụ này được thay đổi tự động cho
phù hợp với yêu cầu của từng hoạt động tác nghiệp. Ví dụ, một máy đơn có thể được
trang bị một hệ thống vận chuyển con thoi giữa hai vị trí làm việc để có thể cuốn vào
hoặc chuyển đi. Trong khi công việc được thực hiện tại bàn này, thì bộ phận này được
đưa đi và bộ phận thứ 2 được chuyển đến vị trí và công cụ cần thiết được đưa đến và
được phân công để thực hiện công đoạn kế tiếp.
- Rôbô công nghiệp là những bộ phận hỗ trợ cho các công việc thực hiện bằng tay và lặp
đi lặp lại nhiều lần. Một rôbô là một thiết bị đã được lên chương trình trước và đa chức
năng, và có thể được trang bị cánh tay cơ học (như kẹp, hoặc công cụ dùng để ráp bulông
hoặc để hàn, sơn) được dùng để thực hiện công việc lặp đi lặp lại như nhặt hoặc đặt các
thiết bị, hàn, sơn.
- Công nghệ nhóm , đây là phương pháp sản xuất dựa trên việc phân loại, mã hoá, nhóm
các phần và quy trình dựa trên một hoặc nhiều yếu tố như hình dáng, nguyên liệu, và hoạt
động tác nghiệp sản xuất và công nghệ yêu cầu trong sản xuất. Nó được sử dụng một
cách rộng rãi trong việc xác định các ô của các nhóm thiết bị có liên quan với nhau theo
từng họ của các chi tiết, và cũng được gọi là sản xuất theo ô
Chophép:
+ Hoàn thiện khâu thiết kế và tăng tính tiêu chuẩn hoá của thiết kế.
+ Giảm khối lượng công việc trong khâu xử lý vật liệu.
+ Giảm thời gian chuẩn bị sản xuất, thời gian sản xuất.
+ Đơn giản hoá việc lập qui trình sản xuất và rút ngắn chu ký sản xuất
- Các hệ thống vận chuyển nguyên liệu tự động (AMH) giúp cải thiện hiệu quả của quá

trình vận chuyển, lưu kho, và dự trữ nguyên liệu. Ví dụ như các băng tải cơ giới, hệ thống
tự động đặt các chủng loại nguyên liệu; và hệ thống thiết bị hướng dẫn nhiều vị trí trong
nhà máy, ích lợi của hệ thống AMH là giúp vận chuyển nguyên liệu nhanh hơn, giảm tồn
kho và giảm không gian dự trữ, giảm thiệt hại sản phẩm và hiệu suất lao động tăng lên.
- Hệ thống sản xuất linh hoạt (FMS) là nói đến một loạt các hệ thống khác nhau ở mức độ
cơ giới hoá, di chuyển tự động, và điều khiển bằng máy. Một FMS là một hệ thống được
thể hiện với sự gia tăng máy móc và sự tự động: modun sản xuất linh hoạt, theo ô, nhóm,
hệ thống sản xuất, và dây chuyền.
Các ưu điểm:
+ Tăng tính linh hoạt.
+ Xử lý nhiều loại vật liệu.
+ Giảm giá thành, giảm chi phí cho dụng cụ cắt.
+ Tăng hệ số sử dụng máy.
+ Giảm phế liệu.
+ Giảm mặt bằng sản xuất.
+ Tăng năng suất lao động.
+ Nâng cao chất lượng sản phẩm
CAM - Computer Aided Manufacturing: Chế tạo sản xuất có sự trợ giúp củamáy tính.
Mục tiêu của CAM là: Mô phỏng quá trình chế tạo, lập trình chế tạo sản phẩm trên các
mấy công cụ tự động CNC (Computer Numerical Control –Điều khiển số dùng máy
tính). Quá trình CAM được thực hiện trên hệ thống máy côngcụ điều khiển số NC, CNC.
Ưu điểm của CAM:
+ Tăng năng suất lao động.
+ Nâng cao chất lượng sản phẩm.
+ Giảm diện tích sản xuất.
+ Đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của khách hàng.
+ Cải thiện điều kiện làm việc của công nhân
- Hệ thống sản xuất tích hợp máy tính (CIM) là một phiên bản tự động của quy trình sản
xuất chung, trong đó ba chức năng sản xuất chính là thiết kế quá trình và thiết kế sản
phẩm; hoạch định và kiểm tra, và bản thân quy trình sản xuất đã được thay thế bởi công

nghệ tự động đã được mô tả . Xa hơn nữa, máy móc tích hợp truyền thống dựa trên cơ sở
liên lạc là viết và nói được thay thế bởi công nghệ máy tính. Những hệ thống sản xuất
tích hợp và tự động cao như trên còn có tên gọi là: nhà máy tự động toàn diện hoặc nhà
máy của tương lai.
Việc áp dụng công nghệ tiên tiến này vào sản xuất một mặt sẽ cho phép doanh
nghiệpcải tiến đổi mới chất lượng sản phẩm của mình. Mặt khác cũng làm tăngnăng suất
lao động tiết kiệm tối đa các yếu tố chi phí tạo điều kiện chodoanh nghiệp giảm giá thành
và hạ giá bán. Đặc biệtđó là việc tìm ra các vật liệu nhân tạo càng ngày càng cạnhtranh
mạnh mẽ và thay thế cho các vật liệu truyền thống được tạo ra từ tàinguyên thiên nhiên.
Nhưng để đạt được điều này đòihỏi các doanh nghiệp phải đầu tư thích đáng trong việc
đổi mới công nghệvới những công nghệ hiện đại nhất và phù hợp nhất với hoàn cảnh và
loạihình của doanh nghiêp.
Tuy nhiên trong thực tiễn không phải doanh nghiệp nào có vốn cũngđều mua được kỹ
thuật hiện đại và đều tiêu thụ có lãi. Bởi vì điều này đôikhi lại do giá cả và thị hiếu của
người tiêu dùng. Vì vậy khi quyết địnhphương án đổi mới doanh nghiệp phải có luận
chứng kinh tế kỹ thuật trênhai mặt: khối lượng đầu tư và khả năng tiêu thụ và nắm bắt
thông tin kỹthuật chính xác nhạy bén, quyết định kịp thời mới có thể đầu tư công
nghệtiên tiến với khả năng thích ứng.
5. Đối với hoạt động nghiên cứu thị trường
Trong thời buổi công nghệ thông tin hiện tại, việc có được thông tin tưởng chừng như
dễ dàng, thế nhưng giữa hàng ngàn thông tin thật giả lẫn lộn tràn ngập khắp nơi thật khó
mà xác định được thông tin nào thực sự chính xác và đầy đủ nhất. Do vậy, nghiên cứu thị
trường là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho doanh nghiệp bởi vì nó đáp ứng nhu cầu thông
tin của các doanh nghiệp. Nghiên cứu thị trường không chỉ hữu dụng trong khi nền kinh
tế phát triển mạnh mà ngay cả trong bối cảnh kinh tế ảm đạm hiện nay, khi mà các doanh
nghiệp đang loay hoay tìm cách tháo gỡ các khó khăn.
Tất nhiên, nghiên cứu thị trường không phải là “cây đũa thần” để có thể giúp doanh
nghiệp giải quyết tất cả các khó khăn trong kinh doanh nhưng nó có thể giúp doanh
nghiệp hiểu được những cơ hội và thách thức của thị trường thông qua tìm hiểu khách
hàng của họ đang cần gì, xu thế tiêu dùng trong thị trường như thế nào Từ những thông

tin trên, doanh nghiệp có thể điều chỉnh hoạt động sản xuất hoặc sản phẩm, giá bán, kênh
phân phối và các chương trình khuyến mãi để tiếp cận, thỏa mãn nhu cầu và xây dựng
lòng trung thành của khách hàng một cách hiệu quả nhất, trong giới hạn ngân sách tiếp
thị của doanh nghiệp.
Điều đó cho thấy hoạt động nghiên cứu thị trường là một công việc không thể thiếu khi
một doanh nghiệp bắt đầu hoạt động kinh doanh của mình.
Vì vậy hiện nay các doanh nghiệp đang từng bước áp dụng các phương tiện công nghệ
để tiến hành nghiên cứu thị trường sử dụng các công nghệ, phần mềm phân tích, phương
tiện thông tin để thu thập các dữ liệu thị trường một cách chính xá từ đó đưa ra các giải
pháp cho doanh nghiệp của mình để phù hợp với biến động thị trường và nhu cầu của
khách hàng.
6. Đối với hoạt động thanh toán
Trong hoạt động thanh toán của các doanh nghiệp, công nghệ cũng góp một vai trò
quan trọng. Với nhiều các hình thức thanh toán đa dạng sử dụng công nghệ tiên tiến như
thanh toán bằng thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ; các hình thức thanh toán trực tuyến qua các
website đang ngày càng diễn ra rộng rãi hơn. Ngoài ra còn đầu tư mua các trang thiết bị
cho việc thanh toán, các máy thanh toán tự động, hệ thống POS
Trên nền tảng công nghệ thông tin, đặc biệt là internet, hoạt động thương mại điện tử ở
Việt Nam trong những năm qua đã có sự phát triển mạnh mẽ. Theo kết quả điều tra của
Bộ Công thương cuối năm 2009 cho thấy, gần như 100% doanh nghiệp được điều tra đã
tổ chức triển khai ứng dụng thương mại điện tử ở nhiều quy mô và mức độ khác nhau và
phát triển trên hầu khắp các tỉnh thành của cả nước. Cùng với đó, hoạt động mua bán
hàng hóa, dịch vụ trực tuyến trên internet đã từng bước phát triển và dần trở nên quen
thuộc. Nhờ đó, hoạt động thanh toán đã có những bước phát triển đáng kể và đang ngày
càng thể hiện vai trò và lợi thế vượt trội so với các phương tiện thanh toán truyền thống
trước đây.

Từ năm 2008 đến nay, các dịch vụ, phương tiện thanh toán đã được phát triển mạnh
mẽ và đa dạng dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ như internet banking, mobile
banking, ví điện tử,… đang dần đi vào cuộc sống, phù hợp với xu thế thanh toán của các

nước trong khu vực và trên thế giới.

Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng giai đoạn 2 đã hoàn thành kết nối 63 chi
nhánh NHNN tỉnh, thành phố, đánh dấu một giai đoạn mới của hệ thống thanh toán ngân
hàng với những thay đổi cơ bản về kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiệu năng xử lý và quy
trình nghiệp vụ hiện đại theo thông lệ quốc tế, đáp ứng nhu cầu thanh, quyết toán tức thời
và số lượng giao dịch thanh toán ngày càng cao của nền kinh tế. Đây là hệ thống thanh
toán tạo ra bước phát triển đột phá về nền tảng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho việc phát triển
các phương tiện thanh toán mới.
Hệ thống thanh toán nội bộ của cácngân hàng thương mại cũng có sự phát triển vượt
bậc, nhờ sự đầu tư về cơ sở hạ tầng và triển khai ứng dụng mạnh mẽ công nghệ phục vụ
cho hoạt động thanh toán. Hầu hết các ngân hàng thương mại đã thiết lập được hệ thống
core banking, hệ thống thanh toán nội bộ với công nghệ tiên tiến, cho phép các ngân hàng
thương mại cung ứng các dịch vụ. Phương tiện thanh toán hiện đại và khả năng kết nối
trực tuyến, mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng.

Việc áp dụng này vừa giúp các doanh nghiệp và khách hàng tiến hành các thủ thủ tục
thanh toán diễn ra nhanh gọn, góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ chu
chuyển vốn và quá trình tái sản xuất trong hoạt động kinh doanh, đảm bảo sự an toàn về
vốn cũng như tài sản của doanh nghiệp tránh được những rủi ro đáng tiếc có thể xảy ra
trong quá trình thanh toán.
7. Đối với hoạt động quản lý
7.1. Quản trị nguồn nhân lực
Quản trị nguồn nhân lực là công tác đang ngày càng được các tổ chức, doanh nghiệp đặc
biệt quan tâm trong vài năm trở lại đây. Đặc biệt, trong các giai đoạn khủng hoảng, kinh
tế khó khăn thì các nhà lãnh đạo doanh nghiệp nhận ra nhân tố giúp doanh nghiệp đứng
vững và phát triển bền vững chính là nguồn nhân lực có chất lượng.
Hiện nay, việc sử dụng các phần mềm quản lý hoặc những phần mềm hỗ trợ cho quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã không còn là một vấn đề mới mẻ và xa lạ
nữa. Hầu như doanh nghiệp nào, cũng đều sử dụng một phần mềm quản lý nào đó có thể

là một phần mềm kế toán, phần mềm quản lý nhân sự đơn giản hoặc có thể là cả một hệ
thống phần mềm phức tạp với đầy đủ chức năng quản lý theo kiểu ERP
Do vậy, các giải pháp, phần mềm quản trị nguồn nhân lực cũng đang ngày càng hoàn
thiện các tính năng nhằm hỗ trợ toàn diện công tác quản trị nhân lực tại các tổ chức,
doanh nghiệp. MISA đã giới thiệu MISA HRM.NET 2012 như là một công cụ hỗ trợ toàn
diện, cả về mặt nghiệp vụ lẫn công nghệ.MISA HRM là công cụ tác nghiệp hàng ngày
cho các nhân viên quản trị nguồn nhân lực của tổ chức từ việc lập kế hoạch tuyển dụng,
tiếp nhận hồ sơ ứng viên trực tuyến, tuyển dụng cán bộ, quản lý hồ sơ, quản lý lương,
thưởng, phúc lợi, thuế, bảo hiểm, khen thưởng, kỷ luật, sự cố, nghỉ phép đến việc đào tạo,
chúc mừng sinh nhật, chúc mừng kết hôn, nhắc việc, gửi email hàng loạt… tới từng cán
bộ nhân viên.
Với công cụ này, toàn bộ hồ sơ của các thành viên của tổ chức đều được lưu trữ trên phần
mềm, các thông tin được bố trí và quản lý tập trung, rất dễ dàng tra cứu, dễ dàng cập nhật
thông tin dù cho tổ chức có đến hàng ngàn nhân sự. Cán bộ quản trị nguồn nhân lực có
thể tạm biệt những tủ lưu hồ sơ khổng lồ mà khi cần tra cứu, có khi mất đến hàng giờ cho
một hồ sơ nhân viên. Phần mềm cũng cung cấp một cái nhìn tổng quát về tình hình nhân
sự của đơn vị, giúp cán bộ nhân sự có cái nhìn tổng thể về công việc và nhiệm vụ của
mình.
Thị trường phần mềm phục vụ cho các doanh nghiệp khá đa dạng về chủng loại sản phẩm
phần mềm, cũng như các chức năng hỗ trợ có trong từng sản phẩm. Dựa trên thông tin
của nhà cung cấp giải pháp, lời giới thiệu của các nhà tư vấn, doanh nghiệp có thể mất ít
thời gian hơn trong việc lựa chọn một phần mềm nào đó để sử dụng. Theo từng giai đoạn
mà xu hướng sử dụng phần mềm của các doanh nghiệpcó thể thay đổi cho phù hợp với
môi trường hoạt động của cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.
Đặc biệt là hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp ERP (Enterprise Resource
Planning) là một hệ thống phần mềm hỗ trợ cho doanh nghiệp quản lý các nguồn lực một
cách hiệu quả, dựa trên sự đầy đủ của các nghiệp vụ chức năng: quản lý bán hàng, cung
ứng vật tư, quản trị sản xuất, theo dõi tài chính, các nghiệp vụ quản lý nhân sự Đây là
một hệ thống mang tính “hướng nội", nghĩa là quản lý hiệu quả các nguồn lực bên trong,
sẵn có trong doanh nghiệp.

ERP thường thích hợp với các doanh nghiệp có qui mô hoạt động vừa và lớn. ERP
phát huy hiệu quả cao đối với các doanh nghiệp hoạt động chuyên về sản xuất, dĩ nhiên,
nó cũng có một phần phục vụ cho các quy trình kinh doanh, bán hàng nhưng đa phần
chưa thật hoàn hảo, đặc biệt trong xu hướng kinh doanh ngày nay. Sử dụng hết các tính
năng mà một hệ thống phần mềm ERP cung cấp doanh nghiệp sẽ thu được rất nhiều lợi
ích, đây là loại phần mềm chú trọng vào vấn đề hoạch định và quản lý nguồn lực như
thiết bị, vật tư, sản phẩm, nhân lực, vốn
Nếu như trước đây để quản lý hơn các nhân viên, trong đó có nhiều cộng tác viên thì
phòng nhân sự cần nhiều nhân viên để tính lương, tra cứu thông tin, xử lý đơn xin nghỉ
phép, nhưng vẫn không hết việc. Khi áp dụng phần mềm quản lý nhân sự số người
giảm xuống đáng kể kéo theo tiết giảm được chi phí nhân sự, văn phòng. Trong khi việc
xử lý thông tin về nhân sự được tốt hơn và nhanh hơn nhiều, giảm thời gian tìm hiểu
thông tin về một nhân viên, "lọc" nhân viên từ khi tuyển dụng, hoạch định nhân lực từng
bộ phận để sắp xếp phù hợp, tuyển dụng đúng thời điểm. Bên cạnh đó, phần mềm sẽ giúp
công ty cần đào tạo kỹ năng gì cho nhân viên, thời gian và tiêu chí đào tạo
Ngoài ra, các phần mềm quản lý nhân sự hiện nay do các công ty công nghệ thông tin
trong nước cung cấp gắn với việc tính các mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo
hiểm thất nghiệp, tính thuế thu nhập cá nhân, tính lương, thưởng theo hiệu quả sản xuất
7.2. Quản lý hàng hóa
Không chỉ sử dụng các công nghệ, phần mềm trong việc quản lý nhân sự mà hiện nay
các doanh nghiệp đã tiến hành đầu tư vào các công nghệ nhằm quản lý hàng hóa của
doanh nghiệp. Nhằm giúp
Quản lý dự báo và cung cấp
• Kiểm soát tập trung
• Quản lý thông báo (hàng tồn kho tối thiểu, chậm cung cấp…)
• Lưu trữ thực tế/ Lưu trữ lý thuyết
• Quản lý đầu vào hiện hành
• Quản lý đầu ra hiện hành
• Kho phân chia
• Giám sát và tối ưu hóa các bản kiểm kê : kiểm kê lý thuyết thông qua việc xác

minh hàng hóa ngẫu nhiên…
Quản lý kho hàng
• Hoạt động kho bãi
• Quản lý tối ưu các dòng
• Quản lý đơn hàng
• Sử dụng công nghệ mới nhằm nâng cao khả năng truy xuất và chứng thực : RFID,
mã vạch, máy móc không dây…
• Quản lý thiết bị : xe vận chuyển, đóng gói, phân loại…
• Tổ chức thời gian vận chuyển
• Cải thiện tính đúng giờ nhờ việc tối ưu hóa hành trình.
Đảm bảo việc truy xuất nguồn gốc (theo dõi) : hỗ trợ áp dụng giải pháp di động (định vị
GPS trên các phương tiện vận chuyển) để biết thời gian thực địa điểm, tình trạng giao
hàng và dự đoán các tình huống bất ngờ (can thiệp nhanh chóng bằng việc thay thế một
phương tiện khác).
Yêu cầu khách hàng
Lập thời gian điều khiển phương tiện
8. Đối với hoạt động vận chuyển
Đối với các hoạt động vận chuyển các công nghệ hiện nay giúpcho việc vận chuyển
trở nên dễ dàng, nhanh chóng hơn không còn phải sử dụng nhiều sức như trước, giảm chi
phí, nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng, tăng năng lực sản xuất và
hiệu quả của toàn bộ hệ thống vận chuyển
III. Liên hệ ở một số doanh nghiệp tại Việt Nam
Sự thay đổi công nghệ là một trong những yếu tố chính thúc đẩy cạnh tranh. Nó
giữ vai trò quan trọng trong sự thay đổi cơ cấu công nghiệp và trong việc tạo ra
những ngành công nghiệp mới.
Việt nam đang diễn ra quá trình đổi mới khoa học công nghệ. Quá trìnhđó đã bao gồm
nhiều mặt nhiều dạng hoạt động nhưng tập trung chú ý vào đổimới công nghệ, nhập công
nghệ mới, nắm bắt và đưa công nghệ mới vào sảnxuất, cải tiến và sáng tạo ra công nghệ,
công nghệ mới bao gồm các thànhphần chính. Thiết bị kĩ thuật phương pháp chế tạo sản
phẩm sự am hiểu côngnghệ mới, tổ chức, quản lý công nghệ mới quá trình đổi mới công

nghệ đượcdiễn ra rộng khắp, từ các doanh nghiệp, các công ty hợp tác xã các ngành cácđịa
phương.
Bước vào đổi mới công nghệ, các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam được tổ chức
sắp xếp lại và giảm đáng kể. Về công nghệ hết sức lạc hậu không đáp ứng được nhu cầu
phát triển kinh tế - xã hội. Quá trình đổi mới với sự cố gắng, lỗ lực tập trung đầu tư ứng
dụng các thành tựu của khoa học, công nghệ hiện đại vào sản xuất mà trực tiếp là việc đổi
mới máy móc thiết bị kỹ thuật công nghệ phù hợp, đã tạo được bước tiến mới nâng cao
trình độ công nghệ của các doanh nghiệp công nghiệp, tạo ra năng suất lao động cao chất
lượng sản phẩm được cải tiến, là cơ sở để mở rộng thị trường hàng công nghiệp Việt
Nam cả trong nước và ngoài nước.
Nếu nhìn nhận về xu thế đổi mới công nghệ dưới góc độ hướng đi của các doanh
nghiệp thì hai xu thế chủ yếu đang được chú trọng hiện nay ở Việt nam là ứng dụng công
nghệ tự động hoá vào sản xuất và tăng cường kỹ thuật an toàn.
Tự động hoá đã thực sự xâm nhập vào nước ta theo hai hướng rõ rệt. Một là các doanh
nghiệp ở cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế – xã hội có nhu cầu nâng cấp trình độ hiện có
, cải tiến trang thiết bị theo hướng hiện đại hơn.
1. Công ty thành công
Công ty cơ khí Hà Nội, ngay từ năm 97 đã mạnh dạn nhanh chóng bắt tay vào triển
khai dự án thử nghiệm công nghiệp hoá các máy gọt hiện có của công ty, dự án mang mã
số KHCN – 05 – DA1 do tiến sĩ Trần Việt Hùng – giám đốc công ty làm chủ nhiệm.
Bằng kinh nghiệm và năng lực hiện có cùng với sự giúp đỡ của các chuyên gia nước
ngoài và trong nước, cán bộ công nhân viên công ty đã nghiên cứu thành công và đưa vào
ứng dụng các kĩ thuật điều khiển số lập trình bằng máy CNC, kĩ thuật điều khiển logic,
khả năng lập trình PLC kĩ thuật đo lường và vi tính hoá, kĩ thuật điều khiển truyền động
điện số hoá. Dự án này đã hược hội đồng nghiệm thu cấp nhà nước đánh giá xuất sắc đạt
được giải Ba giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam – Vi FOTEC 2000 và
cũng chính nhờ dự án này mà đến nay, công ty đã hiện đại hoá được 30 thiết bị ở nhiều
mức độ khác nhau, trong đó có 6 lò nhiệt luyệnđược lắp đặt hệ thống PLC. Việc điều
khiển tự động hóa quá trình nhiệt đã nâng cao chất lượng nhiệt luyện các sản phẩm cơ
khí, giảm hàng sai hỏng do nhiệt luyện từ 4% xuống còn 1% . Việc thay thế các bộ

phậnđiều khiển vô cấp bán dẫn đã làm giảm mức tổn thất điện năng từ 20% - 25% xuống
dưới 6%. Đặc biệt có 2 thiết bị : máy doa 2B460 với kích thước bàn quay 1200mm được
CNC có khả năng gia công các bề mặt khuôn mẫu lớn các cánh tua bin thuỷ lực … và
máy tiện SUT66 CNC có khả năng gia công các trục pro. Bên cạnh đó doanh nghiệp tiếp
tục đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị, công nghệ để nâng cao năng xuất, chất lượng sản
phẩm và bảo vệ môt trường.Tăng cường công tác giáo dục, đầo tạo, bồi dưỡng, đầo tạo
lại trình độ, tay nghề cho cán bộ công nhân viên, khuyến khích người lao động áp dụng
khoa học kỹ thuật, phát huy sáng kiến, hợp lý hoá trong sản xuất.
Nhờ vậy doanh nghiệp đã có những bước tiến vượt bậc và được mệnh danh là con
chim đầu đàn của ngành cơ khí Việt Nam
2. Doanh nghiệp thất bại
Việc đổi mới công nghệ không phải công ty nào cũng đạt được thành công bên cạnh
đó còn có rất nhiều công ty tiến hành đổi mới thất bại mà đơn cử là nhà máydệt Nam
Định. Nhà máy dệt Nam Địnhtừng là nhà máy lớn nhất Đông Dương. Cung cấp rất nhiều
vải vóc cho nhiều vùng tuy nhiên khi tiến hành đổi mới công nghệ nhà máy đã gặp thất
bại do khi tiến hành đổi mới doanh nghiệp chỉ chú ý đến thiết bị mà quên rằng công nghệ
luôn hàm chứa cả 4 yếu tố: kỹ thuật, con người, thông tin và tổ chức. Bốn yếu tố này có
đồng bộ thì mới phát huy được tác dụng của công nghệ còn nếu chỉ chú trọng đến thiết bị
thôi thì chưa thể coi là đổi mới công nghệ được. Thiết bị chỉ đem cho doanh nhiệp từ 40 –
50% năng lực sản xuất, thông tin về công nghệ thì sơ sài, con người thì không được đào
tạođến nơi đến chốn, còn tổ chức quản lý, mua bán chuyển giao công nghệ thì quá lỏng
lẻo, trong khicác yếu tố này nhiều lúc còn quan trọng hơn thiết bị. Vì không thấy được
yếu tố phần mềm của công nghệ (thông tin, con người, tổ chức) cho nên, đầu tư củadoanh
nghiệp cho đổi mới công nghệ tập trung chủ yếu để mua sắm, cải tiến máy móc thiết bị
phần cứng (thông qua nhập khẩu thiết bị hoặc mua thiết bị trong nước) hơn là đầu tư cho
phần mềm công nghệ (đầu tư cho nghiên cứu cải tiến quy trình sản xuất hay sản phẩm
hiện có hoặc thiết kế các sản phẩm mới). Vì vậy, hậu quả là doanh nghiệp đã gặp thất bại,
bị thua lỗ nhiều so với thời kỳ trước khi đổi mới. Và bây giờ khi nhắc đến nhà máy dệt
Nam Định nhiều người còn cảm tháy tiếc nuối về điều này.

KẾT LUẬN
Vấn đề đổi mới công nghệ và đa công nghệ mới vào sản xuất là mộtchiến lược quan
trọng quyết định khả năng cạnh tranh sản phẩm và sự pháttriển của doanh nghiệp trên thị
trường. Các doanh nghiệp muốn tồn tại vàphát triển không còn con đờng nào khác ngoài
việc luôn luôn đổi mới vànâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Muốn vậy chỉbằng cách đổi mới và đa công nghệ mới vào sản xuất thì doanh nghiệp
mớicó thể có những sản phẩm đa dạng với chất lượng tuyệt hảo được thị trườnghoan
nghênh chấp nhận. Điều đó cũng đi đôi với việc tạo uy tín, thu lợinhuận và giành được
chiến thắng trong cạnh tranh cho doanh nghiệp.Nhưng nguyên tắc hiệu quả bao giờ cũng
được đặt lên hàng đầu tưrớckhi doanh nghiệp quyết định sử dụng chiến lược đổi mới
công nghệ. Vì đâychính là chìa khoá quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trong
kỷnguyên khoa học kỹ thuật này.

×